Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về Chư Thiên

AN 6.31 Vị Hữu Học Sekhasutta

"Sáu điều này dẫn đến sự suy thoái của một vị tỳ kheo hữu học (mendicant trainee / vị tu sĩ đang còn phải học). Sáu điều gì? Họ thích làm việc, nói chuyện, ngủ nghỉ, và tụ tập. Họ không thu thúc các căn (guard the sense doors / giữ gìn các giác quan), và họ ăn quá nhiều (eat too much / ăn không tiết độ). Sáu điều này dẫn đến sự suy thoái của một vị tỳ kheo hữu học.

Sáu điều này không dẫn đến sự suy thoái của một vị tỳ kheo hữu học. Sáu điều gì? Họ không thích làm việc, nói chuyện, ngủ nghỉ, và tụ tập. Họ thu thúc các căn, và họ không ăn quá nhiều. Sáu điều này không dẫn đến sự suy thoái của một vị tỳ kheo hữu học."

IV. Phẩm Chư Thiên

(I) (31) Hữu Học

1. - Sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa Tỷ-kheo hữu học đến thối đọa. Thế nào là sáu?

2. Ưa công việc, ưa nói chuyện, ưa ngủ, ưa hội chúng, các căn không phòng hộ, ăn uống không tiết độ.

Sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa Tỷ-kheo hữu học đến thối đọa.

3. Sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, không đưa Tỷ-kheo hữu học đến thối đọa. Thế nào là sáu?

4. Không ưa công việc, không ưa nói chuyện, không ưa ngủ nghỉ, không ưa hội chúng, các căn có phòng hộ, ăn uống có tiết độ.

Sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, không đưa Tỷ-kheo hữu học đến thối đọa.

AN 6.32 Không Suy Thoái (1) Paṭhamaaparihānasutta

Rồi, vào lúc đêm khuya, một vị trời (deity / chư thiên) rực rỡ, chiếu sáng toàn bộ rừng Jeta (Jeta’s Grove / vườn ông Jeta), đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, đứng sang một bên và thưa với Ngài:

“Thưa Ngài, sáu điều này không dẫn đến sự suy thoái của một vị tỳ kheo. Sáu điều gì? Kính trọng Bậc Đạo Sư (Teacher / Thầy), kính trọng Giáo Pháp (teaching / Pháp), kính trọng Tăng đoàn (Saṅgha / đoàn thể tu sĩ), kính trọng việc học tập (training / sự thực hành giới luật), kính trọng sự siêng năng (diligence / tinh tấn), và kính trọng sự hiếu khách (hospitality / sự tiếp đãi). Sáu điều này không dẫn đến sự suy thoái của một vị tỳ kheo.”

Đó là những gì vị trời ấy nói, và Bậc Đạo Sư đã chấp thuận. Sau đó, vị trời ấy, biết rằng Bậc Đạo Sư đã chấp thuận, đảnh lễ, và kính cẩn đi quanh Đức Phật theo chiều bên phải, trước khi biến mất ngay tại đó.

Rồi, khi đêm đã qua, Đức Phật kể lại cho các vị tỳ kheo tất cả những gì đã xảy ra, và nói thêm:

“Kính trọng Bậc Đạo Sư và Giáo Pháp,
Và hết lòng kính trọng Tăng đoàn;
Vị tỳ kheo kính trọng sự siêng năng
Và lòng hiếu khách
Không thể suy thoái,
Và đã đến gần Niết Bàn (extinguishment / sự dập tắt phiền não).”

(II) (32) Không Thối Ðọa (1)

1. Rồi một Thiên nhân, sau khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên nhân ấy bạch Thế Tôn: “Có sáu pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến thối đọa. Thế nào là sáu? Kính trọng Ðạo Sư, kính trọng Pháp, kính trọng chúng Tăng, kính trọng học pháp, kính trọng không phóng dật, kính trọng tiếp đón. Sáu pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến thối đọa.

Thiên nhân ấy nói như vậy, Bậc Ðạo Sư chấp nhận. Rồi Thiên nhân ấy nghĩ rằng: “Bậc Ðạo Sư đã chấp nhận ta”, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ.

2. Rồi Thế Tôn, sau khi đêm ấy đã qua, gọi các Tỷ-kheo:

− Ðêm nay, này các Tỷ-kheo, có một Thiên nhân, sau khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, này các Tỷ-kheo, Thiên nhân ấy nói với Ta: “Có sáu pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến thối đọa. Thế nào là sáu? Kính trọng Ðạo Sư, kính trọng Pháp, kính trọng chúng Tăng, kính trọng học pháp, kính trọng không phóng dật, kính trọng tiếp đón. Sáu pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến thối đọa”. Này các Tỷ-kheo, Thiên nhân ấy nói như vậy. Nói như vậy xong, vị ấy đảnh lễ Ta, thân bên hữu hướng về Ta rồi biến mất tại chỗ.

Tỷ-kheo kính Ðạo Sư,
Cung kính Pháp và Tăng,
Học pháp không phóng dật,
Cung kính nghinh tiếp đón,
Không thể bị thối đọa,
Nhất định gần Niết-bàn.

AN 6.33 Không Suy Thoái (2) Dutiyaaparihānasutta

"Đêm nay, một vị trời rực rỡ, chiếu sáng toàn bộ rừng Jeta, đã đến gặp Ta, đảnh lễ, đứng sang một bên và thưa với Ta: ‘Thưa Ngài, sáu điều này không dẫn đến sự suy thoái của một vị tỳ kheo. Sáu điều gì? Kính trọng Bậc Đạo Sư, kính trọng Giáo Pháp, kính trọng Tăng đoàn, kính trọng việc học tập, kính trọng sự xấu hổ (conscience / tàm), và kính trọng sự sợ điều ác (prudence / quý). Sáu điều này không dẫn đến sự suy thoái của một vị tỳ kheo.’

Đó là những gì vị trời ấy nói. Rồi vị ấy đảnh lễ và kính cẩn đi quanh Ta theo chiều bên phải, trước khi biến mất ngay tại đó.

Người kính trọng Bậc Đạo Sư và Giáo Pháp,
Hết lòng kính trọng Tăng đoàn;
Có đủ sự xấu hổ và sự sợ điều ác,
Cung kính và tôn trọng—
Không thể nào suy thoái;
Họ đã đến gần Niết Bàn."

(III) (33) Không Thối Ðọa (2)

1. - Ðêm nay, này các Tỷ-kheo, một Thiên nhân, sau khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jatavana, đi đến Ta; sau khi đến đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, này các Tỷ-kheo, Thiên nhân ấy thưa với Ta: “Có sáu pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến thối đọa. Thế nào là sáu? Kính trọng Ðạo Sư, kính trọng Pháp, kính trọng chúng Tăng, kính trọng học pháp, kính trọng hổ thẹn, kính trọng sợ hãi. Sáu pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến thối đọa”. Này các Tỷ-kheo, Thiên nhân ấy nói như vậy. Nói như vậy xong, vị ấy đảnh lễ Ta, thân bên hướng về Ta rồi biến mất tại chỗ.

Cung kính bậc Ðạo Sư,
Cung kính lớn Pháp Tăng,
Ðầy đủ tàm và quý
Kính nhường và cung kính,
Không thể bị thối đọa,
Nhất định gần Niết-bàn.

AN 6.34 Với Tôn giả Mahāmoggallāna Mahāmoggallānasutta

Một thời Đức Phật trú tại gần Sāvatthī, trong rừng Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika.

