Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về Pháp Đáng Nhớ Tưởng

AN 6.11 Pháp Đáng Nhớ Tưởng (1) Paṭhamasāraṇīyasutta

"Này các Tỳ kheo, có sáu pháp đáng nhớ tưởng (warm-hearted qualities / những phẩm chất đáng nhớ, tạo sự hòa hợp) này. Sáu là gì?

Thứ nhất, vị Tỳ kheo luôn đối xử với các bạn đồng tu (spiritual companions / người cùng tu học) bằng thân hành từ ái (bodily kindness / hành động thân thể với lòng từ), cả khi công khai lẫn kín đáo. Đây là một pháp đáng nhớ tưởng.

Lại nữa, vị Tỳ kheo luôn đối xử với các bạn đồng tu bằng khẩu hành từ ái (verbal kindness / lời nói với lòng từ), cả khi công khai lẫn kín đáo. Đây cũng là một pháp đáng nhớ tưởng.

Lại nữa, vị Tỳ kheo luôn đối xử với các bạn đồng tu bằng ý hành từ ái (mental kindness / ý nghĩ với lòng từ) …

Lại nữa, vị Tỳ kheo chia sẻ không dè dặt bất kỳ vật dụng nào mình có được một cách hợp pháp, ngay cả thức ăn trong bình bát, dùng chung với các bạn đồng tu có giới hạnh (ethical / có đạo đức, giữ giới). Đây cũng là một pháp đáng nhớ tưởng.

Lại nữa, vị Tỳ kheo sống theo các giới (precepts / các điều học đạo đức) được chia sẻ cùng các bạn đồng tu, cả khi công khai lẫn kín đáo. Những giới ấy không bị sứt mẻ, không tì vết, không đốm, không hư hỏng, có tính giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ sai lầm, và đưa đến định tâm (immersion / sự tập trung tâm ý). Đây cũng là một pháp đáng nhớ tưởng.

Lại nữa, vị Tỳ kheo sống theo tri kiến (view / thấy biết, quan điểm) được chia sẻ cùng các bạn đồng tu, cả khi công khai lẫn kín đáo. Tri kiến ấy là cao thượng và đưa đến giải thoát (noble and emancipating / cao quý và dẫn đến sự thoát khỏi khổ đau), và đưa người thực hành nó đến chỗ chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Đây cũng là một pháp đáng nhớ tưởng.

Đó là sáu pháp đáng nhớ tưởng."

II. Phẩm Cần Phải Nhớ

(I) (11) Cần Phải Nhớ (1)

1. - Này các Tỷ-kheo, có sáu pháp cần phải ghi nhớ này. Thế nào là sáu?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo an trú thân làm từ đối với các đồng Phạm hạnh, trước mặt lẫn sau lưng. Ðây là pháp cần phải ghi nhớ.

3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo an trú lời nói từ đối với các đồng Phạm hạnh, trước mặt lẫn sau lưng. Ðây là pháp cần phải ghi nhớ.

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo an trú ý nghĩ từ đối với các đồng Phạm hạnh, trước mặt lẫn sau lưng. Ðây là pháp cần phải ghi nhớ.

5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với các lợi dưỡng đúng pháp, nhận được đúng pháp, cho đến những đồ vật nhận được chỉ trong bình bát, vị ấy không phải là người không san sẻ các đồ vật nhận được như vậy, phải là người san sẻ dùng chung với các đồng Phạm hạnh có giới đức. Ðây là pháp cần phải ghi nhớ.

6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với các Giới Luật không bị bể vụn, không bị sứt mẻ, không bị vết chấm, không bị uế nhiễm, giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đi đến Thiền định, Tỷ-kheo sống thành tựu Giới Luật trong các Giới Luật ấy đối với các đồng Phạm hạnh trước mặt lẫn sau lưng.

7. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối với các tri kiến thuộc bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chơn chánh diệt tận khổ đau, Tỷ-kheo sống thành tựu tri kiến với các tri kiến như vậy đối với các đồng Phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng.

Này các Tỷ-kheo, đây là sáu pháp cần phải ghi nhớ.

AN 6.12 Pháp Đáng Nhớ Tưởng (2) Dutiyasāraṇīyasutta

"Này các Tỳ kheo, sáu pháp đáng nhớ tưởng này tạo ra sự quý mến và kính trọng (fondness and respect / lòng yêu mến và tôn trọng), đưa đến sự hòa hợp, đoàn kết và thống nhất (inclusion, harmony, and unity / sự chấp nhận lẫn nhau, sống hòa thuận và đoàn kết), không tranh cãi. Sáu là gì?

Thứ nhất, vị Tỳ kheo luôn đối xử với các bạn đồng tu bằng thân hành từ ái, cả khi công khai lẫn kín đáo. Pháp đáng nhớ tưởng này tạo ra sự quý mến và kính trọng, đưa đến sự hòa hợp, đoàn kết và thống nhất, không tranh cãi.

Lại nữa, vị Tỳ kheo luôn đối xử với các bạn đồng tu bằng khẩu hành từ ái …

Lại nữa, vị Tỳ kheo luôn đối xử với các bạn đồng tu bằng ý hành từ ái …

Lại nữa, vị Tỳ kheo chia sẻ không dè dặt bất kỳ vật dụng nào mình có được một cách hợp pháp, ngay cả thức ăn trong bình bát, dùng chung với các bạn đồng tu có giới hạnh. Đây cũng là một pháp đáng nhớ tưởng.

Lại nữa, vị Tỳ kheo sống theo các giới được chia sẻ cùng các bạn đồng tu, cả khi công khai lẫn kín đáo. Những giới ấy không bị sứt mẻ, không tì vết, không đốm, không hư hỏng, có tính giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ sai lầm, và đưa đến định tâm. Đây cũng là một pháp đáng nhớ tưởng.

Lại nữa, vị Tỳ kheo sống theo tri kiến được chia sẻ cùng các bạn đồng tu, cả khi công khai lẫn kín đáo. Tri kiến ấy là cao thượng và đưa đến giải thoát, và đưa người thực hành nó đến chỗ chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Pháp đáng nhớ tưởng này tạo ra sự quý mến và kính trọng, đưa đến sự hòa hợp, đoàn kết và thống nhất, không tranh cãi.

Sáu pháp đáng nhớ tưởng này tạo ra sự quý mến và kính trọng, đưa đến sự hòa hợp, đoàn kết và thống nhất, không tranh cãi."

(II) (12) Cần Phải Nhớ (2)

1. - Có sáu pháp cần phải ghi nhớ này, này các Tỷ-kheo, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí. Thế nào là sáu?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo an trú thân làm từ đối với các vị đồng Phạm hạnh, trước mặt lẫn sau lưng. Ðây là pháp cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, không tranh luận, hòa hợp, nhất trí.

3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo an trú lời nói từ… ý nghĩ từ đối với các vị đồng Phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Ðây là pháp cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, không tranh luận, hòa hợp, nhất trí.

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đối với các lợi dưỡng đúng pháp, nhận được đúng pháp, cho đến những đồ vật nhận được chỉ trong bình bát, vị ấy không phải là người không san sẻ các đồ vật nhận được như vậy, phải là người san sẻ dùng chung với các vị đồng Phạm hạnh có giới đức. Ðây là pháp cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, không tranh luận, hòa hợp, nhất trí.

5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đối với các Giới Luật không bị bể vụn, không bị sứt mẻ, không bị vết chấm, không bị uế nhiễm, giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đi đến Thiền định, Tỷ-kheo sống thành tựu Giới Luật trong các Giới Luật ấy đối với các vị đồng Phạm hạnh, cả trước mặt lẫn sau lưng.

6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với các tri kiến thuộc bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chơn chánh diệt tận khổ đau, Tỷ-kheo sống thành tựu tri kiến với các tri kiến như vậy đối với các vị đồng Phạm hạnh, cả trước mặt lẫn sau lưng?

Ðây là sáu pháp cần phải ghi nhớ, này các Tỷ-kheo, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí.

AN 6.13 Pháp Đưa Đến Xuất Ly Nissāraṇīyasutta

"Này các Tỳ kheo, có sáu pháp đưa đến xuất ly (elements of escape / những yếu tố dẫn đến sự thoát khỏi) này. Sáu là gì?

Giả sử có vị Tỳ kheo nói: ‘Tôi đã phát triển tâm giải thoát bằng từ (heart’s release by love / sự giải thoát của tâm nhờ lòng từ). Tôi đã tu tập, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, thực hành vững chắc, tích lũy, khéo thực hành (cultivated it, made it my vehicle and my basis, kept it up, consolidated it, and properly implemented it / phát triển, làm cho lớn mạnh, làm phương tiện, làm nền tảng, duy trì, củng cố, thực hành đúng đắn) nó. Thế mà không hiểu sao tức giận (ill will / tức giận) vẫn chiếm ngự tâm tôi.’ Vị ấy nên được bảo: ‘Không phải vậy, thưa Tôn giả! Đừng nói thế. Đừng xuyên tạc Đức Phật, vì xuyên tạc Đức Phật là không tốt. Và Đức Phật sẽ không nói như vậy. Thưa Hiền giả, điều đó là không thể, không thể xảy ra rằng tâm giải thoát bằng từ đã được phát triển và thực hành đúng đắn, mà tức giận vẫn chiếm ngự tâm trí. Vì chính tâm giải thoát bằng từ là sự xuất ly khỏi tức giận.’

