Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về Sự Oán Giận

AN 5.161 Đoạn Trừ Oán Giận (1) Paṭhamaāghātapaṭivinayasutta

"Này các Tỳ kheo, một vị Tỳ kheo nên dùng năm phương pháp này để đoạn trừ hoàn toàn sự oán giận khi nó khởi lên đối với bất kỳ ai. Năm phương pháp đó là gì?

Con nên phát triển tâm từ (love / lòng yêu thương) đối với người mà con oán giận. Đó là cách để đoạn trừ sự oán giận đối với người đó.

Con nên phát triển lòng bi (compassion / lòng thương xót) đối với người mà con oán giận. …

Con nên phát triển tâm xả (equanimity / tâm bình thản) đối với người mà con oán giận. …

Con nên lờ đi người mà con oán giận, không chú ý đến họ. …

Con nên tập trung vào nghiệp (deeds / hành động và kết quả của hành động) và quyền thừa kế nghiệp của người đó: ‘Vị tôn giả này là chủ nhân của nghiệp và là người thừa kế nghiệp của mình. Nghiệp là thai tạng, là quyến thuộc, là nơi nương tựa của họ. Họ sẽ là người thừa kế bất cứ nghiệp nào họ làm, dù tốt hay xấu.’ Đó là cách để đoạn trừ sự oán giận đối với người đó.

Một vị Tỳ kheo nên dùng năm phương pháp này để đoạn trừ hoàn toàn sự oán giận khi nó khởi lên đối với bất kỳ ai."

XVII. Phẩm Hiềm Hận

(I) (161) Trừ Khử Hiềm Hận (1)

1. - Có năm trừ khử hiềm hận này, này các Tỷ-kheo, ở đây, vị Tỷ-kheo có hiềm hận khởi lên cần phải được trừ khử một cách hoàn toàn. Thế nào là năm?

2. Trong người nào, này các Tỷ-kheo, hiềm hận được sanh, trong người ấy, từ cần phải tu tập. Như vậy trong người ấy, hiềm hận cần phải trừ khử.

3. Trong người nào, hiềm hận được sanh, trong người ấy, bi cần phải tu tập. Như vậy trong người ấy, hiềm hận cần phải trừ khử.

4. Trong người nào, hiềm hận được sanh, trong người ấy xả cần phải tu tập. Như vậy trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử.

5. Trong người nào, này các Tỷ-kheo, hiềm hận được sanh, trong người ấy, vô niệm, vô tác ý cần được thực hiện. Như vậy trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử.

6. Trong người nào, này các Tỷ-kheo, hiềm hận được sanh, trong người ấy, sự kiện nghiệp do mình tạo cần phải an lập là: “Tôn giả là chủ của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, là khởi nguyên của nghiệp, là bà con của nghiệp, là chỗ nương tựa của nghiệp. Phàm nghiệp thiện hay ác được làm Tôn giả sẽ là người thừa tự nghiệp ấy”. Như vậy, trong người ấy, hiềm hận cần phải được trừ khử.

Này các Tỷ-kheo, có năm trừ khử hiềm hận này, ở đây, hiềm hận khởi lên cho Tỷ-kheo cần phải trừ khử một cách hoàn toàn.

AN 5.162 Đoạn Trừ Oán Giận (2) Dutiyaāghātapaṭivinayasutta

Tại đó, Tôn giả Sāriputta nói với các Tỳ kheo: “Này chư Hiền, các Tỳ kheo!”

“Thưa Hiền giả,” họ đáp. Tôn giả Sāriputta nói:

"Này chư Hiền, một vị Tỳ kheo nên dùng năm phương pháp này để đoạn trừ hoàn toàn sự oán giận khi nó khởi lên đối với bất kỳ ai. Năm phương pháp đó là gì?

Trường hợp một người có hành vi qua thân không trong sạch, nhưng hành vi qua lời nói lại trong sạch, con nên đoạn trừ sự oán giận đối với người như vậy.

Trường hợp một người có hành vi qua lời nói không trong sạch, nhưng hành vi qua thân lại trong sạch, …

Trường hợp một người có hành vi qua thân và lời nói không trong sạch, nhưng thỉnh thoảng có được sự cởi mở và trong sáng của tâm (openness and clarity of heart / tâm trí thoáng đãng và sáng suốt), …

Trường hợp một người có hành vi qua thân và lời nói không trong sạch, và thỉnh thoảng không có được sự cởi mở và trong sáng của tâm, …

Trường hợp một người có hành vi qua thân và lời nói trong sạch, và thỉnh thoảng có được sự cởi mở và trong sáng của tâm, con nên đoạn trừ sự oán giận đối với người như vậy.

Làm thế nào để đoạn trừ oán giận đối với một người có hành vi qua thân không trong sạch, nhưng hành vi qua lời nói lại trong sạch? Ví như một vị Tỳ kheo mặc y phấn tảo (rag robes / y may từ vải vụn nhặt được) thấy một miếng giẻ bên vệ đường. Vị ấy dùng chân trái giữ lại, dùng chân phải trải ra, xé lấy phần còn nguyên vẹn và mang đi. Cũng vậy, lúc đó con nên bỏ qua hành vi không trong sạch qua thân của người đó và tập trung vào hành vi trong sạch qua lời nói của họ. Đó là cách để đoạn trừ sự oán giận đối với người đó.

Làm thế nào để đoạn trừ oán giận đối với một người có hành vi qua lời nói không trong sạch, nhưng hành vi qua thân lại trong sạch? Ví như có một hồ sen phủ đầy rêu và cây thủy sinh. Rồi một người đi đến, đang vật lộn với cái nóng oi bức, mệt mỏi, khát khô. Người ấy lao xuống hồ sen, gạt rêu và cây thủy sinh ra, dùng tay vốc nước uống, rồi đi tiếp. Cũng vậy, lúc đó con nên bỏ qua hành vi không trong sạch qua lời nói của người đó và tập trung vào hành vi trong sạch qua thân của họ. Đó là cách để đoạn trừ sự oán giận đối với người đó.

Làm thế nào để đoạn trừ oán giận đối với một người có hành vi qua thân và lời nói không trong sạch, nhưng thỉnh thoảng có được sự cởi mở và trong sáng của tâm? Ví như có một ít nước trong dấu chân bò. Rồi một người đi đến, đang vật lộn với cái nóng oi bức, mệt mỏi, khát khô. Người ấy có thể nghĩ: ‘Chút nước ít ỏi này ở trong dấu chân bò. Nếu ta dùng tay hay bát để uống, ta sẽ làm nó vẩn đục và khuấy động, khiến không thể uống được. Sao ta không cúi rạp bốn chi xuống và uống như bò, rồi đi tiếp?’ Và người ấy làm như vậy. Cũng vậy, lúc đó con nên bỏ qua hành vi không trong sạch qua lời nói và thân của người đó, và tập trung vào việc thỉnh thoảng họ có được sự cởi mở và trong sáng của tâm. Đó là cách để đoạn trừ sự oán giận đối với người đó.

Làm thế nào để đoạn trừ oán giận đối với một người có hành vi qua thân và lời nói không trong sạch, và thỉnh thoảng không có được sự cởi mở và trong sáng của tâm? Ví như một người đang đi trên đường, bị bệnh, đau khổ, ốm nặng. Và còn xa mới đến làng, dù đi tới hay lui. Và họ không có thức ăn hay thuốc men phù hợp, không có người chăm sóc có khả năng, hay ai đó đưa họ vào làng. Một người khác đi trên đường có thể thấy họ, và chỉ nghĩ về họ với lòng cảm thông, tử tế và thương xót: ‘Ôi, mong sao người này có được thức ăn hay thuốc men phù hợp, hoặc người chăm sóc có khả năng, hoặc ai đó đưa họ vào làng. Tại sao vậy? Để họ không bị hủy hoại ngay tại đây.’ Cũng vậy, lúc đó con nên bỏ qua hành vi không trong sạch qua lời nói và thân của người đó, và việc thỉnh thoảng họ không có được sự cởi mở và trong sáng của tâm, và chỉ nghĩ về họ với lòng bi, lòng từ và lòng cảm thông: ‘Ôi, mong sao người này từ bỏ hành vi xấu (bad conduct / cách cư xử không tốt) qua thân, lời, ý và phát triển hành vi tốt (good conduct / cách cư xử tốt đẹp) qua thân, lời, ý. Tại sao vậy? Để sau khi thân hoại mạng chung, họ không tái sinh vào cõi khổ (place of loss / nơi đau khổ), ác xứ (bad place / nơi xấu xa), đọa xứ (underworld / nơi sa đọa), địa ngục (hell / nơi thống khổ cùng cực).’ Đó là cách để đoạn trừ sự oán giận đối với người đó.

