Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm tại Tikaṇḍakī

AN 5.141 Khinh thường Avajānātisutta

"Này các Tỳ kheo, có năm hạng người này được tìm thấy trên đời. Năm hạng người nào? Một người cho rồi khinh thường, một người sống chung rồi khinh thường, một người cả tin vào lời đồn, một người bốc đồng, và một người đần độn ngu si.

Và thế nào là một người cho rồi khinh thường? Đó là khi một người cho ai đó y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men vật dụng cho người bệnh. Họ nghĩ: ‘Ta cho; người này nhận.’ Họ cho người đó, rồi họ khinh thường người ấy. Đó là cách một người cho rồi khinh thường.

Và thế nào là một người sống chung rồi khinh thường? Đó là khi một người sống chung với người khác trong hai hoặc ba năm. Họ sống chung với người đó, rồi họ khinh thường người ấy. Đó là cách một người sống chung rồi khinh thường.

Và thế nào là một người cả tin vào lời đồn? Đó là khi họ rất nhanh chóng tin vào những gì một người nào đó nói để khen ngợi hay chỉ trích người khác. Đó là cách một người cả tin vào lời đồn.

Và thế nào là một người bốc đồng? Đó là khi một người nào đó hay thay đổi về niềm tin, lòng sùng kính, sự yêu mến, và sự tin tưởng. Đó là cách một người bốc đồng.

Và thế nào là một người đần độn ngu si? Đó là khi họ không biết sự khác biệt giữa các phẩm chất thiện và bất thiện (skillful and unskillful qualities / tốt và xấu), đáng chê trách và không đáng chê trách, thấp kém và cao thượng, và những phẩm chất thuộc về phía tối tăm và sáng sủa. Đó là cách một người đần độn ngu si.

Đó là năm hạng người được tìm thấy trên đời."

XV. Phẩm Tikandaki

(I) (141) Cho Là Khinh

1. - Năm hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là năm?

2. Sau khi cho, khinh rẽ; sau khi cùng sống, khinh rẽ; miệng nuốt tất cả; người không vững chắc; người ám độn ngu si. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người sau khi cho, khinh miệt?

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người cho người khác các đồ nhu yếu như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Vị ấy suy nghĩ: “Ta là người cho, người này là người nhận”. Sau khi cho, vị ấy khinh rẽ (người nhận).

Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người sau khi cho, khinh rẽ. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người, sau khi sống chung, khinh rẽ?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người cùng sống với người, hai hay ba năm. Do sống với người ấy, vị ấy khinh rẽ người ấy.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người sau khi sống chung, khinh rẽ. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người miệng nuốt tất cả?

5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người khi nghe người ta tán thán hay chỉ trích người khác, liền mau mắn thích thú.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người miệng nuốt tất cả. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người không vững chắc?

6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người có lòng tin nhỏ bé, có lòng tín ngưỡng nhỏ bé, có lòng ái mộ nhỏ bé, có tịnh tín nhỏ bé.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người không vững chắc. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người ám độn ngu si?

7. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người không biết các pháp thiện, bất thiện, không biết các pháp tội, không tội, không biết các pháp hạ liệt, thù thắng, không biết các pháp dự phần đen trắng.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người ám độn ngu si. Năm hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.

AN 5.142 Phạm lỗi Ārabhatisutta

"Này các Tỳ kheo, có năm hạng người này được tìm thấy trên đời. Năm hạng người nào?

Một người phạm lỗi và hối hận về điều đó. Và họ không thực sự hiểu tâm giải thoát (freedom of heart / sự giải thoát của tâm) và tuệ giải thoát (freedom by wisdom / sự giải thoát bằng trí tuệ) nơi mà những bất thiện pháp (bad, unskillful qualities / phẩm chất xấu ác) đã sinh khởi ấy được đoạn trừ không còn dư sót.

Một người phạm lỗi và không hối hận về điều đó. Và họ không hiểu…

Một người không phạm lỗi nhưng vẫn cảm thấy hối hận. Và họ không hiểu…

Một người không phạm lỗi cũng không hối hận. Nhưng họ không hiểu…

Một người không phạm lỗi cũng không hối hận. Và họ hiểu rõ nơi mà những bất thiện pháp đã sinh khởi ấy được đoạn trừ không còn dư sót.

