Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về Chánh Pháp

AN 5.151 Chắc Chắn Đi Vào Chánh Đạo (1) Paṭhamasammattaniyāmasutta

"Này các Tỳ kheo, người có năm phẩm chất thì không thể đi vào chánh đạo (sure path / con đường đúng đắn) đối với các thiện pháp (skillful qualities / phẩm chất tốt lành) ngay cả khi lắng nghe chánh pháp (true teaching / lời dạy đúng đắn). Năm phẩm chất đó là gì? Họ coi thường bài pháp, người thuyết pháp, hoặc chính bản thân mình. Họ lắng nghe với tâm phân tán và không hợp nhất. Họ không như lý tác ý (apply the mind irrationally / hướng tâm sai pháp). Người có năm phẩm chất này thì không thể đi vào chánh đạo đối với các thiện pháp, ngay cả khi lắng nghe chánh pháp.

Người có năm phẩm chất thì có thể đi vào chánh đạo đối với các thiện pháp khi lắng nghe chánh pháp. Năm phẩm chất đó là gì? Họ không coi thường bài pháp, người thuyết pháp, hay chính bản thân mình. Họ lắng nghe với tâm không phân tán và hợp nhất. Họ như lý tác ý (apply the mind rationally / hướng tâm đúng pháp). Người có năm phẩm chất này thì có thể đi vào chánh đạo đối với các thiện pháp khi lắng nghe chánh pháp."

XVI. Phẩm Diệu Pháp

(I) (151) Quyết Ðịnh Tánh Về Diệu Pháp (1)

1. Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, một người nghe diệu pháp không có thể nhập vào quyết định tánh, chánh tánh trong các thiện pháp. Thế nào là năm?

2. Khinh lời thuyết giảng, khinh người thuyết giảng, khinh tự mình, nghe pháp với tâm tán loạn, không nhứt tâm và không như lý tác ý.

Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, người nghe diệu pháp không có thể nhập vào quyết định tánh, chánh tánh trong các thiện pháp.

3. Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, một người nghe diệu pháp có thể nhập vào quyết định tánh, chánh tánh trong các thiện pháp. Thế nào là năm?

4. Không khinh lời thuyết giảng, không khinh người thuyết giảng, không khinh tự mình, nghe pháp với tâm không loạn, nhứt tâm và như lý tác ý.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, người nghe diệu pháp có thể nhập vào quyết định tánh, chánh tánh trong các thiện pháp.

AN 5.152 Chắc Chắn Đi Vào Chánh Đạo (2) Dutiyasammattaniyāmasutta

"Này các Tỳ kheo, người có năm phẩm chất thì không thể đi vào chánh đạo đối với các thiện pháp ngay cả khi lắng nghe chánh pháp. Năm phẩm chất đó là gì? Họ coi thường bài pháp, người thuyết pháp, hoặc chính bản thân mình. Họ ngu si, đần độn, và ngốc nghếch. Họ nghĩ rằng mình biết điều mình không biết. Người có năm phẩm chất này thì không thể đi vào chánh đạo đối với các thiện pháp, ngay cả khi lắng nghe chánh pháp.

Người có năm phẩm chất thì có thể đi vào chánh đạo đối với các thiện pháp khi lắng nghe chánh pháp. Năm phẩm chất đó là gì? Họ không coi thường bài pháp, người thuyết pháp, hay chính bản thân mình. Họ có trí tuệ, sáng suốt, và lanh lợi. Họ không nghĩ rằng mình biết điều mình không biết. Người có năm phẩm chất này thì có thể đi vào chánh đạo đối với các thiện pháp khi lắng nghe chánh pháp."

(II) (152) Quyết Ðịnh Tánh Về Diệu Pháp (2)

1. Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, một người nghe diệu pháp không có thể nhập vào quyết định tánh, chánh tánh trong các thiện pháp. Thế nào là năm?

2. Khinh lời thuyết giảng, khinh người thuyết giảng, khinh tự mình, ác tuệ; đần độn, câm điếc, không tác ý hiểu biết đối với những vấn đề không hiểu biết.

3. Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, một người nghe diệu pháp có thể nhập vào quyết định tánh, chánh tánh trong các thiện pháp. Thế nào là năm?

4. Không khinh lời thuyết giảng, không khinh người thuyết giảng, không khinh tự mình, có trí tuệ; không đần độn, không câm điếc, tác ý hiểu biết đối với những vấn đề không hiểu biết.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, người nghe diệu pháp có thể nhập vào quyết định tánh, chánh tánh trong các thiện pháp.