Làm thế nào để đoạn trừ oán giận đối với một người có hành vi qua thân và lời nói trong sạch, và thỉnh thoảng có được sự cởi mở và trong sáng của tâm? Ví như có một hồ sen nước trong, ngọt, mát, sạch, bờ thoai thoải, dễ chịu, và được nhiều cây che bóng. Rồi một người đi đến, đang vật lộn với cái nóng oi bức, mệt mỏi, khát khô. Người ấy lao xuống hồ sen tắm và uống. Sau khi lên bờ, họ ngồi hoặc nằm ngay dưới bóng cây.

Cũng vậy, lúc đó con nên tập trung vào hành vi trong sạch qua thân và lời nói của người đó, và vào việc thỉnh thoảng họ có được sự cởi mở và trong sáng của tâm. Đó là cách để đoạn trừ sự oán giận đối với người đó. Nương tựa vào một người đáng kính trọng về mọi mặt, tâm trở nên vững tin.

Một vị Tỳ kheo nên dùng năm phương pháp này để đoạn trừ hoàn toàn sự oán giận khi nó khởi lên đối với bất kỳ ai."

(II) (162) Trừ Khử Hiềm Hận (2)

1. Ở đây, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Hiền giả Tỷ-kheo.

− Thưa Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau:

2. - Này các Hiền giả, có năm trừ khử hiềm hận này, ở đây, hiềm hận khởi lên cho Tỷ-kheo cần phải được trừ khử một cách hoàn toàn. Thế nào là năm?

3. Ở đây, này các Hiền giả, có người thân hành không thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, trong người như vậy, này các Hiền giả, hiềm hận cần phải trừ khử.

4. Ở đây, này các Hiền giả, có người khẩu hành không thanh tịnh, thân hành thanh tịnh, trong người như vậy, này các Hiền giả, hiềm hận cần phải trừ khử.

5. Ở đây, này các Hiền giả, có người thân hành không thanh tịnh, khẩu hành không thanh tịnh, nhưng thỉnh thoảng tâm được mở rộng, tâm được tịnh tín, trong người như vậy, này các Hiền giả, hiềm hận cần phải trừ khử.

6. Ở đây, này các Hiền giả, có người thân hành không thanh tịnh, khẩu hành không thanh tịnh, và thỉnh thoảng không được tâm rộng mở, không được tâm tịnh tín, trong người như vậy, này các Hiền giả, hiềm hận cần phải trừ khử.

7. Ở đây, này các Hiền giả, có người thân hành thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, và thỉnh thoảng tâm được rộng mở, tâm được tịnh tín, trong người như vậy, này các Hiền giả, hiềm hận cần phải trừ khử.

8. Ở đây, này các Hiền giả, người này thân hành không thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh. Như thế nào, trong người ấy hiềm hận cần được trừ khử?

9. Ví như, này các Hiền giả, Tỷ-kheo mặc áo lượm từ đống rác, thấy một tấm vải (liệng ở đống rác) trên con đường xe đi, liền lấy chân trái chận lại, lấy chăn mặt kéo tấm vải cho rộng ra, đoạn nào là đoạn chánh, làm cho nó có thể sử dụng được rồi cầm lấy mang đi. Cũng vậy, này các Hiền giả, người này, với thân hành không thanh tịnh, với khẩu hành thanh tịnh; những cái gì thuộc về thân hành không thanh tịnh; lúc bấy giờ vị ấy không nên tác ý; còn những gì thuộc khẩu hành thanh tịnh, lúc bấy giờ vị ấy nên tác ý. Như vậy, trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử.

10. Ở đây, này các Hiền giả, người này với khẩu hành không thanh tịnh, với thân hành thanh tịnh. Như thế nào, trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử?

11. Ví như, này các Hiền giả, một hồ nước đầy bùn và cây lau. Rồi một người đi đến bị nóng nhiệt não, bị nóng bức bách, mệt mỏi, thèm uống nước, khát nước. Người ấy ngụp lặn trong hồ nước ấy, lấy hai tay gạt ra ngoài bùn và lá cây, lấy bàn tay bụm nước lại, uống rồi ra đi. Cũng vậy, này các Hiền giả, người này, với khẩu hành không thanh tịnh, với thân hành thanh tịnh; những cái gì thuộc về khẩu hành không thanh tịnh; lúc bấy giờ vị ấy không nên tác ý; còn những gì thuộc thân hành thanh tịnh, lúc bấy giờ vị ấy nên tác ý. Như vậy, trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử.

12. Ở đây, này các Hiền giả, người này với thân hành không thanh tịnh, với khẩu hành không thanh tịnh, thỉnh thoảng tâm được rộng mở, tâm được tịnh tín. Như thế nào, trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử?

13. - Ví như, này các Hiền giả, ít nước trong dấu chân của con bò. Rồi một người đi đến bị nóng nhiệt não, bị nóng bức bách, mệt mỏi, thèm uống nước, khát nước. Người ấy suy nghĩ như sau: “Một ít nước này trong dấu chân con bò, nếu ta uống với núm tay hay với cái chén, ta sẽ làm nước ấy dao động và di động, khiến nước không thể uống được. Vậy ta hãy gieo mình xuống với cả bốn thân phần uống nước rồi ra đi”. Rồi người ấy gieo mình xuống với cả bốn thân phần, uống nước rồi ra đi. Cũng vậy, này các Hiền giả, người này với thân hành không thanh tịnh, với khẩu hành không thanh tịnh, với tâm thỉnh thoảng được mở rộng và tịnh tín; những cái gì thuộc thân hành không thanh tịnh, lúc bấy giờ vị ấy không nên tác ý; những cái gì thuộc khẩu hành không thanh tịnh, lúc bấy giờ vị ấy không nên tác ý; những cái gì thuộc tâm thỉnh thoảng được rộng mở và sáng suốt, lúc bấy giờ vị ấy nên tác ý. Như vậy trong người ấy hiền hận cần phải trừ khử.

14. Ở đây, này các Hiền giả, người này với thân hành không thanh tịnh, với khẩu hành không thanh tịnh và thỉnh thoảng tâm không được rộng mở và tịnh tín. Như thế nào, trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử?

15. - Ví như, này các Hiền giả, có người đau bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh, đang đi giữa đường, có làng xa trước mặt, có làng xa sau lưng, nó không có được các đồ ăn thích đáng, nó không có được các dược phẩm trị bệnh thích đáng, không có được sự giúp đỡ thích đáng, không có người hướng dẫn đưa đến tận cuối làng.

Một người khác cũng đang đi trên đường thấy người ấy. Người này đối với người ấy khởi lên lòng từ, khởi lên lòng thương tưởng, khởi lên lòng từ mẫn: “Ôi, mong rằng người này được các đồ ăn thích đáng, được các dược phẩm trị bị thích đáng, được các sự giúp đỡ thích đáng, được người hướng dẫn đi đến cuối làng”. Vì sao? Vì mong rằng người này ở đây không bị suy tổn, tử vong. Cũng vậy, này các hiền giả, người này với thân hành không thanh tịnh, với khẩu hành không thanh tịnh, lại thỉnh thoảng tâm không được mở rộng và tịnh tín, người như vậy cần phải khởi lên lòng từ, cần phải khởi lên lòng thương tưởng, cần phải khởi lên lòng từ mẫn: “Ôi, mong rằng Tôn Giả này, sau khi đoạn tân thân ác hành cần phải tu tập thân thiện hành, sau khi đoạn tận khẩu ác hành cần phải tu tập khẩu thiện hành, sau khi đoạn tận ý ác hành cần phải tu tập ý thiện hành”. Vì sao? Vì mong rằng Tôn giả ấy sau khi thân hoại mạng chung, không sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Như vậy trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử.

16. Ở đây, này các Hiền giả, người này với thân hành thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, lại thỉnh thoảng tâm được rộng mở và tịnh tín. Như thế nào, trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử?

17. Ví như, này các Hiền giả, một hồ sen có nước trong, có nước ngọt, có nước mát, có nước trong sáng, có bờ hồ khéo sắp đặt đẹp đẽ và được nhiều loại cây che bóng. Rồi một người đi đến bị nóng nhiệt não, bị nóng bức bách, mệt mỏi, thèm uống nước, khát nước. Người ấy sau khi lặn xuống trong hồ sen ấy, sau khi tắm rửa, uống nước, nó ra khỏi hồ, liền qua ngồi hay nằm dưới bóng cây. Cũng vậy, này các hiền giả, người này với thân hành thanh tịnh, với khẩu hành thanh tịnh, lại thỉnh thoảng tâm được cởi mở tịnh tín. Những gì thuộc thân hành thanh tịnh, lúc bấy giờ cần phải tác ý; những gì thuộc khẩu hành thanh tịnh, lúc bấy giờ cần phải tác ý và điều gì thỉnh thoảng tâm được rộng mở và tịnh tín, lúc bấy giờ cần phải được tác ý. Như vậy trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử.

