Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về Bà la môn

AN 5.191 Chó Soṇasutta

"Này các Tỳ kheo, có năm truyền thống cổ xưa của các Bà la môn này ngày nay được thấy ở loài chó, nhưng không thấy ở các Bà la môn. Năm truyền thống đó là gì?

Trước kia, các Bà la môn chỉ quan hệ tình dục với phụ nữ Bà la môn, không với những người khác. Ngày nay, các Bà la môn quan hệ tình dục với cả phụ nữ Bà la môn và những người khác. Nhưng ngày nay, loài chó chỉ quan hệ tình dục với chó cái, không với các loài khác. Đây là truyền thống cổ xưa thứ nhất của các Bà la môn ngày nay được thấy ở loài chó, nhưng không thấy ở các Bà la môn.

Trước kia, các Bà la môn chỉ quan hệ tình dục với phụ nữ Bà la môn vào thời kỳ dễ thụ thai trong chu kỳ kinh nguyệt, không vào những lúc khác. Ngày nay, các Bà la môn quan hệ tình dục với phụ nữ Bà la môn cả trong thời kỳ dễ thụ thai và những lúc khác. Nhưng ngày nay, loài chó chỉ quan hệ tình dục với chó cái khi chúng động dục, không vào những lúc khác. Đây là truyền thống cổ xưa thứ hai của các Bà la môn ngày nay được thấy ở loài chó, nhưng không thấy ở các Bà la môn.

Trước kia, các Bà la môn không mua bán phụ nữ Bà la môn. Họ sống chung với nhau vì yêu thương và muốn duy trì dòng dõi. Ngày nay, các Bà la môn vừa mua vừa bán phụ nữ Bà la môn. Họ sống chung với nhau dù có yêu thương hay không và họ muốn duy trì dòng dõi. Nhưng ngày nay, loài chó không mua bán chó cái. Chúng sống chung với nhau vì bị thu hút lẫn nhau và muốn duy trì dòng dõi. Đây là truyền thống cổ xưa thứ ba của các Bà la môn ngày nay được thấy ở loài chó, nhưng không thấy ở các Bà la môn.

Trước kia, các Bà la môn không tích trữ tiền bạc, ngũ cốc, bạc, hay vàng. Ngày nay, các Bà la môn tích trữ tiền bạc, ngũ cốc, bạc, và vàng. Nhưng ngày nay, loài chó không tích trữ tiền bạc, ngũ cốc, bạc, hay vàng. Đây là truyền thống cổ xưa thứ tư của các Bà la môn ngày nay được thấy ở loài chó, nhưng không thấy ở các Bà la môn.

Trước kia, các Bà la môn đi khất thực để có thức ăn cho bữa tối vào buổi chiều và bữa sáng vào buổi sáng. Ngày nay, các Bà la môn ăn thỏa thích cho đến no bụng, rồi mang phần thừa đi. Nhưng ngày nay, loài chó đi tìm thức ăn cho bữa tối vào buổi chiều và bữa sáng vào buổi sáng. Đây là truyền thống cổ xưa thứ năm của các Bà la môn ngày nay được thấy ở loài chó, nhưng không thấy ở các Bà la môn.

Năm truyền thống cổ xưa này của các Bà la môn ngày nay được thấy ở loài chó, nhưng không thấy ở các Bà la môn."

XX. Phẩm Bà-La-Môn

(I) (191) Ví Dụ Con Chó

1. Có năm cựu Bà-la-môn pháp này, này các Tỷ-kheo, nay được thấy giữa các con chó, không được thấy giữa các Bà-la-môn. Thế nào là năm?

2. Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, các nam Bà-la-môn chỉ đi đến nữ Bà-la-môn, không đến phi nữ Bà-lamôn. Ngày nay, này các Tỷ-kheo, các nam Bà-la-môn đi đến Bà-la-môn đi đến nữ Bà-la-môn, cũng đi đến phi nữ Bà-la-môn. Ngày nay, này các Tỷ-kheo, các con chó đực chỉ đi đến con chó cái, không đi đến không phải con chó cái. Ðây là cựu Bà-la-môn pháp thứ nhất, này các Tỷ-kheo, nay chỉ được thấy giữa các loài chó, không thấy được giữa các Bà-la-môn.

2. Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, các nam Bà-la-môn chỉ đi đến nữ Bà-la-môn trong thời có thể thụ thai, không có đi trong thời kỳ không thể thụ thai. Ngày nay, này các Tỷ-kheo, các nam Bà-la-môn đi đến nữ Bà-la-môn trong thời có thể thụ thai và cũng trong thời không thể thụ thai. Ngày nay, này các Tỷ-kheo, các con chó đực chỉ đi đến con chó cái trong thời có thể thụ thai, không đi đến trong thời kỳ không thể thụ thai. Ðây là cựu Bà-la-môn pháp thứ hai, này các Tỷ-kheo, nay chỉ được thấy giữa các loài chó, không thấy được giữa các Bà-la-môn.

4. Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, các nam Bà-la-môn không mua, không bán nữ Bà-la-môn cọng trú trong tình tương ái, tiếp tục trong sự thuận hòa. Ngày nay, này các Tỷ-kheo, các nam Bà-la-môn mua và bán nữ Bà-la-môn, cọng trú trong tình tương ái, tiếp tục trong sự thuận hòa. Ngày nay, này các Tỷ-kheo, các con chó đực không mua, không bán con chó cái cọng trú trong tình tương ái, tiếp tục trong sự thuận hòa. Ðây là cựu Bà-la-môn pháp thứ ba, này các Tỷ-kheo, nay chỉ được thấy giữa các loài chó, không thấy được giữa các Bà-la-môn.

5. Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, các Bà-la-môn không cất chứa tài sản, ngũ cốc, bạc và vàng. Ngày nay, này các Tỷ-kheo, các Bà-la-môn cất chứa tài sản, ngũ cốc, bạc và vàng. Ngày nay, này các Tỷ-kheo, các loài chó không cất chứa tài sản, ngũ cốc, bạc và vàng. Ðây là cựu Bà-la-môn pháp thứ tư, này các Tỷ-kheo, nay chỉ được thấy giữa các loài chó, không được thấy giữa các Bà-la-môn.

6. Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, các Bà-la-môn vào buổi chiều tìm đồ ăn buổi chiều, vào buổi sáng tìm đồ ăn buổi sáng. Ngày nay, này các Tỷ-kheo, các Bà-la-môn ăn cho đến no nê thỏa bụng, rồi lấy các đồ ăn còn lại và mang đi. Ngày nay, này các Tỷ-kheo, các con chó, vào buổi chiều tìm đồ ăn buổi chiều, vào buổi sáng tìm đồ ăn buổi sáng. Ðây là cựu Bà-la-môn pháp thứ năm, này các Tỷ-kheo, nay chỉ được thấy giữa các loài chó, không được thấy giữa các Bà-la-môn.

Năm cựu Bà-la-môn pháp này, này các Tỷ-kheo, nay được thấy giữa các loài chó, không được thấy giữa các Bà-la-môn.

AN 5.192 Với Bà la môn Doṇa Doṇabrāhmaṇasutta

Khi ấy, Bà la môn Doṇa đến gặp Đức Phật và chào hỏi xã giao với Ngài. Sau khi chào hỏi xã giao xong, Doṇa ngồi xuống một bên và thưa với Đức Phật:

“Thưa Tôn giả Gotama, tôi nghe nói rằng Sa môn Gotama không đảnh lễ các Bà la môn già cả, lớn tuổi, bậc trưởng thượng, đã sống nhiều năm, đã đến giai đoạn cuối của cuộc đời; cũng không đứng dậy chào đón hay mời họ ngồi. Và điều này quả thực là như vậy, vì Tôn giả Gotama không đảnh lễ các Bà la môn già cả, lớn tuổi, bậc trưởng thượng, đã sống nhiều năm, đã đến giai đoạn cuối của cuộc đời; cũng không đứng dậy chào đón hay mời họ ngồi. Điều này không hợp lẽ, thưa Tôn giả Gotama.”

“Này Doṇa, ông cũng tự nhận mình là Bà la môn sao?”

“Thưa Tôn giả Gotama, nếu có ai đáng được gọi là Bà la môn một cách đúng đắn, thì đó chính là tôi. Vì tôi xuất thân tốt đẹp từ cả hai phía cha mẹ, dòng dõi trong sạch, với gia phả không thể chối cãi và không tì vết cho đến bảy đời tổ phụ. Tôi tụng đọc và ghi nhớ các thánh ca, và đã thông thạo ba tập Vệ đà, cùng với từ vựng, nghi lễ, ngữ âm, từ loại, và các bộ luận giải là phần thứ năm. Tôi biết rõ từng từ và ngữ pháp của chúng. Tôi thông suốt về vũ trụ luận và các tướng của bậc vĩ nhân.”

“Này Doṇa, các vị đạo sĩ Bà la môn cổ xưa là Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamadaggi, Aṅgīrasa, Bhāradvāja, Vāseṭṭha, Kassapa, và Bhagu. Họ là những người sáng tác và truyền bá các thánh ca, mà các bài thánh ca của họ đã được hát, truyền bá và biên soạn vào thời cổ đại. Ngày nay, các Bà la môn vẫn tiếp tục hát và tụng đọc chúng. Họ tiếp tục tụng những gì đã được tụng, đọc những gì đã được đọc, và dạy những gì đã được dạy. Các vị đạo sĩ đó đã mô tả năm loại Bà la môn: Một Bà la môn ngang bằng Phạm thiên, một người ngang bằng chư thiên, một người giữ đúng giới hạn, một người vượt quá giới hạn, và thứ năm là một Bà la môn ngoại cấp. Ông thuộc loại nào trong số này, này Doṇa?”

“Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi không biết về năm loại Bà la môn này. Chúng tôi chỉ biết từ ‘Bà la môn’. Xin Tôn giả hãy giảng dạy cho tôi về vấn đề này để tôi có thể tìm hiểu về năm loại Bà la môn này.”

“Vậy thì, này Bà la môn, hãy lắng nghe và chú tâm kỹ, Ta sẽ nói.”

“Vâng, thưa Ngài,” Doṇa đáp. Đức Phật nói điều này:

"Này Doṇa, thế nào là một Bà la môn ngang bằng Phạm thiên?

Đó là khi một Bà la môn xuất thân tốt đẹp từ cả hai phía cha mẹ, sinh ra từ dòng dõi trong sạch cho đến bảy đời tổ phụ, với gia phả không thể chối cãi và không tì vết. Trong bốn mươi tám năm, vị ấy sống đời sống phạm hạnh của thanh niên để học các thánh ca. Sau đó, vị ấy tìm kiếm học phí cho thầy dạy của mình, nhưng chỉ bằng phương tiện hợp pháp, không phải bất hợp pháp.

Trong bối cảnh này, này Doṇa, thế nào là hợp pháp? Không phải bằng cách làm ruộng, buôn bán, chăn nuôi gia súc, bắn cung, phục vụ chính quyền, hay một trong các nghề nghiệp khác, mà chỉ bằng cách sống nhờ khất thực, không coi thường bình bát. Sau khi đã trả học phí cho thầy dạy, vị ấy cạo bỏ râu tóc, đắp y màu đất son, và xuất gia (go forth / từ bỏ đời sống thế tục), sống không gia đình.