AN 5.153 Chắc Chắn Đi Vào Chánh Đạo (3) Tatiyasammattaniyāmasutta

"Này các Tỳ kheo, người có năm phẩm chất thì không thể đi vào chánh đạo đối với các thiện pháp ngay cả khi lắng nghe chánh pháp. Năm phẩm chất đó là gì? Họ lắng nghe pháp chỉ chăm chăm vào việc bác bỏ. Họ lắng nghe pháp với tâm thù địch, tìm lỗi. Họ chống đối vị thầy, có ý định công kích họ. Họ ngu si, đần độn, và ngốc nghếch. Và họ nghĩ rằng mình biết điều mình không biết. Người có năm phẩm chất này thì không thể đi vào chánh đạo đối với các thiện pháp, ngay cả khi lắng nghe chánh pháp.

Người có năm phẩm chất thì có thể đi vào chánh đạo đối với các thiện pháp khi lắng nghe chánh pháp. Năm phẩm chất đó là gì? Họ không lắng nghe pháp chỉ chăm chăm vào việc bác bỏ. Họ không lắng nghe pháp với tâm thù địch, tìm lỗi. Họ không chống đối vị thầy, và không có ý định công kích họ. Họ có trí tuệ, sáng suốt, và lanh lợi. Và họ không nghĩ rằng mình biết điều mình không biết. Người có năm phẩm chất này thì có thể đi vào chánh đạo đối với các thiện pháp khi lắng nghe chánh pháp."

(II) (153) Quyết Ðịnh Tánh Về Diệu Pháp (3)

1. Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, một người nghe diệu pháp không có thể nhập vào quyết định tánh, chánh tánh trong các thiện pháp. Thế nào là năm?

2. Nghe pháp với tâm chê bai, với tâm bị chê bai ám ảnh; nghe pháp với tâm cật nạn, tìm tòi khuyết điểm; trong khi pháp được giảng, tâm bị choáng váng, bị chai sạn; ác tuệ; đần độn, câm điếc, không tác ý hiểu biết đối với những vấn đề không hiểu biết.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, một người nghe diệu pháp không có thể nhập vào quyết định tánh, chánh tánh trong các thiện pháp.

3. Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, một người nghe diệu pháp có thể nhập vào quyết định tánh, chánh tánh trong các thiện pháp. Thế nào là năm?

4. Nghe pháp với tâm không chê bai, không bị chê bai ám ảnh; nghe pháp với tâm không cật nạn, không tìm tòi khuyết điểm; trong khi pháp được giảng, tâm không bị choáng váng, không bị chai sạn; có trí tuệ; không đần độn, không câm điếc, tác ý hiểu biết đối với những vấn đề không hiểu biết.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, người nghe diệu pháp có thể nhập vào quyết định tánh, chánh tánh trong các thiện pháp.

AN 5.154 Sự Suy Tàn Của Chánh Pháp (1) Paṭhamasaddhammasammosasutta

"Này các Tỳ kheo, năm điều này dẫn đến sự suy tàn và biến mất của chánh pháp. Năm điều đó là gì? Đó là khi các Tỳ kheo không lắng nghe cẩn thận lời dạy, không ghi nhớ chúng, và không nhớ lại chúng. Họ không xem xét cẩn thận ý nghĩa của những lời dạy mà họ nhớ. Và họ không cẩn thận thực hành phù hợp với ý nghĩa và lời dạy mà họ đã hiểu. Năm điều này dẫn đến sự suy tàn và biến mất của chánh pháp.

Năm điều này dẫn đến sự tiếp nối, tồn tại, và lâu dài của chánh pháp. Năm điều đó là gì? Đó là khi các Tỳ kheo lắng nghe cẩn thận lời dạy, ghi nhớ chúng, và nhớ lại chúng. Họ xem xét cẩn thận ý nghĩa của những lời dạy mà họ nhớ. Và họ cẩn thận thực hành phù hợp với ý nghĩa và lời dạy mà họ đã hiểu. Năm điều này dẫn đến sự tiếp nối, tồn tại, và lâu dài của chánh pháp."

(IV) (154) Diệu Pháp Hỗn Loạn (1)

1. - Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn, biến mất. Thế nào là năm?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo không cẩn trọng nghe pháp; không cẩn trọng học thuộc lòng pháp; không cẩn trọng thọ trì pháp; không cẩn trọng quan sát ý nghĩa các pháp được thọ trì; không cẩn trọng thực hành pháp và tùy pháp sau khi hiểu ý nghĩa và hiểu pháp.

Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn, biến mất.

3. - Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến mất. Thế nào là năm?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cẩn trọng nghe pháp; cẩn trọng học thuộc lòng pháp; cẩn trọng thọ trì pháp; cẩn trọng quan sát ý nghĩa các pháp được thọ trì; cẩn trọng thực hành pháp và tùy pháp sau khi hiểu ý nghĩa và hiểu pháp.

Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến mất.

AN 5.155 Sự Suy Tàn Của Chánh Pháp (2) Dutiyasaddhammasammosasutta

"Này các Tỳ kheo, năm điều này dẫn đến sự suy tàn và biến mất của chánh pháp. Năm điều đó là gì?

