Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về Người Cư Sĩ Tại Gia

AN 5.171 Rụt Rè Sārajjasutta

TÔI NGHE NHƯ VẦY. Một thời Đức Phật ở gần Sāvatthī, tại Rừng Jeta, Tu viện của Anāthapiṇḍika. Tại đó, Đức Phật gọi các vị khất sĩ: “Này các vị khất sĩ!”

“Bạch Thế Tôn,” họ đáp. Đức Phật nói điều này:

"Người cư sĩ tại gia có năm phẩm chất sẽ bị sự rụt rè xâm chiếm. Năm phẩm chất nào? Họ sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, và uống rượu bia, các chất gây say. Người cư sĩ tại gia có năm phẩm chất này sẽ bị sự rụt rè xâm chiếm.

Người cư sĩ tại gia có năm phẩm chất sẽ tự tin. Năm phẩm chất nào? Họ không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, và không uống rượu bia, các chất gây say. Người cư sĩ tại gia có năm phẩm chất này sẽ tự tin."

XVIII. Phẩm Nam Cư Sĩ

(I) (171) Sợ Hãi

1. Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Taị đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

2. - Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, nam cư sĩ rơi vào sợ hãi. Thế nào là năm? Sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, đắm say rượu men, rượu nấu.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, nam cư sĩ rơi vào sợ hãi.

3. - Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, nam cư sĩ không có sợ hãi. Thế nào là năm? Từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, nam cư sĩ không có sợ hãi.

AN 5.172 Tự Tin Visāradasutta

"Người cư sĩ tại gia sống ở nhà có năm phẩm chất sẽ không tự tin. Năm phẩm chất nào? Họ sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, và uống rượu bia, các chất gây say. Người cư sĩ tại gia sống ở nhà có năm phẩm chất này sẽ không tự tin.

Người cư sĩ tại gia sống ở nhà có năm phẩm chất sẽ tự tin. Năm phẩm chất nào? Họ không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, và không uống rượu bia, các chất gây say. Người cư sĩ tại gia sống ở nhà có năm phẩm chất này sẽ tự tin."

(II) (172) Không Sợ Hãi

1. - Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, nam cư sĩ sống trong gia đình có sự sợ hãi. Thế nào là năm? Sát sanh…đắm say rượu men, rượu nấu.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, nam cư sĩ sống ở gia đình có sợ hãi.

2. - Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, nam cư sĩ sống trong gia đình không có sợ hãi. Thế nào là năm? Từ bỏ sát sanh…từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, nam cư sĩ sống ở gia đình không có sợ hãi.

AN 5.173 Địa Ngục Nirayasutta

"Này các vị khất sĩ, người cư sĩ tại gia có năm phẩm chất sẽ bị đọa xuống địa ngục. Năm phẩm chất nào? Họ sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, và uống rượu bia, các chất gây say. Người cư sĩ tại gia có năm phẩm chất này sẽ bị đọa xuống địa ngục.

Người cư sĩ tại gia có năm phẩm chất sẽ được nâng lên cõi trời. Năm phẩm chất nào? Họ không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, và không uống rượu bia, các chất gây say. Người cư sĩ tại gia có năm phẩm chất này sẽ được nâng lên cõi trời."

(III) (173) Ðịa Ngục

1. - Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, nam cư sĩ như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Thế nào là năm? Sát sanh…đắm say rượu men, rượu nấu.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, nam cư sĩ như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục.

2. - Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, nam cư sĩ như vậy tương xứng được sanh lên cõi Trời. Thế nào là năm? Từ bỏ sát sanh…từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, nam cư sĩ như vậy tương xứng được sanh lên cõi Trời.

AN 5.174 Mối Đe Dọa Verasutta

Khi ấy, gia chủ Anāthapiṇḍika đến gặp Đức Phật, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ông:

"Này gia chủ, nếu năm mối nguy hiểm và đe dọa này không được từ bỏ, người đó được xem là không có đạo đức (unethical / không có đạo đức), và sẽ tái sinh vào địa ngục. Năm điều nào? Sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, và uống rượu bia, các chất gây say. Nếu năm mối nguy hiểm và đe dọa này không được từ bỏ, người đó được xem là không có đạo đức, và sẽ tái sinh vào địa ngục.

Khi năm mối nguy hiểm và đe dọa này được từ bỏ, người đó được xem là có đạo đức, và sẽ tái sinh lên cõi trời. Năm điều nào? Sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, và uống rượu bia, các chất gây say. Khi năm mối nguy hiểm và đe dọa này được từ bỏ, người đó được xem là có đạo đức, và sẽ tái sinh lên cõi trời.

Bất kỳ ai sát sinh đều tạo ra những nguy hiểm và đe dọa cả trong đời này lẫn đời sau, và trải nghiệm nỗi đau khổ và buồn phiền trong tâm. Bất kỳ ai từ bỏ sát sinh thì không tạo ra nguy hiểm và đe dọa nào cả trong đời này lẫn đời sau, và không trải nghiệm nỗi đau khổ và buồn phiền trong tâm. Vì vậy, mối nguy hiểm và đe dọa đó được dập tắt đối với bất kỳ ai từ bỏ sát sinh.

Bất kỳ ai trộm cắp …

Bất kỳ ai tà dâm …

Bất kỳ ai nói dối …

Bất kỳ ai uống rượu bia, các chất gây say đều tạo ra những nguy hiểm và đe dọa cả trong đời này lẫn đời sau, và trải nghiệm nỗi đau khổ và buồn phiền trong tâm. Bất kỳ ai từ bỏ uống rượu bia, các chất gây say thì không tạo ra nguy hiểm và đe dọa nào cả trong đời này lẫn đời sau, và không trải nghiệm nỗi đau khổ và buồn phiền trong tâm. Vì vậy, mối nguy hiểm và đe dọa đó được dập tắt đối với bất kỳ ai từ bỏ uống rượu bia, các chất gây say.

Bất kỳ ai trên thế gian này
sát hại sinh linh,
nói lời gian dối, trộm cắp,
ngoại tình,
và đam mê uống
rượu bia.

Trừ khi họ từ bỏ năm mối đe dọa này,
họ bị xem là không có đạo đức.
Khi thân hoại mạng chung, kẻ ngu muội đó
tái sinh vào địa ngục.

Một người trên thế gian không sát hại sinh linh,
không nói lời gian dối,
không trộm cắp,
không ngoại tình,
không đam mê uống
rượu bia.

Từ bỏ năm mối đe dọa này,
họ được xem là có đạo đức.
Khi thân hoại mạng chung, người trí tuệ đó
tái sinh vào nơi tốt đẹp."

(IV) (174) Sợ Hâi Hận Thù

1. Rồi gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi xuống một bên:

2. - Này Gia chủ, ai không đoạn tận năm sợ hãi hận thù, được gọi là ác giới và sanh vào địa ngục. Thế nào là năm? Sát sanh, lấy của không cho, tả hạnh trong các dục, nói láo, đắm say rượu men, rượu nấu. Này Gia chủ, ai không đoạn tận năm sợ hãi hận thù này, được gọi là ác giới và sanh vào địa ngục.

3. - Này Gia chủ, ai đoạn tận năm sợ hãi hận thù, được gọi là có giới và sanh lên cõi Trời. Thế nào là năm? Sát sanh, lấy của không cho…đắm say rượu men, rượu nấu.

Này Gia chủ, ai đoạn tận năm sợ hãi hận thù này, được gọi là có giới và sanh lên cõi Trời.

