Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về Xứng Đáng Được Cúng Dường

AN 6.1 Xứng Đáng Được Cúng Dường (1) Paṭhamaāhuneyyasutta

TÔI NGHE NHƯ VẦY. Một thời Đức Phật trú gần Sāvatthī, tại Rừng Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika. Tại đó, Đức Phật gọi các khất sĩ (mendicant / người tu sĩ sống bằng khất thực): “Này các khất sĩ!”

“Bạch Thế Tôn,” họ đáp. Đức Phật dạy điều này:

"Này các khất sĩ, một vị khất sĩ có sáu phẩm chất thì xứng đáng được cúng dường (worthy of offerings dedicated to the gods / xứng đáng nhận vật phẩm dâng cúng), xứng đáng được nghênh đón (worthy of hospitality / xứng đáng được tiếp đãi), xứng đáng được bố thí (worthy of a religious donation / xứng đáng nhận vật phẩm tặng), xứng đáng được chắp tay kính lễ (worthy of veneration with joined palms / xứng đáng được tôn kính), và là ruộng phước vô thượng (supreme field of merit / nơi gieo trồng phước báu tốt nhất) cho đời. Sáu phẩm chất nào?

Đó là vị khất sĩ, khi mắt thấy sắc, không vui cũng không buồn. Vị ấy giữ tâm xả (equanimous / trạng thái tâm bình thản, không dao động), tỉnh thức (mindful / sự chú tâm, nhận biết rõ ràng) và tỉnh giác (aware / sự nhận biết rõ ràng).

Khi tai nghe tiếng…

Khi mũi ngửi mùi…

Khi lưỡi nếm vị…

Khi thân cảm xúc…

Khi ý biết pháp, vị ấy không vui cũng không buồn. Vị ấy giữ tâm xả, tỉnh thức và tỉnh giác.

Một vị khất sĩ có sáu phẩm chất này thì xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được nghênh đón, xứng đáng được bố thí, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời."

Đó là những gì Đức Phật đã dạy. Các vị khất sĩ hoan hỷ, tín thọ lời Đức Phật dạy.

I. Phẩm Ðáng Ðược Cung Kính

(I) (1) Ðáng Ðược Cung Kính (1)

1. Như vầy tôi nghe:

Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthì, Jetavana, tại khu vườn ông Anàthapindika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. - “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:

2. - Thành tựu sáu pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời. Thế nào là sáu?

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, không có ưa thích, không có ghét bỏ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác; khi tai nghe tiếng… khi mũi ngửi hương… khi lưỡi nếm vị… khi thân cảm xúc… khi ý biết pháp, không có ưa thích, không có ghét bỏ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác.

Thành tựu sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là vô thượng phước điền ở đời.

Thế Tôn thuyết như vậy. Các vị Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

AN 6.2 Xứng Đáng Được Cúng Dường (2) Dutiyaāhuneyyasutta

"Này các khất sĩ, một vị khất sĩ có sáu phẩm chất thì xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được nghênh đón, xứng đáng được bố thí, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời. Sáu phẩm chất nào?

Đó là vị khất sĩ thể hiện được nhiều loại thần thông (psychic power / năng lực siêu nhiên): từ một thân hiện ra nhiều thân, rồi từ nhiều thân hiện lại một thân; hiện hình, biến mất; đi xuyên qua tường, qua thành lũy, qua núi không bị trở ngại như đi trong hư không; độn thổ trồi lên như ở trong nước; đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết già bay giữa hư không như chim; dùng tay chạm và rờ mặt trăng, mặt trời, những vật có đại thần lực, đại uy lực như vậy. Vị ấy có thể dùng thân điều khiển mọi thứ cho đến cõi Phạm thiên.

Với thiên nhĩ thông (clairaudience / khả năng nghe được âm thanh siêu phàm) thanh tịnh, siêu phàm, vị ấy nghe được cả hai loại âm thanh, của loài người và chư thiên, dù xa hay gần.