Đó là khi các Tỳ kheo không ghi nhớ lời dạy—bao gồm kinh (statements / lời dạy), ứng tụng (mixed prose & verse / kệ xen văn xuôi), ký thuyết (discussions / giải thích), kệ (verses / thơ), cảm hứng ngữ (inspired exclamations / lời cảm thán), bổn sự (legends / chuyện quá khứ), bổn sanh (stories of past lives / chuyện tiền thân), vị tằng hữu pháp (amazing stories / chuyện hy hữu), và phương quảng (elaborations / luận giải rộng). Đây là điều thứ nhất dẫn đến sự suy tàn và biến mất của chánh pháp.

Hơn nữa, các Tỳ kheo không giải thích chi tiết lời dạy cho người khác như họ đã học và ghi nhớ. Đây là điều thứ hai …

Hơn nữa, các Tỳ kheo không khiến người khác đọc tụng chi tiết lời dạy như họ đã học và ghi nhớ. Đây là điều thứ ba …

Hơn nữa, các Tỳ kheo không đọc tụng chi tiết lời dạy như họ đã học và ghi nhớ. Đây là điều thứ tư …

Hơn nữa, các Tỳ kheo không suy ngẫm và quán xét lời dạy trong tâm, xem xét bằng tâm trí như họ đã học và ghi nhớ. Đây là điều thứ năm dẫn đến sự suy tàn và biến mất của chánh pháp.

Năm điều này dẫn đến sự suy tàn và biến mất của chánh pháp.

Năm điều này dẫn đến sự tiếp nối, tồn tại, và lâu dài của chánh pháp. Năm điều đó là gì?

Đó là khi các Tỳ kheo ghi nhớ lời dạy—bao gồm kinh, ứng tụng, ký thuyết, kệ, cảm hứng ngữ, bổn sự, bổn sanh, vị tằng hữu pháp, và phương quảng. Đây là điều thứ nhất dẫn đến sự tiếp nối, tồn tại, và lâu dài của chánh pháp.

Hơn nữa, các Tỳ kheo giải thích chi tiết lời dạy cho người khác như họ đã học và ghi nhớ. Đây là điều thứ hai …

Hơn nữa, các Tỳ kheo khiến người khác đọc tụng chi tiết lời dạy như họ đã học và ghi nhớ. Đây là điều thứ ba …

Hơn nữa, các Tỳ kheo đọc tụng chi tiết lời dạy như họ đã học và ghi nhớ. Đây là điều thứ tư …

Hơn nữa, các Tỳ kheo suy ngẫm và quán xét lời dạy trong tâm, xem xét bằng tâm trí như họ đã học và ghi nhớ. Đây là điều thứ năm dẫn đến sự tiếp nối, tồn tại, và lâu dài của chánh pháp.

Năm điều này dẫn đến sự tiếp nối, tồn tại, và lâu dài của chánh pháp."

(V) (155) Diệu Pháp Hỗn Loạn (2)

1. - Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn, và biến mất. Thế nào là năm?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo không học thuộc lòng Khế kinh, ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Không hỏi tự nói, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Trí giải hay Phương quảng. Ðây là pháp thứ nhất, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến mất.

3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo không thuyết pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ hai, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến mất.

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo không để cho các người khác nói pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ ba, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến mất.

5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo không có đọc tụng pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ tư, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến mất.

6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo với tâm không tùy tầm, không tùy tứ, với ý không tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ năm, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến mất.

Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn, và biến mất.

7. Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, không đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến mất. Thế nào là năm?

8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo học thuộc lòng pháp, Khế kinh, ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Không hỏi tự nói, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Trí giải hay Phương quảng. Ðây là pháp thứ nhất, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến mất.

9. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo thuyết pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ hai, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn và không biến mất.

10. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo để cho các người khác nói pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ ba, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp được an trú, không hỗn loạn và không biến mất.

11. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo đọc tụng pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ tư, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn và không biến mất.

6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo với tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ năm, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến mất.

Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến mất.

AN 5.156 Sự Suy Tàn Của Chánh Pháp (3) Tatiyasaddhammasammosasutta

"Này các Tỳ kheo, năm điều này dẫn đến sự suy tàn và biến mất của chánh pháp. Năm điều đó là gì?

Đó là khi các Tỳ kheo ghi nhớ kinh điển (discourses / các bài kinh) mà họ đã học sai, với từ ngữ và câu cú sai vị trí. Khi từ ngữ và câu cú bị sai vị trí, ý nghĩa bị hiểu sai. Đây là điều thứ nhất dẫn đến sự suy tàn và biến mất của chánh pháp.