Này các Hiền giả, có năm trừ khử hiềm hận này, ở đây Tỷ-kheo có hiềm hận khởi lên cần phải trừ khử một cách hoàn toàn.

AN 5.163 Thảo Luận Sākacchasutta

Tại đó, Tôn giả Sāriputta nói với các Tỳ kheo: “Này chư Hiền, các Tỳ kheo!”

“Thưa Hiền giả,” họ đáp. Tôn giả Sāriputta nói:

"Một vị Tỳ kheo có năm phẩm chất thì xứng đáng để thảo luận với các bạn đồng tu (spiritual companions / những người cùng thực hành tâm linh). Năm phẩm chất đó là gì?

Vị Tỳ kheo tự mình thành tựu về giới hạnh (ethics / đạo đức), và trả lời các câu hỏi phát sinh khi thảo luận về sự thành tựu giới hạnh.

Vị ấy tự mình thành tựu về định (immersion / sự tập trung tâm), …

Vị ấy tự mình thành tựu về trí tuệ (wisdom / sự hiểu biết đúng đắn), …

Vị ấy tự mình thành tựu về giải thoát (freedom / sự thoát khỏi khổ đau), …

Vị ấy tự mình thành tựu về tri kiến giải thoát (knowledge and vision of freedom / sự thấy biết về giải thoát), và trả lời các câu hỏi phát sinh khi thảo luận về sự thành tựu tri kiến giải thoát.

Một vị Tỳ kheo có năm phẩm chất này thì xứng đáng để thảo luận với các bạn đồng tu."

(III) (163) Cuộc Nói Chuyện

1. Tại đấy, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỷ-kheo:

− Này các hiền giả Tỷ-kheo.

− Thưa Hiền giả.

Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau:

2. … (Giống như kinh số 65 ở trước).

AN 5.164 Chia Sẻ Đời Sống Sājīvasutta

Tại đó, Tôn giả Sāriputta nói với các Tỳ kheo:

"Một vị Tỳ kheo có năm phẩm chất thì xứng đáng để chia sẻ đời sống với các bạn đồng tu. Năm phẩm chất đó là gì?

Vị Tỳ kheo tự mình thành tựu về giới hạnh, và trả lời các câu hỏi phát sinh khi thảo luận về sự thành tựu giới hạnh.

Vị ấy tự mình thành tựu về định, …

Vị ấy tự mình thành tựu về trí tuệ, …

Vị ấy tự mình thành tựu về giải thoát, …

Vị ấy tự mình thành tựu về tri kiến giải thoát, và trả lời các câu hỏi phát sinh khi thảo luận về sự thành tựu tri kiến giải thoát.

Một vị Tỳ kheo có năm phẩm chất này thì xứng đáng để chia sẻ đời sống với các bạn đồng tu."

(IV) (164) Một Ví Dụ

(Tôn giả Sàriputta nói lại kinh số 66 ở trước).

AN 5.165 Đặt Câu Hỏi Pañhapucchāsutta

Tại đó, Tôn giả Sāriputta nói với các Tỳ kheo: … “Bất cứ ai đặt câu hỏi cho người khác, đều làm vậy vì một trong năm lý do này. Năm lý do đó là gì? Có người đặt câu hỏi cho người khác vì ngu si và khờ dại. Hoặc họ hỏi vì mong muốn xấu xa (corrupt wishes / ý định không tốt), có tâm tính tham muốn. Hoặc họ hỏi để chê bai. Hoặc họ hỏi vì muốn hiểu. Hoặc họ hỏi với ý nghĩ: ‘Nếu họ trả lời đúng câu hỏi ta đặt ra thì tốt. Nếu không, ta sẽ trả lời đúng cho họ.’ Bất cứ ai đặt câu hỏi cho người khác, đều làm vậy vì một trong năm lý do này. Còn về phần ta, ta hỏi với ý nghĩ: ‘Nếu họ trả lời đúng câu hỏi ta đặt ra thì tốt. Nếu không, ta sẽ trả lời đúng cho họ.’”

(V) (165) Những Câu Hỏi

1. Tại đấy, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỷ-kheo… (như trên)…

2. Này các Hiền giả, ai hỏi một người khác câu hỏi gì, tất cả đều nằm trong năm trường hợp này, hay một trong năm trường hợp này. Thế nào là năm?

3. Do đần độn ngu si, hỏi người khác câu hỏi; do ác dục, tham dục, hỏi người khác câu hỏi; khinh thường, hỏi người khác câu hỏi; với tâm muốn hiểu biết, hỏi người khác câu hỏi, với tâm phân vân hỏi người khác câu hỏi, nghĩ rằng nếu do ta hỏi, vị ấy trả lời đúng đắn, thời như vậy tốt đẹp, nhưng nếu do ta hỏi, vị ấy trả lời không chân chánh, thời ta sẽ trả lời chân chánh cho vị ấy.

Này các Hiền giả, ai hỏi một người khác câu hỏi gì đều nằm trong năm trường hợp này, hay một trong năm trường hợp này. Này các Hiền giả, ta với tâm như vậy hỏi người khác câu hỏi. Nếu do ta hỏi, người ấy trả lời một cách chân chánh, thời như vậy thật tốt đẹp.

Nếu ta hỏi và vị ấy trả lời không chơn chánh, thời ta sẽ trả lời chơn chánh.

AN 5.166 Diệt Nirodhasutta

Tại đó, Tôn giả Xá-lợi-phất nói với các Tỳ kheo:

“Này chư Hiền, hãy xét một vị Tỳ kheo thành tựu về giới (ethics / đạo đức), định (immersion / sự tập trung tâm), và trí tuệ (wisdom / trí tuệ). Vị ấy có thể nhập và xuất diệt thọ tưởng định (cessation of perception and feeling / trạng thái dừng lại của cảm giác và nhận thức). Điều này có thể xảy ra. Nếu vị ấy không đạt được giác ngộ (enlightenment / sự tỉnh thức hoàn toàn) ngay trong đời này, thì sau khi vượt qua các chúng chư thiên còn ăn vật thực cứng (gods that consume solid food / các vị trời còn dùng thức ăn vật chất), vị ấy sẽ tái sinh vào một chúng chư thiên do tâm tạo (mind-made gods / các vị trời được tạo ra bởi tâm) nào đó. Tại đó, vị ấy có thể nhập và xuất diệt thọ tưởng định. Điều này có thể xảy ra.”

Khi Tôn giả nói vậy, Tôn giả Ưu-đà-di nói với ngài: “Điều này không thể được, thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, điều này không thể xảy ra!”

Nhưng lần thứ hai… và lần thứ ba, Tôn giả Xá-lợi-phất lặp lại lời nói của mình.

Và lần thứ ba, Tôn giả Ưu-đà-di nói với ngài: “Điều này không thể được, thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, điều này không thể xảy ra!”

Lúc ấy, Tôn giả Xá-lợi-phất nghĩ: “Tôn giả Ưu-đà-di đã không đồng ý với ta đến ba lần, và không một Tỳ kheo nào tán thành với ta. Sao ta không đến gặp Đức Phật?”

Rồi Tôn giả Xá-lợi-phất đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và nói với các Tỳ kheo:

“Này chư Hiền, hãy xét một vị Tỳ kheo thành tựu về giới, định, và trí tuệ. Vị ấy có thể nhập và xuất diệt thọ tưởng định. Có khả năng như vậy. Nếu vị ấy không đạt được giác ngộ ngay trong đời này, vị ấy sẽ tái sinh vào chúng của một loài chư thiên do tâm tạo, đó là những vị vượt qua các chư thiên còn ăn vật thực cứng. Tại đó, vị ấy có thể nhập và xuất diệt thọ tưởng định. Điều này có thể xảy ra.”

Khi Tôn giả nói vậy, Tôn giả Ưu-đà-di nói với ngài: “Điều này không thể được, thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, điều này không thể xảy ra!”

Nhưng lần thứ hai… và lần thứ ba, Tôn giả Xá-lợi-phất lặp lại lời nói của mình.

Và lần thứ ba, Tôn giả Ưu-đà-di nói với ngài: “Điều này không thể được, thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, điều này không thể xảy ra!”