Vị ấy hiểu được tâm của các chúng sinh (sentient beings / các loài hữu tình) và cá nhân khác, thấu hiểu chúng bằng tâm của chính mình. Vị ấy hiểu tâm có tham (greed / lòng ham muốn) là ‘tâm có tham’, và tâm không tham là ‘tâm không tham’. Vị ấy hiểu tâm có tức giận (hate / lòng căm ghét, tức giận)… tâm không tức giận… tâm có si (delusion / sự mê lầm, không sáng suốt)… tâm không si… tâm co rút (constricted mind / tâm trạng bị thu hẹp, không cởi mở)… tâm tán loạn (scattered mind / tâm trạng phân tán, không tập trung)… tâm quảng đại (expansive mind / tâm trạng rộng lớn, bao dung)… tâm không quảng đại (unexpansive mind / tâm trạng không rộng lớn)… tâm chưa vô thượng (mind that is not supreme / tâm trạng chưa đạt đến mức cao nhất)… tâm vô thượng (mind that is supreme / tâm trạng đã đạt đến mức cao nhất)… tâm nhập định (mind immersed in samādhi / tâm trạng tập trung cao độ)… tâm không nhập định… tâm giải thoát (freed mind / tâm trạng thoát khỏi ràng buộc)… Vị ấy hiểu tâm chưa giải thoát (unfreed mind / tâm trạng còn bị ràng buộc) là ‘tâm chưa giải thoát’. (samādhi (samādhi / sự định tâm))

Vị ấy nhớ lại được nhiều đời sống quá khứ (túc mạng thông (recollection of past lives / khả năng nhớ lại các kiếp trước)). Nghĩa là: một, hai, ba, bốn, năm, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, một trăm, một ngàn, một trăm ngàn kiếp (eons / khoảng thời gian rất dài); nhiều kiếp thế giới hoại, nhiều kiếp thế giới thành, nhiều kiếp thế giới thành và hoại. Vị ấy nhớ: ‘Tại đó, ta có tên như thế này, dòng họ như thế kia, hình dáng như thế này, và thức ăn của ta là thế đó. Ta đã cảm nhận khổ và vui như thế này, và tuổi thọ của ta kết thúc như thế đó. Khi ta mệnh chung từ nơi đó, ta được tái sinh ở nơi khác. Tại đó, ta cũng có tên như thế này, dòng họ như thế kia, hình dáng như thế này, và thức ăn của ta là thế đó. Ta đã cảm nhận khổ và vui như thế này, và tuổi thọ của ta kết thúc như thế đó. Khi ta mệnh chung từ nơi đó, ta được tái sinh ở đây.’ Và cứ thế, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ của mình, với các đặc điểm và chi tiết.

Với thiên nhãn thông (clairvoyance / khả năng nhìn thấy các cảnh giới siêu phàm) thanh tịnh, siêu phàm, vị ấy thấy chúng sinh chết đi và tái sinh—hạ liệt và cao sang, xinh đẹp và xấu xí, ở nơi tốt đẹp hay nơi đau khổ. Vị ấy hiểu chúng sinh tái sinh tùy theo nghiệp của họ: ‘Những chúng sinh thân thương này đã làm điều xấu qua thân, khẩu, và ý. Họ phỉ báng các bậc Thánh (noble ones / những người đã đạt đạo); họ có tà kiến (wrong view / cái thấy sai lầm); và họ đã chọn hành động theo tà kiến đó. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ tái sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục (place of loss, a bad place, the underworld, hell / những nơi tái sinh đau khổ). Tuy nhiên, những chúng sinh thân thương này đã làm điều tốt qua thân, khẩu, và ý. Họ không bao giờ phỉ báng các bậc Thánh; họ có chánh kiến (right view / cái thấy đúng đắn); và họ đã chọn hành động theo chánh kiến đó. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ tái sinh vào thiện thú, cõi trời (good place, a heavenly realm / những nơi tái sinh an vui).’ Và cứ thế, với thiên nhãn thông thanh tịnh, siêu phàm, vị ấy thấy chúng sinh chết đi và tái sinh—hạ liệt và cao sang, xinh đẹp và xấu xí, ở nơi tốt đẹp hay nơi đau khổ. Vị ấy hiểu chúng sinh tái sinh tùy theo nghiệp của họ.

Vị ấy chứng ngộ tâm giải thoát (freedom of heart / sự giải thoát của tâm) và tuệ giải thoát (freedom by wisdom / sự giải thoát nhờ trí tuệ) không còn lậu hoặc (defilements / những phiền não làm ô nhiễm tâm) ngay trong đời này. Và vị ấy an trú trong sự chứng ngộ đó bằng thắng trí (insight / sự hiểu biết sâu sắc, trực tiếp) của mình do sự đoạn tận các lậu hoặc.

Một vị khất sĩ có sáu phẩm chất này thì xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được nghênh đón, xứng đáng được bố thí, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời."

(II) (2) Ðáng Ðược Cung Kính (2)

1. - Thành tựu sáu pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính… là vô thượng phước điền ở đời. Thế nào là sáu?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chứng được các loại thần thông: một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân, hiện hình, biến hình, đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không, độn thổ trồi lên ngang qua đất liền, như ở trong nước, đi trên nước không chìm như trên đất liền, ngồi kiết già hay đi trên hư không như con chim, với bàn tay chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy, có thể tự thân bay đến Phạm thiên.