Hơn nữa, các Tỳ kheo khó khuyên bảo, có những phẩm chất khiến họ khó khuyên bảo. Họ thiếu kiên nhẫn, và không tiếp nhận lời chỉ dạy một cách kính trọng. Đây là điều thứ hai …

Hơn nữa, các Tỳ kheo đa văn (very learned / học rộng)—những người thừa kế di sản, đã ghi nhớ lời dạy, luật tu viện, và các đề mục (mātikā - outlines / đề cương)—không cẩn thận khiến người khác đọc tụng kinh điển. Khi họ qua đời, kinh điển bị cắt đứt tận gốc, không có ai gìn giữ. Đây là điều thứ ba …

Hơn nữa, các vị Tỳ kheo trưởng lão thì nuông chiều và lười biếng, là những người dẫn đầu trong việc thoái lui, xao lãng việc ẩn cư, không khơi dậy sự siêng năng để đạt được điều chưa đạt, thành tựu điều chưa thành tựu, và chứng ngộ điều chưa chứng ngộ. Những người đến sau họ noi theo gương của họ. Họ cũng trở nên nuông chiều và lười biếng … Đây là điều thứ tư …

Hơn nữa, có sự chia rẽ trong Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng tu sĩ). Khi Tăng đoàn bị chia rẽ, họ mắng nhiếc, lăng mạ, cản trở, và từ bỏ nhau. Điều này không khơi dậy niềm tin nơi những người chưa có niềm tin, và khiến một số người có niềm tin thay đổi suy nghĩ. Đây là điều thứ năm dẫn đến sự suy tàn và biến mất của chánh pháp.

Năm điều này dẫn đến sự suy tàn và biến mất của chánh pháp.

Năm điều này dẫn đến sự tiếp nối, tồn tại, và lâu dài của chánh pháp. Năm điều đó là gì? Đó là khi các Tỳ kheo ghi nhớ kinh điển đã được học đúng, với từ ngữ và câu cú đúng vị trí. Khi từ ngữ và câu cú được sắp xếp tốt, ý nghĩa được hiểu đúng. Đây là điều thứ nhất dẫn đến sự tiếp nối, tồn tại, và lâu dài của chánh pháp.

Hơn nữa, các Tỳ kheo dễ khuyên bảo, có những phẩm chất khiến họ dễ khuyên bảo. Họ kiên nhẫn, và tiếp nhận lời chỉ dạy một cách kính trọng. Đây là điều thứ hai …

Hơn nữa, các Tỳ kheo đa văn—những người thừa kế di sản, đã ghi nhớ lời dạy, luật tu viện, và các đề mục—cẩn thận khiến người khác đọc tụng kinh điển. Khi họ qua đời, kinh điển không bị cắt đứt tận gốc, và có người gìn giữ chúng. Đây là điều thứ ba …

Hơn nữa, các vị Tỳ kheo trưởng lão không nuông chiều và lười biếng, không phải là người dẫn đầu trong việc thoái lui, không xao lãng việc ẩn cư. Họ khơi dậy sự siêng năng để đạt được điều chưa đạt, thành tựu điều chưa thành tựu, và chứng ngộ điều chưa chứng ngộ. Những người đến sau họ noi theo gương của họ. Họ cũng không nuông chiều hay lười biếng … Đây là điều thứ tư …

Hơn nữa, Tăng đoàn sống thoải mái, hòa hợp, quý mến lẫn nhau, không cãi vã, cùng một cách đọc tụng. Khi Tăng đoàn hòa hợp, họ không mắng nhiếc, lăng mạ, cản trở, hay từ bỏ nhau. Điều này khơi dậy niềm tin nơi những người chưa có niềm tin, và làm tăng trưởng niềm tin nơi những người đã có. Đây là điều thứ năm dẫn đến sự tiếp nối, tồn tại, và lâu dài của chánh pháp.

Năm điều này dẫn đến sự tiếp nối, tồn tại, và lâu dài của chánh pháp."

(VI) (156) Diệu Pháp Hỗn Loạn (3)

1. - Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn, và biến mất. Thế nào là năm?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo học thuộc lòng kinh điển bị nắm giữ sai lạc, với những văn cú đặt sai lầm. Này các Tỷ-kheo, với văn cú đặt sai lầm, ý nghĩa bị hướng dẫn sai lạc. Ðây là pháp thứ nhất, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến mất.

3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo là những người khó nói, đầy đủ những tánh khiến họ trở thành khó nói, khó kham nhẫn, không cung kính đón nhận khi được giảng dạy. Ðây là pháp thứ hai, này các Tỷ-kheo, khiến diệu pháp hỗn loạn và biết mất.

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối với các Tỷ-kheo nghe nhiều Thánh giáo được trao truyền, là bậc trì Pháp, trì Luật, trì Toát yếu, các vị ấy không cẩn trọng để cho các người khác nói pháp. Do duyên này của họ, Khế kinh như bị đứt gốc, không còn là chỗ nương tựa. Ðây là pháp thứ ba, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến mất.