Khi ấy, Tôn giả Mahāmoggallāna (Venerable Mahāmoggallāna / Tôn giả Mahāmoggallāna) đang độc cư thiền tịnh (private retreat / ở một mình tu tập), tâm trí ngài khởi lên ý nghĩ này: “Những vị trời nào biết rằng họ là bậc Nhập Lưu (stream-enterers / người đã vào dòng Thánh), không còn tái sinh vào cõi dữ (not liable to be reborn in the underworld / chắc chắn không còn sinh vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh), chắc chắn giác ngộ (bound for awakening / nhất định sẽ đạt giác ngộ)?”

Lúc bấy giờ, một vị tỳ kheo tên là Tissa vừa mới qua đời và tái sinh vào một cõi trời (realm of divinity / thế giới của chư thiên). Ở đó, người ta biết rằng vị trời Tissa rất có thần lực và uy đức lớn.

Và rồi Tôn giả Mahāmoggallāna, dễ dàng như một người mạnh duỗi ra hay co vào cánh tay, biến mất khỏi rừng Jeta và xuất hiện tại cõi trời đó.

Vị trời Tissa thấy ngài Moggallāna từ xa đi tới, liền nói với ngài: “Xin mời ngài Moggallāna! Chào mừng ngài Moggallāna! Đã lâu lắm rồi ngài mới có dịp đến đây. Xin mời ngồi, thưa ngài Moggallāna, chỗ ngồi này dành cho ngài.” Ngài Moggallāna ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn. Rồi vị trời Tissa đảnh lễ ngài Moggallāna và ngồi sang một bên.

Ngài Moggallāna hỏi vị ấy: “Này Tissa, những vị trời nào biết rằng họ là bậc Nhập Lưu, không còn tái sinh vào cõi dữ, chắc chắn giác ngộ?”

“Chư thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương biết điều này.”

“Nhưng có phải tất cả họ đều biết điều này không?”

“Không, thưa ngài Moggallāna, không phải tất cả. Những vị nào thiếu niềm tin vững chắc (experiential confidence / niềm tin dựa trên kinh nghiệm, sự chứng nghiệm) vào Đức Phật, Giáo Pháp, và Tăng đoàn, và thiếu giới đức được bậc Thánh yêu quý (ethics loved by the noble ones / những phẩm hạnh đạo đức mà các bậc Thánh ưa thích), thì không biết rằng họ là bậc Nhập Lưu. Nhưng những vị nào có niềm tin vững chắc vào Đức Phật, Giáo Pháp, và Tăng đoàn, và có giới đức được bậc Thánh yêu quý, thì biết rằng họ là bậc Nhập Lưu.”

“Nhưng này Tissa, có phải chỉ chư thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương mới biết rằng họ là bậc Nhập Lưu, hay cả chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba… chư thiên Dạ Ma… chư thiên Đâu Suất… chư thiên Hóa Lạc… và chư thiên Tha Hóa Tự Tại cũng biết rằng họ là bậc Nhập Lưu, không còn tái sinh vào cõi dữ, chắc chắn giác ngộ?”

“Chư thiên ở các cõi trời này đều biết điều đó.”

“Nhưng có phải tất cả họ đều biết điều này không?”

“Không, thưa ngài Moggallāna, không phải tất cả. Những vị nào thiếu niềm tin vững chắc vào Đức Phật, Giáo Pháp, và Tăng đoàn, và thiếu giới đức được bậc Thánh yêu quý, thì không biết rằng họ là bậc Nhập Lưu. Nhưng những vị nào có niềm tin vững chắc vào Đức Phật, Giáo Pháp, và Tăng đoàn, và có giới đức được bậc Thánh yêu quý, thì biết rằng họ là bậc Nhập Lưu.”

Ngài Moggallāna chấp thuận và đồng ý với những gì vị trời Tissa nói. Rồi, dễ dàng như một người mạnh duỗi ra hay co vào cánh tay, ngài biến mất khỏi cõi trời đó và xuất hiện trở lại tại rừng Jeta.

(IV) (34) Ðại Mục Kiền Liên

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvavatthì, tại Jetavana, chỗ khu vườn ông Anàthapindika. Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna trong khi độc cư thiền tịnh, những suy nghĩ như sau được khởi lên: “Có bao nhiêu chư Thiên có trí như sau: ‘Ta là bậc Dự lưu, không còn bị đọa lạc, quyết chắc đạt được giác ngộ?’ “

Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo Tissa mệnh chung không bao lâu, được lên một Phạm thiên giới. Tại đấy, họ biết vị ấy là: “Phạm thiên Tissa, có đại thần lực, có đại uy lực”.

2. Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna, ví như người lực sĩ duỗi bàn tay đang co lại hay co lại bàn tay đang duỗi ra, cũng vậy biến mất ở Jetavana và hiện ra ở Phạm thiên giới ấy. Phạm thiên Tissa thấy Tôn giả Mahà Moggallàna từ xa đi đến; sau khi thấy, nói Tôn giả Mahà Moggallàna:

− Hãy đến, bạn Moggallàna! Thiện lai, bạn Moggallàna! Ðã lâu, bạn Moggallàna, mới tạo cơ hội này, tức là đến đây. Này bạn Moggallàna, hãy ngồi trên chỗ đã soạn này!

Tôn giả Mahà Moggalàna ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Phạm thiên Tissa đảnh lễ Tôn giả Mahà Moggallàna, rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Mahà Moggallàna nói với Phạm thiên đang ngồi một bên:

− Có bao nhiêu Thiện nhân, này Tissa, có trí như sau: “Chúng ta là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc đạt đến giác ngộ”?

− Này bạn Moggallàna, bốn Thiên vương có trí như sau: “Chúng ta là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc đạt đến giác ngộ”.

− Này Tissa, có phải tất cả Bốn Thiên vương đều có trí như sau: “Chúng ta là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc đạt đến giác ngộ”?

− Này bạn Moggallàna, không phải tất cả Bốn Thiên vương đều có trí như sau: “Chúng ta là bậc Dự lưu, không còn bị đọa lạc, quyết chắc đạt đến giác ngộ”. Này bạn Moggallana, Bốn Thiên vương nào không thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật, không thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Pháp, không thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Tăng, không thành tựu các Giới Luật được các bậc Thánh ái kính, Bốn Thiên vương ấy không có trí như sau: “Chúng ta là bậc Dự lưu không còn bị thối đọa, quyết chắc đạt đến giác ngộ”. Và này bạn Moggallàna, Bốn Thiên vương nào thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Phật, thành tựu lòng tịnh tín đối với Pháp, thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Tăng, thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với các Giới được bậc trí ái kính, Bốn Thiên vương ấy có trí như sau: “Chúng ta là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc đạt đến giác ngộ”. − Này Tissa, có phải chỉ có Bốn Thiên vương mới có trí như sau: “Chúng ta là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc đạt đến giác ngộ”, hay các chư thiên ở cõi trời Ba mươi ba… hay các chư Thiên Dạma… hay các chư Thiên ở cõi Tusità (Ðâu-suất)… hay chư thiên Hóa lạc hay chư Thiên tha hóa Tự tại… cũng có trí như sau: “Chúng ta là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc đạt đến giác ngộ”?

− Này bạn Moggallàna, chư Thiên Tha hóa Tự tại có trí như sau: “Chúng ta là bậc dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc đạt đến giác ngộ”.

− Này Tissa, có phải tất cả chư Thiên Tha hóa Tự tại đều có trí như sau: “Chúng ta là bậc Dự lưu, không còn bị đọa lạc, quyết chắc đạt đến giác ngộ”?