4. Này Gia chủ, do duyên sát sanh, người sát sanh hiện tại sanh khởi sợ hãi hận thù, đời sau sanh khởi sợ hãi hận thù, tâm cảm thọ khổ ưu. Từ bỏ sát sanh, hiện tại không sanh khởi sợ hãi hận thù, đời sau không sanh khởi sợ hãi hận thù, tâm không cảm thọ khổ ưu. Người từ bỏ sát sanh, như vậy, sợ hãi hận thù ấy được tịnh chỉ.

5. Này Gia chủ, người lấy của không cho…Này Gia chủ, người có tà hạnh trong các dục…Này Gia chủ, người nói láo…Này Gia chủ, người đắm say rượu men, rượu nấu, do duyên đắm say rượu men, rượu nấu, hiện tại sanh khởi sợ hãi hận thù, đời sau sanh khởi sợ hãi hận thù, tâm cảm thọ khổ ưu. Từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu, hiện tại không sanh khởi sợ hãi hận thù, đời sau không sanh khởi sợ hãi hận thù, tâm không cảm thọ khổ ưu. Người từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu, như vậy, sợ hãi hận thù ấy được tịnh chỉ.

Ai sát hại sanh linh,
Và nói láo ở đời,
Lấy của cải không cho,
Ði đến vợ người khác,
Và người mãi đắm say,
Uống rượu men, rượu nấu,
Không đoạn năm hận thù,
Ðược gọi là ác giới,
Mạng chung, sanh ác tuệ,
Bị rơi vào địa ngục.

Ai không hại sanh linh,
Không nói láo ở đời,
Không lấy của không cho,
Không đi đến vợ người,
Người nào không đắm say,
Rượu men và rượu nấu,
Ðoạn tận năm hận thù,
Ðược gọi là có giới,
Mạng chung, sanh trí tuệ,
Ðược sanh lên cõi lành.

AN 5.175 Người Làm Nghề Xác Chết Caṇḍālasutta

"Này các vị khất sĩ, người cư sĩ tại gia có năm phẩm chất là người làm nghề xác chết, là vết nhơ, và là kẻ bị loại bỏ giữa các cư sĩ tại gia. Năm phẩm chất nào? Họ không có niềm tin (faithless / không có niềm tin). Họ không có đạo đức. Họ theo các nghi lễ ồn ào, mê tín (boisterous, superstitious rites / nghi lễ ồn ào, mê tín), tin vào điềm báo hơn là hành động. Họ tìm kiếm bên ngoài cộng đồng Phật giáo những người xứng đáng nhận cúng dường (worthy of religious donations / xứng đáng nhận cúng dường). Và họ cúng dường ở đó trước tiên. Người cư sĩ tại gia có năm phẩm chất này là người làm nghề xác chết, là vết nhơ, và là kẻ bị loại bỏ giữa các cư sĩ tại gia.

Người cư sĩ tại gia có năm phẩm chất là viên ngọc quý, là hoa sen hồng, và là hoa sen trắng giữa các cư sĩ tại gia. Năm phẩm chất nào? Họ có niềm tin. Họ có đạo đức. Họ không thực hành các nghi lễ ồn ào, mê tín, và tin vào hành động hơn là điềm báo. Họ không tìm kiếm bên ngoài cộng đồng Phật giáo những người xứng đáng nhận cúng dường. Và họ không cúng dường ở đó trước tiên. Người cư sĩ tại gia có năm phẩm chất này là viên ngọc quý, là hoa sen hồng, và là hoa sen trắng giữa các cư sĩ tại gia."

(V) (175) Kẻ Bị Vất Bỏ

1. - Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, nam cư sĩ là kẻ bị vất bỏ khỏi giới nam cư sĩ, là cấu uế cho nam cư sĩ, là tối hạ liệt cho nam cư sĩ. Thế nào là năm?

Không tin; ác giới; đoán tương lai với những nghi lễ đặc biệt; tin tưởng điềm lành; không tin hành động; tìm kiếm ngoài (Tăng chúng) người xứng đáng tôn trọng và tại đấy phục vụ trước.

Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, man cư sĩ là kẻ bị vất bỏ khỏi giới nam cư sĩ, là cấu uế cho nam cư sĩ, là tối hạ liệt cho nam cư sĩ.

2. Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, một nam cư sĩ là hòn ngọc trong giới nam cư sĩ, là hoa sen hồng trong giới nam cư sĩ, là hoa sen trắng trong giới nam cư sĩ. Thế nào là năm?

Có lòng tin; có giới; không đoán tương lai với những nghi lễ đặc biệt; không tin tưởng điềm lành; tin tưởng ở hành động; không tìm kiếm ngoài Tăng chúng người xứng đáng tôn trọng và tại đấy phục vụ trước.

Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, một nam cư sĩ là hòn ngọc trong giới nam cư sĩ, là hoa sen hồng trong giới nam cư sĩ, là hoa sen trắng trong giới nam cư sĩ.

AN 5.176 Niềm Vui Pītisutta

Khi ấy, gia chủ Anāthapiṇḍika, cùng với khoảng năm trăm cư sĩ tại gia, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ông:

“Này các gia chủ, các vị đã cúng dường y phục, vật thực, chỗ ở, và thuốc men cùng vật dụng cho các vị khất sĩ trong Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng tu sĩ). Nhưng các vị không nên chỉ hài lòng với chừng đó. Vì vậy, các vị nên tu tập như thế này: ‘Làm thế nào để chúng ta, thỉnh thoảng, có thể nhập và an trú trong niềm vui của sự ẩn dật (rapture of seclusion / niềm vui khi ở một mình)?’ Đó là cách các vị nên tu tập.”

Khi Ngài nói vậy, Tôn giả Sāriputta thưa với Đức Phật: "Thật vi diệu, bạch Thế Tôn, thật kỳ diệu! Lời này của Đức Phật thật khéo nói: ‘Này các gia chủ, các vị đã cúng dường y phục, vật thực, chỗ ở, và thuốc men cùng vật dụng cho các vị khất sĩ trong Tăng đoàn. Nhưng các vị không nên chỉ hài lòng với chừng đó. Vì vậy, các vị nên tu tập như thế này: “Làm thế nào để chúng ta, thỉnh thoảng, có thể nhập và an trú trong niềm vui của sự ẩn dật?” Đó là cách các vị nên tu tập.’

Vào lúc một thánh đệ tử (noble disciple / người học trò cao quý) nhập và an trú trong niềm vui của sự ẩn dật, năm điều này không có mặt nơi vị ấy. Nỗi đau khổ và buồn phiền liên quan đến dục lạc (sensual pleasures / niềm vui giác quan). Niềm vui và hạnh phúc liên quan đến dục lạc. Nỗi đau khổ và buồn phiền liên quan đến điều bất thiện (unskillful / không tốt lành). Niềm vui và hạnh phúc liên quan đến điều bất thiện. Nỗi đau khổ và buồn phiền liên quan đến điều thiện (skillful / tốt lành). Vào lúc một thánh đệ tử nhập và an trú trong niềm vui của sự ẩn dật, năm điều này không có mặt nơi vị ấy."

“Lành thay, lành thay, Sāriputta! Vào lúc một thánh đệ tử nhập và an trú trong niềm vui của sự ẩn dật, năm điều này không có mặt nơi vị ấy. Nỗi đau khổ và buồn phiền liên quan đến dục lạc. Niềm vui và hạnh phúc liên quan đến dục lạc. Nỗi đau khổ và buồn phiền liên quan đến điều bất thiện. Niềm vui và hạnh phúc liên quan đến điều bất thiện. Nỗi đau khổ và buồn phiền liên quan đến điều thiện. Vào lúc một thánh đệ tử nhập và an trú trong niềm vui của sự ẩn dật, năm điều này không có mặt nơi vị ấy.”