3. Với thiên nhĩ thuần tịnh siêu nhân, nghe được hai loại tiếng, chư Thiên và loài Người ở xa và gần.

4. Sau khi đi sâu vào tâm của chúng sanh, của loài Người với tâm của mình, vị ấy rõ biết như sau: “Tâm có tham, rõ biết là tâm có tham, hay tâm ly tham… hay tâm có sân… hay tâm ly sân… hay tâm có si… hay tâm ly si… hay tâm chuyên chú… hay tâm tán loạn… hay đại hành tâm… hay không phải đại hành tâm… hay tâm chưa vô thượng… hay tâm vô thượng… hay tâm Thiền định… hay tâm không Thiền định… hay tâm giải thoát… hay tâm không giải thoát, rõ biết là tâm không giải thoát”.

5. Nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời; nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp; vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.

6. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Các chúng sanh này làm những ác hạnh về thân, ngữ, ý, phỉ báng các bậc thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh này làm những thiện hạnh về thân, ngữ, ý, không phỉ báng các bậc thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các cõi thiện, cõi trời, cõi đời này. Như vậy, vị ấy với Thiên nhãn, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Do đoạn tận các lậu hoặc, vị ấy ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

Thành tựu sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là vô thượng phước điền ở đời.

AN 6.3 Các Căn Indriyasutta

“Này các khất sĩ, một vị khất sĩ có sáu phẩm chất thì xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được nghênh đón, xứng đáng được bố thí, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời. Sáu phẩm chất nào? Các căn (faculties / khả năng tiềm ẩn của tâm): niềm tin (faith / lòng tin), siêng năng (energy / sự nỗ lực, tinh tấn), tỉnh thức (mindfulness / sự chú tâm), định (immersion / sự tập trung tâm), và trí tuệ (wisdom / sự hiểu biết đúng đắn). Và vị ấy chứng ngộ tâm giải thoát và tuệ giải thoát không còn lậu hoặc ngay trong đời này, và an trú trong sự chứng ngộ đó bằng thắng trí của mình do sự đoạn tận các lậu hoặc. Một vị khất sĩ có sáu phẩm chất này thì xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được nghênh đón, xứng đáng được bố thí, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời.”

(III) (3) Các Căn

1. - Thành tựu sáu pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính… là phước điền vô thượng ở đời. Thế nào là sáu?

2. Với tín căn, với tấn căn, với niệm căn, với định căn, với tuệ căn, do đoạn tận các lậu hoặc, tự mình với thắng trí, ngay trong hiện tại chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

Thành tựu sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính… là vô thượng phước điền ở đời.

AN 6.4 Các Lực Balasutta

“Này các khất sĩ, một vị khất sĩ có sáu phẩm chất thì xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được nghênh đón, xứng đáng được bố thí, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời. Sáu phẩm chất nào? Các lực (powers / sức mạnh nội tâm): lực niềm tin, lực siêng năng, lực tỉnh thức, lực định, và lực trí tuệ. Và vị ấy chứng ngộ tâm giải thoát và tuệ giải thoát không còn lậu hoặc ngay trong đời này, và an trú trong sự chứng ngộ đó bằng thắng trí của mình do sự đoạn tận các lậu hoặc. Một vị khất sĩ có sáu phẩm chất này thì xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được nghênh đón, xứng đáng được bố thí, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời.”

(IV) (4) Các Lực

1. - Thành tựu sáu pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính… là vô thượng phước điền ở đời. Thế nào là sáu?

2. Tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực, tuệ lực, do đoạn tận các lậu hoặc, tự mình với thắng trí, ngay trong hiện tại, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

Thành tựu sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính… là vô thượng phước điền ở đời.

AN 6.5 Ngựa Thuần Chủng (1) Paṭhamaājānīyasutta

"Này các khất sĩ, một con ngựa thuần chủng (thoroughbred / giống ngựa tốt) của hoàng gia có sáu yếu tố thì xứng đáng với vua, phù hợp để phục vụ vua, và được xem là một yếu tố của vương quyền.

Sáu yếu tố nào? Đó là khi một con ngựa thuần chủng của hoàng gia có thể chịu đựng được sắc, thanh, hương, vị, và xúc. Và nó đẹp. Một con ngựa thuần chủng của hoàng gia có sáu yếu tố này thì xứng đáng với vua, phù hợp để phục vụ vua, và được xem là một yếu tố của vương quyền.

Tương tự như vậy, một vị khất sĩ có sáu phẩm chất thì xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được nghênh đón, xứng đáng được bố thí, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời. Sáu phẩm chất nào? Đó là khi một vị khất sĩ có thể chịu đựng được sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp. Một vị khất sĩ có sáu phẩm chất này thì xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được nghênh đón, xứng đáng được bố thí, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời."