− Này bạn Moggallàna, không phải tất cả chư Thiên Tha hóa Tự tại đều có trí như sau: “Chúng ta là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc đạt đến giác ngộ”. Này bạn Moggallàna, chư thiên Tha hóa Tự tại nào không thành tựu lòng tịnh tín bất động với đức Phật, không thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Pháp, không thành tựu lòng tịnh tín bất động với Tăng, không thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với các Giới được các bậc Thánh ái kính, các chư Thiên ấy không có trí như sau: “Chúng ta là bậc Dư lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc đạt đến giác ngộ”. Và này bạn Moggallàna, chư thiên Tha hóa Tự tại nào thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật, thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Pháp, thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Tăng, thành tựu các Giới được các bậc Thánh ái kính, chỉ những chư Thiên ấy mới có trí như sau: “Chúng ta là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc đạt đến giác ngộ”.

3. Rồi Tôn giả Mahà Moggalàna sau khi hoan hỷ tín thọ lời nói của Phạm thiên Tissa, như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy, biến mất tại Phạm thiên giới và hiện tại Jetavana.

AN 6.35 Những Điều Thuộc Về Minh Vijjābhāgiyasutta

“Sáu điều này thuộc về minh (realization / tuệ giác, sự chứng ngộ). Sáu điều gì? Nhận thức về sự vô thường (perception of impermanence / tưởng vô thường), nhận thức về sự khổ trong cái vô thường (perception of suffering in impermanence / tưởng khổ trong vô thường), nhận thức về sự vô ngã trong cái khổ (perception of not-self in suffering / tưởng vô ngã trong khổ), nhận thức về sự từ bỏ (perception of giving up / tưởng về sự xả ly), nhận thức về sự ly tham (perception of fading away / tưởng về sự phai nhạt ham muốn), và nhận thức về sự đoạn diệt (perception of cessation / tưởng về sự chấm dứt). Đây là sáu điều thuộc về minh.”

(V) (35) Minh Phần

1. - Có sáu pháp này thuộc về minh phần. Thế nào là sáu?

2. Tưởng vô thường, tưởng khổ trong vô thường, tưởng vô ngã trong khổ, tưởng đoạn tận, tưởng ly tham, tưởng đoạn diệt.

Sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, là thuộc về minh phần.

AN 6.36 Nguồn Gốc Của Tranh Cãi Vivādamūlasutta

"Này các tỳ kheo, có sáu nguồn gốc của tranh cãi (roots of arguments / nhân sanh tranh luận) này. Sáu điều gì? Thứ nhất, một vị tỳ kheo dễ nổi nóng và gay gắt. Vị tỳ kheo như vậy thiếu tôn trọng và kính trọng Bậc Đạo Sư, Giáo Pháp, và Tăng đoàn, và họ không hoàn thành việc học tập. Họ tạo ra sự tranh cãi trong Tăng đoàn, điều này gây bất lợi và khổ đau cho mọi người, chống lại mọi người, gây tổn hại, bất lợi và khổ đau cho trời và người. Nếu các con thấy một nguồn gốc tranh cãi như vậy nơi mình hay nơi người khác, các con nên cố gắng từ bỏ điều xấu này. Nếu các con không thấy, các con nên thực hành để nó không phát sinh trong tương lai. Đó là cách từ bỏ nguồn gốc tranh cãi xấu xa này, để nó không phát sinh trong tương lai.

Hơn nữa, một vị tỳ kheo hay xúc phạm và khinh miệt… Họ ganh tị và keo kiệt… gian xảo và lừa dối… có mong muốn xấu xa và tà kiến (wrong view / thấy biết sai lầm)… Họ chấp chặt vào quan điểm của mình, giữ khư khư và không chịu buông bỏ. Vị tỳ kheo như vậy thiếu tôn trọng và kính trọng Bậc Đạo Sư, Giáo Pháp, và Tăng đoàn, và họ không hoàn thành việc học tập. Họ tạo ra sự tranh cãi trong Tăng đoàn, điều này gây bất lợi và bất hạnh cho mọi người, chống lại mọi người, gây tổn hại, bất lợi và khổ đau cho trời và người. Nếu các con thấy một nguồn gốc tranh cãi như vậy nơi mình hay nơi người khác, các con nên cố gắng từ bỏ điều xấu này. Nếu các con không thấy, các con nên thực hành để nó không phát sinh trong tương lai. Đó là cách từ bỏ nguồn gốc tranh cãi xấu xa này, để nó không phát sinh trong tương lai. Đây là sáu nguồn gốc của tranh cãi."

(VI) (36) Gốc Rễ Của Ðấu Tranh

1. - Có sáu gốc rễ đấu tranh này, này các Tỷ-kheo. Thế nào là sáu?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo phẫn nộ và hiềm hận.

Này các Tỷ-kheo, ở đây, vị Tỷ-kheo phẫn nộ, hiềm hận. Này các Tỷ-kheo, ai phẫn nộ, hiềm hận, vị ấy sống không cung kính, không tùy thuận bậc Ðạo Sư, sống không cung kính, không tùy thuận Pháp, sống không cung kính, không tùy thuận Tăng, không thành tựu đầy đủ các Học pháp. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống không cung kính, không tùy thuận bậc Ðạo Sư, không cung kính, không tùy thuận Pháp, không cung kính, không tùy thuận Tăng, không thành tựu đầu đủ các Học pháp, vị ấy khởi lên tranh luận giữa chư Tăng. Tranh luận như vậy khiến nhiều người không hạnh phúc, khiến nhiều người không an lạc, khiến nhiều người không lợi ích, khiến chư Thiên và loài Người không hạnh phúc và đau khổ. Này các Tỷ-kheo, nếu các Thầy thấy ác tránh căn ấy giữa các Thầy hay ngoài các Thầy, này các Tỷ-kheo, các Thầy phải cố gắng đoạn trừ ác tránh căn ấy. Này các Tỷ-kheo, nếu các Thầy không ác tránh căn ấy giữa các Thầy hay ngoài các Thấy, này các Tỷ kheo, các Thầy hãy tác động đừng cho ác tránh căn ấy có cơ hội làm hại trong tương lai. Như vậy là đoạn tận ác tránh căn ấy. Như vậy là ngăn chận nguy hại ác tránh căn ấy trong tương lai.

3. Này các Tỷ-kheo, lại nữa, vị Tỷ-kheo giả dối và não hại… tật đố và xan tham… lừa đảo vá man trá… ác dục và tà kiến… chấp trước sở kiến, kiên trì gìn giữ, rất khó rời bỏ. Này các Hiền giả, Tỷ-kheo chấp trước sở kiến, kiên trì gìn giữ rất khó rời bỏ, vị ấy sống không cung kính, không tùy thuận bậc đạo Sư, không cung kính, không tùy thuận Pháp, không cung kính, không tùy thuận Tăng, không thành tựu đầy đủ các Học pháp. Này các Hiền giả, Tỷ-kheo không cung kính, không tùy thuận bậc Ðạo Sư… Pháp… Tăng… không thành tựu đầy đủ các Học pháp, vị ấy khởi lên tranh luận giữa chư Tăng. Tranh luận như vậy khiến nhiều người không hạnh phúc, khiến nhiều người không an lạc, khiến nhiều người không ích lợi, khiến chư Thiên và loài Người không hạnh phúc và đau khổ. Này các Tỷ-kheo, nếu các Thầy thấy được ác tránh căn ấy giữa các Thầy hay ngoài các Thầy, các Thầy phải cố gắng đoạn trừ ác tránh căn ấy. Này các Tỷ-kheo, nếu các Thầy không thấy ác tránh căn ấy giữa các Thầy hay ngoài các Thầy, các Thầy hãy gìn giữ đừng cho ác tránh căn ấy có cơ hội làm hại trong tương lai. Như vậy là sự đoạn tận ác tránh căn ấy. Như vậy là ngăn chặn nguy hại ác tránh căn ấy trong tương lai.

Này các Tỷ-kheo, đây là sáu tránh căn.