Rồi họ thiền quán bằng cách lan tỏa tâm từ (love / yêu thương) đến một phương, rồi đến phương thứ hai, phương thứ ba, và phương thứ tư. Cũng vậy, ở trên, ở dưới, ngang khắp, mọi nơi, xung quanh, họ lan tỏa tâm từ đến toàn thế giới—dồi dào, rộng lớn, vô lượng, không hận thù, không sân hận (ill will / tức giận). Họ thiền quán bằng cách lan tỏa tâm bi (compassion / lòng thương xót)… tâm vui vẻ (rejoicing / niềm vui với hạnh phúc của người khác)… tâm xả (equanimity / sự bình tâm) đến một phương, rồi đến phương thứ hai, phương thứ ba, và phương thứ tư. Cũng vậy, ở trên, ở dưới, ngang khắp, mọi nơi, xung quanh, họ lan tỏa tâm xả đến toàn thế giới—dồi dào, rộng lớn, vô lượng, không hận thù, không sân hận. Sau khi đã phát triển bốn tứ vô lượng tâm (divine meditations / bốn tâm trạng cao thượng) này, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sinh vào cõi lành, cõi Phạm thiên.

Đó là cách một Bà la môn ngang bằng Phạm thiên.

Và thế nào là một Bà la môn ngang bằng chư thiên?

Đó là khi một Bà la môn xuất thân tốt đẹp từ cả hai phía cha mẹ… Sau khi đã trả học phí cho thầy dạy, vị ấy tìm vợ, nhưng chỉ bằng phương tiện hợp pháp, không phải bất hợp pháp.

Trong bối cảnh này, này Doṇa, thế nào là hợp pháp? Không phải bằng cách mua bán, ông chỉ chấp nhận một phụ nữ Bà la môn qua nghi lễ rót nước. Ông chỉ quan hệ tình dục với phụ nữ Bà la môn. Ông không quan hệ tình dục với phụ nữ từ gia đình quý tộc, nông dân, tiện dân, ngoại cấp, thợ săn, thợ đan tre, thợ làm xe, hay người nhặt rác. Ông cũng không quan hệ tình dục với phụ nữ đang mang thai, đang cho con bú, hoặc ngoài thời kỳ dễ thụ thai.

Và tại sao Bà la môn không quan hệ tình dục với phụ nữ mang thai? Nếu một Bà la môn quan hệ tình dục với phụ nữ mang thai, đứa bé trai hay gái sẽ sinh ra trong sự ô uế quá mức. Đó là lý do Bà la môn không quan hệ tình dục với phụ nữ mang thai.

Và tại sao Bà la môn không quan hệ tình dục với phụ nữ đang cho con bú? Nếu một Bà la môn quan hệ tình dục với phụ nữ đang cho con bú, đứa bé trai hay gái sẽ bú phải tinh dịch. Đó là lý do Bà la môn không quan hệ tình dục với phụ nữ đang cho con bú.

Và tại sao Bà la môn không quan hệ tình dục ngoài thời kỳ dễ thụ thai? Bởi vì người vợ Bà la môn của ông không phải để hưởng thụ thú vui xác thịt, giải trí, mà chỉ để sinh sản. Sau khi đã đảm bảo dòng dõi qua việc quan hệ tình dục, ông cạo bỏ râu tóc, đắp y màu đất son, và xuất gia, sống không gia đình.

Khi đã xuất gia, hoàn toàn ly dục (sensual pleasures / ham muốn giác quan), ly các pháp bất thiện, ông chứng và trú thiền thứ nhất (first absorption / tầng thiền định thứ nhất)… thiền thứ hai (second absorption / tầng thiền định thứ hai)… thiền thứ ba (third absorption / tầng thiền định thứ ba)… thiền thứ tư (fourth absorption / tầng thiền định thứ tư). Sau khi đã phát triển bốn tầng thiền (absorption / trạng thái tâm định sâu) này, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sinh vào cõi lành, cõi trời.

Đó là cách một Bà la môn ngang bằng chư thiên.

Và thế nào là một Bà la môn giữ đúng giới hạn?

Đó là khi một Bà la môn xuất thân tốt đẹp từ cả hai phía cha mẹ…

Không phải bằng cách mua bán, ông chỉ chấp nhận một phụ nữ Bà la môn qua nghi lễ rót nước. Sau khi đã đảm bảo dòng dõi qua việc quan hệ tình dục, đứa con làm ông vui thích. Vì sự ràng buộc này, ông ở lại với tài sản gia đình, và không xuất gia, sống không gia đình.

Trong phạm vi giới hạn của các Bà la môn cổ xưa, ông không vượt qua nó. Đó là lý do ông được gọi là Bà la môn giữ đúng giới hạn.

Đó là cách một Bà la môn giữ đúng giới hạn.

Và thế nào là một Bà la môn vượt quá giới hạn?

Đó là khi một Bà la môn xuất thân tốt đẹp từ cả hai phía cha mẹ…

Sau khi đã trả học phí cho thầy dạy, ông tìm vợ bằng cả phương tiện hợp pháp và bất hợp pháp. Nghĩa là, bằng cách mua bán, cũng như chấp nhận một phụ nữ Bà la môn qua nghi lễ rót nước. Ông quan hệ tình dục với phụ nữ Bà la môn, cũng như với phụ nữ từ gia đình quý tộc, nông dân, tiện dân, ngoại cấp, thợ săn, thợ đan tre, thợ làm xe, hay người nhặt rác. Và ông quan hệ tình dục với phụ nữ đang mang thai, đang cho con bú, hoặc ngoài thời kỳ dễ thụ thai. Người vợ Bà la môn của ông là để hưởng thụ thú vui xác thịt, giải trí, cũng như để sinh sản.

Trong phạm vi giới hạn của các Bà la môn cổ xưa, ông vượt qua nó. Đó là lý do ông được gọi là Bà la môn vượt quá giới hạn.

Đó là cách một Bà la môn vượt quá giới hạn.

Và thế nào là một Bà la môn ngoại cấp?

Đó là khi một Bà la môn xuất thân tốt đẹp từ cả hai phía cha mẹ, sinh ra từ dòng dõi trong sạch cho đến bảy đời tổ phụ, với gia phả không thể chối cãi và không tì vết. Trong bốn mươi tám năm, vị ấy sống đời sống phạm hạnh đồng trinh để học các thánh ca. Sau đó, vị ấy tìm kiếm học phí cho thầy dạy của mình bằng cả phương tiện hợp pháp và bất hợp pháp. Bằng cách làm ruộng, buôn bán, chăn nuôi gia súc, bắn cung, phục vụ chính quyền, hay một trong các nghề nghiệp khác, không chỉ bằng cách sống nhờ khất thực, không coi thường bình bát.

Sau khi đã trả học phí cho thầy dạy, ông tìm vợ bằng cả phương tiện hợp pháp và bất hợp pháp. Nghĩa là, bằng cách mua bán, cũng như chấp nhận một phụ nữ Bà la môn qua nghi lễ rót nước. Ông quan hệ tình dục với phụ nữ Bà la môn, cũng như với phụ nữ từ gia đình quý tộc, nông dân, tiện dân, ngoại cấp, thợ săn, thợ đan tre, thợ làm xe, hay người nhặt rác. Và ông quan hệ tình dục với phụ nữ đang mang thai, đang cho con bú, hoặc ngoài thời kỳ dễ thụ thai. Người vợ Bà la môn của ông là để hưởng thụ thú vui xác thịt, giải trí, cũng như để sinh sản.

Ông kiếm sống bằng bất kỳ loại công việc nào. Các Bà la môn nói với ông: ‘Này bạn hiền, tại sao ông tự nhận là Bà la môn, nhưng lại kiếm sống bằng bất kỳ loại công việc nào?’

Ông nói: ‘Giống như ngọn lửa đốt cháy cả vật thanh tịnh lẫn ô uế, nhưng không bị ô nhiễm bởi chúng. Cũng vậy, này bạn hiền, nếu một Bà la môn kiếm sống bằng bất kỳ loại công việc nào, ông ta không bị ô nhiễm bởi điều đó.’

Một Bà la môn được gọi là Bà la môn ngoại cấp vì ông kiếm sống bằng bất kỳ loại công việc nào.

Đó là cách một Bà la môn là một Bà la môn ngoại cấp.

Này Doṇa, các vị đạo sĩ Bà la môn cổ xưa là Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamadaggi, Aṅgīrasa, Bhāradvāja, Vāseṭṭha, Kassapa, và Bhagu. Họ là những người sáng tác và truyền bá các thánh ca, mà các bài thánh ca của họ đã được hát, truyền bá và biên soạn vào thời cổ đại. Ngày nay, các Bà la môn vẫn tiếp tục hát và tụng đọc chúng. Họ tiếp tục tụng những gì đã được tụng, đọc những gì đã được đọc, và dạy những gì đã được dạy.

Các vị đạo sĩ đó đã mô tả năm loại Bà la môn: Một Bà la môn ngang bằng Phạm thiên, một người ngang bằng chư thiên, một người giữ đúng giới hạn, một người vượt quá giới hạn, và thứ năm là một Bà la môn ngoại cấp. Ông thuộc loại nào trong số này, này Doṇa?"

"Nếu vậy, thưa Tôn giả Gotama, tôi thậm chí không đủ tiêu chuẩn là một Bà la môn ngoại cấp.

Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama! … Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama ghi nhận con là một cư sĩ (lay follower / người tại gia theo đạo) đã quy y trọn đời."

(II) (192) Ba-La-Môn Dona

1. Rồi Bà-la-môn Dona đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Dona bạch Thế Tôn:

2. - Thưa Tôn giả Gotama, tôi có nghe như sau: “Sa-môn Gotama không đảnh lễ, hay không đứng dậy, hay không mời ghế các vị Bà-la-môn già yếu, tuổi lớn, trưởng lão, đời đã được trải qua, đã đến đoạn cuối cuộc đời.” Thưa Tôn giả Gotama, sự thể là như vậy; Tôn giả Gotama không đảnh lễ, hay không đứng dậy, hay không mời ghế các vị Bà-la-môn già yếu, tuổi lớn, trưởng lão, đời đã được trải qua, đã đến đoạn cuối cuộc đời. Như vậy, thưa Tôn giả Gotama, thật là không tốt đẹp.

− Này Dona, Ông có tự cho mình là Bà-la-môn không?

− Thưa Tôn giả Gotama, nếu có ai nói một cách chân chánh, vị ấy phải nói rằng: “Vị Bà-la-môn thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không một vết nhơ nào, một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh; là nhà phúng tụng, nhà trì chú, thông hiểu ba tập Vedà với danh nghĩa, lễ nghi, ngữ nguyên, chú giải và lịch sử truyền thống là thứ năm, thông hiểu ngử pháp và văn phạm, biện tài về thuận thế (tự nhiên học) và tướng của vị Ðại nhân”. Thưa Tôn giả Gotama, nói về tôi, nói một cách chơn chánh là nói như vầy. Thưa Tôn giả Gotama, tôi là Bà-la-môn, thiện sanh cả từ mẫu hệ đến phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không một vết nhơ nào, một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh; là nhà phúng tụng, nhà trì chú, thông hiểu ba tập Vedà với danh nghĩa, lễ nghi, ngữ nguyên, chú giải và lịch sử truyền thống là thứ năm, thông hiểu ngữ pháp và văn phạm, biện tài về thuận thế và tướng của vị Ðại nhân.