5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo trưởng lão là những vị sống đầy đủ, biếng nhác, dẫn đầu trong thối đọa, từ bỏ gánh nặng viễn ly, không có hăng hái tinh tấn để chứng đạt những gì chưa chúng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Và quần chúng về sau sẽ đi theo tri kiến của họ. Họ cũng sẽ trở thành những người sống đầy đủ, biếng nhác, dẫn đầu trong thối đọa, từ bỏ gánh nặng viễn ly, sẽ không hăng hái tinh tấn để chứng đạt những gì chưa chúng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Ðây là pháp thứ tư, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến mất.

6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, chúng Tăng bị chia rẽ. Khi chúng Tăng bị chia rẽ, này các Tỷ-kheo, có sự mắng nhiếc lẫn nhau, có sự đấu khẩu lẫn nhau, có sử thanh trừng lẫn nhau, có sự tẩn xuất lẫn nhau. Ai không có tịnh tín không tìm được tịnh tín, và những ai có tịnh tín có thể đổi khác. Ðây là pháp thứ năm, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến mất.

Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn, và biến mất.

7. Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến mất. Thế nào là năm?

8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo học thuộc lòng kinh điển được nắm giữ tốt đẹp, với những văn cú được phối trí chơn chánh và ý nghĩa được hướng dẫn chơn chánh. Ðây là pháp thứ nhất, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biết mất.

9. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo là những người dễ nói, dễ kham nhẫn, cung kính đón nhận khi được giảng dạy. Ðây là pháp thứ hai, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến mất.

10. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối với các Tỷ-kheo nghe nhiều Thánh giáo được trao truyền, là bậc trì Pháp, trì Luật, trì Toát yếu, các vị ấy cẩn trọng để cho các người khác nói pháp. Do duyên này của họ, kinh điển không bị đứt gốc, là chỗ nương tựa. Ðây là pháp thứ ba, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến mất.

11. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo trưởng lão không sống đầy đủ, không biếng nhác, từ bỏ gánh nặng đọa lạc, dẫn đầu trong đời sống viễn ly, hăng hái tinh tấn để chứng đạt những gì chưa chúng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Và quần chúng về sau sẽ đi theo tri kiến của họ. Họ cũng sẽ trở thành những người không sống đầy đủ, không biếng nhác, từ bỏ gánh nặng đọa lạc, dẫn đầu trong đời sống viễn ly, hăng hái tinh tấn để chứng đạt những gì chưa chúng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Ðây là pháp thứ tư, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp được an trú, không hỗn loạn, không biến mất.

12. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, chúng Tăng hòa hợp, hoan hỷ, không tranh luận, cùng một giáo lý, sống an ổn. Khi chúng Tăng hòa hợp, này các Tỷ-kheo, không có sự mắng nhiếc lẫn nhau, không có sự đấu khẩu lẫn nhau, không có sự thanh trừng lẫn nhau không có sự tẩn xuất lẫn nhau. Ai không có tịnh tín tìm được tịnh tín, và những ai có tịnh tín không có đổi khác. Ðây là pháp thứ năm, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp được an trú, không hỗn loạn, không biến mất.

Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến mất.

AN 5.157 Nói Chuyện Không Thích Hợp Dukkathāsutta

"Này các Tỳ kheo, không thích hợp để nói chuyện với năm loại người về một phẩm chất nào đó. Năm loại đó là gì?

Không thích hợp để nói chuyện với người không có niềm tin (faith / sự tin tưởng) về niềm tin. Không thích hợp để nói chuyện với người không có đạo đức (ethics / phẩm hạnh) về đạo đức. Không thích hợp để nói chuyện với người ít học về học vấn (learning / sự hiểu biết giáo pháp). Không thích hợp để nói chuyện với người keo kiệt về sự rộng rãi (generosity / lòng hào phóng). Không thích hợp để nói chuyện với người ngu si về trí tuệ (wisdom / sự hiểu biết đúng đắn).

Và tại sao không thích hợp để nói chuyện với người không có niềm tin về niềm tin? Khi nói chuyện với người không có niềm tin về niềm tin, họ nổi nóng, trở nên bực bội, thù địch, và cứng lòng, và biểu lộ sự bực bội, căm ghét, và cay đắng. Tại sao vậy? Vì không thấy niềm tin đó nơi chính mình, họ không có được hỷ lạc (rapture and joy / sự vui mừng và hạnh phúc) mà niềm tin mang lại. Đó là lý do tại sao không thích hợp để nói chuyện với người không có niềm tin về niềm tin.

Và tại sao không thích hợp để nói chuyện với người không có đạo đức về đạo đức? Khi nói chuyện với người không có đạo đức về đạo đức, họ nổi nóng … Tại sao vậy? Vì không thấy giới hạnh (ethical conduct / hành vi đạo đức) đó nơi chính mình, họ không có được hỷ lạc mà giới hạnh mang lại. Đó là lý do tại sao không thích hợp để nói chuyện với người không có đạo đức về đạo đức.