AN 6.37 Cúng Dường Sáu Yếu Tố Chaḷaṅgadānasutta

Một thời Đức Phật trú tại gần Sāvatthī, trong rừng Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika.

Lúc bấy giờ, bà Veḷukaṇṭakī, mẹ của Nanda, đang chuẩn bị một sự cúng dường (sacrifice / sự bố thí, tế lễ) có sáu yếu tố cho Tăng đoàn tỳ kheo do ngài Sāriputta và Moggallāna dẫn đầu. Đức Phật thấy bà đang làm việc này, bằng thiên nhãn (clairvoyance / khả năng nhìn thấy vượt giới hạn thông thường) thanh tịnh và siêu phàm của Ngài, và Ngài nói với các vị tỳ kheo:

"Bà Veḷukaṇṭakī, mẹ của Nanda này, đang chuẩn bị một sự cúng dường có sáu yếu tố cho Tăng đoàn tỳ kheo do ngài Sāriputta và Moggallāna dẫn đầu.

Và làm thế nào một sự cúng dường có sáu yếu tố? Ba yếu tố thuộc về người thí chủ (donor / người cúng dường) và ba yếu tố thuộc về người nhận (recipients / người thọ nhận).

Ba yếu tố nào thuộc về người thí chủ? Đó là khi người thí chủ có tâm trạng hoan hỷ trước khi cúng dường, trong khi cúng dường họ có tâm tịnh tín (feel confident / lòng tin trong sạch), và sau khi cúng dường họ cảm thấy phấn khởi. Ba yếu tố này thuộc về người thí chủ.

Ba yếu tố nào thuộc về người nhận? Đó là khi người nhận không còn tham, tức giận, và si mê, hoặc đang thực hành để đoạn trừ chúng. Ba yếu tố này thuộc về người nhận.

Như vậy, ba yếu tố thuộc về người thí chủ và ba yếu tố thuộc về người nhận. Đó là cách một sự cúng dường có sáu yếu tố.

Không dễ để đo lường phước báu (merit / công đức) của một sự cúng dường sáu yếu tố như vậy bằng cách nói rằng đây là mức độ phước báu tràn đầy, thiện lành tràn đầy của họ, nuôi dưỡng hạnh phúc và đưa đến cõi trời, trổ quả hạnh phúc và dẫn đến cõi trời. Và nó dẫn đến những gì đáng yêu thích, đáng mong muốn, đáng hài lòng, đến lợi ích và hạnh phúc. Nó chỉ đơn giản được xem là một khối phước báu không thể tính đếm, không thể đo lường, thật vĩ đại.

Giống như cố gắng đo lường lượng nước trong đại dương vậy. Không dễ để nói có bao nhiêu gallon, bao nhiêu trăm, ngàn, trăm ngàn gallon nước. Nó chỉ đơn giản được xem là một khối nước không thể tính đếm, không thể đo lường, thật vĩ đại. Cũng vậy, không dễ để đo lường phước báu của một sự cúng dường sáu yếu tố như vậy…

Tâm trạng hoan hỷ trước khi cho,
Lòng tin trong sạch khi đang cho,
Cảm thấy phấn khởi sau khi cho:
Đây là sự cúng dường viên mãn.

Không tham lam, không tức giận,
Không si mê, không ô nhiễm;
Đây là ruộng phước cho sự cúng dường viên mãn,
Những người tu hành có kỷ luật.

Sau khi rửa sạch,
Tự tay mình dâng cúng.
Sự cúng dường này rất nhiều kết quả
Cho cả bản thân và người khác.

Khi người trí tuệ, có niềm tin,
Cúng dường như thế, với tâm xả ly (mind of letting go / tâm buông bỏ),
Người sáng suốt ấy được tái sinh
Trong thế giới hạnh phúc, an vui."

(VII) (37) Bố Thí

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvavatthì, tại Jetavata, khu vườn của ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, mẹ của Nanda, nữ gia chủ người Velukandaki làm một thí vật gồm có sáu phần cho chúng Tỷ-kheo Tăng, cầm đầu là Sariputta và Moggallàna. Thế Tôn với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, thấy mẹ của Nanda, nữ gia chủ người Velukandaki làm một thí vật gồm có sáu phần cho chúng Tỷ-kheo Tăng, cầm đầu là Sàriputta và Moggallàna. Sau khi thấy vậy Thế Tôn liền bảo các Tỷ-kheo:

− Có mẹ của Nanda, nữ gia chủ người Velukandaki làm một thí vật gồm có sáu phần cho chúng Tỷ-kheo Tăng, cầm đầu là Sàriputta và Moggallàna. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thí vật gồm có sáu phần cho chúng Tỷ-kheo Tăng?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có ba phần thuộc người bố thí và có ba phần thuộc người nhận đồ bố thí. Thế nào là ba phần thuộc về người bố thí? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bố thí, trước khi bố thí, ý được vui lòng; trong khi bố thí, tâm được tịnh tín; sau khi bố thí, cảm thấy hoan hỷ. Ðây là ba phần của người bố thí. Thế nào là ba phần của người nhận bố thí? Ở đây, này các Tỷ-kheo, những người nhận vật bố thí, đã được ly tham hay đang thực hành hạnh ly tham; đã được ly sân hay đang thực hành hạnh ly sân; đã được ly si hay đang thực hành hạnh ly si. Ðây là ba phần của những người nhận vật bố thí. Như vậy là ba phần của người bố thí và ba phần của những người nhận được vật bố thí. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là thí vật gồm có sáu phần.

3. Như vậy, này các Tỷ-kheo, thực không dễ gì nắm được số lượng về công đức một thí vật gồm có sáu phần như vậy: “Có chừng ấy nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện, món ăn an lạc, thuộc Thiên giới, là quả lạc dị thục, dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc”; vì rằng cả khố công đức lớn được xem là vô số, vô lượng. Ví như, này các Tỷ-kheo, trong biển lớn, thật không dễ gì nắm lấy một số lượng nước và nói rằng: “Có chừng ấy thùng nước, hay có chừng ấy trăm thùng nước, hay có chừng ấy ngàn thùng nước, hay có chừng ấy trăm ngàn thùng nước”; vì rằng, cả khối lượng lớn nước được xem là vô số, vô lượng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thật không dễ gì để nắm được số lượng về công đức của một thí vật gồm sáu phần như vậy: “Có chừng ấy nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện, món ăn lạc. thuộc Thiên giới, là quả lạc dị thục, dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc an lạc”; vì rằng cả khối công đức lớn được xem là vô số, vô lượng. Trước bố thí, ý vui,
Khi bố thí, tâm tín.
Sau bố thí, hoan hỷ,
Ðây lễ thí đầy đủ.
Ly tham và ly sân,
Ly si, không lậu hoặc,
Vị Phạm hạnh chế ngự
Là ruộng phước lễ thí.
Nếu tự thanh tịnh mình,
Tự tay mình bố thí,
Tự mình đến đời sau,
Lễ thí vậy, quả lớn.
Lễ thí vậy, bậc trí,
Với tín, tâm giải thoát,
Không hận thù, an lạc,
Bậc Hiền sanh ở đời.

AN 6.38 Tự Mình Hành Động Attakārīsutta

Khi ấy, một vị bà la môn (brahmin / giai cấp tu sĩ, trí thức Ấn Độ cổ) nào đó đến gặp Đức Phật và chào hỏi Ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện thân mật xong, ông ngồi sang một bên và thưa với Đức Phật:

“Thưa ngài Gotama, đây là giáo lý và quan điểm của tôi: Người ta không hành động do tự mình (act of one’s own volition / tự làm), cũng không hành động do người khác (act of another’s volition / do người khác làm).”