− Này Dona, có phải các vị Bà-la-môn thời xưa, những vị ẩn sĩ giữa các Bà-la-môn, những tác giả các chú thuật, những nhà tụng tán các chú thuật đã hát, đã nói lên, đã sưu tầm những Thánh cú mà nay những Bà-la-môn hiện tại cũng hát lên, nói lên, đọc lên giống như các vị tước đã làm? Những vị ẩn sĩ ấy tên là Atthaka, Vàmaka, Vàmadeva, Vessàmitta, Yamadaggi, Angìrasa, Bharadvàja, Vàsettha, Kassapa, Bhagu. Những vị ấy tuyên bố có năm hạng Bà-la-môn này: “Ðồng đẳng với Phạm thiên, đồng đẳng với chư Thiên, các vị biết giới hạn, các vị vượt lên giới hạn và thứ năm là Bà-la-môn bị vứt bỏ”. Này Dona, Ông là ai giữa các vị ấy?

− Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi không biết năm vị Bà-la-môn này. Nhưng chúng tôi biết chúng tôi là Bà-la-môn. Lành thay, nếu Tôn giả Gotama thuyết pháp cho tôi để tôi biết được năm vị Bà-la-môn này.

− Vậy này Bà-la-môn, hãy nghe và khéo tác ý, ta sẽ nói.

− Thưa vâng, Tôn giả.

Bà-la-môn Dona vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

3. - Thế nào, này Dona, là Bà-la-môn đồng đẳng với Phạm Thiên?

Ở đây, này Dona, vị Bà-la-môn thiện sanh cả từ mẫu hệ đến phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không một vết nhơ nào, một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh. Vị ấy trong 48 năm sống Phạm hạnh đồng trinh, học tập chân ngôn (chú thuật). Sau khi sống 48 năm Phạm hạnh đồng trinh, sau khi học tập chân ngôn, vị ấy tìm kiếm tài sản Ðạo Sư cho bậc Ðạo Sư một cách đúng pháp, không phải phi pháp. Ở đây, này Dona, pháp là gì? Không phải nhờ cày bừa, không phải nhờ buôn bán, không phải nhờ chăn bò, không phải do cung tên, không phải do làm người của vua, không phải do một nghề gì khác, hoàn toàn chỉ do khất thực, không khinh thường bình bát của người khất sĩ. Sau khi giao lại tài sản Ðạo sư,cho bậc Ðạo sư, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sà, vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy xuất gia như vậy, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy, phương thứ hai, cũng vậy, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi… với hỷ… với xả. Cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xã, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy, sau khi tụ tập bốn phạm trú này, khi thân hoại mạng chung, được sanh thiện phú Phạm thiên giới. Như vậy, này Dona, là vị Bà-la-môn đồng đẳng với Phạm Thiên.

4. Và này Dona, thế nào là Bà-la-môn đồng đẳng với Chư Thiên?

Ở đây, này Dona, Bà-la-môn thiện sanh cả tử mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không một vết nhơ nào, một gièm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh. Vị ấy trong 48 năm sống Phạm hạnh đồng trinh, học tập châm ngôn. Sau khi sống 48 năm Phạm hạnh đồng trinh, sau khi học tập chân ngôn, vị ấy tìm kiếm tài sản Ðạo Sư cho vị Ðạo Sư một cách đúng pháp, không phải phi pháp. Ở đây, này Dona, pháp là gì? Không phải nhờ cày bừa, không phải nhờ buôn bán, không phải nhờ chăn bò, không phải do cung tên, không phải do làm người của vua, không phải do một nghề gì khác, hoàn toàn chỉ do khất thực, không khinh thường bình bát của người khất sĩ. Sau khi giao lại tài sản Ðạo sư cho bậc Ðạo sư, vị ấy đi tìm vợ một cách đúng pháp, không phải phi pháp. Và này Dona, ở đây, pháp là gì? Không phải do mua, không phải do bán, nhưng chỉ với một nữ Bà-la-môn đã được nước tưới lên, vị ấy đi đến nữ Bà-la-môn, không đi đến nữ Sát-đế-lỵ, nữ Tỳ-xá, nữ Thủ-đà, nữ Chiên-đà-la, nữ săn bắn, nữ đan tre, nữ làm xe, nữ thổ dân, không đi đến người đàn bà có mang, không đi đến người đàn bà cho con bú, không đi đến người đàn bà trong thời kỳ không thể thụ thai. Và này Dona, vì sao người Bà-lamôn không đi đến người đàn bà có mang? Này Dona, nếu người Bà-la-môn đi đến người đàn bà có mang, thời đứa đồng nam hay đồng nữ được sanh hoàn toàn bị ô uế; do vậy, này Dona, vị Bà-la-môn không đi đến người đàn bà có mang. Và vì sao, này Dona, Bà-la-môn không đi đến người đàn bà cho con bú? Này Dona, nếu Bà-la-môn đi đến người đàn bà cho con bú, thời này Dona, đứa đồng nam hay đồng nữ bú sữa không được thanh tịnh; do vậy, này Dona, vị Bà-la-môn không đi đến người đàn bà cho con bú. Và vì sao, này Dona, Bà-la-môn không đi đến người đàn bà trong thời kỳ không thể thụ thai? Này Dona, nếu vị Bà-la-môn đi đến người đàn bà trong thời không thể thụ thai, thời nữ Bà-la-môn ấy trở thành một phương tiện để thỏa lòng dục, để vui đùa, để thỏa thích. Nữ Bà-la-môn đối với nam Bà-lamôn chỉ có mục đích đẻ con. Vị ấy từ dâm dục (đúng pháp) sinh con rồi, liền cạo bỏ râu tóc, đắp áo càsa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy xuất gia như vậy, ly dục, ly pháp bất thiện… chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Vị ấy, sau khi tu tập bốn Thiền, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cõi lành, Thiên giới, cõi đời này. Như vậy, này Dona, là Bà-la-môn đồng đẳng với chư Thiên.

5. Và thế nào, này Dona, là một Bà-la-môn có giới hạn?

Ở đây, này Dona, Bà-la-môn thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không một vết nhơ nào, một gièm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh. Vị ấy trong 48 năm sống Phạm hạnh đồng trinh, học tập chân ngôn. Sau khi sống 48 năm Phạm hạnh đồng trinh, sau khi học tập chân ngôn, vị ấy tìm kiếm tài sản Ðạo Sư cho vị Ðạo Sư một cách đúng pháp, không phải phi pháp. Ở đây, này Dona, pháp là gì? Không phải nhờ cày bừa, không phải nhờ buôn bán, không phải nhờ chăn bò, không phải do cung tên, không phải do làm người của vua, không phải do một nghề gì khác, hoàn toàn chỉ do khất thực, không khinh thường bình bát của người khất sĩ. Sau khi giao lại tài sản Ðạo sư cho bậc Ðạo sư, vị ấy đi tìm vợ một cách đúng pháp, không phải phi pháp. Và này Dona, ở đây, pháp là gì? Không phải do mua, không phải do bán, nhưng chỉ với một nữ Bà-la-môn đã được nước tưới lên, vị ấy đi đến nữ Bà-la-môn, không đi đến nữ Sát-đế-lỵ, nữ Tỳ-xá, nữ Thủ-đà, nữ Chiên-đà-la, nữ săn bắn, nữ đan tre, nữ làm xe, nữ thổ dân, không đi đến người đàn bà có mang, không đi đến người đàn bà cho con bú, không đi đến người đàn bà trong thời kỳ không thể thụ thai. Và này Dona, vì sao người Bà-lamôn không đi đến người đàn bà có mang? Này Dona, nếu vị Bà-la-môn đi đến người đàn bà có mang… (như trên)…Nữ Bà-la-môn đối với nam Bà-la-môn chỉ có mục đích đẻ con. Vị ấy từ dâm dục (đúng pháp) sinh con rồi, do ưa thích con nít, sống trong gia đình, không xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Cho đến sự giới hạn của các Bà-la-môn thời xưa, vị ấy đứng tại đấy, không vượt qua giới hạn ấy. Cho đến giới hạn của các Bà-la-môn thời xưa, vị ấy đứng ở đấy, không vượt qua giới hạn ấy. Này Dona, do vậy Bà-la-môn được gọi là có giới hạn. Như vậy, này Dona, là Bà-la-môn có giới hạn.

6. Và này Dona, thế nào là một Bà-la-môn vượt qua giới hạn?

Ở đây, này Dona, Bà-la-môn thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ… về vấn đề huyết thống thọ sanh. Vị ấy trong 48 năm sống Phạm hạnh đồng trinh, học tập chân ngôn. Sau khi sống 48 năm Phạm hạnh đồng trinh, sau khi học tập chân ngôn, vị ấy tìm kiếm tài sản Ðạo Sư cho vị Ðạo Sư một cách đúng pháp, không phải phi pháp. Ở đây, này Dona, pháp là gì? Không phải nhờ cày bừa, không phải nhờ buôn bán, không phải nhờ chăn bò, không phải do cung tên, không phải do làm người của vua, không phải do một nghề gì khác, hoàn toàn chỉ do khất thực, không khinh thường bình bát của người khất sĩ. Sau khi giao lại tài sản Ðạo sư cho bậc Ðạo sư, vị ấy đi tìm vợ một cách đúng pháp và phi pháp. Do mua, do bán với nữ Bà-la-môn được nước tưới lên, vị ấy đi đến nữ Bà-la-môn, cũng đi đến nữ Sát-đế-lỵ, cũng đi đến nữ Tỳ-xá, cũng đi đến nữ Thủ-đà, cũng đi đến nữ Chiên-đà-la, cũng đi đến nữ săn bắn, cũng đi đến nữ đan tre, cũng đi đến nữ làm xe, cũng đi đến nữ thổ dân, cũng đi đến người đàn bà có mang, cũng đi đến người đàn bà đang cho con bú, cũng đi đến người đàn bà trong thời kỳ không thể thụ thai. Nữ Bà-la-môn đối với vị ấy là phương tiện để thỏa lòng dục, để vui đùa, để thỏa thích. Nữ Bà-la-môn đối với nam Bàla-môn có mục đích đẻ con. Cho đến sự giới hạn của các Bà-la-môn thời xưa, vị ấy không đứng tại đấy, vị ấy vượt qua giới hạn ấy. Cho đến giới hạn của các Bà-la-môn thời xưa, vị ấy không đứng ở đấy, vị ấy vượt qua giới hạn ấy. Này Dona, do vậy Bà-la-môn được gọi vị đã vượt qua giới hạn. Như vậy, này Dona, là Bà-la-môn vượt qua giới hạn.