Hãy xét trường hợp người phạm lỗi và hối hận về điều đó. Và họ không thực sự hiểu tâm giải thoát và tuệ giải thoát nơi mà những bất thiện pháp đã sinh khởi ấy được đoạn trừ không còn dư sót. Người ấy nên được bảo rằng: ‘Thưa Tôn giả, những phiền não (defilements / những điều ô nhiễm tâm) sinh ra từ sự phạm lỗi đang có mặt nơi ngài, và những phiền não sinh ra từ sự hối hận đang tăng trưởng. Ngài nên từ bỏ những phiền não sinh ra từ sự phạm lỗi và loại bỏ những phiền não sinh ra từ sự hối hận, rồi sau đó phát triển tâm và trí tuệ. Bằng cách này, ngài sẽ trở nên giống như người thứ năm.’

Hãy xét trường hợp người phạm lỗi và không hối hận về điều đó. Và họ không hiểu… Người ấy nên được bảo rằng: ‘Thưa Tôn giả, những phiền não sinh ra từ sự phạm lỗi đang có mặt nơi ngài, nhưng những phiền não sinh ra từ sự hối hận không tăng trưởng. Ngài nên từ bỏ những phiền não sinh ra từ sự phạm lỗi, rồi sau đó phát triển tâm và trí tuệ. Bằng cách này, ngài sẽ trở nên giống như người thứ năm.’

Hãy xét trường hợp người không phạm lỗi nhưng lại cảm thấy hối hận. Và họ không hiểu… Người ấy nên được bảo rằng: ‘Thưa Tôn giả, những phiền não sinh ra từ sự phạm lỗi không có mặt nơi ngài, nhưng những phiền não sinh ra từ sự hối hận lại tăng trưởng. Ngài nên loại bỏ những phiền não sinh ra từ sự hối hận, rồi sau đó phát triển tâm và trí tuệ. Bằng cách này, ngài sẽ trở nên giống như người thứ năm.’

Hãy xét trường hợp người không phạm lỗi cũng không hối hận. Nhưng họ không hiểu… Người ấy nên được bảo rằng: ‘Thưa Tôn giả, những phiền não sinh ra từ sự phạm lỗi không có mặt nơi ngài, và những phiền não sinh ra từ sự hối hận cũng không tăng trưởng. Ngài nên phát triển tâm và trí tuệ. Bằng cách này, ngài sẽ trở nên giống như người thứ năm.’

Và như vậy, này các Tỳ kheo, khi bốn hạng người này được khuyên bảo và hướng dẫn bằng cách so sánh với người thứ năm, họ dần dần đạt đến sự chấm dứt các phiền não."

(II) (142) Làm Sai Lạc

1. - Có năm hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là năm?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người làm điều vi phạm và hối hận, không như thật biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; chính ở đây, các pháp ác bất thiện ấy khởi lên được đoạn diệt, không có dư tàn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người làm điều vi phạm, nhưng không hối hận, không như thật biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; chính ở đây, các pháp ác bất thiện ấy khởi lên được đoạn diệt, không có dư tàn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không làm điều vi phạm, có hối hận, không như thật biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; chính ở đây, các pháp ác bất thiện ấy khởi lên được đoạn diệt, không có dư tàn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không làm điều vi phạm, không có hối hận, không như thật biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; chính ở đây, các pháp ác bất thiện ấy khởi lên được đoạn diệt, không có dư tàn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không làm điều vi phạm, không có hối hận, và như thật biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; chính ở đây, các pháp ác bất thiện ấy khởi lên được đoạn diệt, không có dư tàn.