"Này bà la môn, Ta chưa từng thấy hay nghe ai có giáo lý hay quan điểm như vậy! Làm sao một người tự mình đi đến, tự mình đi về lại có thể nói rằng người ta không hành động do tự mình, cũng không hành động do người khác?

Ông nghĩ sao, này bà la môn, có yếu tố khởi sự (element of initiative / giới khởi sự, khả năng bắt đầu hành động) không?"

“Thưa vâng, có ạ.”

“Vì điều này là có thật, chúng ta có thấy chúng sinh (sentient beings / các loài hữu tình) khởi sự hành động không?”

“Thưa vâng, có ạ.”

"Vì có yếu tố khởi sự, và chúng ta thấy có chúng sinh khởi sự hành động, nên chúng sinh hành động do tự mình hoặc do người khác.

Ông nghĩ sao, này bà la môn, có yếu tố kiên trì (element of persistence / giới kiên trì)… nỗ lực (exertion / tinh tấn)… sức mạnh (strength / sức lực)… sự bền bỉ (endurance / sự chịu đựng)… nghị lực (energy / tinh tấn lực) không?"

“Thưa vâng, có ạ.”

“Vì điều này là có thật, chúng ta có thấy chúng sinh có nghị lực không?”

“Thưa vâng, có ạ.”

"Vì có yếu tố nghị lực, và chúng ta thấy có chúng sinh có nghị lực, nên chúng sinh hành động do tự mình hoặc do người khác.

Này bà la môn, Ta chưa từng thấy hay nghe ai có giáo lý hay quan điểm như vậy! Làm sao một người tự mình đi đến, tự mình đi về lại có thể nói rằng người ta không hành động do tự mình, cũng không hành động do người khác?"

“Thật tuyệt vời, thưa ngài Gotama! Thật tuyệt vời!.. Kể từ hôm nay, xin ngài Gotama hãy xem con là một cư sĩ tại gia (lay follower / người theo đạo tại nhà) đã quy y (gone for refuge / nương tựa) trọn đời.”

(VIII) (38) Tự Làm

1. Rồi một vị Bà-la-môn đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-lamôn ấy bạch Thế Tôn:

2. - Thưa Tôn giả Gatama, tôi nói như sau, có tri kiến như sau: “Không có tự mình làm, không có người khác làm”.

− Này Bà-la-môn, Ta không bao giờ thấy, không bao giờ nghe lời nói như vậy, tri kiến như vậy. Sao người ta có thể tự mình bước tới, hay tự mình bước lui, lại có thể nói rằng: “Không có tự mình làm, không có người khác làm”? Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn, có phát khởi giới hay không? (Có vấn đề khởi sự bắt đầu không? )

− Thưa có, thưa Tôn giả.

Nếu đã có sự khởi sự, thời các loài hữu tình có được nêu rõ là có khởi sự không?

− Thưa có, thưa tôn giả.

− Này Bà-la-môn, đã có khởi sự, các loài hữu tình có được nêu rõ là có khởi sự, thời đây là tự mình làm, đây là người khác làm của các loài hữu tình. Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn, có sự khởi xuất giới… có sự khởi nhập giới… có sự nỗ lựa giới… có sự kiên trì giới… có sự dõng tiến giới hay không?

− Thưa có, thưa Tôn giả.

− Này Bà-la-môn, nếu đã có sự dõng tiến giới, thời các loài hữu tình có được nêu rõ có sự dõng tiến giới không?

− Thưa có, thưa Tôn giả.

− Này Bà-la-môn, đã có sự dõng tiến giới, các loài hữu tình có được nêu rõ là có sự dõng tiến giới, thời đây là tự mình làm, đây là người khác làm của các loài hữu tình. Này Bà-la-môn, Ta không bao giờ thấy, không bao giờ nghe nói như vậy, tri kiến như vậy. Sao người ta lại có thể tự mình bước tới, tự mình bước lui lại có thể nói rằng: “Không có tự mình làm, không có người khác làm”.

− Thật vi diệu thay, Thưa Tôn giả Gotama! Thật hy hữu thay, thưa Tôn giả Gotama… Từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

AN 6.39 Nguồn Gốc Nidānasutta

"Này các tỳ kheo, có ba nguồn gốc phát sinh hành động (sources that give rise to deeds / nhân sanh nghiệp) này. Ba điều gì? Tham lam, tức giận, và si mê là những nguồn gốc phát sinh hành động (deeds / nghiệp). Tham lam không phát sinh sự không tham. Đúng hơn, tham lam chỉ phát sinh tham lam. Tức giận không phát sinh sự không tức giận. Đúng hơn, tức giận chỉ phát sinh tức giận. Si mê không phát sinh sự không si mê. Đúng hơn, si mê chỉ phát sinh si mê. Không phải do những hành động sinh ra từ tham lam, tức giận, và si mê mà có chư thiên, loài người, hay bất kỳ cõi lành (good places / thiện thú) nào khác được tìm thấy. Đúng hơn, chính vì những hành động sinh ra từ tham lam, tức giận, và si mê mà địa ngục, cõi súc sinh, cõi ngạ quỷ, hay bất kỳ cõi dữ (bad places / ác thú) nào khác được tìm thấy. Đây là ba nguồn gốc phát sinh hành động.

Này các tỳ kheo, có ba nguồn gốc phát sinh hành động này. Ba điều gì? Sự không tham (contentment / vô tham), sự không tức giận (love / vô sân, từ ái), và sự không si mê (understanding / vô si, trí tuệ) là những nguồn gốc phát sinh hành động. Sự không tham không phát sinh tham lam. Đúng hơn, sự không tham chỉ phát sinh sự không tham. Sự không tức giận không phát sinh tức giận. Đúng hơn, sự không tức giận chỉ phát sinh sự không tức giận. Sự không si mê không phát sinh si mê. Đúng hơn, sự không si mê chỉ phát sinh sự không si mê. Không phải do những hành động sinh ra từ sự không tham, sự không tức giận, và sự không si mê mà địa ngục, cõi súc sinh, cõi ngạ quỷ, hay bất kỳ cõi dữ nào khác được tìm thấy. Đúng hơn, chính vì những hành động sinh ra từ sự không tham, sự không tức giận, và sự không si mê mà có chư thiên, loài người, hay bất kỳ cõi lành nào khác được tìm thấy. Đây là ba nguồn gốc phát sinh hành động."

(IX) (39) Nhân Duyên

1. - Có ba nhân duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến các nghiệp khởi lên. Thế nào là ba?

2. Tham là nhân duyên khiến các nghiệp khởi lên. Sân là nhân duyên khiến các nghiệp khởi lên. Si là nhân duyên khiến các nghiệp khởi lên. Này các Tỷ-kheo, không phải từ tham, không tham khởi các Tỷ-kheo, không phải từ tham, không tham khởi lên. Này các Tỷ-kheo, chính từ tham, chỉ có tham khởi lên. Này các Tỷ-kheo, không phải từ sân, không sân khởi lên. Này các Tỷ-kheo, chính từ sân, chỉ có sân khởi lên. Này các Tỷ-kheo, không phải từ si, không si khởi lên. Này các Tỷ-kheo, chính từ si, chỉ có si khởi lên. Này các Tỷ-kheo, không phải do nghiệp từ tham sanh, không phải do nghiệp từ sân sanh, không phải do nghiệp từ si sanh, chu Thiên được nêu rõ, loài Người được nêu rõ, hay những loài khác đang ở trong thiện thú. Này các Tỷ-kheo, chính do nghiệp từ tham sanh, chính do nghiệp từ sân sanh, chính do nghiệp từ si sanh, địa ngục được nêu rõ, các loài bàng sanh được nêu rõ, các loại ngạ quỷ được nêu rõ, và các loài khác đang ở trong ác thú.