7. Và này Dona, thế nào là Bà-la-môn Chiên-đà-la?

Ở đây, này Dona, Bà-la-môn thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không một vết nhơ nào, một gièm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh. Vị ấy trong 48 năm sống Phạm hạnh đồng trinh, học tập chân ngôn. Sau khi sống 48 năm Phạm hạnh đồng trinh, sau khi học tập chân ngôn, vị ấy tìm kiếm tài sản Ðạo Sư cho vị Ðạo Sư một cách đúng pháp và phi pháp. Ở đây, này Dona, pháp là gì? Không phải nhờ cày bừa, không phải nhờ buôn bán, không phải nhờ chăn bò, không phải do cung tên, không phải do làm người của vua, không phải do một nghề gì khác, hoàn toàn chỉ do khất thực, không khinh thường bình bát của người khất sĩ. Sau khi giao lại tài sản Ðạo sư cho bậc Ðạo sư, vị ấy đi tìm vợ một cách đúng pháp và phi pháp. Do mua, do bán với nữ Bà-la-môn được nước tưới lên, vị ấy đi đến nữ Bà-la-môn, cũng đi đến nữ Sát-đế-lỵ, cũng đi đến nữ Tỳ-xá, cũng đi đến nữ Thủ-đà, cũng đi đến nữ Chiên-đà-la, cũng đi đến nữ săn bắn, cũng đi đến nữ đan tre, cũng đi đến nữ làm xe, cũng đi đến nữ thổ dân, cũng đi đến người đàn bà có mang, cũng đi đến người đàn bà đang cho con bú, cũng đi đến người đàn bà trong thời kỳ không thể thụ thai. Nữ Bà-la-môn đối với vị ấy là phương tiện để thỏa lòng dục, để vui đùa, để thỏa thích. Nữ Bà-la-môn đối với nam Bà-la-môn có mục đích đẻ con. Vị ấy để nuôi mạng sống, làm tất nghề. Rồi các Bà-la-môn nói với vị ấy như sau: “Sao Tôn giả tự cho mình là Bà-la-môn, lại làm tất cả nghề để nuôi mạng sống?” Vị ấy trả lời như sau: “Như lửa đốt vật sạch, cũng đốt vật nhớp, nhưng không phải vì vậy mà ngọn lửa bị uế nhiễm”. Cũng vậy, này các Tôn giả, nếu Bà-la-môn làm tất cả nghề để nuôi mạng sống, nhưng không phải vì vậy mà Bà-la-môn bị uế nhiễm. Vì làm tất cả nghề để nuôi mạng sống, này Dona, nên Bà-la-môn được gọi là Bà-la-môn Chiênđà-la. Như vậy, này Dona, là Bà-la-môn Chiên-đà-la.

8. Này Dona, có phải các Bà-la-môn thời xưa, những vị ẩn sĩ giữa các Bà-la-môn, những tác giả các chú thuật, những nhà tụng tán các chú thuật đã hát, đã nói lên, đã sưu tầm những Thánh cú mà nay, những Bà-la-môn hiện tại cũng hát lên, đọc lên giống như các vị trước đã làm. Những vị ấy tên là Atthaka, Vàmaka, Vàmadeva, Vessàmitta, Yamadaggi, Angìrasa, Bhàradvàja, Vàsettha, Kassapa, Bhagu. Những vị ấy tuyên bố có năm hạng Bà-la-môn này: “Vị đồng đẳng với Phạm thiên, vị đồng đẳng với chư Thiên, các vị có giới hạn, các vị vượt lên giới hạn và thứ năm là Bà-la-môn Chiên-đà-la”. Này Dona, Ông là ai giữa các vị ấy?

− Như vậy, thưa Tôn giả Gotama, chúng con chưa thành tựu đầy đủ Bà-la-môn Chiên-đà-la. Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật hy hữu thay, Tôn giả Gotama!.. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ. Từ nay cho đến mạng chung con trọn đời quy ngưỡng.

AN 5.193 Với Saṅgārava Saṅgāravasutta

Khi ấy, Bà la môn Saṅgārava đến gặp Đức Phật và chào hỏi xã giao với Ngài. Sau khi chào hỏi xã giao xong, Saṅgārava ngồi xuống một bên và thưa với Đức Phật:

“Thưa Tôn giả Gotama, do nguyên nhân gì, do duyên cớ gì mà đôi khi ngay cả những bài thánh ca đã được thực hành lâu dài cũng không hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài không được thực hành? Và tại sao đôi khi ngay cả những bài thánh ca lâu ngày không thực hành lại hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài đã được thực hành?”

"Này Bà la môn, có lúc tâm ông bị dục tham (sensual desire / ham muốn giác quan) xâm chiếm và chi phối, và ông không thực sự hiểu rõ sự thoát ly khỏi dục tham đã sinh khởi. Lúc đó, ông không thực sự biết hay thấy điều gì tốt cho mình, tốt cho người khác, hay tốt cho cả hai. Ngay cả những bài thánh ca đã được thực hành lâu dài cũng không hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài không được thực hành. Ví như có một chậu nước bị pha với thuốc nhuộm như cánh kiến đỏ, nghệ, chàm, hoặc thiên thảo. Ngay cả người mắt sáng nhìn bóng mình trong đó cũng không thực sự biết hay thấy rõ. Cũng vậy, khi tâm ông bị dục tham xâm chiếm và chi phối… Ngay cả những bài thánh ca đã được thực hành lâu dài cũng không hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài không được thực hành.

Hơn nữa, khi tâm ông bị sân hận (ill will / tức giận) xâm chiếm và chi phối… Ngay cả những bài thánh ca đã được thực hành lâu dài cũng không hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài không được thực hành. Ví như có một chậu nước bị đun sôi trên lửa, sôi sục và nổi bọt. Ngay cả người mắt sáng nhìn bóng mình trong đó cũng không thực sự biết hay thấy rõ. Cũng vậy, khi tâm ông bị sân hận xâm chiếm và chi phối… Ngay cả những bài thánh ca đã được thực hành lâu dài cũng không hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài không được thực hành.

Hơn nữa, khi tâm ông bị uể oải sao nhãng và buồn ngủ (dullness and drowsiness / sự buồn ngủ và tâm trí lờ đờ) xâm chiếm và chi phối… Ngay cả những bài thánh ca đã được thực hành lâu dài cũng không hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài không được thực hành. Ví như có một chậu nước đầy rêu và cây thủy sinh. Ngay cả người mắt sáng nhìn bóng mình trong đó cũng không thực sự biết hay thấy rõ. Cũng vậy, khi tâm ông bị uể oải sao nhãng và buồn ngủ xâm chiếm và chi phối… Ngay cả những bài thánh ca đã được thực hành lâu dài cũng không hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài không được thực hành.

Hơn nữa, khi tâm ông bị bồn chồn lo lắng và hối hận (restlessness and remorse / bồn chồn và hối hận) xâm chiếm và chi phối… Ngay cả những bài thánh ca đã được thực hành lâu dài cũng không hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài không được thực hành. Ví như có một chậu nước bị gió khuấy động, cuộn sóng, xoáy tròn và gợn sóng. Ngay cả người mắt sáng nhìn bóng mình trong đó cũng không thực sự biết hay thấy rõ. Cũng vậy, khi tâm ông bị bồn chồn lo lắng và hối hận xâm chiếm và chi phối… Ngay cả những bài thánh ca đã được thực hành lâu dài cũng không hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài không được thực hành.

Hơn nữa, khi tâm ông bị hoài nghi (doubt / sự nghi ngờ không chắc chắn) xâm chiếm và chi phối… Ngay cả những bài thánh ca đã được thực hành lâu dài cũng không hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài không được thực hành. Ví như có một chậu nước bị vẩn đục, tối tăm, và đầy bùn, đặt trong bóng tối. Ngay cả người mắt sáng nhìn bóng mình trong đó cũng không thực sự biết hay thấy rõ. Cũng vậy, có lúc tâm ông bị hoài nghi xâm chiếm và chi phối, và ông không thực sự hiểu rõ sự thoát ly khỏi hoài nghi đã sinh khởi. Lúc đó, ông không thực sự biết hay thấy điều gì tốt cho mình, tốt cho người khác, hay tốt cho cả hai. Ngay cả những bài thánh ca đã được thực hành lâu dài cũng không hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài không được thực hành.

Có lúc tâm ông không bị dục tham xâm chiếm và chi phối, và ông thực sự hiểu rõ sự thoát ly khỏi dục tham đã sinh khởi. Lúc đó, ông thực sự biết và thấy điều gì tốt cho mình, tốt cho người khác, và tốt cho cả hai. Ngay cả những bài thánh ca lâu ngày không thực hành cũng hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài đã được thực hành. Ví như có một chậu nước không bị pha với thuốc nhuộm như cánh kiến đỏ, nghệ, chàm, hoặc thiên thảo. Người mắt sáng nhìn bóng mình trong đó sẽ thực sự biết và thấy rõ. Cũng vậy, khi tâm ông không bị dục tham xâm chiếm và chi phối… Ngay cả những bài thánh ca lâu ngày không thực hành cũng hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài đã được thực hành.

Hơn nữa, khi tâm ông không bị sân hận xâm chiếm và chi phối… Ngay cả những bài thánh ca lâu ngày không thực hành cũng hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài đã được thực hành. Ví như có một chậu nước không bị đun sôi trên lửa, sôi sục và nổi bọt. Người mắt sáng nhìn bóng mình trong đó sẽ thực sự biết và thấy rõ. Cũng vậy, khi tâm ông không bị sân hận xâm chiếm và chi phối… Ngay cả những bài thánh ca lâu ngày không thực hành cũng hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài đã được thực hành.

Hơn nữa, khi tâm ông không bị uể oải sao nhãng và buồn ngủ xâm chiếm và chi phối… Ngay cả những bài thánh ca lâu ngày không thực hành cũng hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài đã được thực hành. Ví như có một chậu nước không bị rêu và cây thủy sinh che phủ. Người mắt sáng nhìn bóng mình trong đó sẽ thực sự biết và thấy rõ. Cũng vậy, khi tâm ông không bị uể oải sao nhãng và buồn ngủ xâm chiếm và chi phối… Ngay cả những bài thánh ca lâu ngày không thực hành cũng hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài đã được thực hành.

Hơn nữa, khi tâm ông không bị bồn chồn lo lắng và hối hận xâm chiếm và chi phối… Ngay cả những bài thánh ca lâu ngày không thực hành cũng hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài đã được thực hành. Ví như có một chậu nước không bị gió khuấy động, cuộn sóng, xoáy tròn và gợn sóng. Người mắt sáng nhìn bóng mình trong đó sẽ thực sự biết và thấy rõ. Cũng vậy, khi tâm ông không bị bồn chồn lo lắng và hối hận xâm chiếm và chi phối… Ngay cả những bài thánh ca lâu ngày không thực hành cũng hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài đã được thực hành.