Giả sử có vị Tỳ kheo khác nói: ‘Tôi đã phát triển tâm giải thoát bằng bi (heart’s release by compassion / sự giải thoát của tâm nhờ lòng bi). Tôi đã tu tập, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, thực hành vững chắc, tích lũy, khéo thực hành nó. Thế mà không hiểu sao ý nghĩ làm hại (thought of harming / ý muốn gây tổn hại) vẫn chiếm ngự tâm tôi.’ Vị ấy nên được bảo: ‘Không phải vậy, thưa Tôn giả! … Vì chính tâm giải thoát bằng bi là sự xuất ly khỏi ý nghĩ làm hại.’

Giả sử có vị Tỳ kheo khác nói: ‘Tôi đã phát triển tâm giải thoát bằng hỷ (heart’s release by rejoicing / sự giải thoát của tâm nhờ niềm vui). Tôi đã tu tập, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, thực hành vững chắc, tích lũy, khéo thực hành nó. Thế mà không hiểu sao bất mãn (discontent / không hài lòng) vẫn chiếm ngự tâm tôi.’ Vị ấy nên được bảo: ‘Không phải vậy, thưa Tôn giả! … Vì chính tâm giải thoát bằng hỷ là sự xuất ly khỏi bất mãn.’

Giả sử có vị Tỳ kheo khác nói: ‘Tôi đã phát triển tâm giải thoát bằng xả (heart’s release by equanimity / sự giải thoát của tâm nhờ sự bình thản). Tôi đã tu tập, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, thực hành vững chắc, tích lũy, khéo thực hành nó. Thế mà không hiểu sao tham ái (desire / lòng ham muốn) vẫn chiếm ngự tâm tôi.’ Vị ấy nên được bảo: ‘Không phải vậy, thưa Tôn giả! … Vì chính tâm giải thoát bằng xả là sự xuất ly khỏi tham ái.’

Giả sử có vị Tỳ kheo khác nói: ‘Tôi đã phát triển vô tướng tâm giải thoát (signless release of the heart / sự giải thoát của tâm không còn dấu hiệu). Tôi đã tu tập, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, thực hành vững chắc, tích lũy, khéo thực hành nó. Thế mà không hiểu sao thức vẫn chạy theo các tướng (consciousness still follows after signs / tâm thức vẫn còn bám víu vào các dấu hiệu, hình tướng).’ Vị ấy nên được bảo: ‘Không phải vậy, thưa Tôn giả! … Vì chính vô tướng tâm giải thoát là sự xuất ly khỏi tất cả các tướng.’

Giả sử có vị Tỳ kheo khác nói: ‘Tôi đã thoát khỏi ngã mạn “ta là” (conceit “I am” / sự kiêu mạn về cái “ta”). Và tôi không coi bất cứ điều gì là “ta là cái này”. Thế mà không hiểu sao mũi tên nghi ngờ và do dự (dart of doubt and indecision / sự nghi hoặc và thiếu quyết đoán như mũi tên đâm vào tâm) vẫn chiếm ngự tâm tôi.’ Vị ấy nên được bảo: ‘Không phải vậy, thưa Tôn giả! Đừng nói thế. Đừng xuyên tạc Đức Phật, vì xuyên tạc Đức Phật là không tốt. Và Đức Phật sẽ không nói như vậy. Thưa Hiền giả, điều đó là không thể, không thể xảy ra rằng ngã mạn “ta là” đã bị loại bỏ, và không có gì được coi là “ta là cái này”, mà mũi tên nghi ngờ và do dự vẫn chiếm ngự tâm trí. Vì chính sự nhổ bỏ ngã mạn “ta là” là sự xuất ly khỏi mũi tên nghi ngờ và do dự.’

Đó là sáu pháp đưa đến xuất ly."

(III) (13) Xuất Ly Giới

1. - Này các Tỷ-kheo, có sáu pháp xuất ly giới này. Thế nào là sáu?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nói như sau: “Ta đã tu từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, tuy vậy, sân tâm vẫn ngự trị tâm ta”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, Hiền giả chớ có nói như vậy. Chớ có xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn như vậy không tốt. Thế Tôn không nói như vậy. Này Hiền giả, sự kiện không phải như vậy, trường hợp không phải như vậy. Ai tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, tuy vậy, sân tâm vẫn ngự trị, an trú; sự kiện như vậy không xảy ra, này Hiền giả, cái này có khả năng giải thoát sân tâm, tức là từ tâm giải thoát”.

3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo nói như sau: “Ta đã tu tập, bi tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, tuy vậy, hại tâm vẫn ngự trị tâm ta”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, Hiền giả chớ có nói như vậy. Chớ có xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn như vậy không tốt. Thế Tôn không nói như vậy. Này Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Ai tu tập bi tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, tuy vậy, hại tâm vẫn ngự trị, an trú; sự kiện không xảy ra như vậy. Này Hiền giả, cái này có khả năng giải thoát hạt tâm, tức là bi tâm giải thoát”.

4. Này các Tỷ-kheo, ở đây vị Tỷ-kheo nói như sau: “Ta đã tu tập hỷ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, tuy vậy, bất lạc tâm vẫn ngự trị tâm ta”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy. Hiền giả chớ nói như vậy. Chớ có xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn như vậy thật không tốt. Thế Tôn không nói như vậy. Này Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập hỷ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, tuy vậy, bất lạc tâm vẫn ngự trị, an trú; sự kiện không xảy ra như vậy. Này Hiền giả, cái này có khả năng giải thoát bất lạc tâm, tức là hỷ tâm giải thoát”.

5. Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo nói như sau: “Ta đã tu tập xả tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, tuy vậy, tham tâm vẫn ngự trị tâm ta”. Vị ấy cần được nói: “Chớ có như vậy, Hiền giả chớ nói như vậy. Chớ có xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn như vậy thật không tốt. Thế Tôn không nói như vậy. Này Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập xả tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, tuy vậy, tham tâm vẫn ngự trị an trú; sự kiện không xảy ra như vậy. Này Hiền giả, cái này có khả năng giải thoát tham tâm, tức là xả tâm giải thoát”.

6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nói như sau: “Ta đã tu tập vô tướng tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, tuy vậy, thức của ta vẫn tùy niệm tướng”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, Hiền giả chớ có nói như vậy. Chớ có xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn như vậy thật không tốt. Thế Tôn không nói như vậy. Này Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập vô tướng tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, thức vẫn sẽ tùy niệm tướng, an trú; sự kiện không xảy ra như vậy. Này Hiền giả, cái này có khả năng giải thoát tất cả tướng, tức là vô tướng tâm giải thoát”.

7. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào nói như sau: “Tôi đã từ bỏ tư tưởng “Tôi là”. Tôi không có tùy quán “Cái này là tôi”, tuy vậy, mũi tên nghi ngờ, do sự xâm chiếm tâm tôi và an trú”. Vị ấy cần được nói như sau: “Chớ có như vậy, Hiền giả chớ có nói như vậy. Chớ có xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn như vậy thật không tốt. Thế Tôn không nói như vậy. Này Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Với ai đã từ bỏ tư tưởng “Tôi là”, với ai không có tùy quán “Cái này là tôi”, tuy vậy, mũi tên nghi ngờ, do dự xâm chiếm tâm người ấy và an trú; sự kiện không xảy ra như vậy. Này Hiền giả, cái này có khả năng giải thoát mũi tên nghi hoặc do dự, tức là sự nhổ lên kiêu mạn “Tôi là””.

Này các Tỷ-kheo, đây là sáu pháp xuất ly giới.

AN 6.14 Cái Chết Tốt Đẹp Bhaddakasutta

Tại đó, Tôn giả Xá-lợi-phất nói với các Tỳ kheo: “Thưa các Hiền giả Tỳ kheo!”

“Thưa Hiền giả,” họ đáp. Tôn giả Xá-lợi-phất nói điều này:

"Có vị Tỳ kheo sống đời sống sao cho không có được cái chết tốt đẹp. Và làm thế nào họ sống đời sống sao cho không có được cái chết tốt đẹp?

Giả sử có vị Tỳ kheo ưa thích công việc, nói chuyện, ngủ nghỉ, hội chúng, sự gần gũi, và hý luận (proliferation / sự suy diễn, nói chuyện lan man). Họ yêu thích những điều này và thích thú tận hưởng chúng. Một vị Tỳ kheo sống đời sống như vậy không có được cái chết tốt đẹp. Đây gọi là vị Tỳ kheo ưa thích sự hiện hữu (substantial reality / sự tồn tại, sự có mặt), người chưa từ bỏ sự hiện hữu để chân chính chấm dứt khổ đau.

Có vị Tỳ kheo sống đời sống sao cho có được cái chết tốt đẹp. Và làm thế nào họ sống đời sống sao cho có được cái chết tốt đẹp?

Giả sử có vị Tỳ kheo không ưa thích công việc, nói chuyện, ngủ nghỉ, hội chúng, sự gần gũi, và hý luận. Họ không yêu thích những điều này hoặc không thích thú tận hưởng chúng. Một vị Tỳ kheo sống đời sống như vậy có được cái chết tốt đẹp. Đây gọi là vị Tỳ kheo ưa thích Niết-bàn (extinguishment / sự dập tắt phiền não, khổ đau), người đã từ bỏ sự hiện hữu để chân chính chấm dứt khổ đau.