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, hạng người này làm điều vi phạm và hối hận, không như thật biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; chính ở đây, các pháp ác bất thiện ấy khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn. Hạng người này cần phải được nói như sau: “Các lậu hoặc được sanh do làm điều vi phạm đã có mặt nơi Tôn giả. Các lậu hoặc được sanh do hối hận được tăng trưởng. Lành thay, nếu Tôn giả sau khi đoạn tận các lậu hoặc được sanh do làm điều vi phạm, sau khi loại bỏ các lậu hoặc được sanh do hối hận, hãy tu tập tâm và tuệ! Như vậy, Tôn giả sẽ trở thành đồng đẳng với hạng người thứ năm ấy”.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, hạng người làm điều vi phạm, nhưng không hối hận, và không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; chính ở đây các pháp ác bất thiện ấy đã sanh, được đoạn diệt không có dư tàn. Người này cần phải được nói như sau: “Các lậu hoặc được sanh do làm điều vi phạm đã có mặt nơi Tôn giả. Các lậu hoặc được sanh do hối hận không có tăng trưởng. Lành thay, nếu Tôn giả sau khi đoạn tận các lậu hoặc được sanh do làm điều vi phạm, hãy tu tập tâm và tuệ! Như vậy, Tôn giả sẽ trở thành đồng đẳng với hạng người thứ năm ấy”.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, hạng người này không làm điều vi phạm, có hối hận, không như thật biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; chính ở đây các pháp ác bất thiện ấy đã sanh, được đoạn diệt không có dư tàn. Người này cần phải được nói như sau: “Các lậu hoặc được sanh do làm điều vi phạm không có mặt nơi Tôn giả. Các lậu hoặc được sanh do hối hận có tăng trưởng. Lành thay, nếu Tôn giả sau khi loại bỏ các lậu hoặc được sanh do hối hận, hãy tu tập tâm giải thoát, tuệ giải thoát! Như vậy, Tôn giả sẽ trở thành đồng đẳng với hạng người thứ năm ấy”.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, hạng người này không làm điều vi phạm, không hối hận, không như thật biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; chính ở đây các pháp ác bất thiện ấy đã sanh được đoạn diệt không có dư tàn. Người này cần phải được nói như sau: “Các lậu hoặc được sanh do làm điều vi phạm không có mặt nơi Tôn giả. Các lậu hoặc được sanh do hối hận không có tăng trưởng. Lành thay, Tôn giả hãy tu tập tâm và tuệ! Như vậy, Tôn giả sẽ trở thành đồng đẳng với hạng người thứ năm ấy”.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, bốn hạng người này, với hạng người thứ năm được giáo giới như vậy, được khuyên dạy như vậy, dần dần đạt đến sự đoạn diệt các lậu hoặc.

AN 5.143 Tại Sārandada Sārandadasutta

Một thời Thế Tôn trú gần Vesālī, tại Rừng Lớn (Mahāvana), trong ngôi nhà có mái nhọn (Kūṭāgārasālā).

Khi ấy, vào buổi sáng, Thế Tôn đắp y, mang bát và y, vào thành Vesālī để khất thực.

Lúc bấy giờ, có khoảng năm trăm vị Licchavi đang ngồi họp tại điện thờ Sārandada, và cuộc thảo luận này đã nảy sinh giữa họ: “Sự xuất hiện của năm báu vật là hiếm có trên đời. Năm báu vật nào? Voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, và gia chủ báu. Sự xuất hiện của năm báu vật này là hiếm có trên đời.”

Rồi những vị Licchavi đó sai một người ra đường, dặn rằng: “Này ông, xin hãy báo cho chúng tôi biết khi ông thấy Thế Tôn.”

Người đó thấy Thế Tôn đang đi tới từ xa. Ông ta đến gặp các vị Licchavi và nói: “Thưa các ngài, Thế Tôn, bậc A-la-hán (perfected one / bậc hoàn thiện), bậc Chánh Đẳng Giác (fully awakened Buddha / bậc giác ngộ hoàn toàn) đang đến. Xin các ngài tùy nghi.”

Rồi những vị Licchavi đó đi đến gặp Thế Tôn, đảnh lễ, đứng sang một bên, và thưa với Ngài: “Xin Thế Tôn hãy đến điện thờ Sārandada, vì lòng thương xót.” Thế Tôn im lặng nhận lời.

Sau đó, Thế Tôn đi đến điện thờ Sārandada, ngồi vào chỗ đã soạn sẵn, và nói với các vị Licchavi: “Này các Licchavi, các ông vừa ngồi nói chuyện gì vậy? Cuộc nói chuyện nào còn dang dở?”

“Bạch Tôn giả Gotama, cuộc thảo luận này đã nảy sinh giữa chúng con khi đang ngồi họp: ‘Sự xuất hiện của năm báu vật là hiếm có trên đời…’”

"Các ông, những người Licchavi, quá đắm chìm vào dục lạc, đó là cuộc thảo luận duy nhất đã nảy sinh! Này các Licchavi, sự xuất hiện của năm báu vật là hiếm có trên đời. Năm báu vật nào?

Sự xuất hiện của một bậc Như Lai (Realized One / bậc đã chứng ngộ), một bậc A-la-hán, một bậc Chánh Đẳng Giác.