Hơn nữa, khi tâm ông không bị hoài nghi xâm chiếm và chi phối… Ngay cả những bài thánh ca lâu ngày không thực hành cũng hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài đã được thực hành. Ví như có một chậu nước trong suốt, trong lành, và không vẩn đục, được đặt ra ánh sáng. Người mắt sáng nhìn bóng mình trong đó sẽ thực sự biết và thấy rõ. Cũng vậy, có lúc tâm ông không bị hoài nghi xâm chiếm và chi phối, và ông thực sự hiểu rõ sự thoát ly khỏi hoài nghi đã sinh khởi. Lúc đó, ông thực sự biết và thấy điều gì tốt cho mình, tốt cho người khác, và tốt cho cả hai. Ngay cả những bài thánh ca lâu ngày không thực hành cũng hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài đã được thực hành.

Đây là nguyên nhân, này Bà la môn, đây là duyên cớ tại sao đôi khi ngay cả những bài thánh ca đã được thực hành lâu dài cũng không hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài không được thực hành. Và đây là lý do tại sao đôi khi ngay cả những bài thánh ca lâu ngày không thực hành lại hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài đã được thực hành."

“Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama! … Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama ghi nhận con là một cư sĩ đã quy y trọn đời.”

(III) (193) Bà-La-Môn Sangarava

1. Rồi Bà-la-môn Sangàrava đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Sangàrava thưa với Thế Tôn:

2. - Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, có khi các chú thuật học thuộc lòng lâu ngày (đọc tụng) lại không thể nhớ lên được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng? Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, có khi các chú thuật không học thuộc lòng lâu ngày (đọc tụng) lại nhớ lên được, còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng!

3. - Này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị dục tham xâm chiếm, bị dục tham chi phối, và không như thật biết rõ sự xuất ly khỏi dục tham đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình, trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích cả hai, cho nên các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ lên được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước trộn lẫn với thuốc nhuộm gôm lặc, hay màu đỏ tía, hay màu xanh hay màu vàng và ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía bóng mặt của mình, không có thể như thật biết được, thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị dục tham xâm chiếm, bị dục tham chi phối, không như thật rõ biết sự xuất ly khỏi dục tham đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy được lợi ích của cả hai, cho nên các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không nhớ lên được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!

4. Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị sân xâm chiếm, bị sân chi phối, không như thật biết sự xuất ly khỏi sân đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy được lợi ích của cả hai, cho nên các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ lên được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước được lửa đun sôi, sôi lên sùng sục, sôi lên cuồn cuộn. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía bóng mặt của mình, không thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị sân xâm chiếm…cho nên các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không nhớ lên được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!

5. Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm, bị hôn trầm thụy miên chi phối, không như thật biết sự xuất ly khỏi hôn trầm thụy miên, đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy được lợi ích của cả hai, cho nên các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ lên được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng! Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước bị rong rêu che phủ. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía khuôn mặt của mình, không thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm… còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!

6. Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị trạo hối xâm chiếm, bị trạo hối chi phối, không như thật biết sự xuất ly khỏi trạo hối đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy được lợi ích của cả hai, cho nên các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ lên được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước bị gió thổi, dao động, chấn động, nổi sóng. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía khuôn mặt của mình, không thể như thật biết được và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị trạo hối xâm chiếm… còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!

7. Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị nghi hoặc xâm chiếm, bị nghi hoặc chi phối, không như thật biết sự xuất ly ra khỏi nghi hoặc đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy được lợi ích của cả hai, cho nên các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ lên được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước bị khuấy động, khuấy đục, khuấy bùn, đặt trong bóng tối. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía khuôn mặt của mình, không thể như thật biết được và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị nghi hoặc xâm chiếm, bị nghi hoặc chi phối… còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!

8. Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị dục tham xâm chiếm, không bị dục tham chi phối, lại như thật rõ biết sự xuất ly của các dục tham đã khởi lên; trong khi ấy, như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, như thật biết và thấy được lợi ích của cả hai, cho nên các chú thuật không được học thuộc lòng lâu ngày được nhớ lên, còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng!

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước không trộn lẫn với thuốc nhuộm hoặc gôm lặc, hay màu đỏ tía, hay màu xanh, hay màu vàng, và ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía khuôn mặt của mình, có thể như thật biết được và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm không bị dục tham xâm chiếm… còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng!

9. Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị sân xâm chiếm… còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng!

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước không bị lửa đun sôi, không sôi lên sùng sục, không sôi lên cuồn cuộn. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía khuôn mặt của mình, có thể như thật biết được và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm không bị sân xâm chiếm, không bị sân chi phối… còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng!

10. Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm, không bị hôn trầm thụy miên chi phối… còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng!

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước không bị rong rêu che phủ. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía khuôn mặt của mình, có thể như thật biết được và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm không bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm, không bị hôn trầm thụy miên chi phối… còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng!

11. Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị trạo hối xâm chiếm, không bị trạo hối chi phối… còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng!

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước không bị gió thổi, không bị dao động, không bị chấn động, không bị nổi sóng. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía khuôn mặt của mình, có thể như thật biết được và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm không bị trạo hối miên xâm chiếm, không bị trạo hối chi phối… còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng!

12. Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị nghi hoặc xâm chiếm, không bị nghi hoặc chi phối… còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước thuần tịnh, trong sáng không bọ khuấy động, đặt giữa ánh sáng. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, có thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm không bị nghi hoặc xâm chiếm, không bị nghi hoặc chi phối và như thật biết sự xuất ly ra khỏi nghi hoặc đã khởi lên; trong khi ấy, như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên các chú thuật không được học thuộc lòng lâu ngày được nhớ lên, còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng!

Ðây là nhân, đây là duyên, này Bà-la-môn, có khi các chú thuật không được học thuộc lòng lâu ngày, lại có thể nhớ lên được, còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng!

13. Khi được nói vậy, Bà-la-môn Sangàrava bạch Thế Tôn:

− Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn…từ này cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

AN 5.194 Với Kāraṇapālī Kāraṇapālīsutta

Một thời Đức Phật trú tại Vesālī, trong Đại Lâm, tại ngôi giảng đường có mái nhọn.

Lúc bấy giờ, Bà la môn Kāraṇapālī đang làm việc cho dòng họ Licchavi. Ông thấy Bà la môn Piṅgiyānī từ xa đi tới và nói với ông ấy: “Này Piṅgiyānī, ông từ đâu đến vào giữa ban ngày thế này?”

“Thưa bạn hiền, tôi vừa từ chỗ Sa môn Gotama đến.”

“Ông nghĩ sao về sự sáng suốt của trí tuệ Sa môn Gotama? Ông có nghĩ ngài ấy sắc sảo không?”

“Thưa bạn hiền, tôi là ai mà dám đánh giá sự sáng suốt của trí tuệ Sa môn Gotama? Phải ở cùng đẳng cấp mới thực sự đánh giá được sự sáng suốt trí tuệ của ngài ấy.”

“Quả thật, Tôn giả Piṅgiyānī tán thán Sa môn Gotama bằng những lời ca ngợi tuyệt vời.”

“Tôi là ai mà dám tán thán Sa môn Gotama? Ngài được những bậc đáng tán thán ca ngợi là bậc nhất giữa trời và người.”

“Nhưng vì lý do gì mà ông lại hết lòng kính mộ Sa môn Gotama như vậy?”

"Ví như một người đã hoàn toàn thỏa mãn với món ăn ngon nhất. Họ sẽ không còn bị hấp dẫn bởi bất kỳ món nào có vị kém hơn. Cũng vậy, khi nghe giáo pháp của Tôn giả Gotama—dù là thể loại nào, dù là kinh văn xuôi, văn vần xen lẫn văn xuôi, các bài luận giải, hay những câu chuyện kỳ diệu—thì ông sẽ không còn bị hấp dẫn bởi các học thuyết của những Sa môn và Bà la môn khác.

Ví như một người đói lả được một chiếc bánh mật. Bất cứ chỗ nào họ nếm, họ đều cảm nhận được hương vị ngọt ngào, thơm ngon. Cũng vậy, khi nghe giáo pháp của Tôn giả Gotama—dù là thể loại nào, dù là kinh văn xuôi, văn vần xen lẫn văn xuôi, các bài luận giải, hay những câu chuyện kỳ diệu—thì ông sẽ cảm thấy phấn chấn, tâm hồn tràn đầy niềm tin (confidence / sự tin tưởng vững chắc).

Ví như một người có được một khúc gỗ đàn hương, dù là màu vàng hay đỏ. Bất cứ chỗ nào họ ngửi—dù là gốc, thân, hay ngọn—họ đều cảm nhận được hương thơm ngào ngạt. Cũng vậy, khi nghe giáo pháp của Tôn giả Gotama—dù là thể loại nào, dù là kinh văn xuôi, văn vần xen lẫn văn xuôi, các bài luận giải, hay những câu chuyện kỳ diệu—thì ông sẽ tràn ngập niềm vui vẻ (joy / sự hoan hỷ) và an vui (happiness / hạnh phúc).

Ví như có một người bị bệnh, đau đớn, ốm nặng. Một lương y giỏi sẽ chữa khỏi cho họ ngay lập tức. Cũng vậy, khi nghe giáo pháp của Tôn giả Gotama—dù là thể loại nào, dù là kinh văn xuôi, văn vần xen lẫn văn xuôi, các bài luận giải, hay những câu chuyện kỳ diệu—thì ông sẽ chấm dứt được sầu, bi, khổ, ưu, não.

Ví như có một hồ sen nước trong, ngọt, mát, sạch sẽ, bờ thoai thoải, thật đáng ưa thích. Rồi có một người đang vật lộn trong cái nóng oi bức, mệt mỏi, khát khô cổ đi tới. Người ấy sẽ nhảy xuống hồ sen để tắm và uống. Và mọi căng thẳng, mệt mỏi, và kiệt sức vì nóng của người ấy sẽ tan biến. Cũng vậy, khi nghe giáo pháp của Tôn giả Gotama—dù là thể loại nào, dù là kinh văn xuôi, văn vần xen lẫn văn xuôi, các bài luận giải, hay những câu chuyện kỳ diệu—thì mọi căng thẳng, mệt mỏi, và kiệt sức của ông đều tan biến."

Khi nghe nói vậy, Bà la môn Kāraṇapālī đứng dậy khỏi chỗ ngồi, sửa lại y phục vắt qua một bên vai, quỳ gối phải xuống đất, chắp tay hướng về Đức Phật, và thốt lên lời cảm thán chân thành này ba lần:

"Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A la hán, đấng Chánh Đẳng Giác!

Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A la hán, đấng Chánh Đẳng Giác!

Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A la hán, đấng Chánh Đẳng Giác!

Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Piṅgiyānī! Thật tuyệt vời! Như người lật ngửa vật bị úp, hay vén mở cái bị che kín, hay chỉ đường cho người lạc lối, hay thắp đèn trong bóng tối để người mắt sáng có thể thấy các vật, Tôn giả Piṅgiyānī đã làm sáng tỏ giáo pháp bằng nhiều cách. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, và quy y Tăng đoàn Tỳ kheo. Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Piṅgiyānī ghi nhận con là một cư sĩ đã quy y trọn đời."