(VI) (176) Hoan Hỷ

1. Rồi Gia chủ Anàthapindika với khoảng năm trăm nam cư sĩ đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Gia chủ Anàthapindika đang ngồi xuống một bên:

2. - Này Gia chủ, Ông đã cung cấp cho chúng Tỷ-kheo các vật dụng cần thiết như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Nhưng Ông chớ có bằng lòng với ý nghĩ: “Chúng ta đã cung cấp cho chúng Tỷ-kheo các vật dụng cần thiết như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh”. Do vậy, này Gia chủ, Ông cần phải học tập như sau:

3. “Với phương tiện nào chúng ta thỉnh thoảng đạt được và an trú hỷ do viễn ly sanh” Như vậy, này Gia chủ, Ông cần phải học tập.

4. Ðược nghe nói như vậy, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:

− Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Khéo nói thay là lời nói này của Thế Tôn: “Này Gia chủ, Ông đã cung cấp cho chúng Tỷ-kheo các vật dụng cần thiết như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Nhưng Ông chớ có bằng lòng với ý nghĩ: “Chúng ta đã cung cấp cho chúng Tỷ-kheo các vật dụng cần thiết như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh”. Do vậy, Ông cần phải học tập như sau: “Với phương tiện nào chúng ta thỉnh thoảng đạt được và an trú hỷ do viễn ly sanh!” Như vậy, này Gia chủ, Ông cần phải học tập”. Bạch Thế Tôn, khi nào Thánh đệ tử đạt đến và an trú hỷ do viễn ly sanh, trong thời gian ấy, năm sự việc không xảy ra: Khổ và ưu liên hệ đến dục trong thời gian ấy không khởi lên cho người ấy. Lạc và hỷ liên hệ đến dục trong thời gian ấy không khởi lên cho người ấy. Khổ và ưu liên hệ đến bất thiện trong thời gian ấy không khởi lên cho người ấy. Lạc và hỷ liên hệ đến bất thiện trong thời gian ấy không khởi lên cho người ấy. Khổ và ưu liên hệ đến thiện, trong thời gian ấy không khởi lên cho người ấy. Bạch Thế Tôn, khi nào Thánh đệ tử đạt đến và an trú hỷ do viễn ly sanh, trong thời gian ấy, năm sự việc này không xảy ra.

− Lành thay, lành thay, này Sàriputta, trong khi Thánh đệ tử đạt được và an trú hỷ do viễn ly sanh, trong thời gian ấy, năm sự kiện không xảy ra cho người ấy: Khổ và ưu liên hệ đến dục trong thời gian ấy không xảy ra cho người ấy. Lạc và hỷ liên hệ đến dục trong thời gian ấy không xảy ra cho người ấy. Khổ và ưu liên hệ đến bất thiện trong thời gian ấy không xảy ra cho người ấy. Lạc và hỷ liên hệ đến bất thiện trong thời gian ấy không xảy ra cho người ấy. Khổ và ưu liên hệ đến thiện, trong thời gian ấy không xảy ra cho người ấy. Này Sàriputta, trong khi vị Thánh đệ tử đạt đến và an trú hỷ do viễn ly sanh, trong thời gian ấy, năm sự kiện này không xảy ra cho người ấy.

AN 5.177 Nghề Buôn Bán Vaṇijjāsutta

“Này các vị khất sĩ, người cư sĩ tại gia không nên tham gia vào năm nghề buôn bán này. Năm nghề nào? Buôn bán vũ khí, chúng sinh, thịt, chất gây say, và chất độc. Người cư sĩ tại gia không nên tham gia vào năm nghề buôn bán này.”

(VII) (177) Người Buôn Bán

1. - Có năm nghề buôn bán này, này các Tỷ-kheo, một nam cư sĩ không nên làm. Thế nào là năm? Buôn bán đao kiếm, buôn bán người, buôn bán thịt, buôn bán rượu, buôn bán thuốc độc.

Có năm nghề buôn bán này, này các Tỷ-kheo, một nam cư sĩ không nên làm.

AN 5.178 Các Vị Vua Rājāsutta

“Này các vị khất sĩ, các vị nghĩ sao? Các vị đã từng thấy hay nghe về một người đã từ bỏ sát sinh, mà bị các vị vua bắt giữ vì điều đó, rồi xử tử, bỏ tù, hay trục xuất, hoặc làm những gì cần thiết theo luật pháp chưa?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Lành thay, này các vị khất sĩ! Ta cũng chưa từng thấy hay nghe về một trường hợp như vậy. Thay vào đó, các vị vua được thông báo về hành vi xấu của ai đó: ‘Người này đã giết một người đàn ông hay một người phụ nữ.’ Các vị vua cho bắt họ vì tội giết người, rồi xử tử, bỏ tù, hay trục xuất, hoặc làm những gì cần thiết theo luật pháp. Các vị đã từng thấy hay nghe về một trường hợp như vậy chưa?”

“Bạch Thế Tôn, chúng con đã thấy và đã nghe, và chúng con sẽ còn nghe nữa.”

“Này các vị khất sĩ, các vị nghĩ sao? Các vị đã từng thấy hay nghe về một người đã từ bỏ trộm cắp, mà bị các vị vua bắt giữ vì điều đó …?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Lành thay, này các vị khất sĩ! Ta cũng chưa từng thấy hay nghe về một trường hợp như vậy. Thay vào đó, các vị vua được thông báo về hành vi xấu của ai đó: ‘Người này đã lấy trộm thứ gì đó từ một ngôi làng hay vùng hoang dã, với ý định trộm cắp.’ Các vị vua cho bắt họ vì tội trộm cắp … Các vị đã từng thấy hay nghe về một trường hợp như vậy chưa?”

“Bạch Thế Tôn, chúng con đã thấy và đã nghe, và chúng con sẽ còn nghe nữa.”

“Này các vị khất sĩ, các vị nghĩ sao? Các vị đã từng thấy hay nghe về một người đã từ bỏ tà dâm, mà bị các vị vua bắt giữ vì điều đó …?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Lành thay, này các vị khất sĩ! Ta cũng chưa từng thấy hay nghe về một trường hợp như vậy. Thay vào đó, các vị vua được thông báo về hành vi xấu của ai đó: ‘Người này đã có quan hệ tình dục với phụ nữ hoặc thiếu nữ đang được người khác bảo hộ.’ Các vị vua cho bắt họ vì điều đó … Các vị đã từng thấy hay nghe về một trường hợp như vậy chưa?”

“Bạch Thế Tôn, chúng con đã thấy và đã nghe, và chúng con sẽ còn nghe nữa.”

“Này các vị khất sĩ, các vị nghĩ sao? Các vị đã từng thấy hay nghe về một người đã từ bỏ nói dối, mà bị các vị vua bắt giữ vì điều đó …?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Lành thay, này các vị khất sĩ! Ta cũng chưa từng thấy hay nghe về một trường hợp như vậy. Thay vào đó, các vị vua được thông báo về hành vi xấu của ai đó: ‘Người này đã hủy hoại một gia chủ hay con cái của gia chủ bằng lời nói dối.’ Các vị vua cho bắt họ vì điều đó … Các vị đã từng thấy hay nghe về một trường hợp như vậy chưa?”

“Bạch Thế Tôn, chúng con đã thấy và đã nghe, và chúng con sẽ còn nghe nữa.”