Một người giảng dạy giáo pháp và giới luật (teaching and training / lời dạy và kỷ luật) do bậc Như Lai tuyên thuyết.

Một người hiểu được giáo pháp và giới luật do bậc Như Lai tuyên thuyết.

Một người thực hành đúng theo giáo pháp.

Một người biết ơn và đền ơn.

Sự xuất hiện của năm báu vật này là hiếm có trên đời."

(III) (143) Tại Ðền Sàrandada

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàlì, tại Ðại Lâm, chỗ giảng đường có nóc nhọn. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Vesàlì để khất thực.

Lúc bấy giờ, khoảng 500 người Licchavì đang ngồi tụ họp tài đền Sàrandada, và câu chuyện sau đây được khởi lên:

2. “Sự hiện hữu của năm châu báu khó tìm được ở đời. Thế nào là năm?

Sự hiện hữu của voi báu khó tìm được ở đời; Sự hiện hữu của ngựa báu khó tìm được ở đời; Sự hiện hữu của ngọc báu khó tìm được ở đời; Sự hiện hữu của nữ báu khó tìm được ở đời; Sự hiện hữu của cư sĩ báu khó tìm được ở đời.

Sự hiện hữu của năm châu báu này khó tìm được ở đời”.

3. Rồi các người Licchavì ấy đặt một người ở trên đường và nói:

− Này Bạn, khi nào Bạn thấy Thế Tôn đi đến, hãy báo cho chúng tôi biết.

Người ấy thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy, liền đi đến các người Licchavì và nói:

− Thưa Quý vị, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy đã đến. Nay Quý vị hãy làm những gì Quý vị nghĩ là hợp thời!

Rồi các người Licchavì ấy đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, các người Licchavì ấy bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn đi đến đền Sàrandada vì lòng thương tưởng chúng con!

Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi Thế Tôn đi đến đền Sàrandada, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với các người Licchavì ấy:

− Này các Licchavì, hôm nay các Ông ngồi tụ họp, nói đến vấn đề gì? Và vấn đền gì giữa các Ông đã bị gián đoạn?

− Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con đang ngồi tụ họp, vấn đề này được khởi lên: “Sự hiện hữu của năm châu báu khó tìm được ở đời. Và thế nào là năm? Sự hiện hữu của voi báu khó tìm được ở đời; Sự hiện hữu của ngựa báu khó tìm được ở đời; Sự hiện hữu của ngọc báu khó tìm được ở đời; Sự hiện hữu của nữ báu khó tìm được ở đời; Sự hiện hữu của cư sĩ báu khó tìm được ở đời. Sự hiện hữu của năm châu báu này khó tìm được ở đời!”.

4. - Ðối với các Ông, người Licchavì đang thiên nặng về dục, cuộc nói chuyện y cứ trên đục được khởi lên. Này các Licchavì, sự hiện hữu của năm châu báu khó tìm được ở đời. Và thế nào là năm?

Sự hiện hữu của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác khó tìm được ở đời. Hạng người có thể thuyết giảng Pháp và Luật do Như Lai tuyên bố khó tìm được ở đời. Người hiểu được lời thuyết giảng về Pháp là Luật do Như Lai tuyên bố khó tìm được ở đời. Người đem thực hành các pháp và tùy pháp được hiểu từ lời thuyết giảng về Pháp và Luật do Như Lai tuyên bố khó tìm được ở đời. Người biết ơn, và nhớ ơn khó tìm được ở đời.

Sự hiện hữu của năm châu báu này, này các Licchavì, khó tìm được ở đời.

AN 5.144 Tại Tikaṇḍakī Tikaṇḍakīsutta

Một thời Thế Tôn trú gần Sāketa, trong rừng Tikaṇḍakī. Tại đây, Thế Tôn gọi các Tỳ kheo: “Này các Tỳ kheo!”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” họ đáp lời. Thế Tôn dạy điều này:

1. "Này các Tỳ kheo, một Tỳ kheo nên thỉnh thoảng thiền quán, nhận thức điều bất tịnh (repulsive / không đẹp) trong cái tịnh (unrepulsive / đẹp),

2. nhận thức điều tịnh trong cái bất tịnh,

3. nhận thức điều bất tịnh trong cả cái tịnh và cái bất tịnh, và

4. nhận thức điều tịnh trong cả cái bất tịnh và cái tịnh.