(IV) (194) Ba La Môn Kàranapàli

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàlì, tại Mahàvana, chỗ giảng đường có nóc nhọn. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Kàranapàli đang xây dựng nhà cho Licchavì. Bà-la-môn Kàranapàli thấy Bà-la-môn Pingiyàni từ đường xa đi đến, sau khi thấy, liền nói với Bà-la-môn Pingiyàni:

− Tôn giả Pingiyàni đi từ đâu đến sớm như vậy?

− Thưa Tôn giả, tôi đi từ chỗ Sa-môn Gotama về.

− Tôn giả Pingiyàni nghĩ thế nào về trí tuệ sáng suốt của Sa-môn Gotama? Ngài có nghĩ vị ấy là một bậc Hiền trí chăng?

− Tôi là ai, thưa Tôn giả, lại có thể biết được trí tuệ sáng suốt của Sa-môn Gotama. Chỉ có ai như vị ấy, mới có thể biết được trí tuệ sáng suốt của Sa-môn Gotama.

Thật là cao thượng lời Tôn giả Pingiyàni tán thán Sa-môn Gotama. “Tôi là ai, thưa Tôn giả, lại có thể nói lời tán thán Sa-môn Gotama”. Ðược tán thán bởi những bậc được tán thán là Tôn giả Gotama, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người. Tôn giả Pingyiàni thấy những lợi ích gì lại cực lực tin tưởng Samôn Gotama như vậy? − Thưa Tôn giả, ví như một người đã thỏa mãn với vị ngọt tối thượng sẽ không còn thèm muốn các vị ngọt hạ liệt khác. Cũng vậy, thưa Tôn giả, khi đã nghe pháp của Tôn giả Gotama, như Khế kinh, Phúng tụng, Ký thuyết, Vị tằng hữu pháp…, thời không còn thèm muốn các lý thuyết của những người khác, của các Sa-môn, Bà-la-môn thấp kém. Ví như, thưa Tôn giả, một người bị đói lả và mệt mỏi, tìm được một bánh mật, cứ mỗi miếng vị ấy được nếm, cứ mỗi miếng vị ấy được thưởng thức vị ngọt thuần nhất. Cũng vậy, thưa Tôn giả, khi đã được nghe pháp của Tôn giả Gotama, như Khế kinh, Phúng tụng, Ký thuyết, Vị tằng hữu pháp…vị ấy được hoan hỷ, tâm được tịnh tín. Ví như, thưa Tôn giả, một người tìm được một cành cây chiên-đàn, chiên-đàn vàng hay chiên-đàn đỏ, chỗ nào người ấy ngửi hoặc từ nơi rễ, hoặc từ nơi chặng giữa, hoặc từ nơi ngọn, người ấy được hương thơm thuần diệu. Cũng vậy, thưa Tôn giả, khi đã được nghe pháp của Tôn giả Gotama, như Khế kinh, Phúng tụng, Ký thuyết, Vị tằng hữu pháp…thời vị ấy được thưởng thức hân hoan, được thưởng thức hoan hỷ. Ví như, thưa Tôn giả, một người bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh, rồi có vị lương y lập tức chữa cho khỏi bệnh. Cũng vậy, thưa Tôn giả, khi đã được nghe pháp của Tôn giả Gotama, như Khế kinh, Phúng tụng, Ký thuyết, Vị tằng hữu pháp…khi ấy, sầu bi khổ ưu não đi đến tiêu diệt. Ví như, thưa Tôn giả, một hồ sen, có nước trong, có nước ngọt, có nước mát, có nước mát trong, có bờ hồ khéo sắp đặt, đẹp đẽ, rồi một người đi đến, bị nóng nhiệt não, bị nóng bức bách, mệt mỏi, thèm uống nước, khát nước. Người ấy, sau khi lặn xuống trong hồ sen ấy, sau khi tắm rửa, uống nước, tất cả khổ cực mệt mỏi, nhiệt não đều được lắng dịu. Cũng vậy, thưa Tôn giả, khi đã được nghe pháp của Tôn giả Gotama, như Khế kinh, Phúng tụng, Ký thuyết, Vị tằng hữu pháp…khi ấy tất cả khổ cực, mệt mỏi, nhiệt não đều được chỉ tức.

2. Khi được nói vậy, Bà-la-môn Karanapàli từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y qua một bên vai, đầu gối bên phải quỳ trên mặt đất, chắp tay hướng đến Thế Tôn, và ba lần thốt lên lời cảm hứng sau đây:

− Ðảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Ðảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Ðảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác!

− Thật vi diệu thay, Tôn giả Pingiyàni! Thật vi diệu thay, Tôn giả Pingiyàni! Thưa Tôn giả Pingiyàni, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những kẻ đi lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Thưa Tôn giả Pingiyàni, con nay xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và chúng Tỷ-kheo. Tôn giả Pingyàni hãy chấp nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

AN 5.195 Piṅgiyānī Piṅgiyānīsutta

Một thời Đức Phật trú tại Vesālī, trong Đại Lâm, tại ngôi giảng đường có mái nhọn.

Lúc bấy giờ, khoảng năm trăm vị Licchavi đang đến thăm Đức Phật. Một số vị Licchavi mặc đồ màu xanh lam, có màu xanh lam, trang phục xanh lam, trang sức xanh lam. Một số vị khác cũng tương tự với màu vàng, đỏ, hoặc trắng. Nhưng Đức Phật vượt trội hơn tất cả về vẻ đẹp và uy nghi.

Khi ấy, Bà la môn Piṅgīyānī đứng dậy khỏi chỗ ngồi, sửa lại y phục vắt qua một bên vai, chắp tay hướng về Đức Phật và thưa: “Bạch Thế Tôn, con cảm thấy hứng khởi muốn nói! Bạch Đấng Thiện Thệ, con cảm thấy hứng khởi muốn nói!”

“Vậy hãy nói những gì ông cảm thấy hứng khởi,” Đức Phật nói. Thế là Bà la môn Piṅgīyānī tán thán Đức Phật trước mặt Ngài bằng một bài kệ thích hợp.

“Như đóa sen hồng thơm ngát
Nở vào buổi sáng, hương thơm không phai—
Hãy nhìn bậc Aṅgīrasa tỏa sáng,
Rực rỡ như mặt trời trên bầu trời!”

Khi ấy, các vị Licchavi đó đã tặng cho Piṅgiyānī năm trăm chiếc thượng y. Và Piṅgiyānī đã dâng cúng chúng lên Đức Phật.

Rồi Đức Phật nói với các vị Licchavi:

“Này các Licchavi, sự xuất hiện của năm báu vật là hiếm có trên đời. Năm báu vật đó là gì? Một bậc Như Lai (Realized One / Bậc đã đến như vậy/Bậc đã đi như vậy), bậc A la hán (perfected one / Bậc xứng đáng cúng dường), đấng Chánh Đẳng Giác (fully awakened Buddha / Bậc tự mình giác ngộ hoàn toàn). Một người giảng dạy giáo pháp và giới luật do bậc Như Lai tuyên thuyết. Một người hiểu rõ giáo pháp và giới luật do bậc Như Lai tuyên thuyết. Một người thực hành đúng theo giáo pháp. Một người biết ơn và đền ơn. Sự xuất hiện của năm báu vật này là hiếm có trên đời.”

(V) (195) Bà La Môn Pingiyani

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàlì, tại Mahàvana, chỗ giảng đường có nóc nhọn, có khoảng 500 người Licchavi hầu hạ Thế Tôn. Một số người Licchavi toàn xanh, màu sắc xanh, mặc vải màu xanh, mang đồ trang sức màu xanh. Một số người Licchavi toàn vàng, màu sắc vàng, mặc vải màu vàng, mang đồ trang sức màu vàng. Một số người Licchavi toàn đỏ, màu sắc đỏ, mặc vải màu đỏ, mang đồ trang sức màu đỏ. Một số người Licchavi toàn trắng, màu sắc trắng, mặc vải màu trắng, mang đồ trang sức màu trắng. Nhưng thật sự Thế Tôn đã chói sáng với dung sắc và sự huy hoàng. Rồi Bà-la-môn Pingiyàni từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng đến Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

− Ðiều này được nói lên cho con, bạch Thế Tôn! Ðiều này được nói lên cho con, bạch Thế Tôn!

− Hãy nói lên, này Pingiyàni!

Thế Tôn nói như vậy. Rồi Bà-la-môn Pingiyàni trước mặt Thế Tôn, nói lên bài kệ thích đáng:

Như loại hoa sen hồng,
Buổi sáng hương ngào ngạt,
Khi đóa hoa càng nở,
Hương thơm càng ngát hương.
Xem Angìrasa,
Chiếu hào quang sáng chói,
Chói sáng thật rực rỡ,
Như mặt trời trên không.

Rồi các người Licchavi ấy đem 500 thượng y dâng đắp cho Bà-la-môn Pingiyàni. Và Bà-la-môn Pingiyàni đem 500 thượng y ấy dâng đắp cho Thế Tôn. Thế Tôn nói với các vị ấy:

2. - Này các Licchavì, sự xuất hiện của năm châu báu khó tìm được ở đời. Thế nào là năm?

3. Sự xuất hiện của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác khó tìm được ở đời. Người thuyết được Pháp Luật do Như Lai tuyên bố khó tìm được ở đời. Người hiểu được Pháp Luật do Như Lai tuyên bố khó tìm được ở đời. Người thực hành pháp và tùy pháp, sau khi đã hiểu rõ lời thuyết giảng về Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, khó tìm được ở đời. Người biết ơn, nhớ ơn khó tìm được ở đời.

Này các Licchavi, sự xuất hiện của năm loại châu báu này khó tìm được ở đời.

AN 5.196 Những Giấc Mộng Lớn Mahāsupinasutta

"Này các Tỳ kheo, trước khi giác ngộ, năm giấc mộng lớn đã xuất hiện với bậc Như Lai, bậc A la hán, đấng Chánh Đẳng Giác, khi Ngài vẫn chưa giác ngộ nhưng đang hướng đến giác ngộ. Năm giấc mộng đó là gì?

Đại địa này là giường của Ngài. Vua núi Tuyết Sơn (Himalaya) là gối của Ngài. Tay trái của Ngài đặt trong biển đông. Tay phải của Ngài đặt trong biển tây. Và cả hai chân của Ngài đặt trong biển nam. Đây là giấc mộng lớn thứ nhất xuất hiện với bậc Như Lai trước khi Ngài giác ngộ.

Tiếp theo, một loại cỏ tên là ‘kẻ vượt qua’ (tiriya) mọc lên từ rốn của Ngài và vươn cao chạm đến bầu trời mây. Đây là giấc mộng lớn thứ hai xuất hiện với bậc Như Lai trước khi Ngài giác ngộ.

Tiếp theo, những con sâu trắng đầu đen bò lên từ chân Ngài và phủ kín đến đầu gối. Đây là giấc mộng lớn thứ ba xuất hiện với bậc Như Lai trước khi Ngài giác ngộ.

Tiếp theo, bốn con chim khác màu từ bốn phương bay đến. Chúng rơi xuống chân Ngài và biến thành màu trắng tinh. Đây là giấc mộng lớn thứ tư xuất hiện với bậc Như Lai trước khi Ngài giác ngộ.