Ðây là ba nhân duyên, này các Tỷ-kheo, khiến các nghiệp khởi lên.

3. Có ba nhân duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến các nghiệp khởi lên. Thế nào là ba?

4. Không tham là nhân duyên khiến các nghiệp khởi lên, không sân là nhân duyên khiến các nghiệp khởi lên, không si là nhân duyên khiến các nghiệp khởi lên. Không phải từ không tham, tham khởi lên. Này các Tỷ-kheo, chính từ không tham, chỉ có không tham khởi lên. Này các Tỷ-kheo, không phải từ không sân, sân khởi lên. Này các Tỷ-kheo, chính từ không sân, chỉ có không sân khởi lên. Này các Tỷ-kheo, không phải từ không si, si khởi lên. Này các Tỷ-kheo, chính từ không si, si khởi lên. Này các Tỷ-kheo, chính từ không si, chỉ có không si khởi lên. Này các Tỷ-kheo, không phải do nghiệp từ không tham sanh, không phải do nghiệp từ không sân sanh, không phải do nghiệp từ không sân sanh, địa ngục được nêu rõ, loài bàng sanh được nêu rõ, cõi ngạ quỹ được nêu rõ, và các loài khác đang ở trong ác thú. nhưng này các Tỷ-kheo, chính do nghiệp từ không tham sanh, chính do nghiệp từ không sân sanh, chính do nghiệp từ không si sanh, chư Thiên được nêu rõ, loài Người được nêu rõ, và các loài khác đang ở trong thiện thú.

Ðây là ba nhân duyên, này các Tỷ-kheo, khiến các nghiệp khởi lên.

AN 6.40 Với Kimbila Kimilasutta

TÔI NGHE NHƯ VẦY. Một thời Đức Phật trú tại gần Kimbilā, trong rừng Xoài Nước Ngọt. Khi ấy, Tôn giả Kimbila đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi sang một bên và thưa với Ngài:

“Thưa Ngài, đâu là nguyên nhân, đâu là lý do khiến Chánh pháp (true teaching / giáo pháp chân chính) không tồn tại lâu dài sau sự nhập diệt cuối cùng (final quenching / vô dư niết bàn) của Bậc Như Lai (Realized One / người đã chứng ngộ, danh hiệu của Phật)?”

“Này Kimbila, đó là khi các tỳ kheo, tỳ kheo ni, nam cư sĩ, và nữ cư sĩ thiếu tôn trọng và kính trọng Bậc Đạo Sư, Giáo Pháp, Tăng đoàn, việc học tập, sự siêng năng, và lòng hiếu khách sau sự nhập diệt cuối cùng của Bậc Như Lai. Đây là nguyên nhân, đây là lý do khiến Chánh pháp không tồn tại lâu dài sau sự nhập diệt cuối cùng của Bậc Như Lai.”

“Thưa Ngài, đâu là nguyên nhân, đâu là lý do khiến Chánh pháp tồn tại lâu dài sau sự nhập diệt cuối cùng của Bậc Như Lai?”

“Này Kimbila, đó là khi các tỳ kheo, tỳ kheo ni, nam cư sĩ, và nữ cư sĩ duy trì sự tôn trọng và kính trọng Bậc Đạo Sư, Giáo Pháp, Tăng đoàn, việc học tập, sự siêng năng, và lòng hiếu khách sau sự nhập diệt cuối cùng của Bậc Như Lai. Đây là nguyên nhân, đây là lý do khiến Chánh pháp tồn tại lâu dài sau sự nhập diệt cuối cùng của Bậc Như Lai.”

(X) (40) Tôn Giả Kimbila

1. Như vầy tôi nghe:

Một thời, Thế Tôn trú ở Kimbila, tại rừng Trúc. Rồi Tôn giả Kimbila đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Kimbila bạch Thế Tôn:

2. - Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, sau khi Như Lai nhập diệt, diệu pháp không còn tồn tại lâu dài?

3. - Ở đây, này Kimbila, khi Như Lai nhập diệt, các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống không cung kính, không tùy thuận bậc Ðạo sư, sống không cung kính, không tùy thuận Pháp; sống không cung kính, không tùy thuận chúng Tăng; sống không cung kính, không tùy thuận học pháp; sống không cung kính, không tùy thuận không phóng dật; sống không cung kính, không tùy thuận tiếp đón. Này Kimbila, đây là nhân, đây là duyên khiến cho khi Như Lai nhập diệt, Diệu pháp không tồn tại lâu dài.

4. - Do nhân gì, do duyên gì khi Như Lai nhập diệt, Diệu pháp được tồn tại lâu dài?

5. Ở đây, này Kimbila, khi Thế Tôn nhập diệt, các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống cung kính tùy thuận bậc Ðạo Sư; sống cung kính tùy thuận Pháp; sống cung kính tùy thuận chúng Tăng; sống cung kính tùy thuận học pháp; sống cung kính tùy thuận không phóng dật; sống cung kính tùy thuận tiếp đón. Ðây là nhân, đây là duyên, khi Như lai nhập diệt, Diệu pháp được tồn tại lâu dài.

AN 6.41 Khúc Gỗ Dārukkhandhasutta

TÔI NGHE NHƯ VẦY. Một thời Tôn giả Sāriputta trú tại gần thành Rājagaha (Vương Xá), trên núi Linh Thứu.

Khi ấy, Tôn giả Sāriputta đắp y vào buổi sáng, mang bát và y, cùng với vài vị tỳ kheo đi xuống núi Linh Thứu. Tại một nơi nọ, ngài thấy một khúc gỗ lớn, và ngài nói với các vị tỳ kheo: “Thưa các hiền giả, quý vị có thấy khúc gỗ lớn này không?”

“Thưa vâng, thưa hiền giả.”

“Nếu muốn, một vị tỳ kheo có thần thông (psychic powers / năng lực siêu nhiên) đã làm chủ được tâm có thể xác định khúc gỗ này chỉ là đất. Tại sao vậy? Bởi vì yếu tố đất (earth element / địa đại) tồn tại trong khúc gỗ. Dựa vào đó, một vị tỳ kheo có thần thông có thể xác định nó chỉ là đất. Nếu muốn, một vị tỳ kheo có thần thông đã làm chủ được tâm có thể xác định khúc gỗ này chỉ là yếu tố nước (water element / thủy đại)… Hoặc có thể xác định nó chỉ là yếu tố lửa (fire element / hỏa đại)… Hoặc có thể xác định nó chỉ là yếu tố gió (air element / phong đại)… Hoặc có thể xác định nó chỉ là đẹp… Hoặc có thể xác định nó chỉ là xấu xí. Tại sao vậy? Bởi vì yếu tố xấu xí (element of ugliness / bất tịnh đại) tồn tại trong khúc gỗ. Dựa vào đó, một vị tỳ kheo có thần thông có thể xác định nó chỉ là xấu xí.”

(XI) (41) Ðống Gỗ

1. Như vầy tôi nghe:

Một thời, Tôn giả Sàriputta trú ở Ràjagaha, tại núi Gijjhakùta. Rồi Tôn giả Sàriputta, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát cùng với số đông Tỷ-kheo, từ núi Gijjhakùta đi xuống. Tôn giả thấy tại một chỗ nọ, một đống gỗ to lớn, thấy vậy liền nói với các Tỷ-kheo:

− Này các Hiền giả, các Hiền giả có thấy đống gỗ to lớn ấy không?

− Thưa Hiền giả, có thấy.