5. Một Tỳ kheo nên thỉnh thoảng thiền quán, giữ tâm xả (equanimous / quân bình), chánh niệm (mindful / sự tỉnh thức đúng đắn) và tỉnh giác (aware / biết rõ), loại bỏ cả cái bất tịnh và cái tịnh.

Vì lý do gì một Tỳ kheo nên thiền quán nhận thức điều bất tịnh trong cái tịnh? ‘Mong rằng tham ái không khởi lên trong ta đối với những thứ khơi dậy tham ái.’ Một Tỳ kheo nên thiền quán nhận thức điều bất tịnh trong cái tịnh vì lý do này.

Vì lý do gì một Tỳ kheo nên thiền quán nhận thức điều tịnh trong cái bất tịnh? ‘Mong rằng tức giận không khởi lên trong ta đối với những thứ gây ra tức giận.’ …

Vì lý do gì một Tỳ kheo nên thiền quán nhận thức điều bất tịnh trong cả cái tịnh và cái bất tịnh? ‘Mong rằng tham ái không khởi lên trong ta đối với những thứ khơi dậy tham ái. Mong rằng tức giận không khởi lên trong ta đối với những thứ gây ra tức giận.’ …

Vì lý do gì một Tỳ kheo nên thiền quán nhận thức điều tịnh trong cả cái bất tịnh và cái tịnh? ‘Mong rằng tức giận không khởi lên trong ta đối với những thứ gây ra tức giận. Mong rằng tham ái không khởi lên trong ta đối với những thứ khơi dậy tham ái.’ …

Vì lý do gì một Tỳ kheo nên thiền quán giữ tâm xả, chánh niệm và tỉnh giác, loại bỏ cả cái bất tịnh và cái tịnh? ‘Mong rằng không có tham ái đối với những thứ khơi dậy tham ái, không có tức giận đối với những thứ gây ra tức giận, hay si mê đối với những thứ nuôi dưỡng si mê khởi lên trong ta dưới bất kỳ hình thức nào.’ Vì lý do này, một Tỳ kheo nên thiền quán giữ tâm xả, chánh niệm và tỉnh giác, loại bỏ cả cái bất tịnh và cái tịnh."

(IV) (144) Tại Rừng Tikandaki

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàketa, tại rừng Tikandaki. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo!

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

2. - Lành thay, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo thỉnh thoảng sống với tưởng ghê tởm đối với các vật không ghê tởm! Lành thay, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo thỉnh thoảng sống với tưởng không ghê tởm đối với vật ghê tởm! Lành thay, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo thỉnh thoảng sống với tưởng ghê tởm đối với các vật không ghê tởm và ghê tởm! Lành thay, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo thỉnh thoảng sống với tưởng không ghê tởm đối với các vật ghê tởm và không ghê tởm! Lành thay, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sau khi từ bỏ cả hai vật không ghê tởm và ghê tởm, trú xả, chánh niệm tỉnh giác! Và này các Tỷ-kheo, do duyên lợi ích gì, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có thể trú với tưởng ghê tởm đối với vật không ghê tởm?

3. “Mong rằng, đối với các pháp khả ái, tham chớ có khởi lên nơi ta”. Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nên sống với tưởng ghê tởm đối với vật không ghê tởm. Và này các Tỷ-kheo, do duyên lợi ích thế nào, Tỷ-kheo nên sống với tưởng không ghê tởm đối với vật ghê tởm?

4. “Mong rằng đối với các pháp đáng sân hận, lòng sân chớ có khởi lên nơi ta” Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nên sống với tưởng không ghê tởm đối với vật ghê tởm. Và này các Tỷ-kheo, do duyên lợi ích thế nào, Tỷ-kheo nên sống với tưởng ghê tởm đối với vật không ghê tởm, và ghê tởm?

5. “Mong rằng đối với các pháp khả ái, lòng tham chớ có khởi lên nơi ta. Mong rằng đối với các pháp đáng sân hận, lòng sân chớ có khởi lên nơi ta”. Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nên sống với tưởng ghê tởm đối với vật không ghê tởm và ghê tởm. Và này các Tỷ-kheo, do duyên lợi ích thế nào, Tỷ-kheo nên sống với tưởng không ghê tởm đối với vật ghê tởm và không ghê tởm?

6. “Mong rằng đối với các pháp đáng được sân hận, lòng sân chớ khởi lên nơi ta”. Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nên sống với tưởng không ghê tởm đối với vật ghê tởm và không ghê tởm. Và này các Tỷ-kheo, do duyên lợi ích thế nào, Tỷ-kheo sau khi từ bỏ cả hai vật không ghê tởm và ghê tởm, trú xả, chánh niệm tỉnh giác?