“Này các vị khất sĩ, các vị nghĩ sao? Các vị đã từng thấy hay nghe về một người đã từ bỏ rượu bia, các chất gây say, mà bị các vị vua bắt giữ vì điều đó, rồi xử tử, bỏ tù, hay trục xuất, hoặc làm những gì cần thiết theo luật pháp chưa?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Lành thay, này các vị khất sĩ! Ta cũng chưa từng thấy hay nghe về một trường hợp như vậy. Thay vào đó, các vị vua được thông báo về hành vi xấu của ai đó: ‘Trong lúc bị ảnh hưởng bởi rượu bia, các chất gây say, người này đã giết một người phụ nữ hay một người đàn ông. Hoặc họ đã trộm cắp thứ gì đó từ một ngôi làng hay vùng hoang dã. Hoặc họ đã có quan hệ tình dục với phụ nữ hoặc thiếu nữ đang được người khác bảo hộ. Hoặc họ đã hủy hoại một gia chủ hay con cái của gia chủ bằng lời nói dối.’ Các vị vua cho bắt họ vì bị ảnh hưởng bởi rượu bia, các chất gây say, rồi xử tử, bỏ tù, hay trục xuất, hoặc làm những gì cần thiết theo luật pháp. Các vị đã từng thấy hay nghe về một trường hợp như vậy chưa?”

“Bạch Thế Tôn, chúng con đã thấy và đã nghe, và chúng con sẽ còn nghe nữa.”

(VIII) (178) Các Vua

1. - Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, các Thầy có thấy hay có nghe như sau không: “Người này đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh. Rồi do nhân từ bỏ sát sanh, các vua bắt người ấy sát hại hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Lành thay, này các Tỷ-kheo! Ta cũng không thấy, cũng không nghe như sau: “Người này đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh. Rồi do nhân từ bỏ sát sanh, các vua bắt người ấy sát hại hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn!” Nhưng nếu có người nói về ác nghiệp của người ấy như sau: “Người này sát hại sinh mạng của nữ nhân hay nam nhân”. Rồi các vua bắt người ấy, do nhân sát hại sinh mạng, sát hại hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”. Các Thầy có thấy như vậy, hay nghe như vậy chăng?

− Bạch Thế Tôn, chúng con có thấy và nghe như vậy. Và sẽ được nghe như vậy nữa.

2. - Này các Tỷ-kheo, các Thầy nghĩ thế nào, các Thầy có thấy hay có nghe như sau không: “Người này đoạn tận lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho. Rồi các vua bắt người ấy, do nhân từ bỏ lấy của không cho, sát hại hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Lành thay, này các Tỷ-kheo! Ta cũng không thấy, cũng không nghe như sau: “Người này đoạn tận lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho. Rồi các vua bắt người ấy, do nhân từ bỏ lấy của không cho, sát hại hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”. Nhưng nếu có người nói về ác nghiệp của người ấy như sau: “Người này lấy của không cho gọi là ăn trộm, từ làng hay từ khu rừng. Rồi các vua bắt người ấy, do duyên lấy của không cho, sát hại hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”. Các Thầy có thấy như vậy, hay nghe như vậy chăng?

− Bạch Thế Tôn, chúng con có thấy và có nghe như vậy. Và sẽ được nghe như vậy nữa.

3. - Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, các Thầy có thấy hay có nghe như sau không: “Người này đoạn tận tà hạnh trong các dục, từ bỏ tà hạnh trong các dục. Rồi các vua bắt người ấy, do nhân từ bỏ tà hạnh trong các dục, sát hại, hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Lành thay, này các Tỷ-kheo! Ta cũng không thấy, cũng không nghe như sau: “Người này đoạn tận tà hạnh trong các dục, từ bỏ tà hạnh trong các dục. Rồi các vua bắt người ấy, do nhân từ bỏ tà hạnh trong các dục, sát hại hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn!” Nhưng nếu có người nói về ác nghiệp của người ấy như sau: “Người này có tà hạnh với những người đàn bà của người khác, với những thiếu nữ của người khác. Rồi các vua bắt người ấy, do nhân tà hạnh trong các dục, sát hại hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”. Các Thầy có thấy như vậy, hay có nghe như vậy chăng? − Bạch Thế Tôn, chúng con có thấy và có nghe như vậy. Và sẽ được nghe như vậy nữa.

4. - Này các Tỷ-kheo, các Thầy nghĩ thế nào, các Thầy có thấy và có nghe như sau không: “Người này đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo. Rồi các vua bắt người ấy, do nhân từ bỏ nói láo, sát hại, hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Lành thay, này các Tỷ-kheo! Ta cũng không thấy, cũng không nghe như sau: “Người này đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo. Rồi các vua chúa bắt người ấy, do nhân từ bỏ nói láo, sát hại hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”. Nhưng nếu có người nói về ác nghiệp của người ấy như sau: “Người này do nói láo, phá hoại hạnh phúc của người gia chủ hay con người gia chủ”. Rồi các vua bắt người ấy, và do nhân nói láo, sát hại hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”. Các Thầy có thấy như vậy hay có nghe như vậy chăng?

− Bạch Thế Tôn, chúng con có thấy và nghe như vậy. Và sẽ được nghe như vậy nữa.

5. - Này các Tỷ-kheo, các Thầy nghĩ thế nào, các Thầy có thấy hay có nghe như sau không: “Người này đoạn tận đắm say rượu men, rượu nấu. Rồi các vua bắt người ấy, do nhân từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu, sát hại, bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Lành thay, này các Tỷ-kheo! Ta cũng không thấy, cũng không nghe như sau: “Người này đoạn tận đắm say rượu men rượu nấu. Rồi các vua chúa bắt người ấy, do nhân từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu, sát hại, hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”. Nhưng nếu có người nói về ác nghiệp của người ấy như sau: “Người này do đắm say rượu men rượu nấu, lấy của không cho, gọi là ăn trộm từ làng hay từ khu rừng; người này do nhân đắm say rượu men rượu nấu, có tà hạnh đối với những nữ nhân của các người khác, đối với các thiếu nữ của những người khác; người này do nhân đắm say rượu men rượu nấu, nói láo, phá hoại hạnh phúc người gia chủ hay con người gia chủ. Rồi các vua bắt người ấy, do nhân đắm say rượu men rượu nấu, sát hại hay bắt trói, hay tẩn xuất, hay làm gì người ấy tùy theo ý muốn”. Các Thầy có thấy như vậy, có nghe như vậy chăng?

− Bạch Thế Tôn, chúng con có thấy, có nghe như vậy và sẽ được nghe như vậy nữa.

AN 5.179 Một Người Tại Gia Gihisutta

Khi ấy, gia chủ Anāthapiṇḍika, cùng với khoảng năm trăm cư sĩ tại gia, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Rồi Đức Phật nói với Tôn giả Sāriputta:

"Này Sāriputta, ông nên biết điều này về những cư sĩ áo trắng (white-clothed laypeople / người tại gia mặc đồ trắng) có hành động được chế ngự trong năm giới (five precepts / năm điều đạo đức), và đạt được bốn thiền định an vui trong đời này thuộc về tâm cao thượng (blissful meditations in this life belonging to the higher mind / trạng thái tâm an vui cao cấp đạt được trong đời này) bất cứ khi nào họ muốn, không khó khăn hay trở ngại. Họ có thể, nếu muốn, tự tuyên bố về mình: ‘Ta đã chấm dứt tái sinh vào địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Ta đã chấm dứt mọi nơi đọa đày, nơi xấu ác, cõi thấp kém. Ta là bậc nhập lưu (stream-enterer / người đã vào dòng thánh)! Ta không còn bị tái sinh vào cõi thấp kém, và chắc chắn hướng đến giác ngộ (awakening / sự tỉnh thức hoàn toàn).’