Lúc ấy, Tôn giả Xá-lợi-phất nghĩ: “Ngay cả trước mặt Đức Phật, Tôn giả Ưu-đà-di cũng không đồng ý với ta đến ba lần, và không một Tỳ kheo nào tán thành với ta. Tốt hơn hết là ta nên im lặng.” Rồi Tôn giả Xá-lợi-phất im lặng.

Bấy giờ Đức Phật nói với Tôn giả Ưu-đà-di: “Này Ưu-đà-di, ông có tin vào thân do tâm tạo không?”

“Thưa Thế Tôn, đối với những vị trời vô sắc (formless / không có hình tướng), do tưởng tạo thành (made of perception / được tạo ra bởi nhận thức) thì có.”

“Này Ưu-đà-di, một kẻ ngu si bất tài như ông thì có gì để nói chứ? Sao ông lại có thể tưởng rằng mình có điều gì đáng nói!”

Rồi Đức Phật nói với Tôn giả A-nan: “Này A-nan! Sao ông có thể chỉ đứng nhìn trong khi một vị Thượng tọa Tỳ kheo đang bị quấy rầy? Ông không có lòng bi mẫn nào đối với một vị Thượng tọa Tỳ kheo đang bị quấy rầy sao?”

Rồi Đức Phật nói với các Tỳ kheo:

“Này các Tỳ kheo, hãy xét một vị Tỳ kheo thành tựu về giới, định, và trí tuệ. Vị ấy có thể nhập và xuất diệt thọ tưởng định. Điều này có thể xảy ra. Nếu vị ấy không đạt được giác ngộ ngay trong đời này, vị ấy sẽ tái sinh vào chúng của một loài chư thiên do tâm tạo, đó là những vị vượt qua các chư thiên còn ăn vật thực cứng. Tại đó, vị ấy có thể nhập và xuất diệt thọ tưởng định. Điều này có thể xảy ra.”

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Sau khi nói xong, bậc Thánh đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi vào tịnh xá.

Sau đó, không lâu sau khi Đức Phật rời đi, Tôn giả A-nan đến gặp Tôn giả U-pa-va-na (Upavāna) và nói với ngài:

“Thưa Tôn giả U-pa-va-na, họ đã quấy rầy các vị Thượng tọa Tỳ kheo khác, nhưng tôi đã không chất vấn họ. Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu Đức Phật đề cập đến chuyện này khi Ngài ra khỏi nơi nhập thất vào cuối buổi chiều nay. Ngài thậm chí có thể gọi chính Tôn giả U-pa-va-na. Và ngay lúc này tôi cảm thấy rụt rè.”

Rồi vào cuối buổi chiều, Đức Phật ra khỏi nơi nhập thất và đi đến giảng đường, nơi Ngài ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, và nói với Tôn giả U-pa-va-na:

“Này U-pa-va-na, một vị Thượng tọa Tỳ kheo cần có bao nhiêu phẩm chất để được các bạn đồng tu quý mến và yêu thương, kính trọng và ngưỡng mộ?”

“Thưa Thế Tôn, một vị Thượng tọa Tỳ kheo có năm phẩm chất thì được các bạn đồng tu quý mến và yêu thương, kính trọng và ngưỡng mộ. Năm phẩm chất đó là gì?

Đó là khi một vị Tỳ kheo có đạo đức, sống chế ngự trong giới luật (monastic code / quy tắc tu viện), hành xử tốt đẹp và khất thực ở những nơi thích hợp. Thấy nguy hiểm trong lỗi nhỏ nhặt nhất, vị ấy giữ gìn các học giới đã thọ nhận.

Vị ấy là người học rộng, ghi nhớ và gìn giữ những gì đã học. Những giáo pháp này tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và lời văn hay, mô tả một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Vị ấy học rộng những giáo pháp như vậy, ghi nhớ chúng, tụng đọc chúng, quán xét chúng trong tâm, và thông hiểu chúng về mặt lý thuyết.

Vị ấy là người nói pháp hay, phát âm rõ ràng, với giọng nói trau chuốt, trong sáng, mạch lạc, diễn đạt được ý nghĩa.

Vị ấy chứng đắc bốn bậc thiền (absorptions / các tầng thiền định)—những trạng thái thiền định an lạc ngay trong đời này thuộc về tăng thượng tâm (higher mind / tâm cao thượng, tâm phát triển)—bất cứ khi nào muốn, không khó khăn, không trở ngại.

Vị ấy chứng ngộ tâm giải thoát (freedom of heart / sự giải thoát của tâm) và tuệ giải thoát (freedom by wisdom / sự giải thoát bằng trí tuệ) vô nhiễm ngay trong đời này. Và vị ấy an trú trong trạng thái đã chứng ngộ bằng chính trí tuệ của mình do sự đoạn trừ các lậu hoặc (defilements / những ô nhiễm tâm).

Một vị Thượng tọa Tỳ kheo có năm phẩm chất này thì được các bạn đồng tu quý mến và yêu thương, kính trọng và ngưỡng mộ.”

“Lành thay, lành thay, U-pa-va-na! Một vị Thượng tọa Tỳ kheo có năm phẩm chất này thì được các bạn đồng tu quý mến và yêu thương, kính trọng và ngưỡng mộ. Nếu năm phẩm chất này không được tìm thấy ở một vị Thượng tọa Tỳ kheo, tại sao các bạn đồng tu lại tôn kính, trọng vọng, quý mến hay sùng mộ vị ấy? Chỉ vì răng rụng, tóc bạc, da nhăn ư? Nhưng vì năm phẩm chất này được tìm thấy ở một vị Thượng tọa Tỳ kheo, nên các bạn đồng tu tôn kính, trọng vọng, quý mến và sùng mộ vị ấy.”

(VI) (166) Diệt Thọ Tưởng Ðịnh

1. Tại đấy, Tôn giả Sàriputta bảo các Tỷ-kheo:…(như trên)…

2. Ở đây, này các Hiền giả, Tỷ-kheo đầy đủ giới, đầy đủ định, đầy đủ tuệ có thể nhập vào một cách hoàn toàn và xuất khỏi Diệt thọ tưởng định; sự kiện này có thể xảy ra. Nếu ngay trong hiện tại, vị ấy không đạt được chánh trí, thời vị ấy chắc chắn vượt khỏi cộng trú với chư Thiên, ăn các món ăn đoàn thực, được sanh với thân do ý làm ra, (với điều kiện) vị ấy có thể nhập vào và xuất khỏi Diệt thọ tưởng định; sự kiện này có xảy ra.

Khi được nói vậy, Tôn giả Udàyi nói với Tôn giả Sàriputta:

− Không có sự kiện này, thưa Hiền giả Sàriputta, không có trường hợp này: “Rằng vị Tỷ-kheo chắc chắn vượt khỏi cọng trú với chư Thiên, ăn các món ăn đoàn thực, được sanh với thân do ý làm ra, vị ấy có thể nhập vào xuất khỏi Diệt thọ tưởng định”; sự kiện này không xảy ra.

Lần thứ hai… Lần thứ ba, Tôn giả Sàriputta bảo các Tỷ-kheo: − Ở đây, này các Hiền giả, Tỷ-kheo đầy đủ giới, đầy đủ định, đầy đủ tuệ có thể nhập vào và xuất khỏi Diệt thọ tưởng định; sự kiện này có xảy ra. Nếu ngay trong hiện tại, vị ấy không đạt được chánh trí, thời vị ấy chắc chắn vượt khỏi cọng trú với chư Thiên, ăn các món ăn đoàn thực, được sanh với thân do ý làm ra, (với điều kiện) vị ấy có thể nhập vào và xuất khỏi Diệt thọ tưởng định; sự kiện này có xảy ra.

Lần thứ ba, Tôn giả Udàyi nói với Tôn giả Sàriputta:

− Không có sự kiện này, thưa Hiền giả Sàriputta: “Không có trường hợp này rằng vị Tỷ-kheo chắc chắn vượt khỏi cọng trú với chư Thiên, ăn các món ăn đoàn thực, được sanh với thân do ý làm ra, với điều kiện vị ấy có thể nhập vào và xuất khỏi Diệt thọ tưởng định”; sự kiện này không xảy ra.

3. Rồi Tôn giả Sàriputta suy nghĩ như sau: “Cho đến lần thứ ba, Tôn giả Udàyi phản kháng ta và không một Tỷ-kheo nào tùy hỷ ta, vậy ta hãy đi đến Thế Tôn”. Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta bảo các Tỷ-kheo:

− Ở đây, này các chư Hiền, Tỷ-kheo đầy đủ giới, đầy đủ định, đầy đủ tuệ… (với điều kiện) vị ấy có thể nhập vào và xuất khỏi Diệt thọ tưởng định; sự kiện này có thể xảy ra…

Lần thứ ba, Tôn giả Udàyi nói với Tôn giả Sàriputta:

– Không có sự kiện này, thưa Hiền giả Sàriputta, không có trường hợp này, rằng: “Tỷ-kheo chắc chắn vượt khỏi cọng trú với chư Thiên, ăn các món ăn đoàn thực và được sanh với thân do ý làm ra, (với điều kiện) vị ấy có thể nhập vào và xuất khỏi Diệt thọ tưởng định”; sự kiện này không xảy ra.