2. - Nếu muốn, này các Hiền giả, một Tỷ-kheo có thần không, đạt được tâm sự tại có thể quán (Tập Sớ Sallakkheyya: Thắng giải, thiên về, hướng về) đống gỗ ấy thành địa đại. Vì cớ sao? Vì rằng có địa giới trong đống gỗ lớn ấy, y tựa theo đó, Tỷ-kheo có thần thông, đạt được tâm sự tại có thể quán đống gỗ ấy thành địa đại.

3. Nếu muốn, này các Hiền giả, Tỷ-kheo có thần thông, đạt được tâm tự tại, có thể quán đống gỗ lớn ấy thành nước… thành lửa… thành gió… thành tịnh… thành bất tịnh. Vì cớ sao? Vì rằng có bất tịnh trong đống gỗ lớn ấy, y tựa theo đó, Tỷ-kheo có thần thông, đạt được tâm sự tại, có thể quán đống gỗ ấy thành bất tịnh.

AN 6.42 Với Nāgita Nāgitasutta

TÔI NGHE NHƯ VẦY. Một thời Đức Phật đang du hành trong xứ Kosala cùng với một Tăng đoàn tỳ kheo đông đảo thì Ngài đến một ngôi làng của các bà la môn xứ Kosala tên là Icchānaṅgala. Ngài trú trong một khu rừng gần Icchānaṅgala. Các bà la môn và gia chủ ở Icchānaṅgala nghe tin:

“Hình như Sa môn Gotama (ascetic Gotama / tu sĩ Gotama)—một người dòng Thích Ca, xuất gia (gone forth / rời bỏ gia đình để tu hành) từ gia tộc Thích Ca—đã đến Icchānaṅgala. Ngài đang trú trong một khu rừng gần Icchānaṅgala. Ngài có tiếng tốt đồn xa như sau: ‘Đức Thế Tôn (Blessed One / bậc được tôn quý trên đời) ấy là bậc A La Hán (perfected / người đã hoàn thiện), Phật Toàn Giác (fully awakened Buddha / vị Phật giác ngộ hoàn toàn), đầy đủ minh và hạnh (accomplished in knowledge and conduct / minh hạnh túc), bậc Thiện Thệ (holy / người khéo đi qua), người biết rõ thế gian (knower of the world / thế gian giải), bậc vô thượng điều ngự những người cần được huấn luyện (supreme guide for those who wish to train / vô thượng sĩ điều ngự trượng phu), thầy của trời và người (teacher of gods and humans / thiên nhân sư), bậc Giác Ngộ (awakened / Phật), bậc Thế Tôn.’ Ngài đã tự mình chứng ngộ bằng trí tuệ thế giới này—với các vị trời, Ma vương, và chư thiên, chúng sinh này với các sa môn và bà la môn, trời và người—và Ngài tuyên thuyết cho người khác biết. Ngài tuyên thuyết giáo pháp tốt đẹp ở phần đầu, tốt đẹp ở phần giữa, tốt đẹp ở phần cuối, có ý nghĩa và văn từ hoàn hảo; và Ngài giảng giải đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Thật tốt lành khi được gặp những bậc A La Hán như vậy.” Rồi, khi đêm đã qua, họ mang theo nhiều thức ăn tươi và đã nấu chín đến khu rừng gần Icchānaṅgala, đứng ngoài cổng làm huyên náo ồn ào.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Nāgita là thị giả (attendant / người hầu cận) của Đức Phật. Khi ấy, Đức Phật nói với Nāgita: “Này Nāgita, ai đang làm huyên náo ồn ào thế kia? Cứ như là những người đánh cá đang kéo lưới vậy!”

“Thưa Ngài, đó là các bà la môn và gia chủ ở Icchānaṅgala. Họ đã mang theo nhiều thức ăn tươi và đã nấu chín, và đang đứng ngoài cổng muốn đặc biệt cúng dường lên Đức Phật và Tăng đoàn tỳ kheo.”

“Này Nāgita, mong rằng Ta không bao giờ trở nên nổi tiếng. Mong rằng danh tiếng đừng đến với Ta. Có những người không thể có được niềm vui của sự xuất ly (pleasure of renunciation / an lạc của sự từ bỏ), niềm vui của sự độc cư (pleasure of seclusion / an lạc của sự vắng lặng), niềm vui của sự tịch tịnh (pleasure of peace / an lạc của sự bình an), niềm vui của sự giác ngộ (pleasure of awakening / an lạc của sự tỉnh thức) bất cứ khi nào họ muốn, không khó khăn, không trở ngại như Ta có thể. Hãy để họ tận hưởng niềm vui thấp kém, lười biếng của tài sản, danh vọng và sự nổi tiếng.”

“Thưa Ngài, xin Đức Thế Tôn hãy chấp thuận ngay bây giờ! Xin Bậc Thiện Thệ hãy chấp thuận! Bây giờ là lúc Đức Phật nên chấp thuận. Bất cứ nơi nào Đức Phật đi đến bây giờ, các bà la môn và gia chủ, và người dân thành thị và nông thôn cũng sẽ nghiêng về hướng đó. Giống như khi trời mưa lớn và nước chảy xuống chỗ trũng. Cũng vậy, bất cứ nơi nào Đức Phật đi đến bây giờ, các bà la môn và gia chủ, và người dân thành thị và nông thôn cũng sẽ nghiêng về hướng đó. Tại sao vậy? Bởi vì giới đức và trí tuệ của Đức Phật.”

"Này Nāgita, mong rằng Ta không bao giờ trở nên nổi tiếng. Mong rằng danh tiếng đừng đến với Ta. Có những người không thể có được niềm vui của sự xuất ly, niềm vui của sự độc cư, niềm vui của sự tịch tịnh, niềm vui của sự giác ngộ bất cứ khi nào họ muốn, không khó khăn, không trở ngại như Ta có thể. Hãy để họ tận hưởng niềm vui thấp kém, lười biếng của tài sản, danh vọng và sự nổi tiếng.

Hãy xem một vị tỳ kheo sống trong làng mà Ta thấy đang ngồi nhập định (immersed in samādhi / an trú trong thiền định). Ta tự nghĩ: ‘Bây giờ một người làm công quả trong tu viện, một sa di, hoặc một bạn đồng tu sẽ làm vị tôn giả này xuất khỏi định.’ Vì vậy, Ta không hài lòng khi vị tỳ kheo đó sống trong làng.

Hãy xem một vị tỳ kheo ở nơi hoang dã mà Ta thấy đang ngồi thiền mà gật gù. Ta tự nghĩ: ‘Bây giờ vị tôn giả này, sau khi xua tan sự uể oải sao nhãng và buồn ngủ (sleepiness and weariness / hôn trầm và thụy miên) đó, sẽ chỉ tập trung vào nhận thức duy nhất về nơi hoang dã (unified perception of wilderness / tưởng về sự vắng lặng nơi rừng núi).’ Vì vậy, Ta hài lòng khi vị tỳ kheo đó sống ở nơi hoang dã.

Hãy xem một vị tỳ kheo ở nơi hoang dã mà Ta thấy đang ngồi mà chưa nhập định. Ta tự nghĩ: ‘Bây giờ nếu tâm của vị tôn giả này chưa nhập định, vị ấy sẽ nhập định, hoặc nếu đã nhập định, vị ấy sẽ bảo hộ nó.’ Vì vậy, Ta hài lòng khi vị tỳ kheo đó sống ở nơi hoang dã.

Hãy xem một vị tỳ kheo ở nơi hoang dã mà Ta thấy đang ngồi nhập định. Ta tự nghĩ: ‘Bây giờ vị tôn giả này sẽ giải thoát tâm chưa được giải thoát hoặc bảo hộ tâm đã được giải thoát.’ Vì vậy, Ta hài lòng khi vị tỳ kheo đó sống ở nơi hoang dã.