Và năm giới mà hành động của họ được chế ngự là gì? Đó là khi một thánh đệ tử không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, và không uống rượu bia, các chất gây say. Đây là năm giới mà hành động của họ được chế ngự.

Và bốn thiền định an vui trong đời này thuộc về tâm cao thượng mà họ đạt được bất cứ khi nào họ muốn, không khó khăn hay trở ngại là gì?

Đó là khi một thánh đệ tử có niềm tin vững chắc (experiential confidence / niềm tin dựa trên kinh nghiệm) nơi Đức Phật: ‘Đức Thế Tôn (blessed / bậc được tôn kính) đó là bậc A-la-hán (perfected / người đã hoàn thiện), một vị Phật toàn giác (fully awakened Buddha / vị Phật tỉnh thức hoàn toàn), minh hạnh túc (accomplished in knowledge and conduct / đầy đủ trí tuệ và đức hạnh), thiện thệ (holy / bậc đi đến an lạc), thế gian giải (knower of the world / người hiểu biết thế gian), vô thượng sĩ điều ngự trượng phu (supreme guide for those who wish to train / bậc cao nhất hướng dẫn người cần điều phục), thiên nhân sư (teacher of gods and humans / thầy của trời và người), Phật (awakened / bậc tỉnh thức), Thế Tôn.’ Đây là thiền định an vui thứ nhất trong đời này thuộc về tâm cao thượng, mà họ đạt được để thanh lọc tâm chưa thanh tịnh và gột rửa tâm ô uế.

Hơn nữa, một thánh đệ tử có niềm tin vững chắc nơi Pháp (teaching / lời dạy của Phật): ‘Pháp được Đức Phật khéo giảng dạy—thiết thực trong hiện tại, có hiệu quả tức thì, mời gọi đến để thấy, có tính hướng thượng, để người trí tự mình biết.’ Đây là thiền định an vui thứ hai …

Hơn nữa, một thánh đệ tử có niềm tin vững chắc nơi Tăng đoàn: ‘Tăng đoàn đệ tử của Đức Phật đang thực hành con đường tốt đẹp, chân chính, có phương pháp, và đúng đắn. Bao gồm bốn đôi, tám bậc cá nhân. Đây là Tăng đoàn đệ tử của Đức Phật xứng đáng nhận lễ vật cúng dường, xứng đáng được tiếp đón, xứng đáng nhận vật phẩm tôn giáo, xứng đáng được chắp tay chào kính, và là ruộng phước (field of merit / nơi gieo trồng công đức) tối thượng cho thế gian.’ Đây là thiền định an vui thứ ba …

Hơn nữa, giới hạnh (ethical conduct / hành vi đạo đức) của một thánh đệ tử được các bậc thánh yêu mến, không bị phá vỡ, không tì vết, không nhơ bẩn, và không hoen ố, có tính giải thoát, được người trí tán thán, không sai lầm, và dẫn đến định (immersion / sự tập trung tâm). Đây là thiền định an vui thứ tư trong đời này thuộc về tâm cao thượng, mà họ đạt được để thanh lọc tâm chưa thanh tịnh và gột rửa tâm ô uế. Đây là bốn thiền định an vui trong đời này thuộc về tâm cao thượng mà họ đạt được bất cứ khi nào họ muốn, không khó khăn hay trở ngại.

Này Sāriputta, ông nên biết điều này về những cư sĩ áo trắng có hành động được chế ngự trong năm giới, và đạt được bốn thiền định an vui trong đời này thuộc về tâm cao thượng bất cứ khi nào họ muốn, không khó khăn hay trở ngại. Họ có thể, nếu muốn, tự tuyên bố về mình: ‘Ta đã chấm dứt tái sinh vào địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Ta đã chấm dứt mọi nơi đọa đày, nơi xấu ác, cõi thấp kém. Ta là bậc nhập lưu! Ta không còn bị tái sinh vào cõi thấp kém, và chắc chắn hướng đến giác ngộ.’

Thấy sự nguy hiểm trong địa ngục,
bạn nên tránh xa các hành vi xấu.
Tiếp nhận lời dạy của các bậc thánh,
người sáng suốt nên tránh xa chúng.

Bạn không nên làm hại chúng sinh,
miễn là còn sức lực.
Cũng không nên cố ý nói dối,
hay lấy những gì không được cho.

Hài lòng với bạn đời của mình,
bạn nên tránh xa bạn đời của người khác.
Người đàn ông không nên uống rượu hay rượu cọ,
vì chúng làm tâm trí mê mờ.

Bạn nên tưởng nhớ Đức Phật,
và suy ngẫm về Pháp.
Bạn nên phát triển tâm vô hại vì lợi ích,
điều đó dẫn đến các cõi trời.

Khi có sẵn những món quà thích hợp để cho
đến người tìm kiếm và cần phước đức,
một sự cúng dường tôn giáo sẽ dồi dào
nếu được dâng lên trước tiên cho những bậc tịch tịnh.

Ta sẽ nói về những bậc tịch tịnh,
Sāriputta, hãy nghe Ta.
Bò có thể màu đen hoặc trắng,
đỏ hoặc nâu vàng,

lốm đốm hoặc đồng màu,
hoặc màu bồ câu.
Nhưng khi một con được sinh ra trong số chúng,
con bò đực đã được thuần hóa—

một con thú khổng lồ, mạnh mẽ,
kéo về phía trước nhịp nhàng—
họ chỉ ách gánh nặng cho nó,
bất kể màu sắc của nó.

Con người cũng vậy,
dù họ sinh ra ở đâu—
giữa quý tộc, bà-la-môn, nông dân,
tiện dân, hay người làm nghề xác chết và nhặt rác—

nhưng khi một người được sinh ra trong số họ,
được thuần hóa, trung thành với lời nguyện của mình.
Vững vàng trong nguyên tắc, thành tựu trong giới hạnh,
chân thật, có lương tâm,

họ đã từ bỏ sinh và tử,
và đã hoàn thành hành trình tâm linh.
Gánh nặng đã đặt xuống, không còn vướng mắc,
họ đã hoàn thành nhiệm vụ
>và thoát khỏi phiền não (defilements / những ô nhiễm tâm).

Vượt qua mọi sự vật,
họ tịch tịnh nhờ không chấp thủ.
Trong ruộng phước không tì vết đó,
một sự cúng dường tôn giáo thật dồi dào.

Những kẻ ngu si không hiểu—
những kẻ khờ khạo ít học—
dâng tặng quà cho những người bên ngoài,
và không đến gần những bậc tịch tịnh.

Nhưng những người đến gần những bậc tịch tịnh—
những người trí tuệ, được xem là chú tâm—
và có niềm tin nơi Đấng Thánh
đã bén rễ sâu,

họ đi đến cõi trời,
hoặc được sinh ra ở đây trong một gia đình tốt.
Dần dần những người sáng suốt đó
đạt đến Niết-bàn (extinguishment / sự dập tắt khổ đau)."