4. Rồi Tôn giả Sàriputta suy nghĩ như sau: “Trước mặt Thế Tôn, Tôn giả Udàyi cho đến ba lần phản kháng ta và không một Tỷ-kheo nào tùy hỷ ta, vậy ta hãy im lặng”. Rồi Tôn giả Sàriputta giữ im lặng. Rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Udàyi:

− Này Udàyi, Thầy đi đến kết luận ai có thân do ý làm ra?

− Bạch Thế Tôn, có Chư Thiên vô sắc, do tưởng làm ra.

− Này Udàyi, Thầy nghĩ thế nào mà nói lên câu nói của kẻ ngu, không thông minh sáng suốt?

5. Rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Ananda:

− Này Ananda, các Thầy có thể nhìn một cách thản nhiên khi một Tỷ-kheo trưởng lão bị làm phiền não như vậy. Này Ananda, lòng từ bi không có thể khởi lên một khi Tỷ-kheo trưởng lão bị làm phiền não! (mà các Thầy không có phản ứng).

Rồi Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:

− Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ giới, đầy đủ định, đầy đủ tuệ có thể nhập vào và xuất khỏi Diệt thọ tưởng định; sự kiện này có thể xảy ra. Nếu ngay trong hiện tại, không thể đạt được chánh trí, vị ấy chắc chắn vượt khỏi cộng trú với chư Thiên, ăn các món ăn đoàn thực, được sanh với thân do ý làm ra, (với điều kiện) vị ấy có thể nhập vào và xuất khỏi Diệt thọ tưởng định; sự kiện này có xảy ra.

Thế Tôn nói như vậy. Sau khi nói như vậy, bậc Thiện Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy, đi vào tinh xá.

6. Rồi Tôn giả Ananda, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, đi đến Tôn giả Upavàna, sau khi đến, nói với Tôn giả Upavàna:

− Ở đây, này Hiền giả Upavàna, một số người làm phiền não Tỷ-kheo trưởng lão và chúng ta không ai đặt câu hỏi. Do vậy, thật không có gì kỳ lạ, thưa Hiền giả, rằng Thế Tôn, vào buổi chiều, sau khi từ chỗ Thiền tịnh đứng dậy, nêu lên vấn đề này và sự việc như thế nào, kể lại cho Tôn giả Upavàna nghe tất cả. Nay chúng ta cảm thấy sợ hãi.

7. Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến ngôi giảng đường, sau khi đến liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Upanàva:

− Này Upavàna, thành tựu bao nhiêu pháp, Tỷ-kheo trưởng lão được các đồng Phạm hạnh ái mộ, thích ý, tôn trọng và noi gương tu tập?

− Bạch Thế Tôn, thành tựu năm pháp, Tỷ-kheo trưởng lão được các đồng Phạm hạnh ái mộ, thích ý, tôn trọng và được noi gương tu tập. Thế nào là năm?

8. Ở đây, bạch Thế Tôn, vị Tỷ-kheo trưởng lão giữ giới, sống được bảo vệ với sự bảo vệ của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự sợ hãi trong các tội nhỏ nhiệm, chấp nhận và học tập các học pháp, nghe nhiều, thọ trì điều được nghe, tích tập điều được nghe. Các pháp nào sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh, những pháp ấy, vị ấy đã nghe nhiều, đã nắm giữ, đã ghi nhớ nhờ đọc nhiều lần, chuyên ý quán sát, khéo thành tựu nhờ chánh kiến; thiện ngôn dùng lời thiện ngôn, lời nói tao nhã, ý nghĩa minh bạch, giọng nói không bập bẹ, phều phào, giải thích nghĩa lý minh xác, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức bốn Thiền, thuộc tăng thượng tâm, đem đến hiện tại lạc trú. Do đoạn tận các lậu hoặc, vị ấy tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

Thành tựu năm pháp này, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo trưởng lão đối với các đồng Phạm hạnh ái mộ, ưa thích, tôn trọng và được noi gương tu tập.

9. - Lành thay, lành thay, này Upavàna! Thành tựu năm pháp này, Tỷ-kheo trưởng lão đối với các đồng Phạm hạnh ái mộ, ưa thích, tôn trọng và được noi gương tu tập. Nếu Tỷ-kheo trưởng lão không có được năm pháp này, thời có phải các đồng Phạm hạnh cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường vị ấy vì răng rụng, tóc bạc và da nhăn. Do vậy, này Upavana, do năm pháp này có hiện hữu trong Tỷ-kheo trưởng lão, cho nên các đồng Phạm hạnh cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường vị ấy.

AN 5.167 Sự Khiển Trách Codanāsutta

Tại đó, Tôn giả Sāriputta nói với các Tỳ kheo: "Này chư Hiền, một vị Tỳ kheo muốn khiển trách người khác trước tiên nên tự mình thiết lập năm điều.

Năm điều gì? Ta sẽ nói đúng lúc, không nói sai lúc. Ta sẽ nói sự thật, không nói dối trá. Ta sẽ nói nhẹ nhàng, không nói gay gắt. Ta sẽ nói lời lợi ích, không nói lời gây hại. Ta sẽ nói với tâm từ, không nói với lòng căm ghét ngấm ngầm (secret hate / sự thù hận che giấu). Một vị Tỳ kheo muốn khiển trách người khác trước tiên nên tự mình thiết lập năm điều này.

Hãy xét trường hợp ta thấy một người nào đó bị khiển trách sai lúc, không bị phiền nhiễu đúng lúc. Họ bị khiển trách sai sự thật, không bị phiền nhiễu đúng sự thật. Họ bị khiển trách gay gắt, không bị phiền nhiễu nhẹ nhàng. Họ bị khiển trách có hại, không bị phiền nhiễu có lợi. Họ bị khiển trách với lòng căm ghét ngấm ngầm, không bị phiền nhiễu với tâm từ.

Vị Tỳ kheo bị khiển trách không đúng cách nên được trấn an bằng năm cách. ‘Thưa Hiền giả, ngài bị khiển trách sai lúc, không phải đúng lúc. Ngài không cần phải cảm thấy hối hận. Ngài bị khiển trách sai sự thật, không phải đúng sự thật. … Ngài bị khiển trách gay gắt, không phải nhẹ nhàng. … Ngài bị khiển trách có hại, không phải có lợi. … Ngài bị khiển trách với lòng căm ghét ngấm ngầm, không phải với tâm từ. Ngài không cần phải cảm thấy hối hận.’ Một vị Tỳ kheo bị khiển trách không đúng cách nên được trấn an bằng năm cách này.

Vị Tỳ kheo khiển trách không đúng cách nên bị cảnh cáo bằng năm cách. ‘Thưa Hiền giả, ngài đã khiển trách sai lúc, không phải đúng lúc. Có lý do để ngài cảm thấy hối hận. Ngài đã khiển trách sai sự thật, không phải đúng sự thật. … Ngài đã khiển trách gay gắt, không phải nhẹ nhàng. … Ngài đã khiển trách có hại, không phải có lợi. … Ngài đã khiển trách với lòng căm ghét ngấm ngầm, không phải với tâm từ. Có lý do để ngài cảm thấy hối hận.’ Vị Tỳ kheo khiển trách không đúng cách nên bị cảnh cáo bằng năm cách này. Tại sao vậy? Để vị Tỳ kheo khác không nghĩ đến việc khiển trách sai sự thật.

Hãy xét trường hợp ta thấy một người nào đó bị khiển trách đúng lúc, không bị phiền nhiễu sai lúc. Họ bị khiển trách đúng sự thật, không bị phiền nhiễu sai sự thật. Họ bị khiển trách nhẹ nhàng, không bị phiền nhiễu gay gắt. Họ bị khiển trách có lợi, không bị phiền nhiễu có hại. Họ bị khiển trách với tâm từ, không bị phiền nhiễu với lòng căm ghét ngấm ngầm.

Vị Tỳ kheo bị khiển trách đúng cách nên bị cảnh cáo bằng năm cách. ‘Thưa Hiền giả, ngài bị khiển trách đúng lúc, không phải sai lúc. Có lý do để ngài cảm thấy hối hận. Ngài bị khiển trách đúng sự thật, không phải sai sự thật. … Ngài bị khiển trách nhẹ nhàng, không phải gay gắt. … Ngài bị khiển trách có lợi, không phải có hại. … Ngài bị khiển trách với tâm từ, không phải với lòng căm ghét ngấm ngầm. Có lý do để ngài cảm thấy hối hận.’ Vị Tỳ kheo bị khiển trách đúng cách nên bị cảnh cáo bằng năm cách này.