Kẻ ưa thích hý luận,
Thích thú trong hý luận,
Không chứng được Niết-bàn,
Nơi an ổn khỏi các ách缚 (sanctuary from the yoke / nơi an toàn thoát khỏi sự trói buộc) tối thượng.

Nhưng người từ bỏ hý luận,
Thích thú trạng thái không hý luận,
Chứng được Niết-bàn,
Nơi an ổn khỏi các ách缚 tối thượng."

(IV) (14) Hiền Thiện

1. Tại đây, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỷ-kheo: “Này các Hiền giả Tỷ-kheo” - “Thưa Hiền giả”.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau:

2. - Này các Hiền giả, vị Tỷ-kheo nếu sống nếp sống như vậy, như vậy, do sống nếp sống như vậy, như vậy, khi lâm chung không được hiền thiện, khi mệnh chung không được hiền thiện! Và như thế nào, này các Hiền giả, Tỷ-kheo sống nếp sống như vậy, như vậy, khi lâm chung không được hiền thiện, khi mệnh chung không được hiền thiện?

3. Ở đây, này các Hiền giả, Tỷ-kheo ưa công việc, thích thú công việc, chuyên tâm ưa thích công việc; ưa nói chuyện, thích thú nói chuyện, chuyên tâm ưa thích nói chuyện; ưa ngủ, thích thú ngủ, chuyên tâm ưa thích ngủ; ưa hội chúng, thích thú hội chúng, chuyên tâm ưa thích hội chúng; ưa liên lạc giao thiệp, thích thú liên lạc giao thiệp, chuyên tâm ưa thích liên lạc giao thiệp; ưa hý luận, thích thú hý luận, chuyên tâm ưa thích hý luận. Như vậy, này các Hiền giả, Tỷ-kheo sống nếp sống như vậy, như vậy, khi lâm chung không được hiền thiện, khi mệnh chung không được hiền thiện. Này các Hiền giả, đây được gọi là Tỷ-kheo ái lạc có thân, không từ bỏ có thân để chân chánh chấm dứt khổ đau. 4. Này các Hiền giả, Tỷ-kheo nếu sống nếp sống như vậy, như vậy, do sống nếp sống như vậy, như vậy, khi lâm chung được hiền thiện, khi mệnh chung được hiền thiện. Và như thế nào, này các Hiền giả, Tỷ-kheo sống nếp sống như vậy, như vậy, khi lâm chung được hiền thiện, khi mạng chung được hiền thiện?

5. Ở đây, này các Hiền giả, Tỷ-kheo không ưa công việc, không thích thú công việc, không chuyên tâm ưa thích công việc; không ưa nói chuyện, không thích thú nói chuyện, không chuyên tâm ưa thích nói chuyện; không ưa ngủ, không thích thú ngủ, không chuyên tâm ưa thích ngủ; không ưa hội chúng, không thích thú hội chúng, không chuyên tâm ưa thích hội chúng; không ưa liên lạc giao thiệp, không thích thú liên lạc giao thiệp, không chuyên tâm ưa thích liên lạc giao thiệp; không ưa hý luận, không thích thú hý luận, không chuyên tâm ưa thích hý luận. Như vậy, này các Hiền giả, Tỷ-kheo sống nếp sống như vậy, như vậy, khi lâm chung được hiền thiện, khi mệnh chung được hiền thiện. Này các Hiền giả, đây được gọi là Tỷ-kheo ái lạc Niết-bàn, từ bỏ có thân để chân chánh chấm dứt khổ đau.

Ai chuyên ưa hý luận,
Như thích thú hý luận,
Ði ngược lại Niết-bàn,
Nơi an ổn vô thượng.
Ai từ bỏ hý luận,
Ưa thích không hý luận.
Thuận hướng đến Niết-bàn,
Nơi an ổn vô thượng.

AN 6.15 Hối Hận Anutappiyasutta

Tại đó, Tôn giả Xá-lợi-phất nói với các Tỳ kheo:

"Như vị Tỳ kheo dọn giường mình thế nào, họ phải nằm trên đó như vậy, và chết đi trong sự dày vò của hối hận (regret / ăn năn). Và làm thế nào họ chết đi trong sự dày vò của hối hận?

Giả sử có vị Tỳ kheo ưa thích công việc, nói chuyện, ngủ nghỉ, hội chúng, sự gần gũi, và hý luận. Họ yêu thích những điều này và thích thú tận hưởng chúng. Một vị Tỳ kheo dọn giường mình như vậy phải nằm trên đó, và chết đi trong sự dày vò của hối hận. Đây gọi là vị Tỳ kheo ưa thích sự hiện hữu, người chưa từ bỏ sự hiện hữu để chân chính chấm dứt khổ đau.

Như vị Tỳ kheo dọn giường mình thế nào, họ phải nằm trên đó như vậy, và chết đi không hối hận. Và làm thế nào họ chết đi không hối hận?

Giả sử có vị Tỳ kheo không ưa thích công việc, nói chuyện, ngủ nghỉ, hội chúng, sự gần gũi, và hý luận. Họ không yêu thích những điều này hoặc không thích thú tận hưởng chúng. Một vị Tỳ kheo dọn giường mình như vậy phải nằm trên đó, và chết đi không hối hận. Đây gọi là vị Tỳ kheo ưa thích Niết-bàn, người đã từ bỏ sự hiện hữu để chân chính chấm dứt khổ đau.

Kẻ ưa thích hý luận,
Thích thú trong hý luận,
Không chứng được Niết-bàn,
Nơi an ổn khỏi các ách缚 tối thượng.

Nhưng người từ bỏ hý luận,
Thích thú trạng thái không hý luận,
Chứng được Niết-bàn,
Nơi an ổn khỏi các ách缚 tối thượng."

(V) (15) Không Hối Hận

1. Ở nơi đây, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỷ-kheo:

− Này chư Hiền, Tỷ-kheo nếu sống nếp sống như vậy, như vậy, do nếp sống như vậy, khi lâm chung có hối hận, khi mệnh chung có hối hận. Và như thế nào, này các Hiền giả, Tỷ-kheo sống nếp sống như vậy, như vậy, khi lâm chung có hối hận, khi mệnh chung có hối hận?

2… (Giống như kinh số 14, chỉ khác là thay thế không hiền thiện bằng có hối hận, thay thế có hiền thiện bằng không hối hận)…

AN 6.16 Cha của Nakula Nakulapitusutta

Một thời Đức Phật trú ở xứ Bhagga, tại đồi Cá Sấu, trong vườn nai Bhesakaḷā. Bấy giờ, gia chủ Nakulapitā (cha của Nakula) bị bệnh, đau đớn, bệnh tình nguy kịch. Khi ấy, nữ gia chủ Nakulamātā (mẹ của Nakula) nói với ông:

"Thưa gia chủ, xin đừng qua đời với những lo lắng. Sự lo lắng như vậy là khổ đau, và nó bị Đức Phật quở trách. Thưa gia chủ, có thể ông nghĩ: ‘Khi tôi mất đi, nữ gia chủ Nakulamātā sẽ không thể nuôi nấng con cái và trông nom nhà cửa.’ Nhưng ông không nên thấy như vậy. Tôi rất giỏi kéo sợi bông và chải len. Tôi có thể nuôi nấng con cái và trông nom nhà cửa. Vì vậy, thưa gia chủ, xin đừng qua đời với những lo lắng…

Thưa gia chủ, có thể ông nghĩ: ‘Khi tôi mất đi, nữ gia chủ Nakulamātā sẽ lấy chồng khác.’ Nhưng ông không nên thấy như vậy. Cả ông và tôi đều biết rằng chúng ta đã sống độc thân tại gia trong suốt mười sáu năm qua. Vì vậy, thưa gia chủ, xin đừng qua đời với những lo lắng…

Thưa gia chủ, có thể ông nghĩ: ‘Khi tôi mất đi, nữ gia chủ Nakulamātā sẽ không muốn gặp Đức Phật và Tăng đoàn Tỳ kheo của Ngài.’ Nhưng ông không nên thấy như vậy. Khi ông mất đi, tôi sẽ càng muốn gặp Đức Phật và Tăng đoàn Tỳ kheo của Ngài hơn nữa. Vì vậy, thưa gia chủ, xin đừng qua đời với những lo lắng…

Thưa gia chủ, có thể ông nghĩ: ‘Nữ gia chủ Nakulamātā sẽ không giữ tròn giới hạnh (ethics / đạo đức, các điều học).’ Nhưng ông không nên thấy như vậy. Tôi là một trong những đệ tử áo trắng của Đức Phật giữ tròn giới hạnh. Ai nghi ngờ điều này có thể đến hỏi Đức Phật. Ngài đang trú ở xứ Bhagga, tại đồi Cá Sấu, trong vườn nai Bhesakaḷā. Vì vậy, thưa gia chủ, xin đừng qua đời với những lo lắng…

Thưa gia chủ, có thể ông nghĩ: ‘Nữ gia chủ Nakulamātā không có nội tâm tĩnh lặng (internal serenity of heart / sự yên tĩnh bên trong tâm).’ Nhưng ông không nên thấy như vậy. Tôi là một trong những đệ tử áo trắng của Đức Phật có nội tâm tĩnh lặng. Ai nghi ngờ điều này có thể đến hỏi Đức Phật. Ngài đang trú ở xứ Bhagga, tại đồi Cá Sấu, trong vườn nai Bhesakaḷā. Vì vậy, thưa gia chủ, xin đừng qua đời với những lo lắng…