7. “Mong rằng dầu là vật gì, tại chỗ nào và như thế nào, đối với các pháp khả ái, lòng tham chớ có khởi lên nơi ta! Mong rằng dầu là vật gì, tại chỗ nào là như thế nào, đối với các pháp đáng được sân hận, lòng sân chớ có khởi lên nơi ta! Mong rằng dầu là vật gì, tại chỗ nào và như thế nào, đối với các pháp có thể làm cho si mê, lòng si không khởi lên nơi ta!” do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi từ bỏ cả hai vật không ghê tởm và ghê tởm, trú xả, chánh niệm tỉnh giác.

AN 5.145 Địa ngục Nirayasutta

"Này các Tỳ kheo, người có năm phẩm chất sẽ bị đọa vào địa ngục. Năm phẩm chất nào? Họ sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, và uống rượu bia, các chất gây say. Người có năm phẩm chất này sẽ bị đọa vào địa ngục.

Người có năm phẩm chất sẽ được sinh lên cõi trời. Năm phẩm chất nào? Họ không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, và không uống rượu bia, các chất gây say. Người có năm phẩm chất này sẽ được sinh lên cõi trời."

(V) (145) Con Ðường Ðến Ðịa Ngục

1. - Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị quăng vào địa ngục. Thế nào là năm?

2. Sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, đắm say trong rượu men, rượu nấy. Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị quăng vào địa ngục.

3. Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên Thiên giới. Thế nào là năm?

4. Từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên Thiên giới.

AN 5.146 Người bạn Mittasutta

"Này các Tỳ kheo, các ông không nên kết giao với một người bạn Tỳ kheo có năm phẩm chất. Năm phẩm chất nào? Họ khởi xướng các công việc xây dựng. Họ đảm nhận các vấn đề về giới luật. Họ xung đột với các vị Tỳ kheo lãnh đạo. Họ thích đi lang thang dài ngày và vô định. Họ không có khả năng giáo huấn, khuyến khích, khích lệ và truyền cảm hứng cho các ông bằng một bài pháp thoại vào những lúc cần thiết. Này các Tỳ kheo, các ông không nên kết giao với một người bạn Tỳ kheo có năm phẩm chất này.

Các ông nên kết giao với một người bạn Tỳ kheo có năm phẩm chất. Năm phẩm chất nào? Họ không khởi xướng các công việc xây dựng. Họ không đảm nhận các vấn đề về giới luật. Họ không xung đột với các vị Tỳ kheo lãnh đạo. Họ không thích đi lang thang dài ngày và vô định. Họ có khả năng giáo huấn, khuyến khích, khích lệ và truyền cảm hứng cho các ông bằng một bài pháp thoại vào những lúc cần thiết. Các ông nên kết giao với một người bạn Tỳ kheo có năm phẩm chất này."

(VI) (146) Người Bạn

1. - Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không đáng được làm bạn. Thế nào là năm?

2. Bảo làm việc đồng áng; ưa thích kiện tụng; chống đối các Tỷ-kheo lãnh đạo; sống đời sống không có mục đích, kéo dài đời sống như vậy; không có khả năng thỉnh thoảng trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ với một bài thuyết pháp.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không đáng được làm bạn.

3. - Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được làm một người bạn. Thế nào là năm?

4. Không bảo làm việc đồng áng; không ưa thích kiện tụng; không chống đối các Tỷ-kheo lãnh đạo; không sống đời sống không có mục đích, không kéo dài đời sống như vậy; có khả năng thỉnh thoảng trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ với một bài thuyết pháp.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được làm bạn.

AN 5.147 Sự bố thí của người không chân chính Asappurisadānasutta

"Này các Tỳ kheo, có năm cách bố thí của người không chân chính. Năm cách nào? Họ bố thí một cách cẩu thả. Họ bố thí thiếu suy nghĩ. Họ không tự tay mình bố thí. Họ bố thí những thứ thừa thãi. Họ bố thí mà không cân nhắc đến hậu quả. Đây là năm cách bố thí của người không chân chính.

Có năm cách bố thí của người chân chính. Năm cách nào? Họ bố thí một cách cẩn thận. Họ bố thí có suy xét. Họ tự tay mình bố thí. Họ không bố thí những thứ thừa thãi. Họ bố thí có cân nhắc đến hậu quả. Đây là năm cách bố thí của người chân chính."