Vị Tỳ kheo khiển trách đúng cách nên được trấn an bằng năm cách. ‘Thưa Hiền giả, ngài đã khiển trách đúng lúc, không phải sai lúc. Ngài không cần phải cảm thấy hối hận. Ngài đã khiển trách đúng sự thật, không phải sai sự thật. … Ngài đã khiển trách nhẹ nhàng, không phải gay gắt. … Ngài đã khiển trách có lợi, không phải có hại. … Ngài đã khiển trách với tâm từ, không phải với lòng căm ghét ngấm ngầm. Ngài không cần phải cảm thấy hối hận.’ Vị Tỳ kheo khiển trách đúng cách nên được trấn an bằng năm cách này. Tại sao vậy? Để vị Tỳ kheo khác nghĩ đến việc khiển trách đúng sự thật.

Người bị khiển trách nên tự mình vững chắc trong hai điều: sự thật và tâm bình tĩnh (even temper / trạng thái tâm không dao động). Ngay cả khi người khác khiển trách ta—đúng lúc hay sai lúc, đúng sự thật hay sai sự thật, nhẹ nhàng hay gay gắt, có lợi hay có hại, với tâm từ hay với lòng căm ghét ngấm ngầm—ta vẫn sẽ tự mình vững chắc trong hai điều: sự thật và tâm bình tĩnh. Nếu ta biết phẩm chất đó có trong ta, ta sẽ nói với họ là có. Nếu ta biết phẩm chất đó không có trong ta, ta sẽ nói với họ là không."

“Ngay cả khi ông nói như vậy, Sāriputta, vẫn có một số kẻ ngốc ở đây không kính cẩn tiếp thu.”

"Thưa Ngài, có những người không có niềm tin (faithless / thiếu lòng tin) đã xuất gia (went forth from the lay life to homelessness / từ bỏ đời sống tại gia để sống không nhà) không phải vì niềm tin mà để kiếm sống. Họ quanh co, lừa lọc và lén lút. Họ bồn chồn lo lắng, xấc láo, hay thay đổi, thô tục và ăn nói bừa bãi. Họ không hộ trì các căn (guard their sense doors / kiểm soát các giác quan), không tiết độ trong ăn uống (eat in moderation / ăn uống có chừng mực), và không chuyên tâm vào sự tỉnh táo (wakefulness / trạng thái không mê mờ). Họ không quan tâm đến đời sống sa môn (ascetic life / đời sống của người tu hành), và không hết lòng tôn trọng việc tu tập (training / sự rèn luyện). Họ buông thả và lười biếng, dẫn đầu trong việc thoái lui, bỏ bê sự ẩn dật (seclusion / sống nơi yên tĩnh), lười biếng và thiếu siêng năng (energy / sự nỗ lực). Họ thiếu tỉnh thức (unmindful / không chú tâm), thiếu nhận thức tình huống (situational awareness / sự biết rõ hoàn cảnh) và định, với tâm lang thang, ngu độn và ngớ ngẩn. Khi con nói với họ như vậy, họ không kính cẩn tiếp thu.

Thưa Ngài, có những thiện nam tử đã xuất gia vì niềm tin. Họ không quanh co, lừa lọc và lén lút. Họ không bồn chồn lo lắng, xấc láo, hay thay đổi, thô tục và ăn nói bừa bãi. Họ hộ trì các căn, tiết độ trong ăn uống, và chuyên tâm vào sự tỉnh táo. Họ quan tâm đến đời sống sa môn, và hết lòng tôn trọng việc tu tập. Họ không buông thả hay lười biếng, cũng không dẫn đầu trong việc thoái lui, bỏ bê sự ẩn dật. Họ siêng năng và quyết tâm. Họ tỉnh thức (mindful / chú tâm), có nhận thức tình huống, định, và tâm hợp nhất (unified minds / tâm không phân tán); có trí tuệ (wise / hiểu biết đúng đắn) và khôn khéo. Khi con nói với họ như vậy, họ kính cẩn tiếp thu."

"Sāriputta, những người không có niềm tin đã xuất gia không phải vì niềm tin mà để kiếm sống… Hãy mặc kệ họ.

Nhưng những thiện nam tử đã xuất gia vì niềm tin… Ông nên nói chuyện với họ. Sāriputta, ông nên khuyên bảo các bạn đồng tu của mình! Ông nên hướng dẫn các bạn đồng tu của mình! Nghĩ rằng: ‘Ta sẽ kéo các bạn đồng tu của ta ra khỏi tà giáo (false teachings / những lời dạy sai lầm) và giúp họ vững chắc trong chánh giáo (true teachings / những lời dạy đúng đắn).’ Đó là cách ông nên tu tập."

(VII) (167) Buộc Tội

1. Tại đấy, Tôn giả Sàriputta bảo các Tỷ-kheo:

− Này các Hiền giả, khi Tỷ-kheo buộc tội muốn buộc tội người khác, hãy an trú nội tâm năm pháp rồi hãy buộc tội. Thế nào là năm?

2. “Tôi sẽ nói đúng thời, không phải phi thời”; “Tôi sẽ nói chơn thật, không phải phi chơn”; “Tôi sẽ nói nhu hòa, không phải thô bạo”; “Tôi sẽ nói liên hệ đến lợi ích, không phải lời không liên hệ đến lợi ích”; “Tôi sẽ nói với từ tâm, không phải sân tâm”.

Này các Hiền giả, khi vị Tỷ-kheo buộc tội muốn buộc tội người khác, hãy an trú nội tâm năm pháp rồi hãy buộc tội người khác. 3. Ở đây, này các Hiền giả, tôi thấy có người bị buộc tội phi thời, nhưng phản ứng không đúng thời; có người bị buộc tội phi chơn và có phản ứng không chơn thực; bị buộc tội thô bạo và có phản ứng không nhu hòa; bị buộc tội không liên hệ đến lợi ích và có phản ứng không liên hệ đến lợi ích; bị buộc tội với sân tâm và có phản ứng không có từ tâm.

4. Tỷ-kheo buộc tội phi pháp, có năm lý do không cần sắp đặt sám hối: “Tôn giả bị buộc tội phi thời, không đúng thời, như vậy vừa đủ để Tôn giả không sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội phi chơn, không phải chơn thực, như vậy vừa đủ để Tôn giả không sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội thô bạo, không có nhu hòa, như vậy vừa đủ để Tôn giả không sám hối”; “Tôn giả bị buộc tôi không liên hệ đến lợi ích, không phải liên hệ đến lợi ích, như vậy vừa đủ để Tôn giả không sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội với sân tâm, không với từ tâm, như vậy vừa đủ để Tôn giả không sám hối”.

Tỷ-kheo bị buộc tội một cách phi pháp, có năm lý do này không cần phải sắp đặt sám hối.

5. Tỷ-kheo buộc tội phi pháp, có năm lý do cần sắp đặt sám hối: “Hiền giả đã buộc tội phi thời, không phải đúng thời, như vậy vừa đủ để Hiền giả sám hối”; “Hiền giả đã buộc tội phi chơn, không phải chơn thực, như vậy vừa đủ để Hiền giả sám hối”; “Hiền giả đã buộc tội một cách thô bạo, không có nhu hòa, như vậy vừa đủ để Hiền giả sám hối”; “Tôn giả đã buộc tôi liên hệ đến lợi ích, không phải liên hệ đến lợi ích, như vậy vừa đủ để Hiền giả sám hối”; “Hiền giả đã buộc tội với sân tâm, không với từ tâm, như vậy vừa đủ để Hiền giả sám hối”.

Tỷ-kheo buộc tội phi pháp, này các Hiền giả, có năm lý do này cần phải sắp đặt sám hối. Vì sao? Vì rằng nhờ vậy không một Tỷ-kheo nào khác nghĩ rằng có thể buộc tội phi chơn.

6. Ở đây, này các Hiền giả, tôi thấy có người bị buộc tội đúng thời, không phản ứng phi thời; bị buộc tội chơn thực, không phản ứng phi chơn; bị buộc tội nhu hòa, không phản ứng thô bạo; bị buộc tội liên hệ đến lợi ích, không phản ứng không liên hệ đến lợi ích, bị buộc tội với từ tâm, không phản ứng với sân tâm.