Thưa gia chủ, có thể ông nghĩ: ‘Nữ gia chủ Nakulamātā chưa đạt được chỗ đứng, chỗ nương tựa vững chắc và sự an ủi (gained a basis, a firm basis, and solace / có nền tảng, nơi dựa vững chắc và sự khuây khỏa) trong giáo pháp và giới luật (teaching and training / lời dạy và các quy tắc thực hành) này. Bà ấy chưa vượt qua nghi ngờ, thoát khỏi do dự, đạt được sự vững tin (gone beyond doubt, got rid of indecision, and gained assurance / hết nghi hoặc, không còn lưỡng lự, có niềm tin chắc chắn). Và bà ấy không không còn phụ thuộc vào người khác đối với lời dạy của Bậc Đạo Sư (independent of others in the Teacher’s instructions / tự mình hiểu rõ lời dạy của Phật, không cần dựa vào ai khác).’ Nhưng ông không nên thấy như vậy. Tôi là một trong những đệ tử áo trắng của Đức Phật đã đạt được chỗ đứng, chỗ nương tựa vững chắc và sự an ủi trong giáo pháp và giới luật này. Tôi đã vượt qua nghi ngờ, thoát khỏi do dự, và đạt được sự vững tin. Và tôi không còn phụ thuộc vào người khác đối với lời dạy của Bậc Đạo Sư. Ai nghi ngờ điều này có thể đến hỏi Đức Phật. Ngài đang trú ở xứ Bhagga, tại đồi Cá Sấu, trong vườn nai Bhesakaḷā. Vì vậy, thưa gia chủ, xin đừng qua đời với những lo lắng. Sự lo lắng như vậy là khổ đau, và nó bị Đức Phật quở trách."

Và rồi, khi Nakulamātā đang khuyên bảo Nakulapitā như vậy, bệnh tình của ông liền thuyên giảm ngay tại chỗ. Và đó là cách Nakulapitā bình phục khỏi cơn bệnh đó. Ngay sau khi bình phục, chống gậy, ông đến gặp Đức Phật, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ông:

"Ông thật may mắn, gia chủ, thật vô cùng may mắn, khi có nữ gia chủ Nakulamātā khuyên bảo và chỉ dẫn ông với lòng từ ái và cảm thông.

Bà ấy là một trong những đệ tử áo trắng của Đức Phật giữ tròn giới hạnh.

Bà ấy là một trong những đệ tử áo trắng của Đức Phật có nội tâm tĩnh lặng.

Bà ấy là một trong những đệ tử áo trắng của Đức Phật đã đạt được chỗ đứng, chỗ nương tựa vững chắc và sự an ủi trong giáo pháp và giới luật này. Bà ấy đã vượt qua nghi ngờ, thoát khỏi do dự, và đạt được sự vững tin. Và bà ấy không còn phụ thuộc vào người khác đối với lời dạy của Bậc Đạo Sư.

Ông thật may mắn, gia chủ, thật vô cùng may mắn, khi có nữ gia chủ Nakulamātā khuyên bảo và chỉ dẫn ông với lòng từ ái và cảm thông."

(VI) (16) Cha Mẹ Của NakuLa (1)

1. Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Bhagga, tại núi Cá Sấu, rừng Bhesakàla, vườn Lộc Uyển. Lúc bấy giờ, gia chủ, cha của Nakula bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Rồi nữ gia chủ, mẹ của Nakula nói với cha của Nakula như sau:

2. -Thưa Gia chủ, chớ có mạng chung với tâm còn mong cầu ái luyến. Thưa Gia chủ, đau khổ là người khi mệnh chung tâm còn mong cầu ái luyến. Thế Tôn quở trách người khi mệnh chung còn mong cấu ái luyến. Thưa Gia chủ, Gia chủ có thể suy nghĩ: “Nữ gia chủ, mẹ của Nakula, sau khi ta mệnh chung, không có thể nuôi dưỡng các con và duy trì nhà cửa”. Thưa Gia chủ, chớ có nghĩ như vậy! Thưa Gia chủ, tôi khéo léo dệt vải và chải lông cừu. Thưa Gia chủ, sau khi Gia chủ mệnh chung, tôi có thể nuôi dưỡng các con và duy trì nhà cửa. Do vậy, thưa Gia chủ, chớ có mệnh chung với tâm còn mong cầu ái luyến! Ðau khổ, này Gia chủ, là người khi mệnh chung tâm còn mong cầu ái luyến. Thế Tôn quở trách người khi mệnh chung tâm còn mong cấu ái luyến.

Thưa Gia chủ, Gia chủ có thể suy nghĩ như sau: “Nữ Gia chủ, mẹ của Nakula, sau khi ta mệnh chung, sẽ đi đến một gia đình khác”. Thưa Gia chủ, chớ có suy nghĩ như vậy! Thưa Gia chủ, Gia chủ cũng đã biết, trong mười sáu năm chúng ta sống làm người gia chủ, tôi đã sống thực hành Phạm hạnh như thế nào. Do vậy, thưa Gia chủ, chớ có mệnh chung với tâm còn mong cầu ái luyến! Ðau khổ, thưa Gia chủ, là người khi mệnh chung còn mong cầu ái luyến. Thế Tôn quở trách người khi mệnh chung còn mong cầu ái luyến.

Thưa Gia chủ, Gia chủ có thể suy nghĩ như sau: “Nữ gia chủ, mẹ của Nakula, sau khi ta mệnh chung, sẽ không còn muốn yết kiến Thế Tôn, sẽ không còn muốn yết kiến chúng Tăng”. Thưa Gia chủ, chớ có suy nghĩ như vậy! Sau khi gia chủ mệnh chung, tôi sẽ muốn yết kiến Thế Tôn nhiều hơn, sẽ muốn yết kiến chúng Tăng nhiều hơn. Do vậy, thưa Gia chủ, chớ có mệnh chung với tâm còn mong cầu ái luyến! Ðau khổ, này Gia chủ, là người khi mệnh chung, còn mong cầu ái luyến. Thế Tôn quở trách người khi mệnh chung tâm còn mong cầu ái luyến.

Thưa Gia chủ, Gia chủ có thể suy nghĩ như sau: “Nữ gia chủ, mẹ của Nakula, sau khi ta mệnh chung, sẽ không giữ giới một cách đầy đủ”. Thưa Gia chủ, chớ có suy nghĩ như vậy! Thưa Gia chủ, cho đến khi nào, các nữ đệ tử gia chủ mặc áo trắng của Thế Tôn còn giữ Giới Luật một cách đầy đủ, tôi là một trong những người ấy. Nếu ai có nghi ngờ hay phân vân, hiện nay, Thế Tôn đang ở giữa dân chúng Bhagga, tại núi Cá Sấu, rừng Bhesakàla, vườn Lộc Uyển, người ấy hãy đi đến Thế Tôn và hỏi. Do vậy, thưa Gia chủ, chớ có mệnh chung với tâm còn mong cầu ái luyến! Ðau khổ, thưa Gia chủ, là người khi mệnh chung tâm còn mong cầu ái luyến. Thế Tôn quở trách người khi mệnh chung tâm còn mong cầu ái luyến.

Thưa Gia chủ, Gia chủ có thể suy nghĩ như sau: “Nữ gia chủ, mẹ của Nakula không có chứng được nội tâm tịnh chỉ”. Thưa Gia chủ, chớ có suy nghĩ như vậy! Thưa Gia chủ, cho đến khi nào, các nữ đệ tử gia chủ mặc áo trắng của Thế Tôn còn chứng được nội tâm tịnh chỉ, tôi sẽ là một trong những vị ấy. Nếu ai có nghi ngờ hay phân vân, hiện nay Thế Tôn đang ở giữa dân chúng Bhagga, tại núi Cá Sấu, rừng Bhesakàla, vườn Lộc Uyển, người ấy hãy đi đến Thế Tôn và hỏi. Do vậy, thưa Gia chủ, chớ có mệnh chung với tâm còn mong cầu ái luyến! Ðau khổ, thưa Gia chủ, là người khi mệnh chung, tâm còn mong cầu ái luyến. Thế Tôn quở trách người khi mệnh chung tâm còn mong cầu ái luyến.

Thưa Gia chủ, Gia chủ có thể suy nghĩ như sau: “Nữ gia chủ, mẹ của Nakula, trong Pháp và Luật này không đạt được thể nhập, không đạt được an trú, không đạt được thoải mái, không vượt khỏi nghi hoặc, không rời được do dự, không đạt được vô úy, còn phải nhờ người khác sống trong lời dạy đức Bổn Sư”. Thưa Gia chủ, chớ có suy nghĩ như vậy! Thưa Gia chủ, cho đến khi nào, các nữ đệ tử gia chủ mặc áo trắng của Thế Tôn, trong Pháp và Luật này đạt được thể nhập, đạt được an trú, đạt được thoải mái, vượt khỏi nghi hoặc, rời được do dự, đạt được vô úy, không phải nhờ người khác sống trong lời dạy đức Bổn Sư, tôi sẽ là một trong những người ấy. Nếu có ai có nghi ngờ hay phân vân, hiện nay Thế Tôn đang ở giữa dân chúng Bhagga, tại núi Cá Sấu, rừng Bhesakàla, vườn Lộc Uyển, người ấy hãy đi đến Thế Tôn và hỏi. Do vậy, thưa Gia chủ, chớ có mệnh chung với tâm còn mong cầu ái luyến! Ðau khổ, thưa Gia chủ, là người khi mệnh chung, tâm còn mong cầu ái luyến. Thế Tôn quở trách người khi mệnh chung tâm còn mong cầu ái luyến.