(IX) (179) Gia Chủ

1. Gia chủ Anàthapindika với khoảng 500 nam cư sĩ đoanh vây, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn bảo Tôn giả Sàriputta:

2. - Này Sàriputta, Thầy có biết người gia chủ mặc áo trắng nào mà sở hành được bảo vệ trong năm học giới, và có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức bốn tăng thượng tâm hiện tại lạc trú, nếu vị ấy muốn, có thể tự đáp về mình như sau: “Ta sẽ đoạn tận địa ngục, đoạn tận loài bàng sanh, đoạn tận loài ngạ quỷ, đoạn tận cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, không còn phải thối đọa, quyết chắc đạt được Chánh giác”? Sở hành được bảo vệ trong năm học giới nào?

3. Ở đây, này Sàriputta, Thánh đệ tử từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Sở hành được bảo vệ trong năm học giới này.

Vị ấy có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức bốn tăng thượng tâm hiện tại lạc trú nào?

4. Ở đây, này Sàriputta, vị Thánh đệ tử có lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Thế Tôn là bậc A-lahán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Ðây là tăng thượng tâm hiện tại lạc trú thứ nhất đã chứng được nhờ làm cho thanh tịnh tâm chưa được thanh tịnh, làm cho trong sáng tâm chưa được trong sáng.

5. Lại nữa, này Sàriputta, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Pháp: “Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được kẻ trí tự mình giác hiểu”. Ðây là tăng thượng tâm hiện tại lạc trú thứ hai đã chứng được nhờ làm cho thanh tịnh tâm chưa được thanh tịnh, làm cho trong sáng tâm chưa được trong sáng.

6. Lại nữa, này Sàriputta, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với chúng Tăng: “Diệu hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn! Trực hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn! ứng lý hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn! Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn! Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử Thế Tôn đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời”. Ðây là tăng thượng tâm hiện tại lạc trú thứ ba đã chứng được nhờ làm cho thanh tịnh tâm chưa được thanh tịnh, làm cho trong sáng tâm chưa được trong sáng.

7. Lại nữa, này Sàriputta, vị Thánh đệ tử thành tựu giới được bậc Thánh ái kính, không có bể vụn, không bị sức mẻ, không tì vết, không ô nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, làm cho an lạc, hướng đến Thiền định. Ðây là tăng thượng tâm hiện tại lạc trú thứ ba đã chứng được nhờ làm cho thanh tịnh tâm chưa được thanh tịnh, làm cho trong sáng tâm chưa được trong sáng.

Bốn tăng thượng tâm hiện tại lạc trú này được chứng đắc không khó khăn, chứng đắc không mệt nhọc, chứng đắc không phí sức.

8. Này Sàriputta, người gia chủ mặc áo trắng nào mà Thầy biết sở hành được bảo vệ trong năm học giới, và có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức bốn tăng thượng tâm hiện tại lạc trú; nếu vị ấy muốn, có thể tự đáp về mình như sau: “Ta đã đoạn tận địa ngục, đoạn tận loài bàng sanh, đoạn tận loài ngạ quỷ, đoạn tận cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, không còn phải thối đọa, quyết chắc đạt được Chánh giác”.

Thấy sợ hãi địa ngục,
Hãy tránh xa điều ác,
Khéo chấp nhận Chánh pháp,
Bậc Hiền trí tránh xa,
Không hại các chúng sanh,
Những vật có nỗ lực,
Biết không có nói láo,
Không lấy của không cho,
Tự bằng lòng vợ mình,
Tránh xa vợ người khác,
Người biết không uống rượu,
Khiến tâm trí mê loạn,
Hãy tùy niệm đến Phật,
Hãy tùy niệm đến Pháp,
Hãy tu tâm không sân,
Hãy tu tâm nhiêu ích,
Ðể xứng đáng được sanh,
Cảnh giới các chư Thiên,
Cầu công đức lợi ích,
Hãy cung cấp vật thí,
Trước thí bậc Chí thiện,
Mới mong có quả lớn,
Này Sàriputta,
Ta sẽ nói cho Thầy,
Các bậc Chí thiện ấy,
Thầy hãy lắng nghe ta,
Như trong một đàn bò,
Có con đen, trắng, đỏ,
Màu hung hay có đốm,
Có con màu bồ câu,
Dầu con bò màu gì,
Kiếm được con bò thuần,
Con vật kéo sức mạnh,
Ðẹp, lanh và hăng hái,
Mặc kệ nó màu gì,
Liền mắc vào gánh nặng,
Cũng vậy, giữa loài Người,
Dầu có sinh chỗ nào,
Hoàng tộc, Bà-la-môn,
Thương gia hay nô bộc,
Kẻ không có giai cấp,
Hay hạ cấp đổ phân,
Giữa những người như vậy,
Ai điều phục, thuần thục,
Ngay thẳng, đủ giới đức,
Nói thực, biết tàm quý,
Sanh tử đã đoạn tận,
Phạm hạnh được vẹn toàn,
Gánh nặng đã hạ xuống,
Không còn bị trói buộc,
Việc cần làm đã làm,
Không còn bị lậu hoặc,
Ðã đến bờ bên kia,
Không chấp trước tịch tịnh,
Phước điền ấy vô cấu,
Quả lớn đáng cúng dường.
Những kẻ ngu không biết,
Thiếu trí, ít nghe nhiều,
Chỉ bố thí bên ngoài,
Không đến gần kẻ thiện,
Những ai gần kẻ thiện,
Có tuệ, tôn bậc Hiền,
Họ tin bậc Thiện Thệ,
An trú tận gốc rễ,
Sanh Thiên hay ở đây,
Ðược sanh gia đình tốt,
Bậc trí tuần tự tiến,
Chứng được cảnh Niết-bàn.

AN 5.180 Về Gavesī Gavesīsutta

Một thời Đức Phật đang du hành ở xứ Kosala cùng với một Tăng đoàn khất sĩ đông đảo. Khi đang đi trên đường, Đức Phật nhìn thấy một khu rừng sal lớn ở một nơi nọ. Ngài rời con đường, đi vào rừng sal, và đi sâu vào trong đó. Và tại một nơi nọ, Ngài mỉm cười.

Khi ấy, Tôn giả Ānanda nghĩ: “Nguyên nhân gì, lý do gì khiến Đức Phật mỉm cười? Các bậc Như Lai không mỉm cười vô cớ.”

Vì vậy, Tôn giả Ānanda thưa với Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, nguyên nhân gì, lý do gì khiến Đức Phật mỉm cười? Các bậc Như Lai không mỉm cười vô cớ.”

"Này Ānanda, ngày xưa, tại nơi này có một thành phố thành công và thịnh vượng, đông dân, đầy người. Và Kassapa, một vị Thế Tôn, một bậc A-la-hán, một vị Phật toàn giác, đã sống nương tựa vào thành phố đó.

Ngài có một người cư sĩ tại gia tên là Gavesī, người chưa hoàn thành tất cả các giới luật. Và năm trăm cư sĩ tại gia được Gavesī dạy dỗ và khuyên bảo cũng chưa hoàn thành tất cả các giới luật. Khi ấy, Gavesī nghĩ: ‘Ta là người giúp đỡ, dẫn dắt và khuyên bảo của năm trăm cư sĩ tại gia này, nhưng cả ta và họ đều chưa hoàn thành các giới luật. Chúng ta giống nhau, ta không hơn gì họ. Vậy hãy để ta làm tốt hơn.’