Và tại sao không thích hợp để nói chuyện với người ít học về học vấn? Khi nói chuyện với người ít học về học vấn, họ nổi nóng … Tại sao vậy? Vì không thấy học vấn đó nơi chính mình, họ không có được hỷ lạc mà học vấn mang lại. Đó là lý do tại sao không thích hợp để nói chuyện với người ít học về học vấn.

Và tại sao không thích hợp để nói chuyện với người keo kiệt về sự rộng rãi? Khi nói chuyện với người keo kiệt về sự rộng rãi, họ nổi nóng … Tại sao vậy? Vì không thấy sự rộng rãi đó nơi chính mình, họ không có được hỷ lạc mà sự rộng rãi mang lại. Đó là lý do tại sao không thích hợp để nói chuyện với người keo kiệt về sự rộng rãi.

Và tại sao không thích hợp để nói chuyện với người ngu si về trí tuệ? Khi nói chuyện với người ngu si về trí tuệ, họ nổi nóng, trở nên bực bội, thù địch, và cứng lòng, và biểu lộ sự bực bội, căm ghét, và cay đắng. Tại sao vậy? Vì không thấy trí tuệ đó nơi chính mình, họ không có được hỷ lạc mà trí tuệ mang lại. Đó là lý do tại sao không thích hợp để nói chuyện với người ngu si về trí tuệ.

Không thích hợp để nói chuyện với năm loại người này về những phẩm chất đó.

Thích hợp để nói chuyện với năm loại người về một phẩm chất nào đó. Năm loại đó là gì?

Thích hợp để nói chuyện với người có niềm tin về niềm tin. Thích hợp để nói chuyện với người có đạo đức về đạo đức. Thích hợp để nói chuyện với người có học vấn về học vấn. Thích hợp để nói chuyện với người rộng rãi về sự rộng rãi. Thích hợp để nói chuyện với người có trí tuệ về trí tuệ.

Và tại sao thích hợp để nói chuyện với người có niềm tin về niềm tin? Khi nói chuyện với người có niềm tin về niềm tin, họ không nổi nóng, không trở nên bực bội, thù địch, và cứng lòng, hay biểu lộ sự bực bội, căm ghét, và cay đắng. Tại sao vậy? Vì thấy niềm tin đó nơi chính mình, họ có được hỷ lạc mà niềm tin mang lại. Đó là lý do tại sao thích hợp để nói chuyện với người có niềm tin về niềm tin.

Và tại sao thích hợp để nói chuyện với người có đạo đức về đạo đức? Khi nói chuyện với người có đạo đức về đạo đức, họ không nổi nóng … Tại sao vậy? Vì thấy giới hạnh đó nơi chính mình, họ có được hỷ lạc mà giới hạnh mang lại. Đó là lý do tại sao thích hợp để nói chuyện với người có đạo đức về đạo đức.

Và tại sao thích hợp để nói chuyện với người có học vấn về học vấn? Khi nói chuyện với người có học vấn về học vấn, họ không nổi nóng … Tại sao vậy? Vì thấy học vấn đó nơi chính mình, họ có được hỷ lạc mà học vấn mang lại. Đó là lý do tại sao thích hợp để nói chuyện với người có học vấn về học vấn.

Và tại sao thích hợp để nói chuyện với người rộng rãi về sự rộng rãi? Khi nói chuyện với người rộng rãi về sự rộng rãi, họ không nổi nóng … Tại sao vậy? Vì thấy sự rộng rãi đó nơi chính mình, họ có được hỷ lạc mà sự rộng rãi mang lại. Đó là lý do tại sao thích hợp để nói chuyện với người rộng rãi về sự rộng rãi.

Và tại sao thích hợp để nói chuyện với người có trí tuệ về trí tuệ? Khi nói chuyện với người có trí tuệ về trí tuệ, họ không nổi nóng, không trở nên bực bội, thù địch, và cứng lòng, hay biểu lộ sự bực bội, căm ghét, và cay đắng. Tại sao vậy? Vì thấy trí tuệ đó nơi chính mình, họ có được hỷ lạc mà trí tuệ mang lại. Đó là lý do tại sao thích hợp để nói chuyện với người có trí tuệ về trí tuệ.

Thích hợp để nói chuyện với năm loại người này về những phẩm chất đó."

(VII) (157) Ác Thuyết

1. - Lời nói của năm hạng người, này các Tỷ-kheo, là ác thuyết, khi có sự đối chứng giữa người và người. Thế nào là năm?

2. Nói về tín với người không tin, này các Tỷ-kheo, là ác thuyết; nói về giới với người ác giới là ác thuyết; nói về nghe nhiều với người nghe ít là ác thuyết; nói về bố thí với người xan tham là ác thuyết; nói về trí tuệ với người ác tuệ là ác thuyết. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là nói về tín với người không tin là ác thuyết?