3. Rồi cha của Nakula được nữ gia chủ, mẹ của Nakula giáo giới với lời giáo giới này, bệnh hoạn liền khi ấy được khinh an và gia chủ, cha của Nakula thoát khỏi bệnh ấy. Ðược đoạn tận như vậy là bệnh ấy của gia chủ, cha của Nakula. Rồi gia chủ, cha của Nakula được lành bệnh, sau khi lành bệnh không bao lâu, chống gậy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ, cha của Nakula đang ngồi xuống một bên:

4. - Thật lợi ích thay cho Ông, này Gia chủ! Thật khéo lợi ích thay cho Ông, này Gia chủ! Ðược nữ gia chủ, mẹ của Nakula với lòng từ mẫn, vì muốn hạnh phúc, đã giáo giới, đã khuyên dạy Ông. Cho đến khi nào, này Gia chủ, Ta còn có những đệ tử gia chủ mặc áo trắng gìn giữ Giới Luật viên mãn, nữ gia chủ, mẹ của Nakula là một trong những vị ấy. Cho đến khi nào, này Gia chủ, Ta còn có những đệ tử gia chủ mặc áo trắng chứng được nội tâm tịnh chỉ, nữ gia chủ, mẹ của Nakula là một trong những vị ấy. Cho đến khi nào, này Gia chủ, Ta còn có những đệ tử gia chủ mặc áo trắng, trong Pháp và Luật này đạt được thể nhập, đạt được an trú, đạt được thoải mái, vượt khỏi nghi hoặc, rời được do dự, đạt được vô úy, không còn phải nhờ người khác sống trong lời dạy đức Bổn Sư, nữ gia chủ, mẹ của Nakula là một trong những vị ấy. Thật lợi ích thay cho Ông, này Gia chủ! Thật khéo lợi ích thay cho Ông, này Gia chủ, được nữ gia chủ, mẹ của Nakula với lòng từ mẫn, vì muốn hạnh phúc, đã giáo giới, đã khuyên dạy Ông.

AN 6.17 Ngủ Nghỉ Soppasutta

Một thời Đức Phật trú gần Sāvatthī, tại Rừng Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika.

Rồi vào buổi chiều muộn, Đức Phật ra khỏi nơi tĩnh tu, đi đến giảng đường, và ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Tôn giả Xá-lợi-phất cũng ra khỏi nơi tĩnh tu, đi đến giảng đường, đảnh lễ Đức Phật và ngồi xuống một bên. Các Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, Đại Ca-diếp, Đại Ca-chiên-diên, Đại Câu-hi-la, Đại Thuần-đà, Đại Ca-na-tỳ-na, A-nậu-lâu-đà, Ly-bà-đa, và A-nan cũng làm như vậy. Đức Phật dành phần lớn đêm ngồi thiền, sau đó đứng dậy khỏi chỗ ngồi và vào tịnh thất của Ngài. Và ngay sau khi Đức Phật rời đi, các vị Tôn giả đó mỗi người đều trở về trú xứ của mình.

Nhưng những Tỳ kheo còn trẻ tuổi, mới xuất gia, mới đến với giáo pháp và giới luật này thì ngủ cho đến khi mặt trời mọc, ngáy vang. Đức Phật thấy họ làm vậy, bằng thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân (clairvoyance that is purified and superhuman / khả năng nhìn thấy vượt người thường, đã được thanh lọc) của Ngài. Ngài đi đến giảng đường, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn, và nói với các Tỳ kheo:

“Này các Tỳ kheo, Xá-lợi-phất đâu? Đại Mục-kiền-liên, Đại Ca-diếp, Đại Ca-chiên-diên, Đại Câu-hi-la, Đại Thuần-đà, Đại Ca-na-tỳ-na, A-nậu-lâu-đà, Ly-bà-đa, và A-nan đâu? Các vị đại đệ tử này đã đi đâu?”

“Bạch Thế Tôn, ngay sau khi Thế Tôn rời đi, các vị Tôn giả đó mỗi người đều trở về trú xứ của mình.”

"Vậy thì, này các Tỳ kheo, khi các Tỳ kheo thượng tọa đã rời đi, tại sao các ngươi lại ngủ cho đến khi mặt trời mọc, ngáy vang?

Các ngươi nghĩ sao, này các Tỳ kheo? Các ngươi đã từng thấy hay nghe nói về một vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, cai trị suốt đời, được đất nước yêu mến và quý trọng, trong khi lại ham mê thú vui ngủ nghỉ, nằm dài, và buồn ngủ (drowsing / buồn ngủ) tùy thích không?"

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

"Tốt lắm, này các Tỳ kheo! Ta cũng chưa từng thấy hay nghe nói về điều như vậy.

Các ngươi nghĩ sao, này các Tỳ kheo? Các ngươi đã từng thấy hay nghe nói về một vị quan được bổ nhiệm… một vị quan cha truyền con nối… một vị tướng quân… một vị trưởng làng… hay một vị trưởng phường hội điều hành phường hội suốt đời, được phường hội yêu mến và quý trọng, trong khi lại ham mê thú vui ngủ nghỉ, nằm dài, và buồn ngủ tùy thích không?"

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

"Tốt lắm, này các Tỳ kheo! Ta cũng chưa từng thấy hay nghe nói về điều như vậy.

Các ngươi nghĩ sao, này các Tỳ kheo? Các ngươi đã từng thấy hay nghe nói về một vị Sa-môn hay Bà-la-môn ham mê thú vui ngủ nghỉ, nằm dài, và buồn ngủ tùy thích không? Các căn (sense doors / mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) của họ không được phòng hộ, họ ăn quá độ (eat too much / ăn uống quá nhiều), họ không chú tâm cảnh giác (dedicated to wakefulness / luôn tỉnh táo, không lơ là), họ không thể phân biệt được thiện pháp (skillful qualities / những phẩm chất tốt đẹp, thiện lành), và họ không theo đuổi sự phát triển các pháp đưa đến giác ngộ (qualities that lead to awakening / những phẩm chất dẫn đến sự tỉnh thức hoàn toàn) vào buổi tối và lúc rạng đông. Thế mà họ lại chứng ngộ được vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát (undefiled freedom of heart and freedom by wisdom / sự giải thoát của tâm không còn phiền não, sự giải thoát bằng trí tuệ) ngay trong đời này. Và họ sống sau khi đã tự mình chứng ngộ bằng trí tuệ nhờ sự đoạn tận các lậu hoặc (ending of defilements / sự chấm dứt hoàn toàn các phiền não)."

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

"Tốt lắm, này các Tỳ kheo! Ta cũng chưa từng thấy hay nghe nói về điều như vậy.

Vì vậy, các ngươi nên tu tập như thế này: ‘Chúng ta sẽ phòng hộ các căn, ăn điều độ (eat in moderation / ăn uống chừng mực), chú tâm cảnh giác, phân biệt thiện pháp, và theo đuổi sự phát triển các pháp đưa đến giác ngộ vào buổi tối và lúc rạng đông.’ Đó là cách các ngươi nên tu tập."

(VII) (17) Cha mẹ Của Nakula (2)

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthì, tại Jetavana, khu vườn của ông Anàthapindika. Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến giảng đường; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi Tôn giả Sàriputta vào buổi chiều, sau khi từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến giảng đường; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Mahàmoggallàna, Tôn giả Mahàkassapa, Tôn giả Mahàkaccàna, Tôn giả Mahàkotthita, Tôn giả Mahàcunda, Tôn giả Mahàkappina, Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Revata, Tôn giả Ananda vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy đi đến giảng đường; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn, sau khi ngồi như vậy đến quá phần lớn của đêm, từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tinh xá. Các Tôn giả ấy, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi về tinh xá của mình. Nhưng tại đấy, các Tỷ-kheo tân học xuất gia không bao lâu, đi đến Pháp và Luật này chưa nhiều thời gian, ngáy và ngủ tại chỗ cho đến sáng. Rồi Thế Tôn với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân thấy các Tỷ-kheo ấy ngáy và ngủ tại chỗ cho đến sáng, thấy vậy liền đi đến giảng đường; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Ngồi xuống, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo ấy:

2. - Này các Tỷ-kheo, Sàriputta ở đâu? Mahàmoggallàna ở đâu? Mahàkassapa ở đâu? Mahàkaccàna ở đâu? Mahàkotthita ở đâu? Mahàcunda ở đâu? Mahàkappina ở đâu? Anuruddha ở đâu? Revata ở đâu? Ananda ở đâu? Này các Tỷ-kheo, các đệ tử trưởng lão ấy đã đi đâu?

− Bạch Thế Tôn, các Tôn giả ấy, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đi về tinh xá của mình.

− Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy không có các Tỷ-kheo trưởng lão, các tân học Tỷ-kheo ngáy và ngủ cho đến trời sáng!

Các Thầy nghĩ thế nào? Này các Tỷ-kheo! Các Thầy có thấy và có nghe như sau: “Một vua Sát-đế-ly đã làm lễ quán đảnh, sống chuyên tâm hưởng thọ cho đến thỏa thích lạc về giường nằm, lạc về nằm dài, lạc về ngủ nghĩ, có thể cai trị cả nước cho đến trọn đời, được quốc dân ái mộ và ưa thích”?