Tiếp theo, Ngài đi tới đi lui trên đỉnh một núi phân khổng lồ mà vẫn không bị vấy bẩn. Đây là giấc mộng lớn thứ năm xuất hiện với bậc Như Lai trước khi Ngài giác ngộ.

Vậy, khi nào, trước khi giác ngộ, bậc Như Lai, bậc A la hán, đấng Chánh Đẳng Giác vẫn chưa giác ngộ nhưng đang hướng đến giác ngộ. Đại địa này là giường của Ngài. Vua núi Tuyết Sơn (Himalaya) là gối của Ngài. Tay trái của Ngài đặt trong biển đông. Tay phải của Ngài đặt trong biển tây. Và cả hai chân của Ngài đặt trong biển nam. Điều này ứng nghiệm khi Đức Phật chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Giác (perfect awakening / sự giác ngộ hoàn hảo, tối thượng). Đây là giấc mộng lớn thứ nhất xuất hiện với Ngài khi Ngài vẫn chưa giác ngộ.

Khi nào một loại cỏ tên là ‘kẻ vượt qua’ mọc lên từ rốn của Ngài và vươn cao chạm đến bầu trời mây. Điều này ứng nghiệm khi, sau khi Đức Phật đã giác ngộ Bát Chánh Đạo (noble eightfold path / con đường tám yếu tố cao thượng), con đường ấy đã được khéo tuyên thuyết đến khắp nơi có chư thiên và loài người. Đây là giấc mộng lớn thứ hai xuất hiện với Ngài khi Ngài vẫn chưa giác ngộ.

Khi nào những con sâu trắng đầu đen bò lên từ chân Ngài và phủ kín đến đầu gối. Điều này ứng nghiệm khi nhiều cư sĩ áo trắng đã đến quy y Ngài trọn đời. Đây là giấc mộng lớn thứ ba xuất hiện với Ngài khi Ngài vẫn chưa giác ngộ.

Khi nào bốn con chim khác màu từ bốn phương bay đến. Chúng rơi xuống chân Ngài và biến thành màu trắng tinh. Điều này ứng nghiệm khi các thành viên của bốn giai cấp—quý tộc (Sát đế lợi), Bà la môn, nông dân (Phệ xá), và tiện dân (Thủ đà la)—đã xuất gia trong giáo pháp và giới luật do bậc Như Lai tuyên thuyết và chứng đắc giải thoát tối thượng. Đây là giấc mộng lớn thứ tư xuất hiện với Ngài khi Ngài vẫn chưa giác ngộ.

Khi nào Ngài đi tới đi lui trên đỉnh một núi phân khổng lồ mà vẫn không bị vấy bẩn. Điều này ứng nghiệm khi bậc Như Lai nhận được y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men cùng vật dụng cho người bệnh. Và Ngài sử dụng chúng mà không bị ràng buộc, không say đắm, không dính mắc, thấy rõ sự nguy hại và hiểu rõ lối thoát. Đây là giấc mộng lớn thứ năm xuất hiện với Ngài khi Ngài vẫn chưa giác ngộ.

Trước khi giác ngộ, năm giấc mộng lớn này đã xuất hiện với bậc Như Lai, bậc A la hán, đấng Chánh Đẳng Giác, khi Ngài vẫn chưa giác ngộ nhưng đang hướng đến giác ngộ."

(VI) (196) Mộng

1. - Trước khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được giác ngộ, này các Tỷ-kheo, khi chưa chánh đẳng giác, còn là Bồ-tát, có năm mộng lớn hiện ra. Thế nào là năm?

2. Này các Tỷ-kheo, trước khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được giác ngộ, khi chưa chánh đẳng giác, còn là Bồ-tát mộng thấy đất lớn này là giường lớn, Tuyết sơn, vua các loài núi là các gối, tay trái đặt nằm trên biển phía Ðông, tay mặt nằm trên biển phía Tây, hai chân nằm trên biển phía Nam. Trước khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được giác ngộ, khi chưa chánh đẳng giác, còn là Bồ-tát, mộng lớn thứ nhất này được hiện ra.

3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trước khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được giác ngộ, khi chưa chánh đẳng giác, còn là Bồ-tát mộng thấy từ nơi lỗ rún, cỏ tiriya mọc ra, mọc cho đến khi chạm đến trời rồi mới dừng lại. Trước khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được giác ngộ, khi chưa chánh đẳng giác, còn là Bồ-tát, mộng lớn thứ hai này được hiện ra.

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trước khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được giác ngộ, khi chưa chánh đẳng giác, còn là Bồ-tát mộng thấy các con sâu trắng, đầu đen, bò ra từ chân cho đến đầu gối và che đậy chúng. Trước khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được giác ngộ, khi chưa chánh đẳng giác, còn là Bồ-tát, mộng lớn thứ ba này được hiện ra.

5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trước khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được giác ngộ, khi chưa chánh đẳng giác, còn là Bồ-tát mộng thấy bốn con chim màu sắc khác nhau, từ bốn phương bay đến, rơi xuống chân Ngài và trở thành trắng toát. Trước khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được giác ngộ, khi chưa chánh đẳng giác, còn là Bồ-tát, mộng lớn thứ tư này được hiện ra.

6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trước khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được giác ngộ, khi chưa chánh đẳng giác, còn là Bồ-tát mộng thấy Ngài đi kinh hành qua lại trên hòn núi đầy phân, nhưng không bị nhớp vì phân. Trước khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được giác ngộ, khi chưa chánh đẳng giác, còn là Bồ-tát, mộng lớn thứ năm này được hiện ra. 7. Này các Tỷ-kheo, trước khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được giác ngộ, khi chưa chánh đẳng giác, còn là Bồ-tát mộng thấy quả đất lớn này làm giường nằm lớn, núi Tuyết sơn, vua các loài núi làm các gối, tay trái đặt nằm trên biển phía Ðông, tay mặt nằm trên biển phía Tây, hai chân đặt nằm trên biển phía Nam. Này các Tỷ-kheo, đối với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác Ngài chứng được Vô thượng Chánh giác ngộ, Chánh Ðẳng Giác. Trong khi Ngài Chánh Ðẳng giác ngộ, mộng lớn thứ nhất này được hiện ra.

8. Này các Tỷ-kheo, trước khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được giác ngộ, khi chưa chánh đẳng giác, còn là Bồ-tát mộng thấy từ nơi lỗ rún, cỏ tiriya mọc ra, mọc cho đến khi chạm đến trời rồi mới dừng lại. Này các Tỷ-kheo, đối với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Thánh đạo tám ngành được hoàn toàn giác ngộ và khéo tuyên bố cho chư Thiên và loài Người. Trong khi Ngài chánh giác ngộ, mộng lớn thứ hai này được hiện ra.

9. Này các Tỷ-kheo, trước khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được giác ngộ, khi chưa chánh đẳng giác, còn là Bồ-tát mộng thấy các con sâu trắng, đầu đen, bò ra từ chân cho đến đầu gối và che đậy chúng. Này các Tỷ-kheo, nhiều gia chủ bận áo trắng quy y Như Lai cho đến trọn đời. Trong khi Ngài chánh giác ngộ, mộng lớn thứ ba này được hiện ra.

10. Này các Tỷ-kheo, trước khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được giác ngộ, khi chưa chánh đẳng giác, còn là Bồ-tát mộng thấy bốn con chim màu sắc khác nhau, từ bốn phương bay đến, rơi xuống chân Ngài và trở thành trắng toát. Bốn giai cấp này, này các Tỷ-kheo, Sát-đế-ly, Bà-la-môn, Tỳxá, Thủ-đà, sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, các vị ấy chứng ngộ vô thượng giải thoát. Trong khi Ngài chánh giác ngộ, mộng lớn thứ tư này được hiện ra.

11. Này các Tỷ-kheo, trước khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được giác ngộ, khi chưa chánh đẳng giác, còn là Bồ-tát mộng thấy Ngài đi kinh hành qua lại trên hòn núi đầy phân, nhưng không bị nhớp vì phân. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn được các vật dụng cần thiết như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Và ở đây, Như Lai thọ hưởng không bị trói buộc không bị tham đắm, không bị mê say, thấy sự nguy hại có trí tuệ và xuất ly. Trong khi Ngài chánh giác ngộ, mộng lớn thứ năm này được hiện ra.

Này các Tỷ-kheo, trước khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được giác ngộ, trước khi thành Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát năm mộng lớn này được hiện ra.

AN 5.197 Trở Ngại Cho Mưa Vassasutta

"Này các Tỳ kheo, có năm trở ngại cho mưa này, mà những nhà dự báo thời tiết không biết, và tầm nhìn của họ không thể xuyên thấu. Năm trở ngại đó là gì?

Ở tầng khí quyển trên cao, hỏa đại (fire element / yếu tố lửa) bùng lên, làm tan mây. Đây là trở ngại thứ nhất cho mưa, mà những nhà dự báo thời tiết không biết, và tầm nhìn của họ không thể xuyên thấu.

Hơn nữa, ở tầng khí quyển trên cao, phong đại (air element / yếu tố gió) bùng lên, làm tan mây. Đây là trở ngại thứ hai cho mưa…

Hơn nữa, A tu la (titan / một loại chúng sinh thường xung đột với chư thiên) vương Rāhu hứng nước vào tay và ném xuống biển. Đây là trở ngại thứ ba cho mưa…

Hơn nữa, các vị trời mây mưa trở nên lơ là. Đây là trở ngại thứ tư cho mưa…

Hơn nữa, loài người trở nên vô đạo đức. Đây là trở ngại thứ năm cho mưa, mà những nhà dự báo thời tiết không biết, và tầm nhìn của họ không thể xuyên thấu.

Đây là năm trở ngại cho mưa, mà những nhà dự báo thời tiết không biết, và tầm nhìn của họ không thể xuyên thấu."

(VII) (197) Mưa

1. - Có năm chướng ngại cho mưa này, các người đoán tướng không biết được, ở đây, mắt của những người đoán tướng không thể kham nhẫn. Thế nào là năm?

2. Trên hư không, này các Tỷ-kheo, hỏa giới phẫn nộ, do vậy các mây đã khởi lên bị tán loạn. Này các Tỷ-kheo, đây là chướng ngại thứ nhất cho mưa, các người đoán tướng không biết được, ở đây mắt của những người đoán tưởng không thể kham nhẫn.

3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trên hư không, phong giới phẫn nộ, do vậy các mây đã khởi lên bị tán loạn. Này các Tỷ-kheo, đây là chướng ngại thứ hai cho mưa, các người đoán tướng không biết được, mắt của những người đoán tưởng không thể kham nhẫn.

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Ràhu, vua các loài A-tu-la dùng tay thây lấy nước rồi đổ xuống biển lớn. Này các Tỷ-kheo, đây là chướng ngại thứ ba cho mưa, các người đoán tướng không biết được, mắt của những người đoán tưởng không thể kham nhẫn.

5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, chư Thiên của các loại mây đem mưa trở thành biếng nhác. Ðây là chướng ngại thứ tư cho mưa, các người đoán tướng không biết được, mắt của những người đoán tưởng không thể kham nhẫn.