(VII) (147) Bố Thí Không Xứng Bậc Chân Nhân

1. - Có năm loại bố thí này, này các Tỷ-kheo, không xứng bậc Chân nhân. Thế nào là năm?

2. Bố thí không cung kính, bố thí không suy nghĩ, bố thí không tự tay mình, bố thí đồ quăng bỏ, bố thí không nghĩ đến tương lai.

Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm loại bố thí không xứng bậc Chân nhân.

3. Năm loại bố thí này, này các Tỷ-kheo, là loại bố thí xứng bậc Chân nhân. Thế nào là năm?

4. Bố thí có cung kính, bố thí có suy nghĩ, bố thí tự tay mình, bố thí đồ không quăng bỏ, bố thí có nghĩ đến tương lai.

Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm loại bố thí xứng bậc Chân nhân.

AN 5.148 Sự bố thí của người chân chính Sappurisadānasutta

"Có năm cách bố thí của người chân chính. Năm cách nào? Họ bố thí với niềm tin. Họ bố thí một cách cẩn thận. Họ bố thí đúng lúc. Họ bố thí không vụ lợi. Họ bố thí mà không làm hại mình và người khác.

Sau khi bố thí với niềm tin, ở bất cứ nơi nào quả của sự bố thí đó biểu hiện, họ trở nên giàu có, sung túc và dư dả. Và họ có ngoại hình thu hút, ưa nhìn, đáng yêu, với vẻ đẹp vượt trội.

Sau khi bố thí một cách cẩn thận, ở bất cứ nơi nào quả của sự bố thí đó biểu hiện, họ trở nên giàu có, sung túc và dư dả. Và con cái, vợ, người hầu, người làm công của họ đều muốn lắng nghe. Họ chủ động lắng nghe và cố gắng thấu hiểu.

Sau khi bố thí đúng lúc, ở bất cứ nơi nào quả của sự bố thí đó biểu hiện, họ trở nên giàu có, sung túc và dư dả. Và khi đến lúc thích hợp, họ có được mọi thứ họ cần.

Sau khi bố thí không vụ lợi, ở bất cứ nơi nào quả của sự bố thí đó biểu hiện, họ trở nên giàu có, sung túc và dư dả. Và tâm trí họ có xu hướng tận hưởng năm loại kích thích giác quan tinh tế.

Sau khi bố thí mà không làm hại mình và người khác, ở bất cứ nơi nào quả của sự bố thí đó biểu hiện, họ trở nên giàu có, sung túc và dư dả. Và tài sản của họ không bị tổn hại từ bất cứ đâu, dù là lửa, lụt, vua quan, trộm cướp, hay những người thừa kế không được yêu thương.

Đây là năm cách bố thí của người chân chính."

(VIII) (148) Bố Thí Xứng Bậc Chân Nhân

1. - Này các Tỷ-kheo, có năm loại bố thí này xứng bậc Chân nhân. Thế nào là năm?

2. Bố thí có lòng tin, bố thí có kính trọng, bố thí đúng thời, bố thí với tâm không gượng ép, bố thí không làm thương tổn mình và người.

Này các Tỷ-kheo, sau khi bố thí với lòng tin chỗ nào, chỗ nào, quả dị thục của sự bố thí ấy đem lại kết quả: Người ấy được giàu sang, đại phú, tài sản sung mãn, đẹp trai, dễ ngó, có thành tín và thành tựu dung sắc thì thắng như hoa sen.

Và này các Tỷ-kheo, sau khi bố thí có cung kính, chỗ nào, chỗ nào, quả dị thục của sự bố thí ấy đem lại kết quả: Người ấy được giàu sang, đại phú, tài sản sung mãn; và các con trai, các bà vợ, các người nô tỳ, các người đưa tin, các người làm công, những người ấy đều sẵn sàng vâng theo người ấy, họ lóng tai và phục vụ với tâm hiểu biết.

Và này các Tỷ-kheo, sau khi bố thí đúng thời, chỗ nào, chỗ nào, quả dị thục của sự bố thí ấy đem lại kết quả: Người ấy được giàu sang, đại phú, tài sản sung mãn; và các vật dụng đến với người ấy đúng thời và sung túc.