(V) (5) Con Ngựa Thuần Chủng (1).

1- Thành tựu sáu chi phần, này các Tỷ-kheo, một con ngựa hiền thiện, thuần chủng của vua, xứng đáng cho vua dùng, là tài sản của vua, và được xem là một biểu tượng của vua. Thế nào là sáu?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, con ngựa hiền thiện thuần chủng của vua kham nhẫn các sắc, kham nhẫn các tiếng, kham nhẫn các hương, kham nhẫn các vị, kham nhẫn các xúc, và đầy đủ dung sắc.

Thành tựu sáu chi phần này, này các Tỷ-kheo, một con ngựa hiền thiện, thuần chủng của vua, xứng đáng cho vua dùng, là tài sản của vua, và được xem là một biểu tượng của vua. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thành tựu sáu pháp, Tỷ-kheo đáng được cúng dường… là ruộng phước vô thượng ở đời. Thế nào là sáu? 3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo kham nhẫn các sắc, kham nhẫn các tiếng, kham nhẫn các hương, kham nhẫn các vị, kham nhẫn các xúc, kham nhẫn các pháp.

Thành tựu sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính… là ruộng phước vô thượng ở đời.

AN 6.6 Ngựa Thuần Chủng (2) Dutiyaājānīyasutta

"Này các khất sĩ, một con ngựa thuần chủng của hoàng gia có sáu yếu tố thì xứng đáng với vua, phù hợp để phục vụ vua, và được xem là một yếu tố của vương quyền. Sáu yếu tố nào? Đó là khi một con ngựa thuần chủng của hoàng gia có thể chịu đựng được sắc, thanh, hương, vị, và xúc. Và nó mạnh mẽ. Một con ngựa thuần chủng của hoàng gia có sáu yếu tố này thì xứng đáng với vua, phù hợp để phục vụ vua, và được xem là một yếu tố của vương quyền.

Tương tự như vậy, một vị khất sĩ có sáu phẩm chất thì xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được nghênh đón, xứng đáng được bố thí, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời. Sáu phẩm chất nào? Đó là khi một vị khất sĩ có thể chịu đựng được sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp. Một vị khất sĩ có sáu phẩm chất này thì xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được nghênh đón, xứng đáng được bố thí, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời."

AN 6.7 Ngựa Thuần Chủng (3) Tatiyaājānīyasutta

"Này các khất sĩ, một con ngựa thuần chủng của hoàng gia có sáu yếu tố thì xứng đáng với vua, phù hợp để phục vụ vua, và được xem là một yếu tố của vương quyền. Sáu yếu tố nào? Đó là khi một con ngựa thuần chủng của hoàng gia có thể chịu đựng được sắc, thanh, hương, vị, và xúc. Và nó nhanh nhẹn. Một con ngựa thuần chủng của hoàng gia có sáu yếu tố này thì xứng đáng với vua, phù hợp để phục vụ vua, và được xem là một yếu tố của vương quyền.

Tương tự như vậy, một vị khất sĩ có sáu phẩm chất thì xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được nghênh đón, xứng đáng được bố thí, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời. Sáu phẩm chất nào? Đó là khi một vị khất sĩ có thể chịu đựng được sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp. Một vị khất sĩ có sáu phẩm chất này thì xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được nghênh đón, xứng đáng được bố thí, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời."

(VI - VII) (6 - 7) Con Ngựa Thuần Chủng (2)

(Như kinh trên, số 5, chỉ thay đổi “đầy đủ dung sắc”, với “đầy đủ sức mạnh” cho số 6, và với “đầy đủ tốc lực” cho số 7).

AN 6.8 Vô Thượng Anuttariyasutta

“Này các khất sĩ, có sáu điều vô thượng (unsurpassable / không gì hơn được) này. Sáu điều nào? Cái thấy vô thượng, cái nghe vô thượng, sự thu hoạch (acquisition / sự đạt được lợi ích) vô thượng, sự rèn luyện (training / sự thực hành, tu tập) vô thượng, sự phục vụ (service / sự chăm sóc, hầu hạ) vô thượng, và sự tùy niệm (recollection / sự nhớ lại, quán niệm) vô thượng. Đây là sáu điều vô thượng.”

(VIII) (8) Vô Thượng

1. - Có sáu vô thượng này, này các Tỷ-kheo, thế nào là sáu?

2. Kiến vô thượng, văn vô thượng, lợi đắc vô thượng, học vô thượng, hành vô thượng, tùy niệm vô thượng. Này các Tỷ-kheo, có sáu vô thượng này.