6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi loài Người trở thành phi pháp, này các Tỷ-kheo, đây là chướng ngại thứ năm cho mưa, các người đoán tướng không biết được, mắt của những người đoán tưởng không thể kham nhẫn.

Này các Tỷ-kheo, có năm chướng ngại cho mưa này, các người đoán tướng không biết được, ở đây mắt của những người đoán tưởng không thể kham nhẫn.

AN 5.198 Lời Nói Thiện Vācāsutta

“Này các Tỳ kheo, lời nói có năm yếu tố là lời nói thiện, không phải lời nói ác. Lời nói ấy không đáng bị khiển trách và không bị người trí chỉ trích. Năm yếu tố đó là gì? Đó là lời nói đúng lúc, đúng sự thật, nhẹ nhàng, có lợi ích, và xuất phát từ tâm từ. Lời nói với năm yếu tố này là lời nói thiện, không phải lời nói ác. Lời nói ấy không đáng bị khiển trách và không bị người trí chỉ trích.”

(VIII) (198) Lời Nói

1. - Thành tựu năm chi phần, này các Tỷ-kheo, các lời là thiện thuyết, không phải ác thuyết, không có phạm tội và không bị những người có trí chỉ trích. Thế nào là năm?

2. Nói đúng thời, nói đúng sự thật, nói lời nhu hòa, nói lời liên hệ đến lợi ích, nói với lời từ tâm.

Thành tựu năm chi phần, này các Tỷ-kheo, các lời là thiện thuyết, không phải ác thuyết, không có phạm tội và không bị những người có trí chỉ trích.

AN 5.199 Gia Đình Kulasutta

"Khi những vị tu hành (renunciates / người từ bỏ thế tục để thực hành tâm linh) có đạo đức đến một gia đình, mọi người tạo được nhiều phước (merit / thiện nghiệp, kết quả tốt lành) vì năm lý do. Năm lý do đó là gì?

Khi thấy những vị tu hành có đạo đức đến gia đình mình, mọi người khởi lên niềm tin (confidence / sự tin tưởng vững chắc) trong lòng. Lúc đó, gia đình đang thực hành con đường dẫn đến cõi trời.

Khi những vị tu hành có đạo đức đến gia đình mình, mọi người đứng dậy khỏi chỗ ngồi, cúi đầu chào, và mời họ ngồi. Lúc đó, gia đình đang thực hành con đường dẫn đến việc tái sinh vào gia đình danh giá.

Khi những vị tu hành có đạo đức đến gia đình mình, mọi người loại bỏ vết nhơ của sự keo kiệt. Lúc đó, gia đình đang thực hành con đường dẫn đến sự vẻ vang, danh tiếng.

Khi những vị tu hành có đạo đức đến gia đình mình, mọi người chia sẻ những gì họ có tùy theo khả năng. Lúc đó, gia đình đang thực hành con đường dẫn đến sự giàu có lớn.

Khi những vị tu hành có đạo đức đến gia đình mình, mọi người đặt câu hỏi và lắng nghe giáo pháp. Lúc đó, gia đình đang thực hành con đường dẫn đến trí tuệ (wisdom / sự hiểu biết đúng đắn) lớn.

Khi những vị tu hành có đạo đức đến một gia đình, mọi người tạo được nhiều phước vì năm lý do này."

(IX) (199) Gia Ðình

1. - Khi nào, này các Tỷ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, tại đấy các người do năm trường hợp, được nhiều công đức. Thế nào là năm?

2. Khi nào, này các Tỷ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, các người sau khi thấy họ tâm được tịnh tín. Này các Tỷ-kheo, như vậy là đưa đến cõi Trời, và gia đình ấy trong lúc ấy đã bước được trên con đường ấy.

3. Khi nào, này các Tỷ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, các người đứng dậy, đảnh lễ họ, mời họ ngồi. Này các Tỷ-kheo, như vậy đưa đến được sanh vào các gia đình cao sang, và gia đình ấy trong lúc ấy đã bước được trên con đường ấy.

4. Khi nào, này các Tỷ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, các người từ bỏ cấu uế của xan tham. Này các Tỷ-kheo, như vậy đưa đến đại uy lực, và gia đình ấy trong lúc ấy, đã bước được trên con đường ấy.

5. Khi nào, này các Tỷ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, các người tùy theo khả năng, tùy theo năng lực, san sẻ vật bố thí. Này các Tỷ-kheo, như vậy đưa đến tài sản lớn, và gia đình ấy trong lúc ấy đã bước được trên con đường ấy.

6. Khi nào, này các Tỷ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, các người hỏi những câu hỏi, đặt những câu hỏi, nghe pháp. Này các Tỷ-kheo, như vậy đưa đến đại trí tuệ, và gia đình ấy trong lúc ấy đã bước được trên con đường ấy.

Khi nào, này các Tỷ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, tại đấy các người do năm trường hợp này được nhiều công đức.

AN 5.200 Các Yếu Tố Thoát Ly Nissāraṇīyasutta

"Này các Tỳ kheo, có năm yếu tố thoát ly này. Năm yếu tố đó là gì?

Trường hợp một Tỳ kheo chú tâm đến các dục, nhưng tâm vị ấy không hướng đến, không vững tin, không an trú, và không quyết định nơi đó. Nhưng khi vị ấy chú tâm đến sự ly dục (renunciation / sự từ bỏ ham muốn), tâm vị ấy hướng đến, vững tin, an trú, và quyết định nơi đó. Tâm của vị ấy ở trạng thái tốt, được khéo tu tập, khéo khởi lên, khéo giải thoát, và khéo tách rời khỏi các dục. Vị ấy được giải thoát khỏi những phiền não (defilements / những tâm sở ô nhiễm) khổ đau và nóng bức sinh khởi do dục, nên vị ấy không cảm nhận loại cảm giác đó. Đây được gọi là sự thoát ly khỏi các dục.

Trường hợp khác, một Tỳ kheo chú tâm đến sân hận, nhưng tâm vị ấy không hướng đến… Nhưng khi vị ấy chú tâm đến tâm từ (good will / lòng yêu thương không vị kỷ), tâm vị ấy hướng đến… Tâm của vị ấy ở trạng thái tốt… khéo tách rời khỏi sân hận. Vị ấy được giải thoát khỏi những phiền não khổ đau và nóng bức sinh khởi do sân hận, nên vị ấy không cảm nhận loại cảm giác đó. Đây được gọi là sự thoát ly khỏi sân hận.

Trường hợp khác, một Tỳ kheo chú tâm đến sự hãm hại (harming / ý muốn làm tổn thương), nhưng tâm vị ấy không hướng đến… Nhưng khi vị ấy chú tâm đến tâm bi (compassion / lòng thương xót), tâm vị ấy hướng đến… Tâm của vị ấy ở trạng thái tốt… khéo tách rời khỏi sự hãm hại. Vị ấy được giải thoát khỏi những phiền não khổ đau và nóng bức sinh khởi do sự hãm hại, nên vị ấy không cảm nhận loại cảm giác đó. Đây được gọi là sự thoát ly khỏi sự hãm hại.

Trường hợp khác, một Tỳ kheo chú tâm đến sắc (form / đối tượng vật chất, hình thể), nhưng tâm vị ấy không hướng đến… Nhưng khi vị ấy chú tâm đến vô sắc (formless / trạng thái không có hình thể vật chất), tâm vị ấy hướng đến… Tâm của vị ấy ở trạng thái tốt… khéo tách rời khỏi các sắc. Vị ấy được giải thoát khỏi những phiền não khổ đau và nóng bức sinh khởi do sắc, nên vị ấy không cảm nhận loại cảm giác đó. Đây được gọi là sự thoát ly khỏi các sắc.

Trường hợp một Tỳ kheo chú tâm đến thân kiến (substantial reality / niềm tin vào một thực thể tự ngã bền vững), nhưng tâm vị ấy không hướng đến, không vững tin, không an trú, và không quyết định nơi đó. Nhưng khi vị ấy chú tâm đến sự đoạn diệt thân kiến, tâm vị ấy hướng đến, vững tin, an trú, và quyết định nơi đó. Tâm của vị ấy ở trạng thái tốt, được khéo tu tập, khéo khởi lên, khéo giải thoát, và khéo tách rời khỏi thân kiến. Vị ấy được giải thoát khỏi những phiền não khổ đau và nóng bức sinh khởi do thân kiến, nên vị ấy không cảm nhận loại cảm giác đó. Đây được gọi là sự thoát ly khỏi thân kiến.

Sự thích thú trong dục, sân hận, sự hãm hại, sắc, và thân kiến không còn tồn tại tiềm ẩn trong vị ấy. Đó là lý do vị ấy được gọi là Tỳ kheo không còn tùy miên (underlying tendencies / khuynh hướng ngủ ngầm), đã cắt đứt ái (craving / sự khao khát, ham muốn), tháo gỡ các nhận định sai (fetters / những trói buộc tâm linh), và bằng cách hiểu rõ mạn (conceit / sự kiêu ngạo, tự đánh giá cao) một cách đúng đắn, đã chấm dứt khổ (suffering / sự đau khổ, bất toại nguyện). Đây là năm yếu tố thoát ly."

(X) (200) Xuất Ly

1. - Này các Tỷ-kheo, có năm giới đưa đến xuất ly này. Thế nào là năm?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tác ý về dục tâm không phấn chấn trong các dục, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến viễn ly, tâm liền phấn chấn trong viễn ly, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến dục. Và do duyên với dục, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Ðây gọi là xuất ly khỏi cái dục.

3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tác ý về sân, tâm không phấn chấn trong sân, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến vô sân, tâm liền phấn chấn trong vô sân, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến sân. Và do duyên với sân, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Ðây gọi là xuất ly khỏi sân.

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tác ý về hại, tâm không phấn chấn trong hại, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến vô hại, tâm liền phấn chấn trong vô hại, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến hại. Và do duyên với hại, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Ðây gọi là xuất ly ra khỏi hại.

5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tác ý về sắc, tâm không phấn chấn trong sắc, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến vô sắc, tâm liền phấn chấn trong vô sắc, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến sắc. Và do duyên với sắc, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Ðây gọi là xuất ly ra khỏi sắc.

6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tác ý về có thân, tâm không phấn chấn trong có thân, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến đoạn diệt có thân, tâm liền phấn chấn trong đoạn diệt có thân, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến có thân. Và do duyên với có thân, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Ðây gọi là xuất ly khỏi có thân.

Ðối với vị ấy, dục hỷ không có tùy miên, sân hỷ không có tùy miên, hại hỷ không có tùy miên, sắc hỷ không có tùy miên, hữu thân hỷ không có tùy miên. Vị ấy không có tùy miên đối với dục hỷ, không có tùy miên đối với sân hỷ, không có tùy miên đối với hại hỷ, không có tùy miên đối với sắc hỷ, không có tùy miên đối với hữu thân hỷ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo được giải thoát khỏi tùy miên, đã chặt đứt khát ái, giải tỏa kiết sử, do chánh pháp nhiếp phục kiêu mạn, đoạn tận khổ đau.

Này các Tỷ-kheo, có năm giới đưa đến xuất ly này.