3. Người không tin, này các Tỷ-kheo, khi được nói về lòng tin liền tức tối, phẫn nộ, hiềm khích, mất bình tĩnh, biểu lộ phẫn nộ, sân hận, phiền muộn. Vì sao? Vì rằng vị ấy không thấy tự mình có đầy đủ lòng tin, do nhân duyên ấy, không có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về tín với người không có lòng tin là ác thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về giới với người ác giới là ác thuyết?

4. Người ác giới, này các Tỷ-kheo, khi được nói về giới liền tức tối, phẫn nộ…Vì sao? Vì rằng vị ấy không thấy tự mình có đầy đủ giới, do nhân duyên ấy, không có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về giới với người ác giới là ác thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về nghe nhiều với người nghe ít là ác thuyết?

5. Người nghe ít, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến nghe nhiều liền tức tối, phẫn nộ…Vì sao? Vì rằng vị ấy không thấy tự mình có đầy đủ nghe nhiều, do nhân duyên ấy, không có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về nghe nhiều với người nghe ít là ác thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về bố thí với người xan tham là ác thuyết?

6. Người xan tham, này các Tỷ-kheo, khi được nói về bố thí liền tức tối, phẫn nộ…Vì sao? Vì rằng vị ấy không thấy tự mình có đầy đủ bố thí, do nhân duyên ấy, không có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về bố thí với người xan tham là ác thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về tuệ với người ác tuệ là ác thuyết?

7. Người ác tuệ, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến trí tuệ liền tức tối, phẫn nộ…Vì sao? Vì rằng vị ấy không thấy tự mình có đầy đủ trí tuệ, do nhân duyên ấy, không có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về trí tuệ với người ác tuệ là ác thuyết.

Lời nói của năm hạng người này là ác thuyết, khi có sự đối chứng giữa người và người.

8. Lời nói của năm hạng người này là thiện thuyết, khi có sự đối chứng giữa người và người. Thế nào là năm?

9. Thuyết về tín cho người có lòng tin, này các Tỷ-kheo, là thiện thuyết; thuyết về giới cho người giữ giới là thiện thuyết; thuyết về nghe nhiều cho người nghe nhiều là thiện thuyết; thuyết về bố thí cho người bố thí là thiện thuyết; thuyết về trí tuệ cho người trí tuệ là thiện thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao thuyết về lòng tin cho người có lòng tin là thiện thuyết?

10. Người có lòng tin, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến lòng tin thì không tức tối, không phẫn nộ, không hiềm khích, không mất bình tĩnh, không biểu lộ phẫn nộ, sân hận, phiền muộn. Vì sao? Vì rằng vị ấy thấy tự mình có đầy đủ lòng tin, do nhân duyên ấy, có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về tín với người có lòng tin là thiện thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về giới cho người giữ giới là thiện thuyết?

11. Người giữ giới, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến về giới thì không tức tối, không phẫn nộ, không hiềm khích, không mất bình tĩnh, không biểu lộ phẫn nộ, không sân hận, không phiền muộn. Vì sao? Vì rằng vị ấy thấy tự mình có đầy đủ giới, do nhân duyên ấy, có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về giới với người có giữ giới là thiện thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về nghe nhiều cho người nghe nhiều là thiện thuyết?

12. Người nghe nhiều, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến nghe nhiều thì không tức tối, không phẫn nộ, không hiềm khích…không phiền muộn. Vì sao? Vì rằng vị ấy thấy tự mình có nghe nhiều, do nhân duyên ấy, có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về nghe nhiều với người có nghe nhiều là thiện thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về bố thí cho người bố thí là thiện thuyết?

13. Người bố thí, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến bố thí thì không tức tối, không phẫn nộ, không hiềm khích…không phiền muộn. Vì sao? Vì rằng vị ấy thấy tự mình có bố thí, do nhân duyên ấy, có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về bố thí với người có bố thí là thiện thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về trí tuệ cho người có trí tuệ là thiện thuyết?

14. Người trí tuệ, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến trí tuệ thì không tức tối…không phiền muộn. Vì sao? Vì rằng vị ấy thấy tự mình có trí tuệ, do nhân duyên ấy, có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về trí tuệ với người có trí tuệ là thiện thuyết.

Lời thuyết của năm hạng người này, này các Tỷ-kheo, là thiện thuyết khi có sự đối chứng giữa người và người.

AN 5.158 Sự Rụt Rè Sārajjasutta

"Này các Tỳ kheo, một Tỳ kheo có năm phẩm chất thì bị sự rụt rè (timidity / sự e sợ, thiếu tự tin) chi phối. Năm phẩm chất đó là gì? Đó là khi một Tỳ kheo không có niềm tin, không có đạo đức, ít học, lười biếng, và ngu si. Một Tỳ kheo có năm phẩm chất này thì bị sự rụt rè chi phối.