Và này các Tỷ-kheo, sau khi bố thí với tâm không gượng ép, chỗ nào, chỗ nào, quả dị thục của sự bố thí ấy đem lại kết quả: Người ấy được giàu sang, đại phú, tài sản sung mãn, và hướng tâm thụ hưởng đầy đủ năm dục công đức.

Và này các Tỷ-kheo, sau khi bố thí không làm thương tổn mình và người, chỗ nào, chỗ nào, quả dị thục của sự bố thí ấy đem lại kết quả: Người ấy được giàu sang, đại phú, tài sản sung mãn; và không một tai nạn nào từ đâu đến, đến với tài sản của người ấy, hoặc từ lửa, từ nước, từ vua, từ ăn trộm, từ các người thù địch hay từ các người thừa tự.

Này các Tỷ-kheo, có năm loại bố thí xứng bậc Chân nhân này.

AN 5.149 Giải thoát tạm thời (1) Paṭhamasamayavimuttasutta

"Này các Tỳ kheo, năm điều này dẫn đến sự suy thoái của một Tỳ kheo đạt được thời giải thoát (temporarily free / giải thoát tạm thời). Năm điều nào? Họ thích thú công việc, nói chuyện, ngủ nghỉ, và hội họp. Và họ không xem xét mức độ giải thoát của tâm mình. Năm điều này dẫn đến sự suy thoái của một Tỳ kheo đạt được thời giải thoát.

Năm điều này không dẫn đến sự suy thoái của một Tỳ kheo đạt được thời giải thoát. Năm điều nào? Họ không thích thú công việc, nói chuyện, ngủ nghỉ, và hội họp. Và họ xem xét mức độ giải thoát của tâm mình. Năm điều này không dẫn đến sự suy thoái của một Tỳ kheo đạt được thời giải thoát."

(IX) (149) Thời Giải Thoát

1. - Có năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến sự thối đọa cho Tỷ-kheo đã chứng được thời giải thoát. Thế nào là năm?

2. Ưa thích làm việc (về thân), ưa thích nói chuyện, ưa thích ngủ, ưa thích hội chúng, không quan sát tâm như đã được giải thoát.

Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến sự thối đọa cho Tỷ-kheo đã chứng thời giải thoát.

3. Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, không đưa đến sự thối đọa cho vị Tỷ-kheo đã chứng được thời giải thoát. Thế nào là năm?

4. Không ưa thích làm việc (về thân), không ưa thích nói chuyện, không ưa thích ngủ, không ưa thích hội chúng, có quan sát tâm như đã được giải thoát.

Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, không đưa đến sự thối đọa cho Tỷ-kheo đã chứng thời giải thoát.

AN 5.150 Giải thoát tạm thời (2) Dutiyasamayavimuttasutta

"Này các Tỳ kheo, năm điều này dẫn đến sự suy thoái của một Tỳ kheo đạt được thời giải thoát. Năm điều nào? Họ thích thú công việc, nói chuyện, và ngủ nghỉ. Họ không phòng hộ các căn môn (sense doors / cửa ngõ các giác quan) và họ ăn quá nhiều. Năm điều này dẫn đến sự suy thoái của một Tỳ kheo đạt được thời giải thoát.

Năm điều này không dẫn đến sự suy thoái của một Tỳ kheo đạt được thời giải thoát. Năm điều nào? Họ không thích thú công việc, nói chuyện, và ngủ nghỉ. Họ phòng hộ các căn môn và họ có tiết độ trong ăn uống (moderation in eating / ăn uống có chừng mực). Năm điều này không dẫn đến sự suy thoái của một Tỳ kheo đạt được thời giải thoát."

(X) (150) Thời Giải Thoát

1. - Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến sự thối đọa cho Tỷ-kheo đã chứng thời giải thoát. Thế nào là năm?

2. Ưa thích làm việc (về thân), ưa thích nói chuyện, ưa thích ngủ, không chế ngự các căn, không biết tiết độ trong ăn uống.

Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến sự thối đọa cho Tỷ-kheo đã chứng được thời giải thoát.

3. - Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, không đưa đến sự thối đọa cho Tỷ-kheo đã chứng thời giải thoát. Thế nào là năm?

4. Không ưa thích làm việc (về thân), không ưa thích nói chuyện, không ưa thích ngủ, chế ngự các căn, biết tiết độ trong ăn uống.

Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, không đưa đến sự thối đọa cho Tỷ-kheo đã chứng được thời giải thoát.