Rồi Gavesī đến gặp năm trăm cư sĩ tại gia đó và nói với họ: ‘Kể từ hôm nay, mong các vị tôn giả hãy ghi nhớ tôi là người đã hoàn thành các giới luật.’ Khi ấy, năm trăm cư sĩ tại gia đó nghĩ: ‘Thầy Gavesī là người giúp đỡ, dẫn dắt và khuyên bảo của chúng ta, và bây giờ thầy sẽ hoàn thành các giới luật. Tại sao chúng ta không làm như vậy?’ Rồi năm trăm cư sĩ tại gia đó đến gặp Gavesī và nói với ông: ‘Kể từ hôm nay, mong Thầy Gavesī hãy ghi nhớ năm trăm cư sĩ tại gia này là những người đã hoàn thành các giới luật.’

Khi ấy, Gavesī nghĩ: ‘Ta là người giúp đỡ, dẫn dắt và khuyên bảo của năm trăm cư sĩ tại gia này, và cả ta lẫn họ đều đã hoàn thành các giới luật. Chúng ta giống nhau, ta không hơn gì họ. Vậy hãy để ta làm tốt hơn.’

Rồi Gavesī đến gặp năm trăm cư sĩ tại gia đó và nói với họ: ‘Kể từ hôm nay, mong các vị tôn giả hãy ghi nhớ tôi là người sống độc thân, tách biệt, tránh hành vi tình dục thấp kém.’ Khi ấy, năm trăm cư sĩ tại gia đó cũng làm như vậy. …

Khi ấy, Gavesī nghĩ: ‘Năm trăm cư sĩ tại gia này … sống độc thân, tách biệt, tránh hành vi tình dục thấp kém. Chúng ta giống nhau, ta không hơn gì họ. Vậy hãy để ta làm tốt hơn.’

Rồi Gavesī đến gặp năm trăm cư sĩ tại gia đó và nói với họ: ‘Kể từ hôm nay, mong các vị tôn giả hãy ghi nhớ tôi là người ăn một bữa mỗi ngày, không ăn vào ban đêm, và không ăn phi thời.’ Khi ấy, năm trăm cư sĩ tại gia đó cũng làm như vậy. …

Khi ấy, Gavesī nghĩ: ‘Năm trăm cư sĩ tại gia này … ăn một bữa mỗi ngày, không ăn vào ban đêm, và không ăn phi thời. Chúng ta giống nhau, ta không hơn gì họ. Vậy hãy để ta làm tốt hơn.’

Rồi cư sĩ tại gia Gavesī đến gặp Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, vị Phật toàn giác và thưa với Ngài: ‘Bạch Thế Tôn, con có thể được xuất gia (going forth / rời bỏ đời sống gia đình để tu), được thọ giới cụ túc (ordination / lễ nghi chính thức trở thành tu sĩ) trong sự hiện diện của Đức Phật không?’ Và ông đã được xuất gia, thọ giới cụ túc trong sự hiện diện của Đức Phật. Không lâu sau khi thọ giới, vị khất sĩ Gavesī, sống một mình, ẩn dật, tinh cần, nhiệt tâm, quyết chí (diligent, keen, and resolute / siêng năng, hăng hái và kiên định), đã chứng ngộ được mục đích tối hậu của phạm hạnh (spiritual path / đời sống tu tập thanh tịnh) ngay trong đời này. Ông đã sống, tự mình chứng đạt bằng thắng trí (insight / trí tuệ thấy biết đặc biệt) mục tiêu mà vì đó những người thiện nam tử chân chính xuất gia từ đời sống tại gia vào đời sống không gia đình (homelessness / đời sống không nhà cửa, không ràng buộc gia đình).

Ông hiểu rõ: ‘Tái sinh đã chấm dứt; phạm hạnh đã hoàn thành; những gì cần làm đã làm xong; không còn gì phải làm nữa ở nơi này.’ Và vị khất sĩ Gavesī đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.

Khi ấy, năm trăm cư sĩ tại gia đó nghĩ: ‘Thầy Gavesī là người giúp đỡ, dẫn dắt và khuyên bảo của chúng ta. Thầy đã cạo bỏ râu tóc, đắp y vàng, và xuất gia từ đời sống tại gia vào đời sống không gia đình. Tại sao chúng ta không làm như vậy?’ Rồi năm trăm cư sĩ tại gia đó đến gặp Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, vị Phật toàn giác và thưa với Ngài: ‘Bạch Thế Tôn, chúng con có thể được xuất gia và thọ giới cụ túc trong sự hiện diện của Đức Phật không?’ Và họ đã được xuất gia và thọ giới cụ túc trong sự hiện diện của Đức Phật.

Khi ấy, vị khất sĩ Gavesī nghĩ: ‘Ta đạt được niềm an vui tối thượng của sự giải thoát (freedom / sự thoát khỏi khổ đau) bất cứ khi nào ta muốn, không khó khăn hay trở ngại. Ôi, mong sao năm trăm vị khất sĩ này cũng làm được như vậy!’ Khi ấy, năm trăm vị khất sĩ đó, sống một mình, ẩn dật, tinh cần, nhiệt tâm, và quyết chí, chẳng bao lâu đã chứng ngộ được mục đích tối hậu của phạm hạnh ngay trong đời này. Họ đã sống, tự mình chứng đạt bằng thắng trí mục tiêu mà vì đó những người thiện nam tử chân chính xuất gia từ đời sống tại gia vào đời sống không gia đình.

Họ hiểu rõ: ‘Tái sinh đã chấm dứt, phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã làm xong, không còn gì phải làm nữa ở nơi này.’

Và như vậy, Ānanda, năm trăm vị khất sĩ đó do Gavesī dẫn đầu, cố gắng tiến lên cao hơn và cao hơn, tốt hơn và tốt hơn, đã chứng ngộ được niềm an vui tối thượng của sự giải thoát. Vì vậy, các vị nên tu tập như thế này: ‘Cố gắng tiến lên cao hơn và cao hơn, tốt hơn và tốt hơn, chúng ta sẽ chứng ngộ được niềm an vui tối thượng của sự giải thoát.’ Đó là cách các vị nên tu tập."

(X) (180) Gavesì, Người Tầm Cầu

1. Một thời, Thế Tôn đang đi du hành giữa dân chúng Kosala cùng với đại chúng Tỷ-kheo. Trong khi đang đi trên đường, Thế Tôn thấy một chỗ có khóm rừng cây sàla to lớn; thấy vậy, Ngài bước xuống đường, đi đến khóm rừng cây sàla ấy, đi sâu vào rừng sàla ấy, và tại một địa điểm, Ngài mỉm cười. Rồi Tôn giả Ananda suy nghĩ: “Do nhân gì, do duyên gì, Thế Tôn tỏ lộ mỉm cười? Không phải không có duyên cớ, các Như Lai tỏ lộ mỉm cười”. Rồi Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, Thế Tôn tỏ lộ mỉm cười? Không phải không có duyên cớ, các Như Lai tỏ lộ mỉm cười.

2. - Thuở xưa, này Ananda, tại địa điểm này, có một thành phố phồn thịnh, giàu có và dân cư đông đúc. Tại thành phố ấy, này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ở gần đây. Này Ananda, Gavesì là một nam cư sĩ của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, nhưng giữ giới không được viên mãn. Rồi này Ananda, có khoảng 500 nam cư sĩ được cư sĩ Gavesì thuyết pháp và khích lệ, các người này giữ giới luật không được viên mãn. Rồi này Ananda, nam cư sĩ Gavesì suy nghĩ như sau: “Ta giúp đỡ rất nhiều 500 vị nam cư sĩ này. Ta đi trước, ta khích lệ họ, nhưng ta giữ giới luật không được viên mãn. Như vậy là đồng đẳng giống nhau, không có gì trội hơn, nhiều hơn. Vậy ta hãy làm cái gì trội hơn, nhiều hơn”. Rồi này Ananda, nam cư sĩ Gavesì đi đến 500 nam cư sĩ ấy; sau khi đến, nói với 500 nam cư sĩ ấy như sau: “Này các Tôn giả, bắt đầu từ hôm nay, ta sẽ thọ trì viên mãn trong các giới luật “.