Một Tỳ kheo có năm phẩm chất thì tự tin (self-assured / vững vàng, không e sợ). Năm phẩm chất đó là gì? Đó là khi một Tỳ kheo có niềm tin, có đạo đức, có học vấn, siêng năng, và có trí tuệ. Một Tỳ kheo có năm phẩm chất này thì tự tin."

VIII (158) Sợ Hãi

Quang Pham1. - Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo rơi vào trong sợ hãi. Thế nào là năm?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có lòng tin, giữ ác giới, nghe ít, biếng nhác và ác tuệ.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo rơi vào trong sợ hãi.

3. Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có sợ hãi. Thế nào là năm?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có lòng tin, có giới, có nghe nhiều, tinh cần tinh tấn, có trí tuệ.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có sợ hãi.

AN 5.159 Với Udāyī Udāyīsutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú gần Kosambi, tại tu viện Ghosita. Lúc bấy giờ, Tôn giả Udāyī đang ngồi thuyết giảng Pháp (Dhamma / lời dạy của Đức Phật), xung quanh là một hội chúng đông đảo gồm cư sĩ tại gia. Thấy vậy, Tôn giả Ānanda đi đến Thế Tôn, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, Tôn giả Udāyī đang thuyết giảng Pháp, xung quanh là một hội chúng đông đảo gồm cư sĩ tại gia.”

"Này Ānanda, không dễ để thuyết giảng Pháp cho người khác. Con nên tự mình thiết lập năm điều trước khi thuyết giảng Pháp cho người khác. Năm điều đó là gì?

Con nên thuyết giảng Pháp cho người khác với suy nghĩ: ‘Ta sẽ giảng dạy tuần tự.’ …

‘Ta sẽ giảng dạy, chỉ rõ phương pháp.’ …

‘Ta sẽ giảng dạy vì lòng từ.’ …

‘Ta sẽ không giảng dạy với hy vọng ngầm về lợi lộc.’ …

‘Ta sẽ giảng dạy mà không làm hại mình hay người khác.’

Không dễ để thuyết giảng Pháp cho người khác. Con nên tự mình thiết lập năm điều này trước khi thuyết giảng Pháp cho người khác."

(IX) (159) Tôn Gỉa Udàyi

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambì, tại khu vườn Ghosita. Lúc bấy giờ, Tôn giả Udàyi có hội chúng cư sĩ đông đảo đoanh vây đang ngồi thuyết pháp. Tôn giả Ananda thấy Tôn giả Udàyi có hội chúng đông đảo đoanh vây đang ngồi thuyết pháp, sau khi thấy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Tôn giả Udàyi có hội chúng cư sĩ đông đảo đoanh vây đang ngồi thuyết pháp.

− Này Ananda, thật không dễ gì để thuyết pháp cho các người khác. Ðể thuyết pháp cho các người khác, này Ananda, sau khi nội tâm an trú được năm pháp, mới nên thuyết pháp cho các người khác. Thế nào là năm?

2. “Ta sẽ thuyết pháp tuần tự”, thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy. “Ta sẽ thuyết với mắt nhìn vào pháp môn”, thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy. “Ta sẽ thuyết vì lòng từ mẫn”, thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy. “Ta sẽ thuyết pháp, không phải vì tài vật”, thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy. “Ta sẽ thuyết pháp, không làm thương tổn cho mình và cho người”. Thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy.

− Này Ananda, thật không dễ gì để thuyết pháp cho các người khác. Ðể thuyết pháp cho các người khác, này Ananda, sau nội tâm an trú được năm pháp, mới nên thuyết pháp cho các người khác.

AN 5.160 Khó Loại Bỏ Duppaṭivinodayasutta

“Này các Tỳ kheo, năm điều này khó loại bỏ một khi chúng đã sinh khởi. Năm điều đó là gì? Tham lam (Greed / lòng ham muốn), tức giận (Hate / lòng căm ghét, tức giận), si mê (Delusion / sự mê lầm, không thấy rõ sự thật), sự thích nói chuyện phù phiếm (feeling of being inspired to speak out / niềm vui thích nói lời vô ích), và ý nghĩ muốn du hành (thoughts of traveling / tâm muốn đi lại). Năm điều này khó loại bỏ một khi chúng đã sinh khởi.”

(X) (160) Khó Trừ Khử

1. - Năm pháp này khởi lên, này các Tỷ-kheo, thật khó trừ khử. Thế nào là năm?

2. Tham khởi lên, thật khó trừ khử; sân khởi lên, thật khó trừ khử; si khởi lên, thật khó trừ khử; ham nói khởi lên, thật khó trừ khử; tâm lang thang thật khó trừ khử.

Năm pháp này đã khởi lên, này các Tỷ-kheo, thật khó trừ khử.