AN 6.9 Các Đề Mục Tùy Niệm Anussatiṭṭhānasutta

“Này các khất sĩ, có sáu đề mục tùy niệm (topics for recollection / các đối tượng để quán niệm) này. Sáu đề mục nào? Tùy niệm Đức Phật (Buddha / Bậc Giác Ngộ), tùy niệm Pháp (teaching / lời dạy của Đức Phật), tùy niệm Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng tu sĩ Phật giáo), tùy niệm giới hạnh (ethics / phẩm hạnh đạo đức), tùy niệm bố thí (generosity / lòng rộng rãi, cho đi), và tùy niệm chư thiên (deities / các vị trời). Đây là sáu đề mục tùy niệm.”

(IX) (9) Tùy Niệm Xứ

1. - Này các Tỷ-kheo, có sáu tùy niệm xứ này. Thế nào là sáu?

2. Tùy niệm Phật, tùy niệm Pháp, tùy niệm Tăng, tùy niệm Giới, tùy niệm Thí, tùy niệm Thiên.

Này các Tỷ-kheo, có sáu tùy niệm này.

AN 6.10 Với Mahānāma Mahānāmasutta

Một thời Đức Phật trú tại xứ của dòng họ Sakya, gần Kapilavatthu, trong Tu viện Cây Bàng (Nigrodhārāma). Bấy giờ, Mahānāma thuộc dòng họ Sakya đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và thưa với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, khi một Thánh đệ tử (noble disciple / người đệ tử đã chứng Thánh quả) đã chứng quả (reached the fruit / đạt được kết quả tu tập) và thông hiểu giáo pháp (understood the instructions / hiểu rõ lời dạy), vị ấy thường xuyên thực hành loại thiền định (meditation / phương pháp tu tập tâm) nào?”

"Này Mahānāma, khi một Thánh đệ tử đã chứng quả và thông hiểu giáo pháp, vị ấy thường xuyên thực hành loại thiền định này.

Thứ nhất, một Thánh đệ tử tùy niệm Như Lai (Realized One / Bậc đã đến như vậy, một danh hiệu của Phật): ‘Đức Thế Tôn (Blessed One / Bậc được tôn kính trên đời, một danh hiệu của Phật) đó là bậc A-la-hán (perfected / bậc đã hoàn thiện, diệt hết phiền não), bậc Chánh Đẳng Giác (fully awakened Buddha / bậc tự mình giác ngộ hoàn toàn), Minh Hạnh Túc (accomplished in knowledge and conduct / đầy đủ trí tuệ và đức hạnh), Thiện Thệ (holy / bậc đi đến an lành), Thế Gian Giải (knower of the world / bậc hiểu biết thế gian), Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu (supreme guide for those who wish to train / bậc tối cao dẫn dắt người cần điều phục), Thiên Nhân Sư (teacher of gods and humans / thầy của trời và người), bậc Phật (awakened / bậc tỉnh thức, giác ngộ), bậc Thế Tôn.’ Khi một Thánh đệ tử tùy niệm Như Lai, tâm vị ấy không tràn đầy tham, tức giận, và si. Lúc đó, tâm vị ấy chánh hướng (unswerving / hướng thẳng, không lệch lạc), đặt nền tảng nơi Như Lai. Một Thánh đệ tử có tâm chánh hướng sẽ tìm thấy sự hân hoan về ý nghĩa (inspiration in the meaning) và sự hân hoan về Pháp (inspiration in the teaching), và tìm thấy niềm vui liên hệ đến Pháp (joy connected with the teaching). Khi vị ấy vui mừng (joyful), hỷ (rapture / niềm vui phấn khởi) khởi sinh. Khi tâm tràn đầy hỷ, thân trở nên an tĩnh (tranquil / yên lặng, nhẹ nhàng). Khi thân an tĩnh, vị ấy cảm thấy an vui (bliss / cảm giác hạnh phúc, dễ chịu). Và khi an vui, tâm trở nên nhập định (immersed in samādhi / tâm tập trung cao độ). Đây được gọi là một Thánh đệ tử sống quân bình (lives in balance / sống hài hòa, không thiên lệch) giữa những người không quân bình (unbalanced / mất cân bằng, thiên lệch), và sống không phiền não (untroubled / không bị lo âu, khổ sở) giữa những người phiền não (troubled / bị lo âu, khổ sở). Vị ấy đã nhập vào dòng Pháp (stream of the teaching / dòng chảy của giáo pháp) và phát triển sự tùy niệm Đức Phật.

Lại nữa, một Thánh đệ tử tùy niệm Pháp: ‘Pháp đã được Đức Phật khéo giảng dạy—thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, mời đến để thấy, có khả năng hướng thượng, để người trí tự mình giác hiểu.’ Khi một Thánh đệ tử tùy niệm Pháp, tâm vị ấy không tràn đầy tham, tức giận, và si… Đây được gọi là một Thánh đệ tử sống quân bình giữa những người không quân bình, và sống không phiền não giữa những người phiền não. Vị ấy đã nhập vào dòng Pháp và phát triển sự tùy niệm Pháp.

Lại nữa, một Thánh đệ tử tùy niệm Tăng đoàn: ‘Tăng đoàn đệ tử của Đức Phật là những người hành theo thiện đạo (practicing the way that’s good / thực hành con đường tốt lành), trực đạo (sincere / thực hành con đường ngay thẳng), như lý đạo (systematic / thực hành con đường hợp lý), và chánh đạo (proper / thực hành con đường đúng đắn). Bao gồm bốn đôi, tám chúng (four pairs, the eight individuals / chỉ các bậc Thánh từ Nhập Lưu đến A-la-hán, tính theo Đạo và Quả). Đây là Tăng đoàn đệ tử của Đức Phật xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được nghênh đón, xứng đáng được bố thí, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời.’ Khi một Thánh đệ tử tùy niệm Tăng đoàn, tâm vị ấy không tràn đầy tham, tức giận, và si… Đây được gọi là một Thánh đệ tử sống quân bình giữa những người không quân bình, và sống không phiền não giữa những người phiền não. Vị ấy đã nhập vào dòng Pháp và phát triển sự tùy niệm Tăng đoàn.

Lại nữa, một Thánh đệ tử tùy niệm về giới hạnh của chính mình, những giới hạnh không sứt mẻ (intact / nguyên vẹn), không tỳ vết (impeccable / không lỗi lầm), không đốm (spotless / trong sạch), và không vết (unmarred / không hư hại), đem lại giải thoát (liberating / giúp thoát khỏi ràng buộc), được người trí tán thán (praised by sensible people / được người có trí tuệ khen ngợi), không sai lạc (not mistaken / không bị nhầm lẫn), và đưa đến định tâm (leading to immersion / giúp tâm tập trung). Khi một Thánh đệ tử tùy niệm về giới hạnh của mình, tâm vị ấy không tràn đầy tham, tức giận, và si… Đây được gọi là một Thánh đệ tử sống quân bình giữa những người không quân bình, và sống không phiền não giữa những người phiền não. Vị ấy đã nhập vào dòng Pháp và phát triển sự tùy niệm giới hạnh.

Lại nữa, một Thánh đệ tử tùy niệm về sự bố thí của chính mình: ‘Thật may mắn cho ta, thật lợi ích cho ta! Giữa những người đầy vết nhơ keo kiệt (stain of stinginess / sự ô nhiễm của lòng bỏn xẻn), ta sống tại gia thoát khỏi keo kiệt (stinginess / lòng bỏn xẻn), rộng rãi bố thí (freely generous / sẵn lòng cho đi), bàn tay rộng mở (open-handed / sẵn sàng giúp đỡ, cho đi), thích xả ly (loving to let go / ưa thích sự buông bỏ), sẵn lòng làm từ thiện (committed to charity / quyết tâm làm việc thiện), thích cho và chia sẻ (loving to give and to share / ưa thích việc ban tặng và san sẻ).’ Khi một Thánh đệ tử tùy niệm về sự bố thí của mình, tâm vị ấy không tràn đầy tham, tức giận, và si… Đây được gọi là một Thánh đệ tử sống quân bình giữa những người không quân bình, và sống không phiền não giữa những người phiền não. Vị ấy đã nhập vào dòng Pháp và phát triển sự tùy niệm bố thí.

Lại nữa, một Thánh đệ tử tùy niệm chư thiên: ‘Có chư thiên Tứ Đại Thiên Vương (gods of the four great kings / các vị trời ở cõi trời thứ nhất Dục giới), chư thiên Đao Lợi (gods of the thirty-three / các vị trời ở cõi trời thứ hai Dục giới), chư thiên Dạ Ma (gods of Yama / các vị trời ở cõi trời thứ ba Dục giới), chư thiên Đâu Suất (joyful gods / các vị trời ở cõi trời thứ tư Dục giới), chư thiên Hóa Lạc (gods who love to imagine / các vị trời ở cõi trời thứ năm Dục giới), chư thiên Tha Hóa Tự Tại (gods who control what is imagined by others / các vị trời ở cõi trời thứ sáu Dục giới), chư thiên Phạm Chúng Thiên (gods of the Divinity’s host / các vị trời thuộc cõi Sơ thiền Sắc giới), và các vị trời cao hơn nữa (gods even higher than these / các vị trời ở các cõi cao hơn). Khi các vị chư thiên đó mệnh chung từ đây, họ được tái sinh ở đó là nhờ có niềm tin, giới hạnh, học hỏi (learning / sự nghe và hiểu giáo pháp), bố thí, và trí tuệ. Ta cũng có cùng loại niềm tin, giới hạnh, học hỏi, bố thí, và trí tuệ như vậy.’ Khi một Thánh đệ tử tùy niệm về niềm tin, giới hạnh, học hỏi, bố thí, và trí tuệ của cả chính mình và chư thiên, tâm vị ấy không tràn đầy tham, tức giận, và si. Lúc đó, tâm vị ấy chánh hướng, đặt nền tảng nơi chư thiên. Một Thánh đệ tử có tâm chánh hướng sẽ tìm thấy sự hân hoan về ý nghĩa và sự hân hoan về Pháp, và tìm thấy niềm vui liên hệ đến Pháp. Khi bạn vui mừng, hỷ khởi sinh. Khi tâm tràn đầy hỷ, thân trở nên an tĩnh. Khi thân an tĩnh, bạn cảm thấy an vui. Và khi bạn an vui, tâm trở nên nhập định. Đây được gọi là một Thánh đệ tử sống quân bình giữa những người không quân bình, và sống không phiền não giữa những người phiền não. Vị ấy đã nhập vào dòng Pháp và phát triển sự tùy niệm chư thiên.

Khi một Thánh đệ tử đã chứng quả và thông hiểu giáo pháp, đây là loại thiền định mà vị ấy thường xuyên thực hành."

(X) (10) Mahànàma

1. Một thời, Thế Tôn trú giữa các vị Thích - ca, tại Kapilavatthu, khu vườn Nigrodha. Rồi họ Thích Mahànàma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, họ Thích Mahànàma bạch Thế Tôn:

− Vị Thánh đệ tử này, bạch Thế Tôn, đã đi đến quả, đã liễu giải giáo pháp, đời sống gì vị ấy sống một cách sung mãn?

− Này Mahànàma, Thánh đệ tử nào đã đi đến quả, đã liễu giải giáo pháp, với nếp sống này, sống một cách sung mãn.

2. Ở đây, này Mahànàma, Thánh đệ tử tùy niệm Như Lai: “Ðây là Thế Tôn… Phật, Thế Tôn”. Khi nào, này Mahànàma, Thánh đệ tử niệm Như Lai, trong khi ấy, tâm không bị tham chi phối, tâm không bị sân chi phối, tâm không bị si chi phối; trong khi ấy, tâm vị ấy được chánh trực, nhờ dựa vào Như Lai. Và này Mahànàma, một Thánh đệ tử, với tâm chánh trực, được nghĩa tín thọ, được pháp tín thọ, được hân hoan liên hệ đến pháp. Người có hân hoan, nên hỷ sanh. Người có hỷ, nên thân được khinh an. Với thân khinh an, vị ấy cảm giác lạc thọ. Người có lạc thọ, tâm được định tĩnh.

Này Mahànàma, về vị Thánh đệ tử này, được nói như sau: “Với quần chúng không bình thản, vị ấy sống bình thản. Với quần chúng có não hại, vị ấy sống không não hại. Nhập được pháp lưu, vị ấy tu tập niệm Phật”.

3. Lại nữa, này Mahànàma, Thánh đệ tử tùy niệm Pháp: “Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những bậc trí tự mình giác hiểu!”. Này Mahànama, trong khi vị Thánh đệ tử tùy niệm Pháp, trong khi ấy, tâm không bị tham chi phối, không bị sân chi phối, không bị si chi phối; trong khi ấy, tâm vị ấy được chánh trực, nhờ dựa vào Pháp. Và này Mahànama, Thánh đệ tử với tâm chánh trực, được nghĩa tín thọ, được pháp tín thọ, được hân hoan liên hệ đến pháp. Người có hân hoan, nên hỷ sanh. Người có hỷ, nên thân được khinh an. Với thân khinh an, vị ấy cảm giác lạc thọ. Người có lạc thọ, tâm được định tĩnh.

Này Mahànàma, về vị Thánh đệ tử này được nói như sau: “Với quần chúng không bình thản, vị ấy sống bình thản. Với quần chúng có não hại, vị ấy sống không não hại. Nhập được pháp lưu, vị ấy tu tập niệm Pháp”.

4. Lại nữa, này Mahànàma, Thánh đệ tử tùy niệm Tăng: “Diệu hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn. ng lý hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn. Chánh hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám vị. Chúng đệ tử Thế Tôn này đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là vô thượng phước điền ở đời”. Này Mahànàma, trong khi Thánh đệ tử tùy niệm chúng Tăng, trong khi ấy, tâm không bị tham chi phối… tâm được định tĩnh.