Rồi này Ananda, 500 nam cư sĩ ấy suy nghĩ như sau: “Tôn giả Gavesì đã giúp đỡ chúng ta rất nhiều, đã đi trước, đã khích lệ chúng ta. Tôn giả Gavesì sẽ gìn giữ viên mãn trong các giới luật. Tại sao chúng ta lại không như vậy?”. Rồi này Ananda, 500 nam cư sĩ ấy đi đến nam cư sĩ Gavesì; sau khi đến, nói với nam cư sĩ Gàvesi: “Bắt đầu tư hôm nay, thưa Tôn giả Gavesì, chúng tôi sẽ thọ trì viên mãn trong các giới luật”.

Rồi này Ananda, nam cư sĩ Gavesì suy nghĩ như sau: “Ta giúp đỡ rất nhiều cho 500 nam cư sĩ này, ta đi trước, ta khích lệ họ. Và năm trăm nam cư sĩ này gìn giữ viên mãn trong các giới luật, như vậy là đồng đẳng giống nhau, không có gì trội hơn, nhiều hơn. Vậy ta hãy làm cái gì trội hơn, nhiều hơn”. Rồi này Ananda, nam cư sĩ Gavesì đi đến 500 nam cư sĩ ấy; sau khi đến, nói với 500 vị nam cư sĩ ấy như sau: “Bắt đầu từ ngày hôm nay, này các Tôn giả, ta sẽ thọ trì Phạm hạnh, sống viễn ly, từ bỏ dâm dục hạ liệt”.

Rồi này Ananda, 500 nam cư sĩ ấy suy nghĩ như sau: “Tôn giả Gavesì giúp đỡ chúng ta rất nhiều, đã đi trước và khích lệ chúng ta. Và Tôn giả Gavesì sẽ hành Phạm hạnh, sống viễn ly, từ bỏ dâm dục hạ liệt. Tại sao chúng ta lại không như vậy?”. Rồi này Ananda, 500 nam cư sĩ ấy đi đến nam cư sĩ Gavesì; sau khi đến, nói với nam cư sĩ Gàvesi: “Bắt đầu tư hôm nay, thưa Tôn giả Gavesì, chúng tôi sẽ thọ trì Phạm hạnh, sống viễn ly, từ bỏ dâm dục hèn hạ”.

Rồi nam cư sĩ Gavesì suy nghĩ như sau: “Ta giúp đỡ rất nhiều cho 500 nam cư sĩ này, ta đi trước, ta khích lệ họ. Ta giữ gìn viên mãn trong các giới luật, 500 nam cư sĩ này giữ gìn viên mãn trong các giới luật. Và ta hành Phạm hạnh, sống viễn ly, từ bỏ dâm dục hạ liệt. Và 500 nam cư sĩ này hành Phạm hạnh, sống viễn ly, từ bỏ dâm dục hạ liệt. Như vậy là đồng đẳng giống nhau, không có gì trội hơn, nhiều hơn. Vậy ta hãy làm cái gì trội hơn, nhiều hơn”. Rồi này Ananda, nam cư sĩ Gavesì đi đến 500 nam cư sĩ ấy; sau khi đến, nói với 500 vị nam cư sĩ ấy như sau: “Bắt đầu từ ngày hôm nay, này các Tôn giả, ta sẽ ăn mỗi ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời”.

Rồi này Ananda, 500 nam cư sĩ ấy suy nghĩ như sau: “Tôn giả Gavesì giúp đỡ chúng ta rất nhiều, đã đi trước và khích lệ chúng ta. Tôn giả Gavesì sẽ ăn mỗi ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời. Tại sao chúng ta lại không như vậy?”. Rồi này Ananda, 500 nam cư sĩ ấy đi đến nam cư sĩ Gavesì; sau khi đến, nói với nam cư sĩ Gàvesi: “Bắt đầu tư hôm nay, thưa Tôn giả Gavesì, 500 nam cư sĩ này sẽ thọ trì ăn mỗi ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời”.

Rồi này Ananda, nam cư sĩ Gavesì suy nghĩ như sau: “Ta giúp đỡ cho 500 nam cư sĩ này rất nhiều. Ta đã đi trước và khích lệ họ. Nay ta giữ gìn viên mãn trong các giới luật, 500 nam cư sĩ này giữ gìn viên mãn trong các giới luật. Ta hành Phạm hạnh, sống viễn ly, từ bỏ dâm dục hèn hạ, 500 nam cư sĩ này hành Phạm hạnh, sống viễn ly, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Ta ăn mỗi ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời. 500 nam cư sĩ này cũng ăn mỗi ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời. Như vậy là có sự đồng đẳng giống nhau, không có gì trội hơn, nhiều hơn. Vậy ta hãy làm cái gì trội hơn, nhiều hơn”. Rồi này Ananda, Tôn giả Gavesì đi đến Thế Tôn Kassapa; bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi đến, bạch với Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:

− Bạch Thế Tôn, hãy cho con xuất gia với Thế Tôn, hãy cho con thọ đại giới”.

Rồi này Ananda, nam cư sĩ Gavesì được xuất gia với Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, được thọ đại giới. Ðược thọ đại giới không bao lâu này Ananda, Tỷ-kheo Gavesì sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần và không bao lâu, vị này chứng được mục đính tối cao mà các thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Ðó là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, vị này ngay trong hiện tại tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú. Và vị ấy xác chứng: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các điều nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Và này Ananda, 500 nam cư sĩ ấy suy nghĩ như sau: “Tỷ-kheo Gavesì giúp đỡ chúng ta rất nhiều, đã đi trước và khích lệ chúng ta. Nay Tôn giả Gavesì đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, sẽ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Tại sao chúng ta lại không như vậy?” Rồi này Ananda, 500 nam cư sĩ ấy đi đến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi đến, bạch Thế Tôn Kassapa, bậc Ala-hán, Chánh Ðẳng Giác:

− “Bạch Thế Tôn, hãy cho chúng con xuất gia với Thế Tôn, cho chúng con thọ đại giới”.

Và này Ananda, năm trăm nam cư sĩ ấy được xuất gia với Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, được thọ đại giới. Rồi này Ananda, Tỷ-kheo Gavesì suy nghĩ như sau: “Ta đã chứng minh được vô thượng giải thoát này không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức. Mong rằng 500 vị Tỷ-kheo ấy có thể chứng minh được vô thượng giải thoát này không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức”. Rồi này Ananda, 500 vị Tỷ-kheo ấy sống an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm tinh cần, không bao lâu, các vị ấy chứng được mục đích tối cao mà các thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Ðó là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, các vị ấy ngay trong hiện tại, tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú. Và các vị ấy xác chứng: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc phải làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

3. Như vậy, này Ananda, 500 vị Tỷ-kheo ấy, do Gavesì cầm đầu, trong khi tinh tấn đạt đến những gì cao hơn nữa, những gì tối thắng hơn nữa, đã chứng ngộ vô thượng giải thoát. Do vậy, này Ananda, cần phải học tập như sau:

4. “Hãy tinh tấn để đạt đến những gì cao hơn nữa, tối thắng hơn nữa, chúng ta sẽ chứng ngộ vô thượng giải thoát”.

Như vậy, này Ananda, các Thầy cần phải học tập.