− Thưa không vậy, bạch Thế Tôn.

− Lành thay, này các Tỷ-kheo! Ta cũng không thấy, cũng không nghe như sau: Này các Tỷ-kheo, một vua Sát-đế-ly đã làm lễ quán đảnh, sống chuyên tâm hưởng thọ cho đến thỏa thích lạc về giường nằm, lạc về nằm dài, lạc về ngủ nghỉ, có thể cai trị cả nước cho đến trọn đời, được quốc dân ái mộ và ưa thích.

Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, các Thầy có thấy hay có nghe như sau: “Người thôn quê sống trên đất trại của người cha, vị tướng quân trong quân đội, vị thôn trưởng ở làng, vị tổ trưởng các tổ hợp sống chuyên tâm hưởng thọ cho đến thỏa thích lạc về giường nằm, lạc về nằm dài, lạc về ngủ nghỉ, có thể trọn đời làm tổ trưởng các tổ hợp và được các tổ viên ái mộ, ưa thích”?

− Thưa không vậy, bạch Thế Tôn.

− Lành thay, này các Tỷ-kheo! Ta cũng không thấy, cũng không nghe như sau, này các Tỷ-kheo: Một người thôn quê sống trên đất trại của người cha, vị tướng quân sống trong quân đội, vị hôn trưởng ở làng, vị tổ trưởng các tổ hợp sống chuyên tâm hưởng thọ lạc về giường nằm, lạc về nằm dài, lạc về ngủ nghỉ có thể trọn đời làm tổ trưởng các tổ hợp và được các tổ viên ái mộ và ưa thích.

Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, các Thầy có hay có nghe như sau: “Vị Sa-môn hay Bà-la-môn sống chuyên tâm hưởng thọ cho đến thỏa thích lạc về giường nằm, lạc về nằm dài, lạc về ngủ nghỉ, không phòng hộ các căn môn, không tiết độ trong ăn uống, không chú tâm cảnh giác, không quán các thiện pháp, đầu đêm cuối đêm không sống chuyên tâm tu tập các pháp giác chi, do đoạn tận các lậu hoặc, có thể tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát”?

− Thưa không vậy, bạch Thế Tôn.

− Lành thay, này các Tỷ-kheo, Ta cũng không thấy, cũng không nghe như sau, này các Tỷ-kheo: Một vị Sa-môn hay Bà-la-môn sống chuyên tâm hưởng thọ cho đến thỏa thích lạc về giường nằm, lạc về nằm dài, lạc về ngủ nghỉ, không phòng hộ các căn môn, không tiết độ trong ăn uống, không chú tâm cảnh giác, không quán các thiện pháp, đầu đêm cuối đêm không sống chuyên tâm tu tập các pháp giác chi, do đoạn tận các lậu hoặc, có thể tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập như sau:

3. Với căn môn được phòng hộ, ăn uống có tiết độ, chuyên tâm cảnh giác, quán các thiện pháp, đầu đêm cuối đêm không sống chuyên tâm tu tập các pháp giác chi, do đoạn tận các lậu hoặc, có thể tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.

AN 6.18 Người Bán Cá Macchabandhasutta

Một thời Đức Phật đang du hành ở xứ Kosala cùng với một đại Tăng đoàn Tỳ kheo.

Khi đang đi trên đường, Ngài thấy một người bán cá ở một nơi nọ đang bán cá do chính tay mình giết. Thấy vậy, Ngài rời khỏi con đường, ngồi dưới gốc cây trên chỗ đã soạn sẵn, và nói với các Tỳ kheo: “Này các Tỳ kheo, các ngươi có thấy người bán cá kia đang bán cá do chính tay mình giết không?”

“Thưa có, bạch Thế Tôn.”

“Các ngươi nghĩ sao, này các Tỳ kheo? Các ngươi đã từng thấy hay nghe nói về một người bán cá bán cá do chính tay mình giết mà nhờ công việc và sinh kế đó, lại được đi voi, ngựa, xe ngựa, hay xe cộ, hoặc được hưởng thụ của cải, hoặc sống nhờ vào tài sản lớn không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

"Tốt lắm, này các Tỳ kheo! Ta cũng chưa từng thấy hay nghe nói về điều như vậy. Tại sao vậy? Bởi vì khi những con cá bị dẫn đến chỗ giết mổ, người đó nhìn chúng với ác ý (bad intentions / ý nghĩ xấu).

Các ngươi nghĩ sao, này các Tỳ kheo? Các ngươi đã từng thấy hay nghe nói về một người đồ tể bán thịt bò do chính tay mình giết mà nhờ công việc và sinh kế đó, lại được đi voi, ngựa, xe ngựa, hay xe cộ, hoặc được hưởng thụ của cải, hoặc sống nhờ vào tài sản lớn không?"

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

"Tốt lắm, này các Tỳ kheo! Ta cũng chưa từng thấy hay nghe nói về điều như vậy. Tại sao vậy? Bởi vì khi những con bò bị dẫn đến chỗ giết mổ, người đó nhìn chúng với ác ý.

Các ngươi nghĩ sao, này các Tỳ kheo? Các ngươi đã từng thấy hay nghe nói về một người đồ tể giết cừu… một người đồ tể giết heo… một người đồ tể giết gia cầm… hay một người thợ săn bán thịt nai do chính tay mình giết mà nhờ công việc và sinh kế đó, lại được đi voi, ngựa, xe ngựa, hay xe cộ, hoặc được hưởng thụ của cải, hoặc sống nhờ vào tài sản lớn không?"

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

"Tốt lắm, này các Tỳ kheo! Ta cũng chưa từng thấy hay nghe nói về điều như vậy. Tại sao vậy? Bởi vì khi những con nai bị dẫn đến chỗ giết mổ, người đó nhìn chúng với ác ý.

Chỉ vì nhìn các loài vật bị dẫn đến chỗ giết mổ với ác ý mà người đó đã không được đi voi, ngựa, xe ngựa, hay xe cộ, hoặc được hưởng thụ của cải, hoặc sống nhờ vào tài sản lớn. Huống chi là người nhìn những con người bị dẫn đến chỗ giết mổ với ác ý! Điều này sẽ mang lại tai hại và đau khổ lâu dài cho họ. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ sẽ tái sinh vào cõi dữ, nơi xấu xa, địa ngục."

(VIII) (18) Con Cá

1. Một thời, Thế Tôn đang du hành giữa dân chúng Kosala cùng với đại chúng Tỷ-kheo. Trong khi đi giữa đường, Thế Tôn thấy tại một chỗ nọ, một người đánh cá, sau khi bắt cá, giết cá, đang bán cá. Thấy vậy, Ngài bước xuống đường và ngồi xuống trên chỗ đã sửa soạn dưới một gốc cây. Sau khi ngồi, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:

2. - Này các Tỷ-kheo, các Thầy có thấy người đánh cá kia, sau khi bắt cá, giết cá, giết cá, đang bán cá?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, các Thầy có thấy hay có nghe như sau: “Một người đánh cá, sau khi bắt cá, giết cá, đang bán cá; do nghiệp ấy, do mạng sống ấy, được cưỡi voi, cưỡi ngựa, cưỡi xe, cưỡi cỗ xe, được thọ hưởng các tài sản, hay được sống giữa tài sản lớn hay tài sản chất đống”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Lành thay, này các Tỷ-kheo! Ta cũng không thấy, cũng không nghe như sau: “Một người đánh cá, sau khi bắt cá, giết cá, đang bán cá; do nghiệp ấy, do mạng sống ấy, được cưỡi voi, cưỡi ngựa, cưỡi xe, hay cưỡi cỗ xe, hay được thọ hưởng các tài sản, hay được sống giữa tài sản lớn hay tài sản chất đống”? Vì sao? Này các Tỷ-kheo, người đánh cá ấy với ác ý nhìn các con cá bị giết, bị đem đi giết hại, vì vậy, người ấy không được cưỡi voi, cưỡi ngựa, cưỡi xe, hay cưỡi cỗ xe, không được thọ hưởng các tài sản, hay không được sống giữa tài sản lớn và tài sản chất đống.

Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, các Thầy có thấy hay có nghe như sau: “Một người đồ tể, sau khi giết các con bò, giết các con bò rồi đi bán; do nghiệp ấy, do mạng sống ấy được cưỡi voi, cưỡi ngựa, cưỡi xe, hay cưỡi cỗ xe, được thọ hưởng các tài sản, hay được sống giữa các tài sản lớn hay tài sản chất đống”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Lành thay, này các Tỷ-kheo! Ta cũng không thấy, cũng không nghe như sau: “Một người đồ tể, sau khi giết bò, giết bò rồi đem bán; do nghiệp ấy, do mạng sống ấy, được cưỡi voi, cưỡi ngựa, cưỡi xe, hay cưỡi cỗ xe, hay được thọ hưởng các tài sản, hay được sống giữa tài sản lớn hay tài sản chất đống”? Vì sao? Người đồ tể giết bò ấy với ác ý nhìn các con bò bị giết, bị đem đi giết hại, vì vậy, người ấy không được cưỡi voi, cưỡi ngựa, cưỡi xe, hay cưỡi cỗ xe, không được thọ hưởng các tài sản, hay không được sống giữa các tài sản lớn và tài sản chất đống.

Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, các Thầy có thấy hay có nghe như sau: “Một người giết dê… một người giết heo… một người giết chim… hay một người giết các loài thú rừng, sau khi giết các thú rừng, giết các thú rừng rồi đem bán; do nghiệp ấy, do mạng sống ấy được cưỡi voi… hay được sống giữa các tài sản lớn và tài sản chất đống”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Lành thay, này các Tỷ-kheo! Ta cũng không thấy, cũng không nghe… Vì sao? Người giết các loài thú rừng ấy, với ý nhìn các con thú rừng bị giết, bị đem đi giết hại; vì vậy người ấy không được cưỡi voi, không được cưỡi ngựa, không được cưỡi xe, không được cưỡi cỗ xe, không được thọ hưởng các tài sản, hay không được sống giữa các tài sản lớn hay tài sản chất đống.

Thật vậy, này các Tỷ-kheo, ai với ác ý nhìn các loài bàng sanh bị giết, đem đi giết hại; vì vậy, người ấy không được cưỡi voi, không được cưỡi ngựa, không được cưỡi xe, không được cưỡi cỗ xe, không được thọ hưởng các tài sản, hay không được sống giữa các tài sản lớn hay tài sản chất đống. Còn nói gì về người với ác ý nhìn các loài Người bị giết, bị đem đi giết hại! Thật vậy, này các Tỷ-kheo, như vậy là bất hạnh, đau khổ lâu dài cho người ấy, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

AN 6.19 Tỉnh Thức về Cái Chết (1) Paṭhamamaraṇassatisutta

Một thời Đức Phật trú tại Ñātika trong ngôi nhà gạch. Tại đó, Đức Phật nói với các Tỳ kheo: “Này các Tỳ kheo!”

“Bạch Thế Tôn,” họ đáp. Đức Phật nói điều này:

“Này các Tỳ kheo, khi tỉnh thức về cái chết (mindfulness of death / sự nhớ nghĩ về cái chết) được phát triển và tu tập, nó mang lại kết quả và lợi ích lớn lao. Nó đạt đến đỉnh cao là bất tử (freedom from death / không còn chết, Niết-bàn) và kết thúc trong bất tử. Nhưng các ngươi có phát triển tỉnh thức về cái chết không?”

Khi Ngài nói vậy, một vị Tỳ kheo thưa với Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, con có phát triển tỉnh thức về cái chết.”

“Nhưng này Tỳ kheo, con phát triển nó như thế nào?”

“Bạch Thế Tôn, trong trường hợp này, con nghĩ: ‘Ôi, giá như con chỉ sống thêm được một ngày một đêm nữa, con sẽ tập trung vào lời dạy của Đức Phật và con thực sự có thể đạt được nhiều điều.’ Đó là cách con phát triển tỉnh thức về cái chết.”

Một vị Tỳ kheo khác thưa với Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, con cũng phát triển tỉnh thức về cái chết.”

“Nhưng này Tỳ kheo, con phát triển nó như thế nào?”

“Bạch Thế Tôn, trong trường hợp này, con nghĩ: ‘Ôi, giá như con chỉ sống thêm được một ngày nữa, con sẽ tập trung vào lời dạy của Đức Phật và con thực sự có thể đạt được nhiều điều.’ Đó là cách con phát triển tỉnh thức về cái chết.”

Một vị Tỳ kheo khác thưa với Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, con cũng phát triển tỉnh thức về cái chết.”

“Nhưng này Tỳ kheo, con phát triển nó như thế nào?”

“Bạch Thế Tôn, trong trường hợp này, con nghĩ: ‘Ôi, giá như con chỉ sống được trong khoảng thời gian ăn hết một bữa khất thực, con sẽ tập trung vào lời dạy của Đức Phật và con thực sự có thể đạt được nhiều điều.’ Đó là cách con phát triển tỉnh thức về cái chết.”

Một vị Tỳ kheo khác thưa với Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, con cũng phát triển tỉnh thức về cái chết.”

“Nhưng này Tỳ kheo, con phát triển nó như thế nào?”

“Bạch Thế Tôn, trong trường hợp này, con nghĩ: ‘Ôi, giá như con chỉ sống được trong khoảng thời gian nhai và nuốt bốn hoặc năm miếng ăn, con sẽ tập trung vào lời dạy của Đức Phật và con thực sự có thể đạt được nhiều điều.’ Đó là cách con phát triển tỉnh thức về cái chết.”

Một vị Tỳ kheo khác thưa với Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, con cũng phát triển tỉnh thức về cái chết.”

“Nhưng này Tỳ kheo, con phát triển nó như thế nào?”

“Bạch Thế Tôn, trong trường hợp này, con nghĩ: ‘Ôi, giá như con chỉ sống được trong khoảng thời gian nhai và nuốt một miếng ăn, con sẽ tập trung vào lời dạy của Đức Phật và con thực sự có thể đạt được nhiều điều.’ Đó là cách con phát triển tỉnh thức về cái chết.”

Một vị Tỳ kheo khác thưa với Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, con cũng phát triển tỉnh thức về cái chết.”

“Nhưng này Tỳ kheo, con phát triển nó như thế nào?”

“Bạch Thế Tôn, trong trường hợp này, con nghĩ: ‘Ôi, giá như con chỉ sống được trong khoảng thời gian thở ra sau khi hít vào, hoặc hít vào sau khi thở ra, con sẽ tập trung vào lời dạy của Đức Phật và con thực sự có thể đạt được nhiều điều.’ Đó là cách con phát triển tỉnh thức về cái chết.”

Khi điều này được nói, Đức Phật nói với các Tỳ kheo đó:

"Đối với những Tỳ kheo phát triển tỉnh thức về cái chết bằng cách mong muốn sống thêm một ngày một đêm… hoặc sống thêm một ngày… hoặc sống trong khoảng thời gian ăn hết một bữa khất thực… hoặc sống trong khoảng thời gian nhai và nuốt bốn hoặc năm miếng ăn—những vị này được gọi là Tỳ kheo sống buông lung (live negligently / sống lơ là, không cẩn thận). Họ phát triển tỉnh thức về cái chết một cách lơ là để đoạn tận các lậu hoặc.

Nhưng đối với những Tỳ kheo phát triển tỉnh thức về cái chết bằng cách mong muốn sống trong khoảng thời gian nhai và nuốt một miếng ăn… hoặc sống trong khoảng thời gian thở ra sau khi hít vào, hoặc hít vào sau khi thở ra—những vị này được gọi là Tỳ kheo sống tinh tấn (live diligently / sống siêng năng, nỗ lực). Họ phát triển tỉnh thức về cái chết một cách sắc bén để đoạn tận các lậu hoặc.

Vì vậy, các ngươi nên tu tập như thế này: ‘Chúng ta sẽ sống tinh tấn. Chúng ta sẽ phát triển tỉnh thức về cái chết một cách sắc bén để đoạn tận các lậu hoặc.’ Đó là cách các ngươi nên tu tập."

(IX) (19) Niệm Chết (1)

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Nàdika, tại Ginjakàvasattha. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo” - “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

2. - Niệm chết, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử. Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy tu tập niệm chết.

3. Ðược nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, con có tu tập niệm chết.

− Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?

− Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng ta sống ngày và đêm tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết. 4. Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.

− Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?

− Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng ta sống trọn ngày tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.

5. Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.

− Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?

− Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng cho đến khi nào ta còn ăn đồ ăn khất thực, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.

6. Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.

− Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?

− Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng cho đến khi nào ta còn ăn và nuốt bốn, năm miếng đồ ăn, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.

7. Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.

− Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?

− Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng cho đến khi nào ta còn ăn một miếng đồ ăn, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.

8. Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.

− Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?

− Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Cho đến khi nào, sau khi thở vào, ta thở ra, hay sau khi thở ra, ta thở vào, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.

9. Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn nói với các vị Tỷ-kheo ấy: − Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng ta sống ngày và đêm, tác ý đến lời dạy của Thế Tôn. Ta đã làm nhiều như vậy”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng ta sống trọn ngày tác ý đến lời dạy của Thế Tôn. Ta đã làm nhiều như vậy”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng cho đến khi nào ta còn ăn đồ ăn khất thực, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn. Ta đã làm nhiều như vậy”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng cho đến khi nào ta còn ăn và nuốt bốn, năm miếng đồ ăn, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn, ta đã làm nhiều như vậy”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng cho đến khi nào ta còn ăn một miếng đồ ăn, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn, ta đã làm nhiều như vậy”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng cho đến khi nào sau khi thở vào, ta thở ra hay sau khi thở ra, ta thở vào, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn, ta đã làm nhiều như vậy”. Này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo ấy được gọi là những vị sống không phóng dật, tu tập rất sắc sảo niệm chết để đoạn diệt các lậu hoặc. Do vậy, này các Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải tu học như sau:

10. “Hãy sống không phóng dật! Ta sẽ tu tập một cách sắc sảo niệm chết để đoạn diệt các lậu hoặc”.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.

AN 6.20 Tỉnh Thức về Cái Chết (2) Dutiyamaraṇassatisutta

Một thời Đức Phật trú tại Ñātika trong ngôi nhà gạch. Tại đó, Đức Phật nói với các Tỳ kheo:

"Này các Tỳ kheo, khi tỉnh thức về cái chết được phát triển và tu tập, nó mang lại kết quả và lợi ích lớn lao. Nó đạt đến đỉnh cao là bất tử và kết thúc trong bất tử. Và làm thế nào tỉnh thức về cái chết được phát triển và tu tập để mang lại kết quả và lợi ích lớn lao, để đạt đến đỉnh cao là bất tử và kết thúc trong bất tử?