7. Tỷ-kheo, này các Hiền giả, bị buộc tội đúng pháp có năm lý do cần phải sắp đặt sám hối: “Tôn giả bị buộc tội đúng thời, không phải phi thời, như vậy vừa đủ để Tôn giả sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội chơn thực, không phải phi chơn thực, như vậy vừa đủ để Tôn giả sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội nhu hòa không thô bạo, như vậy vừa đủ để Tôn giả sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội liên hệ đến lợi ích, không phải không liên hệ đến lợi ích, như vậy vừa đủ để Tôn giả sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội với từ tâm, không phải với sân tâm, như vậy vừa đủ để Tôn giả sám hối”.

Tỷ-kheo bị buộc tội đúng pháp có năm lý do này, cần phải sắp đặt sám hối.

8. Tỷ-kheo, này các Hiền giả, buộc tội đúng pháp có năm lý do để không phải sắp đặt sám hối: “Hiền giả buộc tội đúng thời, không phải phi thời, như vậy vừa đủ để Hiền giả không sám hối”; “Hiền giả bị buộc tội chơn thực, không phải phi chơn thực, như vậy vừa đủ để Hiền giả không sám hối”; “Hiền giả bị buộc tội nhu hoà, không phải thô bạo, như vậy vừa đủ để hiền giả không sám hối”; “Hiền giả bị buộc tôi không liên hệ đến lợi ích, không phải liên hệ đến lợi ích, như vậy vừa đủ để Hiền giả không sám hối”; “Hiền giả bị buộc tội với từ tâm, không với sân tâm, như vậy vừa đủ để Hiền giả không sám hối”.

Này các Hiền giả, Tỷ-kheo buộc tội đúng pháp, do năm lý do này không cần phải sắp đặt sám hối. Vì sao? Vì nhờ vậy, các Tỷ-kheo khác nghĩ rằng buộc tội cần phải đúng pháp.

9. Người bị buộc tội, thưa các Hiền giả, cần phải an trú trong hai pháp: chơn thực và bất động. Này các Hiền giả, nếu các người khác buộc tội tôi, đúng thời hay phi thời, chơn thực hay phi chơn, nhu hòa hay thô bạo, liên hệ đến lợi ích hay không liên hệ đến lợi ích, với từ tâm hay với sân tâm, thì cần phải an trú trong hai pháp: Chơn thực và bất động. Nếu tôi biết: “Pháp này có trong tôi”, nếu tôi nghĩ là “có”, tôi sẽ nói: “Pháp này có trong tôi”. Nếu tôi biết: “Pháp này không có trong tôi”, nếu tôi nghĩ là “không có”, tôi sẽ nói: “Pháp này không có trong tôi”.

10. Thế Tôn nói:

− Như vậy này Sàriputta, khi Thầy nói như vậy, ở đây có một số người ngu nào không có khả năng nắm được vấn đề?

11. - Bạch Thế Tôn, những người nào không có lòng tin, với mục đích mưu sống, không vì lòng tin xuất gia từ bỏ gia đình; sống không gia đình, những người xảo trá, lường gạt, hư ngụy, mất thăng bằng, cao mạn, dao động, lắm lời, nói phô tạp nhạp, không hộ trì các căn, ăn uống không tiết độ, không chú tâm cảnh giác, thờ ơ với Sa-môn hạnh, không tôn kính học tập, sống quá đầy đủ, uể oải, đi đầu trong thối thất, từ bỏ gánh nặng, viễn ly, biếng nhác, tinh cần thấp kém, thất niệm, không tỉnh giác, không định tâm, tâm tán loạn, liệt tuệ, câm ngọng; khi con nói như vậy, họ không có khả năng nắm được vấn đề. Nhưng các thiện nam tử, bạch Thế Tôn, vì lòng tin xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, không xảo trá, lường gạt, không hư ngụy, không mất thăng bằng, không cao mạn, không dao động, không lắm lời, không nói thô tạp nhạp, hộ trì các căn, ăn uống có tiết độ, chú tâm cảnh giác, không thờ ơ với Samôn hạnh, tôn kính học tập, không sống quá đầy đủ, không uể oải, từ bỏ gánh nặng đọa lạc, đi đầu trong đời sống viễn ly, tinh cần tinh tất, siêng năng, an trú chánh niệm tỉnh giác, định tĩnh, nhất tâm, có trí tuệ, không câm ngọng. Khi con nói như vậy, các vị này có khả năng nắm giữ vấn đề.

12. - Này Sàriputta, các Thầy không vì lòng tin xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. liệt tuệ, câm ngọng, hãy để họ một bên. Nhưng này Sàriputta, những thiện nam tử, vì lòng tin xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình… không câm ngọng, hãy nói chuyện với họ. Hãy giáo giới các vị đồng Phạm hạnh, hãy giảng dạy, này Sàriputta, các vị đồng Phạm hạnh nghĩ rằng: “Sau khi giúp ra khỏi diệu pháp, tôi an trú các vị đồng Phạm hạnh trong diệu pháp”. Này Sariputta hãy như vậy học tập.

AN 5.168 Giới Hạnh Sīlasutta

Tại đó, Tôn giả Sāriputta nói với các Tỳ kheo:

"Này chư Hiền, người không có giới hạnh, thiếu giới hạnh, đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho chánh định (right immersion / sự tập trung tâm đúng đắn). Khi không có chánh định, người thiếu chánh định đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho chánh tri kiến (true knowledge and vision / sự thấy biết chân chính). Khi không có chánh tri kiến, người thiếu chánh tri kiến đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho sự nhàm chán và ly tham (disillusionment and dispassion / sự désenchantement và không còn ham muốn). Khi không có sự nhàm chán và ly tham, người thiếu sự nhàm chán và ly tham đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho tri kiến giải thoát.

Ví như có một cái cây thiếu cành và lá. Chồi, vỏ, giác cây và lõi cây của nó sẽ không phát triển đầy đủ.

Cũng vậy, người không có giới hạnh, thiếu giới hạnh, đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho chánh định. Khi không có chánh định, người thiếu chánh định đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho chánh tri kiến. Khi không có chánh tri kiến, người thiếu chánh tri kiến đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho sự nhàm chán và ly tham. Khi không có sự nhàm chán và ly tham, người thiếu sự nhàm chán và ly tham đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho tri kiến giải thoát.

Người có giới hạnh, đã hoàn thiện giới hạnh, đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho chánh định. Khi có chánh định, người đã hoàn thiện chánh định đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho chánh tri kiến. Khi có chánh tri kiến, người đã hoàn thiện chánh tri kiến đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho sự nhàm chán và ly tham. Khi có sự nhàm chán và ly tham, người đã hoàn thiện sự nhàm chán và ly tham đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho tri kiến giải thoát.

Ví như có một cái cây đầy đủ cành và lá. Chồi, vỏ, giác cây và lõi cây của nó sẽ phát triển đầy đủ. Cũng vậy, người có giới hạnh, đã hoàn thiện giới hạnh, đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho chánh định.

Khi có chánh định, người đã hoàn thiện chánh định đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho chánh tri kiến. Khi có chánh tri kiến, người đã hoàn thiện chánh tri kiến đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho sự nhàm chán và ly tham. Khi có sự nhàm chán và ly tham, người đã hoàn thiện sự nhàm chán và ly tham đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho tri kiến giải thoát."

(VIII) (168) Giới

(Ngài Sàriputta nói lại kinh số 24, phẩm III).

AN 5.169 Nhanh Trí Khippanisantisutta

Khi đó, Tôn giả Ānanda đến gặp Tôn giả Sāriputta và chào hỏi ngài. Sau khi chào hỏi và nói chuyện thân mật xong, ngài ngồi xuống một bên và nói với Tôn giả Sāriputta:

“Thưa Hiền giả Sāriputta, làm thế nào để chúng ta định nghĩa một vị Tỳ kheo nhanh trí đối với các pháp thiện (skillful teachings / những lời dạy hữu ích, đúng đắn), người học tốt, học nhiều và không quên những gì đã học?”

“Này, Hiền giả Ānanda, ngài rất đa văn. Sao ngài không tự mình làm rõ điều này?”

“Vậy thì, thưa Hiền giả Sāriputta, xin hãy lắng nghe và chú tâm kỹ (apply your mind well / tập trung lắng nghe và suy nghĩ), tôi sẽ nói.”

“Vâng, thưa Hiền giả,” Tôn giả Sāriputta đáp. Tôn giả Ānanda nói:

“Đó là khi một vị Tỳ kheo thông thạo về ý nghĩa (skilled in the meaning / hiểu rõ nội dung), thông thạo về pháp (skilled in the teaching / hiểu rõ lời dạy), thông thạo về thuật ngữ (skilled in terminology / hiểu rõ từ ngữ chuyên môn), thông thạo về văn cú (skilled in phrasing / hiểu rõ cách diễn đạt), và thông thạo về thứ lớp (skilled in sequence / hiểu rõ trình tự). Đó là cách định nghĩa một vị Tỳ kheo nhanh trí đối với các pháp thiện, người học tốt, học nhiều và không quên những gì đã học.”