Hãy xem một vị tỳ kheo mà Ta thấy sống trong làng nhận y phục, thức ăn khất thực, chỗ ở, và thuốc men trị bệnh. Tận hưởng tài sản, danh vọng và sự nổi tiếng, họ lơ là việc ẩn tu, và họ lơ là những chỗ ở xa xôi nơi hoang dã và rừng sâu. Họ đi xuống các làng mạc, thị trấn và thành phố và trú ngụ tại đó. Vì vậy, Ta không hài lòng khi vị tỳ kheo đó sống trong làng.

Hãy xem một vị tỳ kheo mà Ta thấy ở nơi hoang dã nhận y phục, thức ăn khất thực, chỗ ở, và thuốc men trị bệnh. Tránh xa tài sản, danh vọng và sự nổi tiếng, họ không lơ là việc ẩn tu, và họ không lơ là những chỗ ở xa xôi nơi hoang dã và rừng sâu. Vì vậy, Ta hài lòng khi vị tỳ kheo đó sống ở nơi hoang dã.

Này Nāgita, khi Ta đang đi trên đường và Ta không thấy ai phía trước hay phía sau, Ta cảm thấy thoải mái, ngay cả khi Ta cần tiểu tiện hay đại tiện."

(XII) (42) Tôn Giả Nagita

1. Như vậy tôi nghe:

Một thời thế Tôn đang bộ hành giữa các người Kosala, cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến một làng Bàla-môn tên là Icchànangala. Tại đấy, Thế Tôn trú ở Icchànangala, trong khóm rừng Icchànangala. Các Bà-la-môn gia củ ở Icchànangala được nghe: “Tôn giả Gotama là Thích tử, xuất gia từ gia đình họ Thích, đã đến Icchànangala, trú ở Icchànangaka trong khóm rừng Icchànagala. Về Tôn giả Gotama ấy, tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chúng ngộ thế giới này cũng với Thiên giới, Phạm thiên giới, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời và Người. Sau khi đã chúng ngộ, Ngài tuyên thuyết điều Ngài đã chúng ngộ, Ngài thuyết pháp điều Ngài đã chúng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ trong sạch”. Tốt đẹp thay, sự chiêm ngưỡng một vị A-la-hán như vậy! “. Rồi các Bà-la-môn gia chủ ở Icchànangala, sau khi đêm ấy đã mãn, cầm theo rất nhiều đồ ăn loại cứng và loại mềm, đi đến khóm rừng Icchànangala, sau khi đến, đứng ở ngoài cổng vào, cao tiếng và lớn tiếng.

2. Lúc bấy giờ, Tôn giả Nàgita là thị giả của Thế Tôn. Rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Nàgita:

− Này Nàgita, những ai đã cao tiếng và lớn tiếng như những người đánh cá đang giết hại cá?

− Các người ấy, bạch thế Tôn, là các Bà-la-môn gia chủ trú ở Icchànangala đang đứng ở khu viên cổng ngoài, đem theo rất nhiều đồ ăn loại cứng và loại mềm cho Thế tôn và chúng Tăng.

− Này Nàgita, Ta không có liên hệ gì với danh vọng và danh vọng không có liên hệ gì với Ta, Này Nàgita, những ai tìm được có khó khăn, tìm được có mệt nhọc, tìm được có phí sức an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc, mà Ta đã tìm được không khó khăn, tìm được không mệt nhọc, tìm được không phí sức, hãy để họ thọ hưởng lạc như phân ấy, thụy miên lạc, lợi dưỡng, cung kính, danh văn lạc.

− Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy chấp nhận! Thiện Thệ hãy chấp nhận! Nay Thế Tôn sẽ đi đến chỗ nào, tại chỗ ấy các Bà-la-môn gia chủ ở thị trấn và ở quốc độ cũng sẽ đi đến với tâm hướng về cúng dường. Ví như trời mưa nặng hột, và nước được chảy tùy theo chiều dốc; cũng vậy, bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn sẽ đi đến chỗ nào. tại chỗ ấy các Bà-la-môn gia chủ ở thị trấn và ở quốc độ cũng sẽ đi đến, với tâm hướng về cúng dường. Vì cớ sao? Bạch Thế Tôn do vì giới hạnh và trí tuệ của Thế Tôn!

− Này Nàgita, Ta không vó liên hệ gì với danh vọng và danh vọng không có liên hệ gì với Ta. Này Nàgita, những ai tìm được có khó khăn, tìm được có mệt nhọc, tìm được có phí sức an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc mà Ta đã tìm được không khó khăn, tìm được không mệt nhọc, tìm được không phí sức, hãy để họ thọ hưởng lạc như phân ấy, thụy miên lạc, lợi dưỡng, cung kính, danh văn lạc.

3. Ở đây, này Nàgita, Ta thấy một Tỷ-kheo ngồi Thiền định tại trú xứ ở cuối làng. Này Nàgita, về vị ấy, Ta suy nghĩ như sau: “Nay có người coi khu vườn hay người Sa-di phá phách vị Tỷ-kheo này, làm cho vị này xuất khỏi thiền định”. Do vậy, này Nàgita, Ta không có hoan hỷ với trú xứ của vị ấy.

4. Ở đây, này Nàgita, Ta thấy một Tỷ-kheo đang ngồi ngủ ngục ở trong rừng. Này Nàgita, Ta suy nghĩ về vị ấy như sau: “Nay vị Tỷ-kheo này, sau khi đoạn trừ ngủ nghỉ và mệt nhọc, sẽ tác ý tưởng về rừng đạt được nhất tâm”. Do vậy, nầy Nàgita, ta hoan hỷ với trú xứ tại rừng của Tỷ-kheo ấy.

5. Ở đây, này Nàgita, Ta thấy Tỷ-kheo sống ở rừng, ngồi không Thiền định trong rừng. Này Nàgita, đối với vị ấy, Ta suy nghĩ: “Nay Tỷ-kheo này sẽ Thiền định được tâm không Thiền định, hay sẽ bảo vệ tâm đã được Thiền định”. Do vậy, này Nàgita. Ta hoan hỷ về trú xứ tại rừng của Tỷ-kheo ấy.

6. Ở đây, này Nàgita, Ta thấy Tỷ-kheo sống ở rừng ngồi với tâm Thiền định ở rừng. này Nàgita, đối với vị ấy, Ta suy nghĩ: “Nay Tỷ-kheo này sẽ giải thoát, tâm chưa được giả thoát hay sẽ bảo vệ tâm se được giải thoát”. Do vậy, này Nàgita, Ta hoan hỷ về trú xứ tại rừng của Tỷ-kheo ấy.

7. Ở đây, này Nàgita, Ta thấy Tỷ-kheo sống ở cuối làng, nhận được vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, thích thú với các lợi dưỡng, cung kính, danh văn ấy, bỏ phế thiền tịnh, bỏ phế các trú xứ rừng núi cao nguyên xa vắng, đi xuống làng, thị trấn, kinh đô để lo nuôi sống. Do vậy, này Nàgita, Ta không có hoan hỷ về trú xứ cuối làng của Tỷ-kheo ấy.

8. Ở đây, này Nàgita, Ta thấy Tỷ-kheo sống ở rừng nhận được các vật dụng cần thiết như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, nhưng chận đứng các lợi dưỡng, cung kính, danh văn ấy, không bỏ phế Thiền tịnh, không bỏ phế các Trú xứ rừng núi cao nguyên xa vắng. Do vậy, này Nàgita, Ta hoan hỷ về tú xứ tại rừng của Tỷ-kheo ấy.

Nhưng khi Ta đang bước đi trên con đường, trước mặt, Ta không thấy ai; sau lưng, Ta không thấy ai; trong khi ấy, Ta cảm thấy an ổn, này Nàgita, cho đến vấn đề đi đại, tiểu tiện.