Này Mahànàma, về vị Thánh đệ tử này, được nói như sau: “Với quần chúng không bình thản, vị ấy sống bình thản. Với quần chúng có não hại, vị ấy sống không não hại. Nhập được pháp lưu, vị ấy tu tập niệm Tăng”.

5. Lại nữa, này Mahànàma, Thánh đệ tử tùy niệm các Giới của mình: “Giới không bị bể vụn, không bị sứt mẻ, không bị vết chấm, không có uế tạp, đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến Thiền định”. Này Mahànàma, trong khi Thánh đệ tử tùy niệm Giới, trong khi ấy, tâm không bị tham chi phối… tâm được định tĩnh.

Này Mahànàma, về vị Thánh đệ tử này, được nói như sau: “Với quần chúng không bình thản, vị ấy sống bình thản. Với quần chúng có não hại, vị ấy sống không não hại. Nhập được pháp lưu, vị ấy tu tập niệm Giới”.

6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử tự mình niệm Thí của mình: “Thật là được lợi cho ta! Thật là khéo được lợi cho ta, vì rằng với quần chúng bị cấu uế xan tham chi phối, ta sống trong gia đình, với tâm không bị cấu uế của xan tham chi phối, bố thí rộng rãi với bàn tay sạch sẽ, ưa thích từ bỏ, sẵn sàng để được yêu cầu, ưa thích phân phát vật bố thí”. Này Mahànàma, trong khi vị Thánh đệ tử tùy niệm bố thí, trong khi ấy, tâm không bị tham chi phối… tâm được định tĩnh.

Này Mahànàma, về vị Thánh đệ tử này, được nói như sau: “Với quần chúng không bình thản, vị ấy sống bình thản. Với quần chúng có não hại, vị ấy sống không não hại. Nhập được pháp lưu, vị ấy tu tập niệm bố thí”.

7. Lại nữa, này Mahànama, Thánh đệ tử tu tập tùy niệm Thiên: “Có chư Thiên bốn Thiên vương Thiên, có chư Thiên cõi trời Ba mươi ba, có chư Thiên Yàma, có chư Thiên Tusità (Ðâu - suất), có chư Thiên Hóa lạc Thiên, có chư Thiên Tha hóa Tự tại, có chư Thiên Phạm chúng, có chư Thiên cao hơn nữa. Ðầy đủ với lòng tin như vậy, chư Thiên ấy, sau khi chết ở chỗ này, được sanh tại chỗ kia. Lòng tin như vậy cũng có đầy đủ nơi ta. Ðầy đủ với giới như vậy, chư Thiên ấy sau khi chết ở chỗ này, được sanh tại chỗ kia. Giới như vậy cũng có đầy đủ nơi ta. Ðầy đủ với nghe pháp như vậy, chư Thiên ấy sau khi chết ở chỗ này, được sanh tại chỗ kia. Nghe pháp như vậy cũng có đầy đủ nơi ta. Ðầy đủ với Thí như vậy, chư Thiên ấy sau khi chết ở chỗ này, được sanh tại chỗ kia. Thí như vậy cũng có đầy đủ ở nơi ta. Ðầy đủ với Tuệ như vậy, chư Thiên ấy sau khi chết ở chỗ này, được sanh tại chỗ kia. Tuệ như vậy cũng đầy đủ nơi ta”. Khi vị ấy niệm Tín, Giới, nghe Pháp, Thí và Tuệ của tự mình và chư Thiên ấy; trong khi ấy, tâm không bị tham chi phối, tâm không bị sân chi phối, không bị si chi phối; trong khi ấy, tâm vị ấy được chánh trực nhờ dựa vào chư Thiên. Và này Mahànàma, Thánh đệ tử với tâm chánh trực được nghĩa tín thọ, được pháp tín thọ, được hân hoan liên hệ đến pháp. Người có hân hoan, nên hỷ sanh. Người có hỷ nên thân được khinh an. Với thân khinh an, vị ấy cảm giác lạc thọ. Người có lạc thọ, tâm được định tĩnh.

Này Mahànàma, về vị Thánh đệ tử này, được nói như sau: “Với quần chúng không bình thản, vị ấy sống bình thản. Với quần chúng có não hại, vị ấy sống không não hại. Nhập được pháp lưu, vị ấy tu tập niệm Thiên”.

Này Mahànàma, vị Thánh đệ tử nào đã đi đến quả, đã liễu giải giáo pháp, vị ấy sống một cách sung mãn với nếp sống này.