“Thật phi thường, thật kỳ diệu! Tôn giả Ānanda đã nói điều này thật hay! Và chúng ta sẽ nhớ đến Tôn giả Ānanda là người có năm phẩm chất này: ‘Hiền giả Ānanda thông thạo về ý nghĩa, thông thạo về pháp, thông thạo về thuật ngữ, thông thạo về văn cú, và thông thạo về thứ lớp.’”

(IX) (169) Ðưa Ðến Biết

1. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm. Sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda thưa với Tôn giả Sàriputta:

2. - Cho đến như thế nào, thưa Hiền giả Sàriputta, Tỷ-kheo mau chóng đi đến hiểu biết đối với thiện pháp, sự nắm giữ của vị ấy là khéo nắm giữ, nắm giữ nhiều và không quên điều đã nắm giữ.

− Tôn giả Ananda là vị nghe nhiều, mong Tôn giả Ananda hãy nói lên.

− Vậy thưa Hiền giả Sàriputta, hãy khéo tác ý, tôi sẽ nói.

− Thưa vâng, Hiền giả.

Tôn giả Sàriputta vâng đáp Tôn giả Ananda. Tôn giả Ananda nói như sau: 3. Ở đây, thưa Hiền giả Sàriputta, có Tỷ-kheo thiện xảo về ý nghĩa, thiện xảo về pháp, thiện xảo về căn cú, thiện xảo về địa phương ngữ, thiện xảo về liên hệ trước sau. Cho đến như vậy, thưa Hiền giả Sàriputta, Tỷ-kheo mau chóng đi đến hiểu biết đối với các thiện pháp, sự nắm giữ của vị ấy là khéo nắm giữ, nắm giữ nhiều, và không quên điều đã nắm giữ.

− Thật là vi diệu, thưa Hiền giả! thật là hy hữu, thưa Hiền giả! Khó nói thay, điều này được Tôn giả Ananda nói lên. Chúng tôi tin rằng Tôn giả Ananda thành tựu năm pháp này. Tôn giả Ananda thiện xảo về nghĩa, thiện xảo về pháp, thiện xảo về văn cú, thiện xảo về địa phương ngữ, thiện xảo về liên hệ trước sau.

AN 5.170 Với Bhaddaji Bhaddajisutta

Một thời, Tôn giả Ānanda đang ở gần Kosambī, tại Tu viện Ghosita. Khi đó, Tôn giả Bhaddaji đến gặp Tôn giả Ānanda và chào hỏi ngài. Sau khi chào hỏi và nói chuyện thân mật xong, ngài ngồi xuống một bên, và Tôn giả Ānanda nói với ngài:

“Thưa Hiền giả Bhaddaji, cái thấy tốt đẹp nhất, âm thanh tốt đẹp nhất, sự an vui tốt đẹp nhất, nhận thức tốt đẹp nhất, và trạng thái tồn tại tốt đẹp nhất là gì?”

“Thưa Hiền giả, có vị Thần linh (Divinity / đấng tối cao) này, đấng chiến thắng, đấng bất khả chiến bại, đấng thấy biết tất cả, đấng nắm giữ quyền năng. Khi ngài thấy vị Thần linh đó, đó là cái thấy tốt đẹp nhất. Có những vị trời tên là ‘Quang Âm Thiên’ (gods called ‘of streaming radiance’ / cõi trời Ánh Sáng Tuôn Chảy, một cõi trời trong Sắc giới), họ đắm chìm và thấm nhuần trong lạc thú. Thỉnh thoảng họ cảm thấy hứng khởi mà thốt lên: ‘Ôi, thật phúc lạc! Ôi, thật phúc lạc!’ Khi ngài nghe điều đó, đó là âm thanh tốt đẹp nhất. Có những vị trời tên là ‘Biến Tịnh Thiên’ (gods called ‘of universal beauty’ / cõi trời Vẻ Đẹp Toàn Khắp, một cõi trời trong Sắc giới). Vì họ thực sự mãn nguyện, họ trải nghiệm lạc thú. Đây là sự an vui tốt đẹp nhất. Có những vị trời tái sinh vào Vô Sở Hữu Xứ (dimension of nothingness / cõi không có gì, một cõi trời trong Vô Sắc giới). Đây là nhận thức tốt đẹp nhất. Có những vị trời tái sinh vào Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ (dimension of neither perception nor non-perception / cõi không phải nhận thức cũng không phải không nhận thức, cõi trời cao nhất trong Vô Sắc giới). Đây là trạng thái tồn tại tốt đẹp nhất.”

“Vậy, thưa Hiền giả Bhaddaji, ngài có đồng ý với những gì hầu hết mọi người nói về điều này không?”

“Này, Hiền giả Ānanda, ngài rất đa văn. Sao ngài không tự mình làm rõ điều này?”

“Vậy thì, thưa Hiền giả Bhaddaji, xin hãy lắng nghe và chú tâm kỹ, tôi sẽ nói.”

“Vâng, thưa Hiền giả,” Tôn giả Bhaddaji đáp. Tôn giả Ānanda nói:

“Cái thấy khi các phiền não chấm dứt trong đời này là cái thấy tốt đẹp nhất. Âm thanh nghe được khi các phiền não chấm dứt trong đời này là âm thanh tốt đẹp nhất. Sự an vui cảm nhận được khi các phiền não chấm dứt trong đời này là sự an vui tốt đẹp nhất. Nhận thức có được khi các phiền não chấm dứt trong đời này là nhận thức tốt đẹp nhất. Trạng thái tồn tại trong đó các phiền não chấm dứt trong đời này là trạng thái tồn tại tốt đẹp nhất.”

(X) (170) Bhaddaji

1. Một thời, Tôn giả Ananda trú ở Kosambì, tại khu vườn Ghosita. Rồi Tôn giả Bhaddaji đi đến Tôn giả Ananda những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Tôn giả Ananda nói với Tôn giả Bhaddaji đang ngồi một bên.

2. - Thưa Hiền giả Bhaddaji, cái gì là tối thượng trong những điều được thấy? Cái gì là tối thượng trong những điều được nghe? Cái gì là tối thượng trong các lạc? Cái gì là tối thượng trong những điều được tưởng? Cái gì là tối thượng trong các hữu?

− Thưa Hiền giả, có Phạm Thiên, là bậc tối thắng (Tự thắng), là bậc vô địch, bậc biến nhãn, tự tại đối với tất cả loại hữu tình. Thấy Phạm Thiên là tối thượng trong những điều được thấy. Thưa Hiền giả, có chư Thiên Quang Âm tràn đầy và biến mãn an lạc. Khi nào và chỗ nào họ thốt lên lời cảm hứng ngữ: “Ôi sung sướng thay! Ôi sung sướng thay!” Ai nghe tiếng ấy, có là sự nghe tối thượng. Thưa Hiền giả, có chư Thiên Biến Tịnh, họ sống thoải mái trong tịch tịnh, họ cảm giác lạc thọ. Ðây là lạc tối thượng. Thưa Hiền giả, có chư Thiên đạt được Vô sở hữu xứ. Ðây là tưởng vô thượng. Thưa Hiền giả, có chư Thiên đạt được Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ðây là hữu tối thượng.

3. - Lời nói của Tôn giả Bhaddaji, đây là lời của quần chúng.

− Tôn giả Ananda là vị nghe nhiều. Tôn giả Ananda hãy nói lên.

− Vậy này Hiền giả Bhaddaji, hãy nghe và khéo tác ý, tôi sẽ nói.

− Thưa vâng, Hiền giả.

Tôn giả Bhaddaji vâng đáp Tôn giả Ananda. Tôn giả Ananda nói như sau:

− Khi người ta nhìn, này Hiền giả, không có gián đoạn, các lậu hoặc được đoạn trừ, như vậy là sự thấy tối thượng. Khi người ta nghe không có gián đoạn, các lậu hoặc được đoạn trừ, như vậy là sự nghe tối thượng. Khi người ta cảm giác lạc thọ không có gián đoạn, các lậu hoặc được đoạn trừ, như vậy là an lạc tối thượng. Khi người ta cảm tưởng không có gián đoạn, các lậu hoặc được đoạn trừ, như vậy là tưởng tối thượng. Khi người ta hiện hữu không có gián đoạn, các lậu hoặc được đoạn trừ, như vậy là hữu tối thượng.