Khi ngày trôi qua và đêm đến gần, một vị Tỳ kheo suy ngẫm: ‘Ta có thể chết vì nhiều nguyên nhân. Một con rắn có thể cắn ta, hoặc một con bọ cạp hay con rết có thể chích ta. Và nếu ta chết vì điều đó, nó sẽ là một trở ngại cho ta. Hoặc ta có thể trượt chân rơi xuống vực, hoặc bị ngộ độc thực phẩm, hoặc bị rối loạn mật, đàm, hay phong khí. Và nếu ta chết vì điều đó, nó sẽ là một trở ngại cho sự tiến bộ của ta.’ Vị Tỳ kheo đó nên suy ngẫm: ‘Có những ác, bất thiện pháp (bad, unskillful qualities / những điều xấu xa, không tốt lành) nào mà ta chưa từ bỏ, có thể là trở ngại cho sự tiến bộ của ta nếu ta chết đêm nay không?’

Giả sử rằng, sau khi kiểm tra, vị Tỳ kheo biết rằng có những ác, bất thiện pháp như vậy. Thì để từ bỏ chúng, vị ấy nên áp dụng nhiệt tâm, nỗ lực, tinh cần, dũng mãnh, không thối chuyển, tỉnh thức và nhận biết rõ ràng (enthusiasm, effort, zeal, vigor, perseverance, mindfulness, and situational awareness / lòng hăng hái, cố gắng, siêng năng, mạnh mẽ, không lùi bước, luôn nhớ và biết rõ tình hình) mãnh liệt. Giả sử quần áo hoặc đầu của ngươi đang cháy. Để dập tắt nó, ngươi sẽ áp dụng nhiệt tâm, nỗ lực, tinh cần, dũng mãnh, không thối chuyển, tỉnh thức và nhận biết rõ ràng mãnh liệt. Tương tự như vậy, để từ bỏ những ác, bất thiện pháp đó, vị Tỳ kheo đó nên áp dụng nhiệt tâm mãnh liệt…

Nhưng giả sử rằng, sau khi kiểm tra, vị Tỳ kheo biết rằng không có những ác, bất thiện pháp như vậy. Thì vị Tỳ kheo đó nên thiền định với vui vẻ và an vui (rapture and joy / sự vui mừng và an vui), tu tập ngày đêm trong các thiện pháp.

Hoặc là, khi đêm trôi qua và ngày đến gần, một vị Tỳ kheo suy ngẫm: ‘Ta có thể chết vì nhiều nguyên nhân. Một con rắn có thể cắn ta, hoặc một con bọ cạp hay con rết có thể chích ta. Và nếu ta chết vì điều đó, nó sẽ là một trở ngại cho sự tiến bộ của ta. Hoặc ta có thể trượt chân rơi xuống vực, hoặc bị ngộ độc thực phẩm, hoặc bị rối loạn mật, đàm, hay phong khí. Và nếu ta chết vì điều đó, nó sẽ là một trở ngại cho sự tiến bộ của ta.’ Vị Tỳ kheo đó nên suy ngẫm: ‘Có những ác, bất thiện pháp nào mà ta chưa từ bỏ, có thể là trở ngại cho sự tiến bộ của ta nếu ta chết hôm nay không?’

Giả sử rằng, sau khi kiểm tra, vị Tỳ kheo biết rằng có những ác, bất thiện pháp như vậy. Thì để từ bỏ chúng, vị ấy nên áp dụng nhiệt tâm, nỗ lực, tinh cần, dũng mãnh, không thối chuyển, tỉnh thức và nhận biết rõ ràng mãnh liệt. Giả sử quần áo hoặc đầu của ngươi đang cháy. Để dập tắt nó, ngươi sẽ áp dụng nhiệt tâm, nỗ lực, tinh cần, dũng mãnh, không thối chuyển, tỉnh thức và nhận biết rõ ràng mãnh liệt. Tương tự như vậy, để từ bỏ những ác, bất thiện pháp đó, vị Tỳ kheo đó nên áp dụng nhiệt tâm mãnh liệt…

Nhưng giả sử rằng, sau khi kiểm tra, vị Tỳ kheo biết rằng không có những ác, bất thiện pháp như vậy. Thì vị Tỳ kheo đó nên thiền định với vui vẻ và an vui, tu tập ngày đêm trong các thiện pháp.

Tỉnh thức về cái chết, khi được phát triển và tu tập theo cách này, mang lại kết quả và lợi ích rất lớn lao. Nó đạt đến đỉnh cao là bất tử và kết thúc trong bất tử."

(X) (20) Niệm Chết (2)

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Nàdika, tại Ginjakàvasatha. Tại đấy, Thế Tôn dạy các Tỷ-kheo:

2. - Niệm chết, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn thời có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử. Tu tập niệm chết như thế nào, làm cho sung mãn niệm chết như thế nào thời đưa đến quả lớn, lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử?

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi ngày vừa tàn và đêm vừa an trú, suy tư như sau: “Các nhân duyên đem đến cái chết cho ta rất nhiều: “Con rắn có thể cắn ta, con bò cạp có thể cắn ta, hay con rít có thể cắn ta. Do vậy, ta có thể mệnh chung. Như vậy sẽ trở ngại cho ta. Ta có thể vấp ngã và té xuống. Cơm ta ăn có thể làm ta mắc bệnh khi ăn, hay mật có thể khuấy động ta, đàm có thể khuấy động ta. Các gió như kiếm có thể khuấy động ta. Và như vậy có thể làm ta mệnh chung. Như vậy sẽ là chướng ngại cho ta”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải suy xét như sau: “Nếu ta còn có những pháp ác bất thiện chưa được đoạn tận, nếu ta lỡ mệnh chung đêm nay, chúng có thể là chướng ngại cho ta”. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi suy xét như vậy, biết được như sau: “Ta có những pháp ác bất thiện chưa được đoạn tận, nếu ta lỡ mệnh chung đêm nay, chúng có thể là chướng ngại cho ta”, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy, để đoạn tận các pháp ác bất thiện ấy, cần phải tận lực tác động ước muốn, tinh tấn, tinh cần, nỗ lực, không có thối chuyển, chánh niệm và tỉnh giác. Ví như, này các Tỷ-kheo, áo bị cháy hay đầu bị cháy, thời để dập tắt áo ấy hay đầu ấy, cần phải tận lực tác động ước muốn, tinh tấn, tinh cần, nỗ lực, không có thối chuyển, chánh niệm và tỉnh giác. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy, để đoạn tận các ác bất thiện pháp ấy, cần phải tận lực tác động ước muốn, tinh tấn, tinh cần, nỗ lực, không có thối chuyển, chánh niệm và tỉnh giác. Nếu Tỷ-kheo ấy, trong khi suy xét, biết được như sau: “Ta có những pháp ác bất thiện chưa được đoạn tận, nếu ta lỡ mệnh chung đêm nay, chúng có thể là chướng ngại cho ta”. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy cần phải sống hoan hỷ, hân hoan, ngày đêm cần phải học tập trong các thiện pháp.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi đêm vừa tàn và ngày vừa an trú, suy tư như sau: “Các nhân duyên đem đến cái chết cho ta rất nhiều: “Con rắn có thể cắn ta, con bò cạp có thể cắn ta, hay con rít có thể cắn ta. Do vậy, ta có thể mệnh chung. Như vậy sẽ là chướng ngại cho ta. Ta có thể vấp ngã và té xuống. Cơm ta ăn có thể làm ta mắc bệnh khi ăn, hay mật có thể khuấy động ta, hay đàm có thể khuấy động ta. Các gió như kiếm có thể khuấy động ta. Và như vậy có thể làm ta mệnh chung. Như vậy sẽ là chướng ngại cho ta”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải suy xét như sau: “Nếu ta còn có những pháp ác bất thiện chưa được đoạn tận, nếu ta lỡ mệnh chung trong ngày hôm nay, chúng có thể là chướng ngại cho ta”. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi suy xét như vậy, biết được như sau: “Ta có những pháp ác bất thiện chưa được đoạn tận, nếu ta lỡ mệnh chung ngày hôm nay, chúng có thể là chướng ngại cho ta”, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy, để đoạn tận các pháp ác bất thiện ấy, cần phải tận lực tác động ước muốn, tinh tấn, tinh cần, nỗ lực, không có thối chuyển, chánh niệm và tỉnh giác. Ví như, này các Tỷ-kheo, áo bị cháy hay đầu bị cháy, thời để dập tắt áo ấy hay đầu ấy, cần phải tận lực tác động ước muốn, tinh tấn, tinh cần, nỗ lực, không có thối chuyển, chánh niệm và tỉnh giác. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy, để đoạn tận các ác bất thiện pháp ấy, cần phải tận lực tác động ước muốn, tinh tấn, tinh cần, nỗ lực, không có thối chuyển, chánh niệm và tỉnh giác. Nếu Tỷ-kheo ấy, trong khi suy xét, biết được như sau: “Ta có những pháp ác bất thiện chưa được đoạn tận, nếu ta lỡ mệnh chung ngày hôm nay, chúng có thể là chướng ngại cho ta”. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy cần phải sống hoan hỷ, hân hoan, ngày đêm cần phải học tập trong các thiện pháp.

Này các Tỷ-kheo, niệm chết, tu tập như vậy, làm cho sung mãn như vậy thời được quả lớn, được lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử.