Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về Dhammika

AN 6.43 Kinh Voi Chúa (Nāgasutta)

Một thời Đức Phật trú tại Sāvatthī, trong Rừng Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika.

Rồi vào buổi sáng, Đức Phật đắp y, mang bát và y, vào Sāvatthī để khất thực. Sau bữa ăn, khi trở về từ chuyến khất thực, Ngài nói với Tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, chúng ta hãy đến nhà sàn của mẹ Migāra trong Tu viện phía Đông để thiền tọa ban ngày.”

“Vâng, thưa Thế Tôn,” Ānanda đáp.

Vậy là Đức Phật cùng Ānanda đến Tu viện phía Đông. Vào cuối buổi chiều, Đức Phật xuất thiền và nói với Ānanda: “Này Ānanda, chúng ta hãy đến cổng phía đông để tắm.”

“Vâng, thưa Thế Tôn,” Ānanda đáp. Vậy là Đức Phật cùng Ānanda đến cổng phía đông để tắm. Sau khi tắm xong và lên khỏi mặt nước, Ngài đứng trong một chiếc y để lau khô thân thể.

Lúc bấy giờ, Vua Pasenadi có một con voi đực khổng lồ tên là “Trắng”. Nó đi ra từ cổng phía đông trong tiếng nhạc cụ đánh và tấu lên.

Khi mọi người nhìn thấy nó, họ nói: “Con voi chúa thật đẹp trai! Con voi chúa thật ưa nhìn! Con voi chúa thật đáng yêu! Con voi chúa có thân hình thật to lớn!”

Khi họ nói vậy, Tôn giả Udāyī thưa với Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, có phải chỉ khi thấy những con voi có thân hình to lớn, đáng sợ như vậy thì người ta mới nói: ‘Một con voi chúa, thật là một con voi chúa’? Hay họ cũng nói vậy khi thấy bất kỳ sinh vật nào khác có thân hình to lớn, đáng sợ?”

"Này Udāyī, khi thấy những con voi có thân hình to lớn, đáng sợ như vậy, người ta nói: ‘Một con voi chúa, thật là một con voi chúa!’

Và cũng khi họ thấy một con ngựa có thân hình to lớn, đáng sợ…

Khi họ thấy một con bò đực có thân hình to lớn, đáng sợ…

Khi họ thấy một con rắn có thân hình to lớn, đáng sợ…

Khi họ thấy một cái cây có thân hình to lớn, đáng sợ…

Và khi họ thấy một con người có thân hình to lớn, đáng sợ như vậy, người ta nói: ‘Một người khổng lồ, thật là một người khổng lồ!’

Nhưng này Udāyī, người không làm điều gì quái dị qua thân, khẩu, ý, đó mới là người Ta gọi là ‘bậc vĩ nhân’ trong thế giới này với chư thiên, Ma vương, và các vị Phạm thiên (Divinity / cõi trời Phạm thiên), trong dân chúng này với các vị sa-môn và bà-la-môn, các vị trời và loài người."

"Thật khó tin, bạch Thế Tôn, thật kỳ diệu! Lời này Đức Phật nói thật hay thay: ‘Nhưng này Udāyī, người không làm điều gì quái dị qua thân, khẩu, ý, đó mới là người Ta gọi là “bậc vĩ nhân” trong thế giới này với chư thiên, Ma vương, và các vị Phạm thiên, trong dân chúng này với các vị sa-môn và bà-la-môn, các vị trời và loài người.’ Và con xin tán thán lời dạy hay đẹp của Đức Phật bằng những vần kệ này:

Là người đã giác ngộ,
Tự điều phục, tâm nhập định tâm (samādhi / sự tập trung tâm ý),
Theo con đường tâm linh,
Ngài yêu sự bình an của tâm.

Được người đời tôn kính,
Vượt qua mọi sự vật,
Ngay cả chư thiên cũng kính lễ;
Con đã nghe vậy từ bậc toàn thiện.

Ngài đã vượt qua mọi kiết sử (fetters / những trói buộc tâm lý)
Và thoát khỏi mọi ràng buộc.
Vui thích từ bỏ dục lạc (sensual pleasures / niềm vui giác quan),
Ngài được giải thoát như vàng ròng khỏi đá.

Bậc vĩ nhân ấy tỏa sáng hơn tất cả,
Như Hy Mã Lạp Sơn bên cạnh các núi khác.
Trong tất cả những ai được gọi là ‘vĩ nhân’,
Ngài thực sự xứng danh, tối thượng.

Con xin ca ngợi bậc vĩ nhân cho Ngài,
Vì Ngài không làm điều gì quái dị.
Nhu hòa và vô hại
Là hai chân của bậc vĩ nhân.

Nhiệt tâm và phạm hạnh
Là hai chân kia của Ngài.
Niềm tin là vòi của bậc vĩ nhân,
xả là cặp ngà trắng của Ngài.

Tỉnh thức (mindfulness / sự chú tâm, nhận biết rõ ràng) là cổ, đầu là trí tuệ (wisdom / sự hiểu biết sâu sắc)—
Quán xét và tư duy về các nguyên lý.
Bụng Ngài là lò thiêng của Pháp (Dhamma / Giáo pháp, lời dạy của Đức Phật),
Và đuôi Ngài là độc cư .

Thực hành thiền định, thưởng thức hơi thở,
Ngài thanh tịnh bên trong.
Bậc vĩ nhân thanh tịnh khi đi,
Bậc vĩ nhân thanh tịnh khi đứng,

Bậc vĩ nhân thanh tịnh khi nằm,
Và khi ngồi, bậc vĩ nhân thanh tịnh.
Bậc vĩ nhân chế ngự khắp nơi:
Đây là sự thành tựu của bậc vĩ nhân.

Ngài ăn những thứ không đáng chê trách,
Ngài không ăn những thứ đáng chê trách.
Khi nhận được thức ăn và y phục,
Ngài tránh tích trữ chúng.

Đã cắt đứt mọi ràng buộc,
Những kiết sử lớn nhỏ,
Dù đi đến đâu,
Ngài đi không vướng bận.

Như hoa sen trắng,
Thơm ngát và đáng yêu,
Mọc lên trong nước và lớn lên ở đó,
Nhưng nước không dính vào nó.

Cũng vậy, Đức Phật sinh ra trong đời,
Và sống trong đời,
Nhưng đời không dính vào Ngài,
Như nước không dính vào hoa sen.

Ngọn lửa lớn bùng cháy
Lụi tàn khi hết nhiên liệu.
Khi than đã tắt
Được gọi là ‘tịch diệt’.

Ví dụ này được bậc trí giảng dạy
Để diễn đạt ý nghĩa rõ ràng.
Các bậc đại vĩ nhân sẽ hiểu
Điều bậc vĩ nhân dạy cho bậc vĩ nhân.

Thoát khỏi tham (greed / lòng tham lam), thoát khỏi sân (hate / lòng căm ghét, tức giận),
Thoát khỏi si (delusion / sự mê lầm, vô minh), không ô nhiễm;
Bậc vĩ nhân, từ bỏ thân xác,
Không còn ô nhiễm, sẽ hoàn toàn tịch diệt."

V. Phẩm Dhammika

(I) (43) Con Voi

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvavatthì, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvavatthì để khất thực. Khất thực ở Sàvavatthì xong, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, Ngài gọi Tôn giả Ananda:

− Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Ðông Viên, giảng đường Mẹ của Migàra để nghỉ trưa.

− Thưa vâng, bạch thế Tôn.

Tôn giả Ananda vâng đáp thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với Tôn giả Ananda đi đến Ðông Viên, chỗ giảng đường Mẹ của Migàra. Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ thiền tịnh đứng dậy, gọi tôn giả Ananda:

− Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Pubbakotthaka để rửa tay rửa chân.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với Tôn giả Ananda đi đến Pubbkotthaka để rửa tay rửa chân. Sau khi rửa tay rửa chân ở Pubbakotthaka xong, Thế Tôn lên đứng trên bờ, đắp một tấm y, phơi tay chân cho khô.

2. Lúc bấy giờ, Seta, con voi của vua Pasenadi nước Kosala, từ Pubbokatthaka đi ra, với nhiều tiếng các loại trống và nhạc lớn tiếng, dân chúng thấy vậy liền nói: “Ôi đẹp đẽ thay, thưa các Ngài, con voi của vua! Ðáng nhìn thay, thưa các Ngài, con voi của vua! Thoải mái thay, thưa các Ngài, con voi của vua! Thân thể đầy đủ thay, thưa các Ngài, là con voi của vua! Con voi, thưa các Ngài, thật xứng đáng là con voi! “Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Udàyi bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, quần chúng, do thấy con voi to lớn, đồ sộ, thân thể đẩy đà nói như sau: “Con voi, thưa các Ngài, thật xứng đáng là con voi! “. Hay là thấy một cái gì khác to lớn, đồ sộ, thân thể đẩy đà nên họ nói như vậy: “Con voi, thưa các Ngài, thật xứng đáng là con voi! “?

− Này Udàyi, quần chúng do thấy con voi to lớn, đồ sộ, thân thể đẩu đà nên nói như sau: “Con voi, thưa các Ngài thật xứng đáng là con voi! “

Này Udàyi, thấy con ngựa… Này Udàyi, thấy con bò… Này Udàyi, thấy con rắn… Này Udàyi, thấy cây… này Udàyi thấy con người to lớn, đồ sộ, với thân thể đẩy đà nên nói như sau: “Con voi, thưa các Ngài, thật xứng đáng là con voi! “Nhưng Ta tuyên bố rằng, này Udàyi, trong thế giới chư Thiên này với Ma giới, Phạm thiên giới, và trên thế giới này các Sa-môn. Bà-la-môn, chư Thiện và loài Người, ai không phạm một tôi về thân, về lời, về ý nghĩ, người ấy Ta nói rằng: “Người ấy là con voi”.

− Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch thế Tôn. Thế Tôn đã khéo nói như sau: “Này Udàyi, trong thế giới chư Thiện này, với Ma giới, Phạm thiên giới, và trên thế giới này với các Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài Người, ai không phạm một tội lớn về thân, về lời, về ý, người ấy Ta nói rằng: “Người ấy là con voi””.

Bạch Thế Tôn, lời nói tốt đẹp này của Thế Tôn, con xin tùy hỷ với những câu kệ như sau:

Là con người tự giác,
Tự nhiếp phục, được định,
Ðang đi đường Phạm thiên,
Tâm tịnh tín, hoan hỷ,
Cùng tận tất cả Pháp,
Vị ấy, loài người kính,
Vị ấy, chư thiên trọng.
Vị ấy, con được nghe,
LA bậc A-la-hán.
Mọi kiết sử vượt qua,
Thoát rừng, đến Niết-bàn,
Hoan hỷ sống an ổn,
Rời khỏi các dục vọng,
Như vàng thoát đá sỏi.
Voi ấy rực chói sáng,
Chiếu sáng khắp tất cả,
Như ngọn núi Tuyết sơn,
Cao hơn mọi núi đá.
Vị đạt chân, vô thượng,
Vượt tất cả loài voi,
Ta sẽ khen vị voi,
Không làm các tội phạm,
Nhu hòa và thất bại,
Là hai bàn chân trước,
Khổ hạnh và Phạm hạnh,
Là hai bàn chân sau.
Lòng tin là vòi voi,
Trú xả đôi ngà trắng,
Niệm là cô của voi.
Nếu có suy tư gì
Là suy tư Chánh pháp
Bụng là chỗ chứa pháp,
Ðuôi là sống viễn ly,
Vị ấy tu Thiền định,
Hoan hỷ trong hơi thở,
Với nội tâm định tĩnh,
Khéo định tâm Thiền định.
Voi đi là hành Thiền,
Voi đứng là hành Thiền,
Voi nằm là hành Thiền,
Voi ngồi là hành Thiền
Voi hộ trì tất cả,
Ðây viên mãn của voi.
Voi ăn, không phạm lỗi,
Có phạm lỗi không ăn.
Nhận được cơm và áo,
Quyết từ bỏ chất chứa,
Các kiết sử lớn nhỏ,
Cắt đứt mọi trói buộc.
Chỗ nào vị ấy đi,
Vị ấy đi không cầu
Giống như bông hoa sen,
Sanh và lớn trong nước,
Không bị nước uế nhiễm,
Hương thơm đẹp ý người.
Cũng vậy là đức Phật,
Khéo sanh, vượt khỏi đời,
Không bị đời uế nhiễm,
Như sen không dính nước,
Như lửa lớn cháy đỏ,
Không nhiên liệu, tự tắt,
Ai lắng dịu các hành,
Ðược gọi bậc Tịch tịnh.
Ví dụ này nhiều nghĩa,
Do bậc trí thuyết giảng
Bậc voi lớn được biết
Lấy voi dạy cho voi.
Bậc ly tham, ly sân,
Ly si, không lậu hoặc,
Voi này từ bỏ thân,
Nhập diệt, không lậu hoặc.

AN 6.44 Với Migasālā (Migasālāsutta)

Rồi Tôn giả Ānanda vào buổi sáng đắp y, mang bát và y, đến nhà nữ cư sĩ Migasālā, và ngồi vào chỗ đã soạn sẵn.

Rồi nữ cư sĩ Migasālā đến gần Ānanda, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và thưa: "Thưa Tôn giả Ānanda, làm sao chúng con có thể hiểu được giáo pháp do Đức Phật giảng dạy, khi mà người sống phạm hạnh và người không sống phạm hạnh đều tái sinh vào cùng một nơi trong đời sau?

Cha con là Purāṇa sống độc thân, tách biệt, tránh xa hành vi tình dục thô tục. Khi ông qua đời, Đức Phật tuyên bố rằng, vì ông là bậc Nhất lai (once-returner / người chỉ còn tái sinh một lần nữa), ông đã tái sinh vào chúng thiên vui thú (host of joyful gods / cõi trời Đâu Suất).

Nhưng chú con là Isidatta không sống độc thân; ông sống hạnh phúc với vợ mình. Khi ông qua đời, Đức Phật tuyên bố rằng, vì ông cũng là bậc Nhất lai, ông đã tái sinh vào chúng thiên vui thú.

Làm sao chúng con có thể hiểu được giáo pháp do Đức Phật giảng dạy, khi mà người sống phạm hạnh và người không sống phạm hạnh đều tái sinh vào cùng một nơi trong đời sau?"

“Này chị, đúng vậy, nhưng đó là cách Đức Phật đã tuyên bố.”

Rồi Ānanda, sau khi nhận vật thực tại nhà Migasālā, đứng dậy từ chỗ ngồi và rời đi. Sau bữa ăn, khi trở về từ chuyến khất thực, Ānanda đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và kể lại sự việc đã xảy ra.

"Này Ānanda, ai là nữ cư sĩ Migasālā này, một người phụ nữ ngu dốt, kém cỏi, với trí tuệ của một người phụ nữ tầm thường? Và ai là người biết cách đánh giá các cá nhân? Có sáu hạng người này được tìm thấy trên thế gian. Sáu hạng nào?

Hãy xét một người có tính tình ngọt ngào, dễ chịu khi ở cùng. Và các bạn đồng tu thích sống chung với họ. Nhưng họ chưa nghe, chưa học, chưa hiểu thấu lý thuyết hoặc chưa tìm thấy sự giải thoát tạm thời nào. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ hướng đến cảnh giới thấp hơn, không phải cao hơn. Họ đi đến nơi thấp hơn, không phải nơi cao hơn.

Hãy xét một người khác có tính tình ngọt ngào, dễ chịu khi ở cùng. Và các bạn đồng tu thích sống chung với họ. Nhưng họ đã nghe, đã học, đã hiểu thấu lý thuyết và đã tìm thấy sự giải thoát tạm thời. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ hướng đến cảnh giới cao hơn, không phải thấp hơn. Họ đi đến nơi cao hơn, không phải nơi cao hơn.

Những người hay phán xét so sánh họ, nói rằng: ‘Người này có những phẩm chất giống hệt người kia, vậy tại sao một người lại tệ hơn và một người lại tốt hơn?’ Điều này sẽ mang lại tai hại và đau khổ lâu dài cho họ.

Trong trường hợp này, người có tính tình ngọt ngào… và đã nghe, học, hiểu thấu lý thuyết, và tìm thấy sự giải thoát tạm thời thì tốt hơn và cao thượng hơn người kia. Tại sao vậy? Bởi vì dòng Pháp (stream of the teaching / luồng giáo pháp) cuốn họ đi. Nhưng ai biết được sự khác biệt giữa họ ngoại trừ một Bậc Giác Ngộ (Realized One / người đã đạt được sự giác ngộ)?

Vì vậy, Ānanda, đừng phán xét người khác. Đừng đưa ra phán xét về người khác. Những người phán xét người khác tự làm hại mình. Ta, hoặc người giống như Ta, mới có thể phán xét người khác.

Hãy xét một người khác hay tức giận và tự mãn, và thỉnh thoảng có những ý nghĩ tham lam. Và họ chưa nghe, chưa học, chưa hiểu thấu lý thuyết hoặc chưa tìm thấy sự giải thoát tạm thời nào. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ hướng đến cảnh giới thấp hơn, không phải cao hơn. Họ đi đến nơi thấp hơn, không phải nơi cao hơn.

Hãy xét một người khác hay tức giận và tự mãn, và thỉnh thoảng có những ý nghĩ tham lam. … Bởi vì dòng Pháp cuốn họ đi. … Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ hướng đến cảnh giới cao hơn, không phải thấp hơn. Họ đi đến nơi cao hơn, không phải nơi cao hơn.

Những người hay phán xét so sánh họ…

Ta, hoặc người giống như Ta, mới có thể phán xét người khác.

Hãy xét một người khác hay tức giận và tự mãn, và thỉnh thoảng có ý muốn nói năng không phù hợp. Và họ chưa nghe, chưa học, chưa hiểu thấu lý thuyết hoặc chưa tìm thấy sự giải thoát tạm thời nào. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ hướng đến cảnh giới thấp hơn, không phải cao hơn. Họ đi đến nơi thấp hơn, không phải nơi cao hơn.

Hãy xét một người khác hay tức giận và tự mãn, và thỉnh thoảng có ý muốn nói năng không phù hợp. Nhưng họ đã nghe, đã học, đã hiểu thấu lý thuyết và đã tìm thấy sự giải thoát tạm thời. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ hướng đến cảnh giới cao hơn, không phải thấp hơn. Họ đi đến nơi cao hơn, không phải nơi cao hơn.

Những người hay phán xét so sánh họ, nói rằng: ‘Người này có những phẩm chất giống hệt người kia, vậy tại sao một người lại tệ hơn và một người lại tốt hơn?’ Điều này sẽ mang lại tai hại và đau khổ lâu dài cho họ.

Trong trường hợp này, người hay tức giận và tự mãn, nhưng đã nghe, học, hiểu thấu lý thuyết, và tìm thấy sự giải thoát tạm thời thì tốt hơn và cao thượng hơn người kia. Tại sao vậy? Bởi vì dòng Pháp cuốn họ đi. Nhưng ai biết được sự khác biệt giữa họ ngoại trừ một Bậc Giác Ngộ?

Vì vậy, Ānanda, đừng phán xét người khác. Đừng đưa ra phán xét về người khác. Những người phán xét người khác tự làm hại mình. Ta, hoặc người giống như Ta, mới có thể phán xét người khác.

Ai là nữ cư sĩ Migasālā này, một người phụ nữ ngu dốt, kém cỏi, với trí tuệ của một người phụ nữ tầm thường? Và ai là người biết cách đánh giá các cá nhân? Có sáu hạng người này được tìm thấy trên thế gian.

Nếu Isidatta đạt được trình độ giới hạnh (ethical conduct / sự giữ gìn giới luật, phẩm hạnh đạo đức) của Purāṇa, thì Purāṇa thậm chí không thể biết được cảnh giới tái sinh của Isidatta. Và nếu Purāṇa đạt được trình độ trí tuệ của Isidatta, thì Isidatta thậm chí không thể biết được cảnh giới tái sinh của Purāṇa. Vì vậy, cả hai người đều thiếu sót ở một khía cạnh."

(II) (44) Migasàlà

1. Rồi Tôn giả Ananda vào buổi sáng đắp y, cầm y vát, đi đến trú xứ của nữ tu sĩ Migasàlà; sau khi đến, ngồi trên ghế đã soạn sẵn. ngồi xuống một bên, nữ cư sĩ Migasàlà thưa với Tôn giả Ananda:

2.- Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Thế Tôn tuyên thuyết (nói rằng): “Cả hai sống Phạm hạnh và sống không phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai? “Puràna, thân phụ của con, thưa Tôn giả, sống Phạm hạnh, sống biệt lập, tránh xa dâm dục hạ liệt, khi mệnh chung được Thế Tôn trả lời: “Là bậc Dự lưu sanh với thân ở Tusità ( Ðâu-suất)”. Còn Isidatta, cậu của con, thưa Tôn giả, sống không Phạm hạnh, tự bằng lòng với vợ mình, sau khi mệnh chung được Thế Tôn trả lời: “Là bậc Dự lưu, sanh với thân ở Tusità”. Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Thế Tôn tuyên thuyết (nói rằng): “Cả hai sống Phạm hạnh và sống không Phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai”?

− Này Chị, như vậy là câu trả lời của Thế Tôn.

3. Tôn giả Ananda sau khi nhận đồ ăn khất thực tại nhà của nữ cư sĩ Migasàlà, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi. Rồi Tôn giả Ananda, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Ở đây, bạch Thế Tôn, vào buổi sáng con đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ của nữ cư sĩ Migasàlà, sau khi đến, con ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Nữ cư sĩ Migasàlà đi đến con, sau khi đến, đảnh lễ con rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn, nữ cư sĩ Migasàlà thưa với con: “Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Thế Tôn tuyên thuyết (nói rằng): “Cả hai sống Phạm hạnh và sống không Phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai”. Puràna thân phụ con, thưa Tôn giả, sống Phạm hạnh, sống biệt lập, tránh xa dâm dục hạ liệt, khi mệnh chung, được Thế Tôn trả lời: “Là bậc Dự lưu, sanh với thân ở Tusità”. Còn Isidatta, cậu của con, thưa Tôn giả, sống không Phạm hạnh, tự bằng lòng với vợ mình, sau khi mệnh chung, được Thế Tôn trả lời: “Là bậc Dự lưu, sanh với thân ở Tusità”. Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Phạm hạnh và sống không Phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai”? “Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con nói với nữ cư sĩ Migasàlà: “Này Chị, như vậy là câu trả lời của Thế Tôn”.

− Nhưng này Ananda, ai là nữ cư sĩ Migasàlà lại ngu si, kém thông minh, với thân như bà mẹ, với trí như bà mẹ, để có thể hiểu biết sự thắng liệt giữa các người? Này Ananda, có sáu hạng người có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là sáu?

4.- Ở đây, này Ananda, có người khéo tự chế ngự, dễ chung sống, các đồng Phạm hạnh hoan hỷ sống chung. Vị ấy nghe Pháp có tác động, học nhiều có tác động, có thể nhập vào tri kiến, không chứng đắc thời giải thoát. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi về thù thắng.

5. Ở đây, này Ananda, có người khéo tự chế ngự, dễ chung sống, các đồng Phạm hạnh hoan hỷ sống chung. Vị ấy nghe Pháp có tác động, học nhiều có tác động, có thể nhập vào tri kiến, có chứng đắc thời giải thoát. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không đi về thối đọa. Ở đây, này Ananda, những kẻ đo lường đo lường như sau: “Những pháp ấy của vị này là như vậy, những pháp ấy của vị kia là như vậy; làm sao trong những hạng người này, có người hạ liệt, có người là thắng diệu? Và do sự đo lường ấy, này Ananda, đối với những người đo lường là không hạnh phúc, là đau khổ lâu dài. Ở đây, này Ananda, hạng người này, khéo tự chế ngự, dễ chung sống, các đồng Phạm hạnh hoan hỷ sống chung. Vị này nghe pháp có tác động, học nhiều có tác động, thể nhập được vào tri kiến, chứng được thời giải thoát. Hạng người này. này Ananda, so sánh với hạng người trước là tiến bộ hơn, là thắng diệu hơn. Vì cớ sao? Vì dòng pháp đưa người này ra phía trước. Nhưng ai ngoài Như Lai có thể biết được sự khác biệt? Do vậy, này Ananda, chớ có là người đo lường các hạng người. Chớ có lấy sự đo lường của các hạng người. Này Ananada, tự đào hố cho mình là người đi lấy sự đo lường của các hạng người. Chỉ có ta, này Ananda, mới có thể lấy sự đo lường của các hạng người, hay là người như Ta.

6. Ở đây, này Ananda, có hạng người đã chinh phục được phẫn nộ và kiêu mạn, nhưng thỉnh thoảng các tham pháp khởi lên; với người này, nghe pháp không có tác động, học nhiều không có tác động, không thể nhập tri kiến, không chứng được thời giải thoát. Hạng người này sau khi thân hoại mạng chung hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi về thù thắng.

7. Ở đây, này Ananda, có hạng người đã chinh phục được phẫn nộ và kiêu mạn, nhưng thỉnh thoảng các tham pháp khởi lên; với người này, nghe pháp có tác động, học nhiều có tác động, có thể nhập tri kiến, có chứng được thời giải thoát. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không đi đến thối đọa…

8. Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người đã chinh phục được phẫn nộ và kiêu mạn, nhưng thỉnh thoảng khẩu hành khởi lên; với người này, nghe pháp không có tác động, học nhiều không có tác động, không thể nhập tri kiến, không chứng được thời giải thoát. Hạng người này sau khi thân hoại mạng chung hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi đến thù thắng.

9. Ở đây, này Ananda, có hạng người đã chinh phục được phẫn nộ và kiêu mạn, nhưng thỉnh thoảng khẩu hành khởi lên. Với người này, nghe pháp có tác động, học nhiều có tác động, có thể nhập tri kiến, chứng được thời giải thoát. Hạng người này sau khi thân hoại mạng chung hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không đi đến thối đọa. Ở đây, Này Ananda, những kẻ đo lường đo lường như sau: “Những pháp ấy của vị này là như vậy; những pháp ấy của vị kia là như vậy. Làm sao trong những hạng người là hạ liệt, cò người là thắng diệu? “Và sự đo lường ấy, này Ananda, đối với những người đo lường là không hạnh phúc, là đau khổ lâu dài.

Ở đây, này Ananda, hạng người này khéo tự chế ngự, dễ chung sống, các đồng Phạm hạnh hoan hỷ sống chung. Vị này nghe pháp có tác động, học nhiều có tác động, thể nhập được vào tri kiến, chứng được thời giải thoát. Hạng người này, này Ananda, so sánh với hạng người trước là tiến bộ hơn, là thắng diệu hơn. Vì cớ sao? Vì dòng pháp đưa người này ra phía trước. Nhưng ai ngoài Như Lai có thể biết được sự khác biệt? Do vậy, này Ananda, chớ có làm người đo lường các hạng người. Chớ có lấy sự đo lường của các hạng người. Này Ananda, tự đào hố cho mình là người đi lấy sự đo lường của các hạng người. Chỉ có Ta, này Ananda, mới có thể lấy sự đo lường của các hạng người này hay là người như Ta.

Và này Ananda, ai là nữ cư sĩ Migasàlà, lại ngu si, kém thông minh, với thân như bà mẹ, với trí như bà mẹ, để có thể biết sự thắng liệt giữa các người? Này Ananda, có sáu hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời. Giới như thế nào, này Ananda, Puràna được thành tựu, giới ấy Isidatta chưa thành tựu. Do vậy ở đây, Puràna có sanh thú khác với sanh thú của Isidatta. Tuệ như thế nào, này Ananda, Isidatta được thành tựu, tuệ ấy Puràna chưa thành tựu. Do vậy ở đây, Isidatta có sanh thú khác với sanh thú của Puràna. Như vậy, này Ananda, cả hai người này đều có thiếu sót một chi phần.

AN 6.45 Nợ Nần (Iṇasutta)

“Này các Tỳ kheo, đối với người hưởng thụ dục lạc, sự nghèo khổ có phải là đau khổ trên thế gian không?”

“Vâng, thưa Thế Tôn.”

“Khi một người nghèo khổ, không một xu dính túi, lâm vào cảnh nợ nần, đối với người hưởng thụ dục lạc, việc mắc nợ cũng là đau khổ trên thế gian phải không?”

“Vâng, thưa Thế Tôn.”

“Khi một người nghèo mắc nợ đồng ý trả lãi, đối với người hưởng thụ dục lạc, tiền lãi cũng là đau khổ trên thế gian phải không?”

“Vâng, thưa Thế Tôn.”

“Khi một người nghèo mắc nợ và đồng ý trả lãi nhưng không trả được khi đến hạn, họ bị cảnh cáo. Đối với người hưởng thụ dục lạc, việc bị cảnh cáo có phải là đau khổ trên thế gian không?”

“Vâng, thưa Thế Tôn.”

“Khi một người nghèo không trả được nợ sau khi bị cảnh cáo, họ bị truy tố. Đối với người hưởng thụ dục lạc, việc bị truy tố có phải là đau khổ trên thế gian không?”

“Vâng, thưa Thế Tôn.”

“Khi một người nghèo không trả được nợ sau khi bị truy tố, họ bị bỏ tù. Đối với người hưởng thụ dục lạc, việc bị bỏ tù có phải là đau khổ trên thế gian không?”

“Vâng, thưa Thế Tôn.”

"Vậy này các Tỳ kheo, nghèo khổ, nợ nần, lãi suất, cảnh cáo, truy tố và tù đày là đau khổ trên thế gian đối với những người hưởng thụ dục lạc. Tương tự như vậy, bất cứ ai không có niềm tin, không xấu hổ (conscience / hổ thẹn với tội lỗi), không sợ điều ác (prudence / ghê sợ hậu quả của tội lỗi), không siêng năng (energy / sự tinh tấn, nỗ lực), và không trí tuệ khi nói đến các thiện pháp (skillful qualities / những phẩm chất tốt đẹp, thiện lành) thì được gọi là nghèo khổ và không một xu dính túi trong sự tu tập của Bậc Thánh (Noble One / người đã chứng đắc các đạo quả).

Vì họ không có niềm tin, không xấu hổ, không sợ điều ác, không siêng năng, hay trí tuệ đối với các thiện pháp, nên họ làm những điều xấu ác qua thân, khẩu và ý. Ta nói rằng, đây là cách họ mắc nợ.

Để che giấu những điều xấu ác họ làm qua thân, khẩu và ý, họ nuôi dưỡng những ước muốn sai trái. Họ mong muốn, lập kế hoạch, nói năng và hành động với ý nghĩ: ‘Mong rằng không ai phát hiện ra ta!’ Ta nói rằng, đây là cách họ trả lãi.

Những người bạn đồng tu có lòng tốt nói về họ như thế này: ‘Vị tôn giả này hành động như thế này, và cư xử như thế kia.’ Ta nói rằng, đây là cách họ bị cảnh cáo.

Khi họ đi đến nơi hoang dã, gốc cây, hoặc căn lều trống, họ bị dày vò bởi những ý nghĩ hối hận, bất thiện. Ta nói rằng, đây là cách họ bị truy tố.

Người nghèo khổ, không một xu dính túi đó đã làm những điều xấu ác qua thân, khẩu và ý. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ bị giam cầm trong nhà tù địa ngục (hell / cảnh giới khổ đau) hoặc cảnh giới súc sinh (animal realm / cảnh giới loài vật). Ta không thấy một nhà tù nào tàn bạo, độc ác và là trở ngại lớn đến việc đạt được nơi nương tựa tối cao khỏi ách trói buộc như nhà tù địa ngục hay cảnh giới súc sinh.

Nghèo khổ được cho là đau khổ trên đời,
Và nợ nần cũng vậy.
Người nghèo mắc nợ
Lo lắng ngay cả khi tiêu tiền vay.

Rồi họ bị truy tố,
Hoặc thậm chí bị bỏ tù.
Sự tù đày như vậy là khổ đau thực sự
Đối với người cầu mong lạc thú và tài sản.

Tương tự, trong sự tu tập của bậc thánh
Ai không có niềm tin,
Không xấu hổ hay sợ điều ác,
Suy tính những việc xấu xa.

Sau khi làm điều xấu ác
Qua thân,
Khẩu, và ý,
Họ mong muốn, ‘Mong không ai biết!’

Hành vi của họ lén lút
Qua thân, khẩu, và ý.
Họ chồng chất việc xấu
Liên tục, đời này sang đời khác.

Kẻ ngu si làm ác đó,
Biết rõ lỗi lầm của mình,
Là người nghèo mắc nợ,
Và lo lắng ngay cả khi tiêu tiền vay.

Và khi ở làng hay nơi hoang dã
Họ bị truy tố
Bởi những kế hoạch tâm trí đau khổ,
Sinh ra từ hối hận.

Kẻ ngu si làm ác đó,
Biết rõ lỗi lầm của mình,
Đi đến một trong các cảnh giới súc sinh,
Hoặc bị giam cầm trong địa ngục.

Sự tù đày như vậy là khổ đau thực sự,
Mà người tỉnh thức được giải thoát.
Với tâm tin tưởng, họ bố thí
Bằng tài sản kiếm được chân chính.

Người gia chủ có niềm tin đó
Nắm giữ lợi ích cả hai mặt:
An lạc và lợi ích trong đời này,
Và hạnh phúc trong đời sau.
Đây là cách, đối với người gia chủ,
Công đức tăng trưởng nhờ bố thí.

Tương tự, trong sự tu tập của bậc thánh,
Ai có nền tảng niềm tin,
Với xấu hổ và sợ điều ác,
Có trí tuệ, và giữ gìn giới hạnh,

Được cho là sống hạnh phúc
Trong sự tu tập của bậc thánh.
Sau khi đạt được niềm vui không thuộc xác thịt,
Họ tập trung vào xả.

Họ từ bỏ năm triền cái (five hindrances / năm chướng ngại tâm lý: tham dục, sân hận, uể oải buồn ngủ, bồn chồn lo lắng, nghi ngờ),
Luôn luôn siêng năng,
Và nhập vào các tầng thiền định,
Thống nhất, tỉnh giác, và tỉnh thức.

Thực sự biết theo cách này
Liên quan đến sự chấm dứt mọi kiết sử,
Bằng cách không chấp thủ (not grasping / không dính mắc, bám víu) vào bất cứ điều gì,
Tâm họ được giải thoát chân chính.

Đối với người không bị ảnh hưởng đó, được giải thoát chân chính
Với sự chấm dứt các kiết sử của sự tiếp tục tồn tại,
Tri kiến khởi lên:
‘Sự giải thoát của ta là bất động.’

Đây là tri kiến tối hậu.
Đây là hạnh phúc tối thượng.
Không sầu muộn, không tì vết, an ổn:
Đây là sự giải thoát khỏi nợ nần cao nhất."

(III) (45) Nghèo Khổ

1. - Sự nghèo khổ, này các Tỷ-kheo, có phải là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời?

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

− Khi một người khổ không có sở hữu, sống túng thiếu, phải mắc nợ, mắc nợ ấy, này các Tỷ-kheo, có phải là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời?

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

− Khi một người nghèo khổ không có sở hữu, sống túng thiếu, sau khi mắc nợ, phải chấp nhận tiền lời. Tiền lời, này các Tỷ-kheo, có phải là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời?

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn!

− Khi một người nghèo khổ, này các Tỷ-kheo, không có sở hữu, sống túng thiếu phải chấp nhận tiền lời, và khi thời hạn đến, không trả được tiền lời, người ta hối thúc, đốc thúc người ấy. Sự thối thúc, đốc thúc, này các Tỷ-kheo, có phải là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời?

− Thưa vâng, bạch thế Tôn.

− Khi một người nghèo khổ, này các Tỷ-kheo, không có sở hữu, sống túng thiếu, bị hối thúc, không trả được, người ta theo sát gót truy tìm người ấy. Bị theo sát gót, bị truy tìm, này các Tỷ-kheo, có phải là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời?

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

− Khi một người nghèo khổ, này các Tỷ-kheo, không có sở hữu, sống túng thiếu, bị theo sát gót, bị truy tìm, không trả nợ được, người ta bắt trói người ấy. Sự bắt trói, này các Tỷ-kheo, có phải là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời? − Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

− Này các Tỷ-kheo, như vậy, nghèo khổ là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời; mắc nợ cũng là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời; tiền lời cũng là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời; bị hối thúc, đốc thúc cũng là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời; bị theo sát gót, bị truy tìm cũng là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời; bị bắt trói cũng là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai không có lòng tin trong các thiện pháp, không có lòng hổ thẹn trong các thiện pháp, không có lòng sợ hãi trong các thiện pháp, không có tinh tấn trong các thiện pháp, không có trí tuệ trong các thiện pháp; người này, này các Tỷ-kheo, được gọi là người nghèo khổ, không có sở hữu, sống túng thiếu trong Luật của bậc Thánh.

2. Nay chính người ấy, này các Tỷ-kheo, nghèo khổ, không có sở hữu, sống túng thiếu, không có lòng tin trong các thiện pháp, không có lòng hổ thẹn trong các thiện pháp, không có lòng sợ hãi trong các thiện pháp, không có tinh tấn trong các thiện pháp, không có trí tuệ trong các thiện pháp, làm ác hạnh về thân, làm ác hạnh về lời, làm ác hạnh về ý nghĩ. Ta gọi người ấy là người mắc nợ. Người ấy do nhân che giấu thân ác hạnh, khởi lên ác dục, muốn rằng: “Mong rằng không ai biết ta làm”, suy nghĩ rằng: “Mong rằng không ai biết ta làm”, nói rằng: “Mong rằng không ai biết ta làm”, cố gắng với tác động về thân, nghĩ rằng: “Mong rằng không ai biết ta làm”. Người ấy, do nhân che giấu ác hạnh về lời… ác hạnh về ý, khởi lên ác dục, muốn rằng: “Mong rằng không ai biết ta làm”, suy nghĩ rằng: “Mong rằng không ai biết ta làm”, Nói rằng : “Mong rằng không ai biết ta làm”, cố gắng với tác động về thân, nghĩ rằng: “Mong rằng không ai biết ta làm”. Ðây Ta gọi rằng: “Tiền lời gia tăng”. Và các đồng Phạm hạnh thuần thành nói về người ấy như sau: “Tôn giả này có làm như vậy, có sở hành như vậy”. Ðây Ta nói rằng, người ấy bị hối thúc, đốc thúc, rồi đi đến rừng hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, các ác bất thiện tầm, câu hữu với hối lỗi hiện hành. Ðây Ta gọi là bị theo sát gót, bị truy tìm.

3. Nay chính người ấy, này các Tỷ-kheo, nghèo khổ, không có sở hữu, sống túng thiếu, sau khi làm ác hạnh về thân, sau khi làm ác hạnh về lời, sau khi làm ác hạnh về ý, khi thân hoại mạng chung, bị trói buộc trong trói buộc của Ðịa ngục, bị trói buộc trong trói buộc của loài bàng sanh. Và này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một trói buộc nào khác lại khắc nghiệt như vậy, lại ác liệt như vậy, lại làm chướng ngại như vậy cho sự chứng đắc vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, này các Tỷ-kheo, giống như sự trói buộc Ðịa ngục hay sự trói buộc các loài bàng sanh.

Nghèo khổ và mắc nợ,
Ðược gọi khổ ở đời!
Kẻ bần cùng mắc nợ,
Thọ dụng, bị tổn hại,
Rồi bị người truy lùng,
Cho đến bị trói buộc.
Trói buộc vậy là khổ,
Cho người cầu được dục.
Như vậy trong Luật Thánh,
Ai sống không lòng tin,
Không xấu hổ, sợ hãi,
Quyết định chọn ác nghiệp.
Sau khi làm ác hạnh,
Về thân, lời và ý.
Lại mong muốn được rằng:
“Chớ ai biết ta làm”.
Người ấy khéo che giấu,
Với thân, lời và ý,
Làm tăng trưởng ác nghiệp,
Tại đây, đó, làm nữa.
Người ác tuệ, ác nghiệp,
Biết việc ác mình làm,
Như kẻ nghèo mắc nợ,
Thọ dụng, bị tổn hại.
Những tư tưởng khổ đau
Sanh ra từ hối hận
Vẫn truy tìm người ấy,
Ở làng hoặc ở rừng.
Người ác nghiệp, ác tuệ,
Biết việc ác mình làm,
Hoặc rơi vào bàng sanh,
Hoặc bị trói Ðịa ngục.
Trói buộc này là khổ.
Bậc trí được giải thoát,
Ai tâm tịnh bố thí,
Với vật dụng đúng pháp,
Gieo cầu may hai đường,
Tín tại gia tìm cầu,
Hiện tại được hạnh phúc,
Ðời sau được an lạc.
Như vậy tại gia thí,
Tăng trưởng các công đức.
Như vậy trong Luật Thánh
Tín tâm được an trú.
Có xấu hổ, sợ hãi,
Có trí, bảo hộ giới,
Bậc ấy, trong Luật Thánh,
Ðược gọi: “Sống an lạc”.
Ðược lạc không vật chất,
An trú trên tánh xả.
Từ bỏ năm triền cái,
Thường siêng năng, tinh cần,
Chứng Thiền định, nhứt tâm,
Thận trọng, giữ chánh niệm.
Biết như thật là vậy,
Ðoạn diệt mọi kiết sử,
Hoàn toàn không chấp thủ,
Chơn chánh, tâm giải thoát,
Với chánh giải thoát ấy,
Nếu trí như vậy khởi:
“Bất động ta giải thoát,
Ðoạn diệt hữu kiết sử”.
Trí này, trí tối thượng,
Lạc này, lạc vô thượng,
Không sầu, không trần cấu,
Ðược an ổn, (giải thoát),
Trạng thái không nợ này,
Ðược xem là tối thượng.

AN 6.46 Bởi Mahācunda (Mahācundasutta)

TÔI NGHE NHƯ VẦY. Một thời Tôn giả Mahācunda trú tại xứ Ceti, ở Sahajāti. Tại đó, ngài nói với các Tỳ kheo: “Chư hiền, các Tỳ kheo!”

“Thưa Hiền giả,” họ đáp. Tôn giả Mahācunda nói điều này:

"Hãy xét trường hợp các Tỳ kheo thực hành quán pháp (discernment of principles / sự quán chiếu các pháp) khiển trách các Tỳ kheo thực hành thiền định: ‘Họ nói, “Chúng tôi thực hành thiền định! Chúng tôi thực hành thiền định!” Và họ thiền, tập trung, quán chiếu và nghiền ngẫm. Tại sao họ thực hành thiền định? Họ thực hành thiền định theo cách nào? Họ thực hành thiền định như thế nào?’ Trong trường hợp này, các Tỳ kheo thực hành quán pháp không được truyền cảm hứng, và các Tỳ kheo thực hành thiền định cũng không được truyền cảm hứng. Và họ không hành động vì lợi ích và hạnh phúc của dân chúng, vì mọi người, vì lợi ích, an lạc và hạnh phúc của chư thiên và loài người.

Bây giờ, hãy xét trường hợp các Tỳ kheo thực hành thiền định khiển trách các Tỳ kheo thực hành quán pháp: ‘Họ nói, “Chúng tôi thực hành quán pháp! Chúng tôi thực hành quán pháp!” Nhưng họ bồn chồn, xấc xược, hay thay đổi, nói năng thô tục, lắm lời, thất niệm (unmindful / không tỉnh thức), thiếu tỉnh giác (situational awareness / sự nhận biết rõ ràng hoàn cảnh xung quanh) và định (immersion / sự tập trung tâm), với tâm lang thang và các căn (faculties / giác quan) không được kiểm soát. Tại sao họ thực hành quán pháp? Họ thực hành quán pháp theo cách nào? Họ thực hành quán pháp như thế nào?’ Trong trường hợp này, các Tỳ kheo thực hành thiền định không được truyền cảm hứng, và các Tỳ kheo thực hành quán pháp cũng không được truyền cảm hứng. Và họ không hành động vì lợi ích và hạnh phúc của dân chúng, vì mọi người, vì lợi ích, an lạc và hạnh phúc của chư thiên và loài người.

Bây giờ, hãy xét trường hợp các Tỳ kheo thực hành quán pháp chỉ ca ngợi những người giống họ, chứ không ca ngợi các Tỳ kheo thực hành thiền định. Trong trường hợp này, các Tỳ kheo thực hành quán pháp không được truyền cảm hứng, và các Tỳ kheo thực hành thiền định cũng không được truyền cảm hứng. Và họ không hành động vì lợi ích và hạnh phúc của dân chúng, vì mọi người, vì lợi ích, an lạc và hạnh phúc của chư thiên và loài người.

Và hãy xét trường hợp các Tỳ kheo thực hành thiền định chỉ ca ngợi những người giống họ, chứ không ca ngợi các Tỳ kheo thực hành quán pháp. Trong trường hợp này, các Tỳ kheo thực hành thiền định không được truyền cảm hứng, và các Tỳ kheo thực hành quán pháp cũng không được truyền cảm hứng. Và họ không hành động vì lợi ích và hạnh phúc của dân chúng, vì mọi người, vì lợi ích, an lạc và hạnh phúc của chư thiên và loài người.

Vì vậy, các vị nên tu tập như thế này: ‘Là những Tỳ kheo thực hành quán pháp, chúng ta sẽ ca ngợi các Tỳ kheo thực hành thiền định.’ Đó là cách các vị nên tu tập. Tại sao vậy? Bởi vì thật vô cùng hiếm hoi để tìm thấy những cá nhân trên thế gian có kinh nghiệm thiền định trực tiếp về bất tử giới (element free of death / trạng thái Niết Bàn, không còn sinh tử).

Vì vậy, các vị nên tu tập như thế này: ‘Là những Tỳ kheo thực hành thiền định, chúng ta sẽ ca ngợi các Tỳ kheo thực hành quán pháp.’ Đó là cách các vị nên tu tập. Tại sao vậy? Bởi vì thật vô cùng hiếm hoi để tìm thấy những cá nhân trên thế gian thấy được ý nghĩa của một lời nói sâu sắc bằng trí tuệ thâm nhập."

(IV) (46) Mahàcunda

1. Như vậy tôi nghe:

Một thời, Tôn giả Mahàcunda trú ở Cetì, tại Sahajàti. Tại đấy, Tôn giả Mahàcunda gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Hiền giả Tỷ-kheo!

− Thưa Hiền giả!

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahàcunda. Tôn giả Mahàcunda nói như sau:

2. - Ở đây, này chư Hiền, một số Tỷ-kheo chuyên tâm về Pháp không ưa thích các Tỷ-kheo tu Thiền, nói như sau: “Các người này nói: ‘Chúng tôi tu Thiền, chúng tôi tu Thiền’. Họ tu Thiền, họ hành Thiền. Những người này Thiền cái gì? Những người này Thiền có lợi ích gì? Những người này Thiền như thế nào? '”. Ở đây, các Tỷ-kheo chuyên tâm về Pháp không hoan hỷ, và các Tỷ-kheo tu Thiền cũng không hoan hỷ; hành động như vậy không đưa lại hạnh phúc cho nhiều người, an lạc cho nhiều người, không đưa lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên và loài Người.

3. Ở đây, này chư hiền, một số Tỷ-kheo tu thiền không ưa thích c ác Tỷ-kheo chuyên tâm về Pháp, nói như sau: “Các người này nói: 'Chúng tôi chuyên tâm về Pháp, chúng tôi chuyên tâm về Pháp”. Họ tháo động, kiêu căng, dao động, lắm mồm, lắm miệng, lắm lời, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, các căn thả lỏng. Những người này chuyên tâm về Pháp cái gì? Những người này chuyên tâm về Pháp có lợi ích gì? Những người này chuyên tâm về Pháp như thế nào? '”. Ở đây, này các Tỷ-kheo tu Thiền không có hoan hỷ, và các Tỷ-kheo, chuyên tu về Pháp cũng không hoan hỷ; hành động như vậy không đưa lại hạnh phúc cho nhiều người, an lạc cho nhiều người, không đưa lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên và loài Người.

4. Nhưng ở đây, này chư Hiền, có những Tỷ-kheo chuyên tâm về Pháp, chỉ tán thán các Tỷ-kheo chuyên tâm về Pháp, không tán thán các Tỷ-kheo tu Thiền. Và ở đây, các Tỷ-kheo chuyên tâm về Pháp không được hoan hỷ; các Tỷ-kheo tu Thiền không được hoan hỷ. Hành đông như vậy không đưa lại hạnh phúc cho nhiều người, an lạc cho nhiều người, không đưa lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên và loài Người.

5. Nhưng ở đây, này chư Hiền, có những Tỷ-kheo tu Thiền chỉ tán thán các Tỷ-kheo tu Thiền, không tán thán các Tỷ-kheo chuyên tâm về Pháp. Và ở đây, các Tỷ-kheo tu Thiền không được hoan hỷ; các Tỷ-kheo chuyên tâm về Pháp không được hoan hỷ. Sở hành như vậy không đưa lại hạnh phúc cho nhiều nguời, an lạc cho nhiều người, không đưa lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên và loài người.

6. Do vậy, này chư Hiền, cần phải học tập như sau:

“Chúng ta là những người chuyên tâm về Pháp, chúng ta sẽ tán thán các Tỷ-kheo tu Thiền “. Này chư Hiền, chư Hiền cần phải học tập như vậy. Vì cớ sao? Thật vậy, này chư Hiền, các người vi diệu ấy khó tìm được ở đời, những người cảm giác bất tử giới với thân và an trú.

7. Do vậy, này chư Hiền, cần phải học tập như sau:

“Chúng ta là những người tu thiền, chúng ta sẽ tán thán các Tỷ-kheo chuyên tâm về Pháp”. Này chư Hiền, chư Hiền cần phải học tập như vậy. Vì cớ sao? Thật vậy, này chư Hiền, các người vi diệu ấy khó tìm được ở đời, những người với trí tuệ thể nhập và thấy con đường thâm sâu hướng dẫn đến đích.

AN 6.47 Hiện Tiền (1) (Paṭhamasandiṭṭhikasutta)

Rồi du sĩ Moḷiyasīvaka đến gặp Đức Phật và chào hỏi Ngài. Sau khi chào hỏi và nói chuyện xã giao xong, ông ngồi xuống một bên và thưa với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về ‘giáo pháp hiện tiền’. Giáo pháp hiện tiền, có hiệu quả tức thì, mời gọi đến để thấy, có liên quan, để người trí tự mình biết được là như thế nào?”

“Vậy thì, Sīvaka, Ta sẽ hỏi lại ông về điều này, và ông có thể trả lời tùy ý. Ông nghĩ sao, Sīvaka? Khi có tham trong ông, ông có hiểu ‘Tôi có tham trong tôi’ không? Và khi không có tham trong ông, ông có hiểu ‘Tôi không có tham trong tôi’ không?”

“Vâng, thưa Thế Tôn.”

"Vì ông biết điều này, nên đây là cách giáo pháp hiện tiền, có hiệu quả tức thì, mời gọi đến để thấy, có liên quan, để người trí tự mình biết được.

Ông nghĩ sao, Sīvaka? Khi có sân… si… những ý nghĩ tham… những ý nghĩ sân… Khi có những ý nghĩ si trong ông, ông có hiểu ‘Tôi có những ý nghĩ si trong tôi’ không? Và khi không có những ý nghĩ si trong ông, ông có hiểu ‘Tôi không có những ý nghĩ si trong tôi’ không?"

“Vâng, thưa Thế Tôn.”

“Vì ông biết điều này, nên đây là cách giáo pháp hiện tiền, có hiệu quả tức thì, mời gọi đến để thấy, có liên quan, để người trí tự mình biết được.”

“Thật tuyệt vời, thưa Thế Tôn! Tuyệt vời! Kể từ hôm nay, xin Đức Phật ghi nhớ con là một cư sĩ đã quy y trọn đời.”

(V) (47) Cho Ðời Này (1)

1. Rồi du sĩ ngoại đạo Moliyasìvaka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, său khi nói lên những lời hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, du sĩ ngoại đạo Moliyasìvaka bạch Thế Tôn:

-Pháp là thiết thực hiện tại, Pháp là thiết thực hiện tại, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu?

2.- Vậy này Sìvaka, ở đây Ta sẽ hỏi Ông; nêu Ông có thể kham nhẫn thời hãy trả lời. Ông nghĩ thế nào, này Sìvaka? Nội tâm có tham, Ông có biết: “Nội tâm ta có tham”? Nội tâm không có tham, Ông có biết: “Nội tâm ta không có tham”?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Này Sìvaka, nội tâm có tham, Ông có biết: “Nội tâm ta có tham”. Nội tâm không có tham, Ông có biết: “Nội tâm ta không có tham”. Như vậy này Sìvaka, pháp là thiết thực hiện tại… Ông nghĩ thế nào, này Sìvaka? Nội tâm có sân…( Như trên)…Ông nghĩ thế nào, này Sìvaka? Nội tâm có si, Ông có biết: “Nội tâm ta có si”? Hay nội tâm không si, Ông có biết: “Nội tâm ta không si”?

-Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Này Sìvaka, nội tâm có si, Ông có biết: “Nội tâm ta có si”, hay nội tâm không có si, Ông có biết: “Nội tâm ta không si”. như vậy, này Sìvaka, pháp là thiết thực hiện tại… Ông nghĩ thế nào, này Sìvaka? Nội tâm có tham pháp,… hay nội tâm có sân pháp…, hay nội tâm có si pháp…, Ông có biết: “Nội tâm ta có si pháp”?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Hay nội tâm không có si pháp. Ông có biết: “Nội tâm ta không có si pháp”?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Này Sìvaka, nội tâm có si pháp, Ông có biết: “Nội tâm ta có si pháp”, hay nội tâm không có si pháp, Ông có biết: “Nội tâm ta không có si pháp. “Như vậy, này Sìvaka, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu.

− Thật vi diệu thay! … Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

AN 6.48 Hiện Tiền (2) (Dutiyasandiṭṭhikasutta)

Rồi một vị Bà-la-môn đến gặp Đức Phật và chào hỏi Ngài. Sau khi chào hỏi và nói chuyện xã giao xong, ông ngồi xuống một bên và thưa với Đức Phật:

“Thưa ngài Gotama, người ta nói về ‘giáo pháp hiện tiền’. Giáo pháp hiện tiền, có hiệu quả tức thì, mời gọi đến để thấy, có liên quan, để người trí tự mình biết được là như thế nào?”

“Vậy thì, Bà-la-môn, Ta sẽ hỏi lại ông về điều này, và ông có thể trả lời tùy ý. Ông nghĩ sao, Bà-la-môn? Khi có tham trong ông, ông có hiểu ‘Tôi có tham trong tôi’ không? Và khi không có tham trong ông, ông có hiểu ‘Tôi không có tham trong tôi’ không?”

“Vâng, thưa ngài.”

"Vì ông biết điều này, nên đây là cách giáo pháp hiện tiền, có hiệu quả tức thì, mời gọi đến để thấy, có liên quan, để người trí tự mình biết được.

Ông nghĩ sao, Bà-la-môn? Khi có sân… si… sự ô nhiễm dẫn đến hành động thân thể… sự ô nhiễm dẫn đến lời nói… Khi có sự ô nhiễm dẫn đến hành động tâm ý trong ông, ông có hiểu ‘Tôi có sự ô nhiễm dẫn đến hành động tâm ý trong tôi’ không? Và khi không có sự ô nhiễm dẫn đến hành động tâm ý trong ông, ông có hiểu ‘Tôi không có sự ô nhiễm dẫn đến hành động tâm ý trong tôi’ không?"

“Vâng, thưa ngài.”

“Vì ông biết điều này, nên đây là cách giáo pháp hiện tiền, có hiệu quả tức thì, mời gọi đến để thấy, có liên quan, để người trí tự mình biết được.”

“Thật tuyệt vời, thưa ngài Gotama! Tuyệt vời! … Kể từ hôm nay, xin ngài Gotama ghi nhớ tôi là một cư sĩ đã quy y trọn đời.”

(VI) (48) Cho Ðời Này (2)

1. Rồi một Bà-la-môn đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, vị Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:

− Pháp là thiết thực hiện tại, pháp là thiết thực hiện tại, thưa Tôn giả Gotama, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, thưa Tôn giả Gotama, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu? 2.- Vậy này Bà-la-môn, ở đây Ta sẽ hỏi Ông. Nếu Ông có thể kham nhẫn thời hãy trả lời; Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn? Nội tâm có tham ái, Ông có biết: “Nội tâm ta có tham ái”? Hay nội tâm không có tham ái. Ông có biết: “Nội tâm ta không có tham ái”?

− Thưa có, thưa Tôn giả.

− Này Bà-la-môn, nội tâm có tham ái, Ông có biết: “Nội tâm ta có tham ái”. Hay nội tâm không có tham ái, Ông có biết: “Nội tâm ta không có tham ái. “Như vậy, này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại… Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn? Nội tâm ta có si”? Hay nội tâm không có si, Ông có biết: “Nội tâm ta không có si”?

-Thưa có, thưa Tôn giả.

− Này Bà-la-môn, nội tâm có si, Ông có biết: “Nội tâm ta có si.” Hay nội tâm không có si, Ông có biết: “Nội tâm ta không có si. “Như vậy, này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại…Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn? Nội tâm có thân uế…, hay nội tâm có khẩu uế…hay nội tâm có ý uế, Ông có biết: “Nội tâm ta có ý uế”? Hay nội tâm không có ý uế, Ông có biết: “Nội tâm ta không có ý uế…”?

− Thưa có, thưa Tôn giả.

− Này Bà-la-môn, nội tâm có ý uế, Ông có biết: “Nội tâm ta có ý uế”. Hay nội tâm không có ý uế, Ông có biết: “Nội tâm ta không có ý uế”. Như vậy này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.

− Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama… Mong Tôn giả Gotama nhận con làm để tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

AN 6.49 Với Khema (Khemasutta)

Một thời Đức Phật trú tại Sāvatthī, trong Rừng Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Khema và Tôn giả Sumana đang trú gần Sāvatthī trong Rừng Tối. Rồi họ đến gặp Đức Phật, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Tôn giả Khema thưa với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, một Tỳ kheo là bậc A-la-hán (perfected / bậc đã hoàn thiện, diệt hết phiền não)—với các lậu hoặc (defilements / những ô nhiễm, phiền não làm tâm rỉ chảy) đã đoạn tận, đã hoàn thành phạm hạnh, đã làm những việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích chân chính của mình, đã hoàn toàn chấm dứt kiết sử của sự tiếp tục tồn tại, và được giải thoát chân chính nhờ chánh trí (enlightenment / trí tuệ chân chính dẫn đến giải thoát)—không nghĩ rằng: ‘Có người tốt hơn tôi, hoặc bằng tôi, hoặc kém hơn tôi.’”

Đó là những gì Khema nói, và bậc Đạo sư đã chấp thuận. Rồi Khema, biết rằng bậc Đạo sư đã chấp thuận, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ và kính cẩn đi quanh Đức Phật, giữ Ngài ở bên phải, trước khi rời đi.

Và rồi, không lâu sau khi Khema rời đi, Sumana thưa với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, một Tỳ kheo là bậc A-la-hán—với các lậu hoặc đã đoạn tận, đã hoàn thành phạm hạnh, đã làm những việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích chân chính của mình, đã hoàn toàn chấm dứt kiết sử của sự tiếp tục tồn tại, và được giải thoát chân chính nhờ chánh trí—không nghĩ rằng: ‘Không có ai tốt hơn tôi, hoặc bằng tôi, hoặc kém hơn tôi.’”

Đó là những gì Sumana nói, và bậc Đạo sư đã chấp thuận. Rồi Sumana, biết rằng bậc Đạo sư đã chấp thuận, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ và kính cẩn đi quanh Đức Phật, giữ Ngài ở bên phải, trước khi rời đi.

Và rồi, ngay sau khi Khema và Sumana rời đi, Đức Phật nói với các Tỳ kheo: "Này các Tỳ kheo, đây là cách các bậc trượng phu tuyên bố sự giác ngộ. Mục đích được nói đến, nhưng cái tôi không liên quan. Nhưng dường như có một số kẻ vô ích ở đây tuyên bố sự giác ngộ như một trò đùa. Sau này họ sẽ rơi vào đau khổ.

Họ không tự cho mình
Là ở trong số những người cao hơn, thấp hơn, hay bằng.
Sự tái sinh đã chấm dứt,
>Phạm hạnh đã hoàn thành.
Họ sống giải thoát khỏi các kiết sử."

(VII) (49) Khema

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvavatthì, Jetavana, tại khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Sumana trú ở Sàvavatthì, tại rừng Andha. Rồi Tôn giả Khema và Tôn giả Sumana đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Khema bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, Phạm hạnh đã thành, đã làm những việc phải làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã đoạn tận, chánh trí giải thoát. Vị ấy không nghĩ rằng: “Có người tốt hơn ta” hay “Có người giống như ta” hay “Có người hạ liệt hơn ta”.

Tôn giả Khema nói như vậy, Bậc Ðạo Sư chấp nhận. Rồi Tôn giả Khema nghĩ rằng: “Thế Tôn đã chấp nhận ta”. Tôn giả từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi. Tôn giả Sumana, khi Tôn giả Khema ra đi không bao lâu, liền bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, Phạm hạnh đã thành, đã làm những việc phải làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã đoạn tận, chánh trí giải thoát. Vị ấy không nghĩ rằng: “Có người tốt hơn ta”, hay “Có người giống như ta”, hay “Có người hạ liệt hơn ta”.

Tôn giả Sumana nói như vậy, bậc Ðạo Sư chấp nhận. Rồi tôn giả Sumana nghĩ rằng: “Thế Tôn đã chấp nhận ta”. Tôn giả từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ra đi. 2. Rồi Thế Tôn, sau khi Tôn giả Khema và Tôn giả Sumana ra đi không bao lâu, liền bảo các Tỷ-kheo:

− Như vậy, này các Tỷ-kheo, các thiện nam tử nói lên chánh trí, có nói đến mục đích, nhưng không đề cập đến tự ngã. Tuy vậy, ở đây một số kẻ ngu nói lên chánh trí một cách ngạo mạn đắc chí. Họ về sau rơi vào nguy hại.

Không thắng, không hạ liệt,
Không ai đồng đẳng Ta,
Những tư tưởng như vậy
Không chi phối các vị.
Sanh khởi đã chấm dứt,
Phạm hạnh được viên thành,
Họ lìa bỏ kiết sử,
Hoàn toàn được giải thoát.

AN 6.50 Thu Thúc Lục Căn (Indriyasaṁvarasutta)

"Này các Tỳ kheo, khi không có thu thúc lục căn (sense restraint / sự kiểm soát, giữ gìn sáu giác quan), người thiếu thu thúc lục căn đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho giới hạnh. Khi không có giới hạnh, người thiếu giới hạnh đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho chánh định (right immersion / sự tập trung đúng đắn). Khi không có chánh định, người thiếu chánh định đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho chánh tri kiến (true knowledge and vision / sự hiểu biết và thấy đúng như thật). Khi không có chánh tri kiến, người thiếu chánh tri kiến đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho sự nhàm chán và ly tham (disillusionment and dispassion / sự chán ngán và từ bỏ ham muốn). Khi không có sự nhàm chán và ly tham, người thiếu sự nhàm chán và ly tham đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho tri kiến giải thoát (knowledge and vision of freedom / sự hiểu biết và thấy rõ con đường giải thoát).

Giả sử có một cái cây thiếu cành và lá. Chồi, vỏ, giác cây và lõi cây của nó sẽ không phát triển đầy đủ.

Tương tự như vậy, khi không có thu thúc lục căn, người thiếu thu thúc lục căn đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho giới hạnh. … Người thiếu sự nhàm chán và ly tham đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho tri kiến giải thoát.

Khi có thu thúc lục căn, người đã hoàn thành thu thúc lục căn đã hoàn thành một điều kiện thiết yếu cho giới hạnh. Khi có giới hạnh, người đã hoàn thành giới hạnh đã hoàn thành một điều kiện thiết yếu cho chánh định. Khi có chánh định, người đã hoàn thành chánh định đã hoàn thành một điều kiện thiết yếu cho chánh tri kiến. Khi có chánh tri kiến, người đã hoàn thành chánh tri kiến đã hoàn thành một điều kiện thiết yếu cho sự nhàm chán và ly tham. Khi có sự nhàm chán và ly tham, người đã hoàn thành sự nhàm chán và ly tham đã hoàn thành một điều kiện thiết yếu cho tri kiến giải thoát.

Giả sử có một cái cây đầy đủ cành và lá. Chồi, vỏ, giác cây và lõi cây của nó đều sẽ phát triển đầy đủ.

Tương tự như vậy, khi có thu thúc lục căn, người đã hoàn thành thu thúc lục căn đã hoàn thành một điều kiện thiết yếu cho giới hạnh. … Người đã hoàn thành sự nhàm chán và ly tham đã hoàn thành một điều kiện thiết yếu cho tri kiến giải thoát."

(VIII) (50) Các Căn

1. - Với căn không phòng hộ, này các Tỷ-kheo, với người khiếm khuyết phòng hộ các căn giới đi đến hủy hoại; với giới không có, có ai khiếm khuyết về giới, chánh định đi đến hủy hoại. Với chánh định không có, với ai khiếm khuyết chánh định, trì kiến như thật đi đến hủy hoại. Với tri kiến như thật không có, với ai khiếm khuyết tri kiến như thật, nhàm chán ly tham đi đến hủy hoại. Với nhàm chán, ly tham không có, với ai khiếm khuyết nhàm chán, ly tham, giải thoát tri kiến đi đến hủy hoại.

2. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây, với cành và lá khiếm khuyết, thời các chồi non không đi đến viên mãn, vỏ cây không đi đến viên mãn, giác cây không đi đến viên mãn, lõi cây không đi đến viên mãn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với căn không phòng hộ, với người khiếm khuyết phòng hộ các căn… giải thoát tri kiến đi đến hủy hoại.

3. Với các căn được phòng hộ, này các Tỷ-kheo, với người đầy đủ các căn được phòng hộ, giới đi đến đầy đủ. Với giới có mặt, với người đầy đủ giới, chánh định đi đến đầy đủ. Với chánh định có mặt, với người đầy đủ chánh định, tri kiến như thật đi đến đầy đủ. Với tri kiến như thật có mặt, với người đầy đủ tri kiến như thật, nhàm chán ly tham đi đến đầy đủ. Với nhàm chán, ly tham có mặt, với người đầy đủ nhàm chán ly tham, giải thoát tri kiến đi đến đầy đủ.

4. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây với cành và lá đầy đủ, thời chồi non đi đến viên mãn, vỏ cây đi đến viên mãn, giác cây đi đến viên mãn, lõi cây đi đến viên mãn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với căn được phòng hộ, với người đầy đủ phòng hộ các căn, giới đi đến đầy đủ… giải thoát tri kiến đi đến đầy đủ.

AN 6.51 Với Ānanda (Ānandasutta)

Rồi Tôn giả Ānanda đến gặp Tôn giả Sāriputta và chào hỏi ngài. Sau khi chào hỏi và nói chuyện xã giao xong, Ānanda ngồi xuống một bên và thưa với Sāriputta:

“Thưa Hiền giả Sāriputta, làm thế nào một Tỳ kheo có thể nghe được một giáo pháp mà họ chưa từng nghe trước đây? Làm thế nào họ ghi nhớ những giáo pháp họ đã nghe? Làm thế nào họ tiếp tục thực hành những giáo pháp mà họ đã quen thuộc? Và làm thế nào họ hiểu được những gì họ chưa hiểu trước đây?”

“Này Hiền giả Ānanda, ngài rất uyên bác. Tại sao ngài không tự mình làm rõ điều này?”

“Vậy thì, thưa Hiền giả Sāriputta, hãy lắng nghe và chú tâm kỹ, tôi sẽ nói.”

“Vâng, thưa Hiền giả,” Sāriputta đáp. Ānanda nói điều này:

"Thưa Hiền giả Sāriputta, hãy xét một Tỳ kheo ghi nhớ giáo pháp—các bài kinh (statements / các bài kinh), thể loại ứng tụng (mixed prose & verse / thể loại văn xuôi xen lẫn kệ), các bài ký thuyết (discussions / các bài giảng giải), các bài kệ (verses / các bài thơ, vần), các cảm hứng ngữ (inspired exclamations / lời nói tự phát do cảm hứng), các bổn sự (legends / chuyện về các sự kiện trong quá khứ của Phật và đệ tử), các bổn sinh (stories of past lives / chuyện tiền thân của Đức Phật), các vị tằng hữu pháp (amazing stories / những chuyện hy hữu, kỳ diệu), và các phương quảng (elaborations / các bài giảng rộng, chi tiết).

Sau đó, đúng như những gì họ đã học và ghi nhớ, họ giảng dạy chi tiết cho người khác, yêu cầu họ tụng đọc chi tiết, thực hành tụng đọc chi tiết, và suy ngẫm, xem xét giáo pháp trong tâm, khảo sát nó bằng tâm trí.

Họ nhập hạ trong một tu viện với các vị Tỳ kheo trưởng lão rất uyên bác, những người thừa kế di sản, những người đã ghi nhớ giáo pháp, luật (monastic law / giới luật cho Tăng Ni), và các luận cương (outlines / các bản tóm tắt, đề cương). Thỉnh thoảng họ đến gặp các vị Tỳ kheo đó và hỏi họ: ‘Thưa Tôn giả, tại sao lại nói thế này? Điều đó có nghĩa là gì?’ Các vị tôn giả đó làm rõ những gì chưa rõ ràng, tiết lộ những gì còn ẩn khuất, và xua tan nghi ngờ về nhiều vấn đề còn nghi vấn.

Đây là cách một Tỳ kheo nghe được một giáo pháp mà họ chưa từng nghe trước đây. Đó là cách họ ghi nhớ những giáo pháp họ đã nghe. Đó là cách họ tiếp tục thực hành những giáo pháp mà họ đã quen thuộc. Và đó là cách họ hiểu được những gì họ chưa hiểu trước đây."

"Thật khó tin, thưa Hiền giả, thật kỳ diệu! Tôn giả Ānanda nói điều này thật hay thay! Và chúng tôi sẽ ghi nhớ Tôn giả Ānanda là người có sáu phẩm chất này.

Vì Ānanda ghi nhớ giáo pháp… kinh, ứng tụng, ký thuyết, kệ, cảm hứng ngữ, bổn sự, bổn sinh, vị tằng hữu pháp, và phương quảng. Các vị tôn giả đó làm rõ cho Ānanda những gì chưa rõ ràng, tiết lộ những gì còn ẩn khuất, và xua tan nghi ngờ về nhiều vấn đề còn nghi vấn."

(IX) (51) Ananda

1. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda thưa với Tôn giả Sàriputta:

2. - Cho đến như thế nào, thưa Hiền giả Sàriputta, Tỷ-kheo nghe pháp trước kia chưa được nghe, với pháp đã được nghe, không đi đến rối loạn, còn đối với các pháp trước kia tâm đã từng cảm xúc, chúng vẫn được hiện hành, và vị ấy biết được điều trước kia chưa biết?

− Tôn giả Ananda là vị nghe nhiều, Tôn giả hãy nói lên! − Vậy thưa Hiền giả Sàriputta, hãy nghe và khéo tác ý, tôi sẽ nói!

− Thưa vâng, hiền giả.

Tôn giả Sàriputta vâng đáp Tôn giả Ananda. Tôn giả Ananda nói như sau:

3. - Ở đây, thưa Hiền giả Sàriputta, Tỷ-kheo học thông suốt pháp, tức là Khế kinh, ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Vô vấn tự thuyết, Như thị thuyết, bản sanh, Vị tăng hữu pháp, Trí giải hay Phương quảng. Vị ấy thuyết pháp cho các người khác một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thông suốt. Vị ấy khiến cho các người khác nói pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thông suốt. Vị ấy tụng đọc pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thông suốt. Vị ấy với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Tại trú xứ nào các Tỷ-kheo trưởng lão trú ở, các vị nghe nhiều, được trao truyền các tập Agama, bậc Trì pháp, Trì luật, Trì toát yếu, tại các chỗ ấy, vị ấy an cư vào mùa mưa, thỉnh thoảng đến các Tôn giả ấy; sau khi đến, phỏng vấn, đặt các câu hỏi: “Thưa Tôn giả, cái này là thế nào? Ý nghĩa cái này là gì? “Các Tôn giả ấy mở rộng những gì chưa được mở rộng, phơi bày những gì chưa được phơi bày, và đối với những đoạn sai khác, còn có chỗ nghi ngờ, các tôn giả ấy giải thích các sự nghi ngờ. Cho đến như vậy, thưa Hiền giả Sàriputta, Tỷ-kheo nghe pháp chưa được nghe, với pháp đã được nghe, không đi đến rối loạn, còn đối với các pháp trước kia tâm đã từng cảm xúc, chúng vẫn được hiện hành, và vị ấy biết được điều trước kia chưa biết.

4. - Thật vi diệu thay, thưa Hiền giả! thưa Hiền giả! Thật hy hữu thay, thưa Hiền giả! Khéo nói cho đến như vậy, chính là điều đã được Tôn giả Ananda nói lên. Và chúng tôi thọ trì rằng Tôn giả Ananda đã được thành tựu sáu pháp:

5. Tôn giả Ananda học thông suốt pháp, tức là Khế kinh, ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Vô vấn tự thuyết, Như thị thuyết, Bản sanh, Vị tằng hữu pháp, Trí giải hay Phương quảng. Tôn giả Ananda thuyết pháp cho các người khác một cách rộng rãi như đã nghe, như đã được học thông suốt. Tôn giả Ananda khiến cho các người khác nói lên pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thông suốt. Tôn giả Ananda đọc tụng pháp một cách rộng rãi, như đã được nghe, như đã được học một cách thông suốt. Tôn giả Ananda với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Tôn giả Ananda, tại trú xứ nào các Tỷ-kheo trưởng lão trú ở, các vị nghe nhiều, được trao truyền các tập Agama, bậc Trì pháp, Trì luật. Trì toát yếu, tại các chỗ ấy, Tôn giả Ananda an cư vào mùa mưa, thỉnh thoảng đến các vị ấy, sau khi đến, phỏng vấn, đặt các câu hỏi: “Thưa Tôn giả, cái này là thế nào? Ý nghĩa cái này là gì? “Các Tôn giả ấy mở rộng những gì chưa được mở rộng, phơi bày những gì chưa được phơi bày, và đối với những đoạn sai khác, còn có chỗ nghi ngờ, các vị ấy giải thích các sự nghi ngờ.

AN 6.52 Giai Cấp Sát-đế-lỵ (Khattiyasutta)

Rồi Bà-la-môn Jānussoṇi đến gặp Đức Phật và chào hỏi Ngài. Sau khi chào hỏi và nói chuyện xã giao xong, ông ngồi xuống một bên và thưa với Đức Phật:

“Thưa ngài Gotama, giai cấp Sát-đế-lỵ có tham vọng gì? Mối bận tâm của họ là gì? Họ cố chấp vào điều gì? Họ khăng khăng điều gì? Mục tiêu cuối cùng của họ là gì?”

“Này Bà-la-môn, giai cấp Sát-đế-lỵ có tham vọng về của cải. Họ bận tâm về trí tuệ. Họ cố chấp vào quyền lực. Họ khăng khăng về lãnh thổ. Mục tiêu cuối cùng của họ là quyền uy.”

“Thưa ngài Gotama, giai cấp Bà-la-môn có tham vọng gì? Mối bận tâm của họ là gì? Họ cố chấp vào điều gì? Họ khăng khăng điều gì? Mục tiêu cuối cùng của họ là gì?”

“Giai cấp Bà-la-môn có tham vọng về của cải. Họ bận tâm về trí tuệ. Họ cố chấp vào các bài thánh ca. Họ khăng khăng về tế lễ. Mục tiêu cuối cùng của họ là cõi Phạm thiên.”

“Thưa ngài Gotama, giai cấp Gia chủ có tham vọng gì? Mối bận tâm của họ là gì? Họ cố chấp vào điều gì? Họ khăng khăng điều gì? Mục tiêu cuối cùng của họ là gì?”

“Giai cấp Gia chủ có tham vọng về của cải. Họ bận tâm về trí tuệ. Họ cố chấp vào nghề nghiệp của mình. Họ khăng khăng về công việc. Mục tiêu cuối cùng của họ là hoàn thành công việc.”

“Thưa ngài Gotama, phụ nữ có tham vọng gì? Mối bận tâm của họ là gì? Họ cố chấp vào điều gì? Họ khăng khăng điều gì? Mục tiêu cuối cùng của họ là gì?”

“Phụ nữ có tham vọng về một người đàn ông. Họ bận tâm về trang sức. Họ cố chấp vào con cái. Họ khăng khăng về việc không có vợ lẽ. Mục tiêu cuối cùng của họ là quyền uy.”

“Thưa ngài Gotama, kẻ cướp có tham vọng gì? Mối bận tâm của họ là gì? Họ cố chấp vào điều gì? Họ khăng khăng điều gì? Mục tiêu cuối cùng của họ là gì?”

“Kẻ cướp có tham vọng về trộm cắp. Họ bận tâm về nơi ẩn náu. Họ cố chấp vào thanh kiếm của mình. Họ khăng khăng về bóng tối. Mục tiêu cuối cùng của họ là tàng hình.”

“Thưa ngài Gotama, các vị Sa-môn có tham vọng gì? Mối bận tâm của họ là gì? Họ cố chấp vào điều gì? Họ khăng khăng điều gì? Mục tiêu cuối cùng của họ là gì?”

“Các vị Sa-môn có tham vọng về kiên nhẫn và nhu hòa. Họ bận tâm về trí tuệ. Họ cố chấp vào giới hạnh. Họ khăng khăng về việc không sở hữu gì. Mục tiêu cuối cùng của họ là Niết-bàn (extinguishment / sự tịch diệt, chấm dứt khổ đau).”

“Thật khó tin, thưa ngài Gotama, thật kỳ diệu! Ngài Gotama biết tham vọng, mối bận tâm, sự cố chấp, sự khăng khăng và mục tiêu cuối cùng của giai cấp Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Gia chủ, phụ nữ, kẻ cướp và các vị Sa-môn. Thật tuyệt vời, thưa ngài Gotama! Tuyệt vời! … Kể từ hôm nay, xin ngài Gotama ghi nhớ tôi là một cư sĩ đã quy y trọn đời.”

(X) (52) Vị Sát Ðế Lỵ

1. Rồi Bà-la-môn Jànussoni đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Jànussoni bạch Thế Tôn:

2. - Ðối với Sát-đế-lỵ, thưa Tôn giả Gotama, vị ấy mong muốn cái gì, cận hành cái gì, điểm tựa cái gì, xu hướng cái gì, cứu cánh cái gì?

− Ðối với Sát-đế-lỵ, này Bà-la-môn, tài sản là mong muốn, trí tuệ là cận hành, sức mạnh là điểm tựa, xu hướng là trái đất, cứu cánh là tự tại. − Nhưng đối với Bà-la-môn, thưa Tôn giả Gotama, mong muốn cái gì, cận hành cái gì, điểm tựa cái gì, xu hướng cái gì, cứu cánh cái gì?

− Ðối với Bà-la-môn, này Bà-la-môn, tài sản là mong muốn, trí tuệ là cận hành, chú thuật là điểm tựa, tế tự là xu hướng, cứu cánh là Phạm thiên giới.

− Nhưng đối với gia chủ, thưa Tôn giả Gotama, mong muốn cái gì, cận hành cái gì, điểm tựa cái gì, xu hướng cái gì, cứu cánh cái gì?

− Ðối với gia chủ, này Bà-la-môn, tài sản là mong muốn, trí tuệ là cận hành, nghề nghiệp là điểm tựa, công việc là xu hướng, thành tựu công việc là cứu cánh.

− Nhưng đối với nữ nhân, thưa Tôn giả Gotama, mong muốn cái gì, cận hành tận cái gì, điểm tựa cái gì, xu hướng cái gì, cứu cánh cái gì?

− Ðối với nữ nhân, này Bà-la-môn, đàn ông là mong muốn, trang điểm là cận hành, điểm tựa là con cái, không có địch thù là xu hướng, tự tại là cứu cánh.

− Nhưng đối với người ăn trộm, thưa Tôn giả Gotama, mong muốn cái gì, cận hành cái gì, điểm tựa cái gì, xu hướng cái gì, cứu cánh cái gì?

− Ðối với người ăn trộm, này Bà-la-môn, đồ lấy được là mong muốn, rừng rậm là cận hành. đao trượng là điểm tựa, tối tăm là xu hướng, không bị thấy là cứu cánh.

− Nhưng đối với Sa-môn, thưa Tôn giả Gotama, mong muốn cái gì, cận hành cái gì, điểm tựa cái gì, xu hướng cái gì, cứu cánh cái gì?

− Ðối với Sa-môn, này Bà-la-môn, nhẫn nhục nhu hòa là mong muốn, trí tuệ là cận hành, giới hạnh là điểm tựa, không có sở hữu là xu hướng, Niết-bàn là cứu cánh.

3. - Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama. Thật hy hữu thay, thưa Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama rõ biết mong muốn, cận hành, điểm tựa, xu hướng và cứu cánh của các Sát-đế-lỵ, Tôn giả Gotama rõ biết mong muốn, cận hành, điểm tựa, xu hướng, cứu cánh của các Bà-la-môn… của các gia chủ… của các nữ nhân… của các người ăn trộm… của các Sa-môn. Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! … Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung con xin trọn đời quy ngưỡng!

AN 6.53 Không Sao nhãng (Appamādasutta)

Rồi một vị Bà-la-môn đến gặp Đức Phật và chào hỏi Ngài. Sau khi chào hỏi và nói chuyện xã giao xong, ông ngồi xuống một bên và thưa với Đức Phật:

“Thưa ngài Gotama, có một pháp nào, khi được phát triển và tu tập, đảm bảo lợi ích cho cả đời này và các đời sau không?”

“Có đấy, Bà-la-môn.”

“Vậy đó là pháp gì?”

"Không sao nhãng (diligence / sự chuyên cần, không lơ là), này Bà-la-môn, là một pháp mà khi được phát triển và tu tập, đảm bảo lợi ích cho cả đời này và các đời sau.

Dấu chân của tất cả các loài vật đi lại đều có thể nằm gọn trong dấu chân voi. Vì vậy, dấu chân voi được cho là lớn nhất trong tất cả. Tương tự như vậy, không sao nhãng là một pháp mà khi được phát triển và tu tập, đảm bảo lợi ích cho cả đời này và các đời sau.

Các kèo của một ngôi nhà gỗ đều nghiêng về đỉnh, dốc về đỉnh, và gặp nhau ở đỉnh, vì vậy đỉnh được cho là cao nhất trong tất cả. Tương tự như vậy, không sao nhãng là một pháp…

Người cắt sậy, sau khi cắt sậy, nắm lấy ngọn và giũ xuống, lắc qua lắc lại, và giũ sạch. Tương tự như vậy, không sao nhãng là một pháp…

Khi cuống của một chùm xoài bị cắt, tất cả những quả xoài gắn liền với cuống sẽ theo sau. Tương tự như vậy, không sao nhãng là một pháp…

Tất cả các vị vua nhỏ hơn đều là chư hầu của một vị vua chuyển luân, vì vậy vị vua chuyển luân được cho là đứng đầu trong tất cả. Tương tự như vậy, không sao nhãng là một pháp…

Ánh sáng của tất cả các vì sao không bằng một phần mười sáu ánh sáng của mặt trăng, vì vậy ánh sáng của mặt trăng được cho là tốt nhất trong tất cả. Tương tự như vậy, không sao nhãng là một pháp mà khi được phát triển và tu tập, đảm bảo lợi ích cho cả đời này và các đời sau.

Đây là một pháp mà khi được phát triển và tu tập, đảm bảo lợi ích cho cả đời này và các đời sau."

“Thật tuyệt vời, thưa ngài Gotama! Tuyệt vời! … Kể từ hôm nay, xin ngài Gotama ghi nhớ tôi là một cư sĩ đã quy y trọn đời.”

(XI) (53) Không Phóng Dật

1. Rồi một Bà-la-môn đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-lamôn ấy bạch Thế Tôn:

2. - Có một pháp nào, thưa Tôn giả Gotama, được tu tập, được làm cho sung mãn, pháp ấy bao trùm và an trú hai lợi ích: lợi ích hiện tại và lợi ích trong tương lai?

− Có một pháp, này Bà-la-môn, được tu tập, được làm cho sung mãn bao trùm và an trú hai lợi ích: lợi ích hiện tại và lợi ích trong tương lai.

− Một pháp ấy là gì, thưa tôn giả Gotama được tu tập, được làm cho sung mãn, pháp ấy bao trùm và an trú hai lợi ích: lợi ích hiện tại và lợi ích trong tương lai? 3. - Không phóng dật, này Bà-la-môn là một pháp được tu tập, được làm cho sung mãn, bao trùm và an trú hai lợi ích: lợi ích hiện tại và lợi ích trong tương lai. Ví như, này Bà-la-môn, phàm có những dấu chân của các loại bộ hành nào, tất cả dấu chân ấy đều được thâu nhiếp trong dấu chân voi. Dấu chân voi được gọi là tối thắng trong các dấu chân ấy, cũng vậy, này Bà-la-môn, không phóng dật là một pháp được tu tập, được làm cho sung mãn, bao trùm và an trú hai lợi ích: lợi ích hiện tại và lợi ích trong tương lai. Ví như này Bà-la-môn, trong một ngôi nhà có nóc nhọn, tất cả rui kèo đều hướng về nóc nhọn, thiên về nóc nhọn, quy tụ về nóc nhọn, nóc nhọn được gọi là tối thắng trong các vậy ấy. Cũng vậy, này Bà-lamôn, không phóng dật… Ví như, này Bà-la-môn, người cắt cỏ, trong khi cắt cỏ, sau khi túm lấy đầu các ngọn cỏ, liền lùa cỏ qua lại, dặc cỏ lên xuống và đập cỏ. Cũng vậy, này Bà-la-môn… Ví như, này Bà-lamôn, nhánh cây có chùm xoài bị chặt đứt, tất cả trái xoài dính với nhánh ấy đều bị chung một số phận với nhánh kia. Cũng vậy, này Bà-la-môn… Ví như, này Bà-la-môn, phàm có các tiểu vương nào, tất cả đều tùy thuộc vua Chuyển Luân. Vua Chuyển Luân được gọi là tối thắng trong các vị vua ấy. Cũng vậy, này Bà-la-môn… Ví như, này Bà-la-môn, ánh sáng của các vì sao, tất cả ánh sáng các ngôi sao không bằng giá trị một phần mười sáu ánh sáng của mặt trăng. Ánh sáng của mặt trăng được gọi là tối thắng trong tất cả ánh sáng. Cũng vậy, này Bà-la-môn, không phóng dật là một pháp được tu tập, được làm cho sung mãn, bao trùm và an trú hai lợi ích: lợi ích hiện tại và lợi ích trong tương lai. Ðây là một pháp, này Bà-la-môn, được tu tập, được làm cho sung mãn, bao trùm và an trú hai lợi ích: lợi ích hiện tại và lợi ích trong tương lai.

− Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! … Xin Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

AN 6.54 Về Dhammika (Dhammikasutta)

Một thời Đức Phật trú tại Rājagaha, trên Núi Linh Thứu.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Dhammika là cư dân trong cả bảy tu viện ở quê hương ngài. Ở đó, ngài lăng mạ các Tỳ kheo đến thăm; ngài xúc phạm, làm hại, tấn công và quấy rối họ. Các Tỳ kheo đến thăm bị đối xử như vậy đã không ở lại. Họ rời đi, bỏ lại tu viện.

Rồi các cư sĩ địa phương tự nghĩ: “Chúng ta đã cúng dường y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, thuốc men và vật dụng cho người bệnh đến Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng Tỳ kheo). Nhưng các Tỳ kheo đến thăm không ở lại. Họ rời đi, bỏ lại tu viện. Nguyên nhân là gì, lý do là gì?”

Rồi các cư sĩ địa phương tự nghĩ: “Tôn giả Dhammika này lăng mạ các Tỳ kheo đến thăm; ngài xúc phạm, làm hại, tấn công và quấy rối họ. Các Tỳ kheo đến thăm bị đối xử như vậy đã không ở lại. Họ rời đi, bỏ lại tu viện. Tại sao chúng ta không trục xuất Tôn giả Dhammika?”

Rồi các cư sĩ địa phương đến gặp Tôn giả Dhammika và nói với ngài: “Thưa Tôn giả, xin hãy rời khỏi tu viện này. Ngài đã ở đây đủ lâu rồi.”

Rồi Tôn giả Dhammika rời đi và đến một tu viện khác. Ở đó, ngài lăng mạ các Tỳ kheo đến thăm; ngài xúc phạm, làm hại, tấn công và quấy rối họ. Các Tỳ kheo đến thăm bị đối xử như vậy đã không ở lại. Họ rời đi, bỏ lại tu viện.

Rồi các cư sĩ địa phương tự nghĩ: …

Họ nói với Tôn giả Dhammika: “Thưa Tôn giả, xin hãy rời khỏi tu viện này. Ngài đã ở đây đủ lâu rồi.”

Rồi Tôn giả Dhammika rời đi và đến một tu viện khác. Ở đó, ngài lăng mạ các Tỳ kheo đến thăm; ngài xúc phạm, làm hại, tấn công và quấy rối họ. Các Tỳ kheo đến thăm bị đối xử như vậy đã không ở lại. Họ rời đi, bỏ lại tu viện.

Rồi các cư sĩ địa phương tự nghĩ: “Tại sao chúng ta không trục xuất Tôn giả Dhammika khỏi cả bảy tu viện ở quê hương chúng ta?”

Rồi các cư sĩ địa phương đến gặp Tôn giả Dhammika và nói với ngài: “Thưa Tôn giả, xin hãy rời khỏi cả bảy tu viện ở quê hương chúng tôi.”

Rồi Tôn giả Dhammika nghĩ: “Mình đã bị các cư sĩ địa phương trục xuất khỏi cả bảy tu viện ở quê hương mình. Bây giờ mình phải đi đâu?” Ngài nghĩ: “Tại sao mình không đến gặp Đức Phật?”

Rồi Tôn giả Dhammika lấy bát và y rồi lên đường đến Rājagaha. Cuối cùng ngài đến Rājagaha và Núi Linh Thứu. Ngài đến gặp Đức Phật, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Đức Phật hỏi ngài: “Này, Bà-la-môn Dhammika, ông từ đâu đến?”

“Bạch Thế Tôn, con đã bị các cư sĩ địa phương trục xuất khỏi cả bảy tu viện ở quê hương con.”

"Thôi đủ rồi, Bà-la-môn Dhammika, chuyện đó có liên quan gì đến ông? Bây giờ ông đã bị trục xuất khỏi tất cả những nơi đó, ông đã đến với Ta.

Ngày xưa, có những thương nhân đi biển ra khơi xa, mang theo một con chim dò đất liền. Khi tàu của họ khuất tầm nhìn đất liền, họ thả con chim ra. Nó bay ngay về phía đông, tây, bắc, nam, lên trên và các hướng trung gian. Nếu nó thấy đất liền ở bất kỳ phía nào, nó bay đến đó và ở lại. Nhưng nếu nó không thấy đất liền ở bất kỳ phía nào, nó quay trở lại tàu. Tương tự như vậy, bây giờ ông đã bị trục xuất khỏi tất cả những nơi đó, ông đã đến với Ta.

Ngày xưa, Vua Koravya có một cây đa hoàng gia năm thân tên là ‘Trồng Tốt’. Nó râm mát và đáng yêu. Tán của nó trải rộng mười hai do-tuần, trong khi mạng lưới rễ lan rộng năm do-tuần. Quả của nó lớn bằng nồi cơm. Và chúng ngọt như mật ong rừng nguyên chất. Nhà vua và hậu cung sử dụng một thân, quân đội một thân khác, người dân thành thị và nông thôn một thân khác, các vị sa-môn và bà-la-môn một thân khác, và thú vật và chim chóc một thân khác. Không ai canh giữ quả, nhưng không ai làm hại quả của người khác.

Rồi một người nọ ăn quả thỏa thích, sau đó bẻ một cành cây rồi bỏ đi. Rồi vị thần trú ngụ trong cây đa hoàng gia nghĩ: ‘Ồ, thật khó tin, thật kỳ diệu! Người này thật độc ác, ăn thỏa thích rồi bẻ cành bỏ đi! Tại sao mình không làm cho cây đa hoàng gia không ra quả trong tương lai?’ Rồi cây đa hoàng gia không ra quả nữa.

Rồi Vua Koravya đến gặp Sakka, vua của các vị trời, và nói với ông: ‘Thưa ngài, xin ngài biết rằng cây đa hoàng gia tên là Trồng Tốt không ra quả.’ Rồi Sakka dùng thần thông ước nguyện một cơn bão dữ dội đến. Và nó làm đổ và bật gốc cây đa hoàng gia. Rồi vị thần trú ngụ trong cây đứng sang một bên, đau khổ và buồn bã, khóc lóc, mặt đẫm lệ.

Rồi Sakka đến gặp vị thần đó và nói: ‘Tại sao, vị thần kia, ngài lại đứng sang một bên, đau khổ và buồn bã, khóc lóc, mặt đẫm lệ?’

‘Bởi vì, thưa ngài tốt lành, một cơn bão dữ dội đã đến và làm đổ, bật gốc nhà của tôi.’

‘Vậy, ngài có giữ đúng bổn phận của cây khi cơn bão đến không?’

‘Nhưng thưa ngài tốt lành, làm thế nào một cái cây giữ đúng bổn phận của nó?’

‘Đó là khi những người cần rễ, vỏ, lá, hoa hoặc quả của cây lấy những gì họ cần. Nhưng vị thần không vì thế mà không hài lòng hay buồn bực. Đây là cách một cái cây giữ đúng bổn phận của nó.’

‘Tôi đã không giữ đúng bổn phận của cây khi cơn bão đến và làm đổ, bật gốc nhà của tôi.’

‘Này vị thần, nếu ngài giữ đúng bổn phận của cây, nhà của ngài có thể trở lại như trước.’

‘Tôi sẽ giữ đúng bổn phận của cây! Mong nhà của tôi trở lại như trước!’

Rồi Sakka dùng thần thông ước nguyện một cơn bão dữ dội đến. Và nó nâng cây đa hùng vĩ đó lên và vỏ rễ được chữa lành.

Tương tự như vậy, Bà-la-môn Dhammika, ông có giữ đúng bổn phận của một vị sa-môn khi các cư sĩ địa phương trục xuất ông khỏi cả bảy tu viện ở quê hương ông không?"

“Nhưng bạch Thế Tôn, làm thế nào con giữ đúng bổn phận của một vị sa-môn?”

“Khi ai đó lăng mạ, làm phiền hoặc tranh cãi với một vị sa-môn, vị sa-môn đó không lăng mạ, làm phiền hoặc tranh cãi lại họ. Đó là cách một vị sa-môn giữ đúng bổn phận của một vị sa-môn.”

“Con đã không giữ đúng bổn phận của một vị sa-môn khi các cư sĩ địa phương trục xuất con khỏi cả bảy tu viện ở quê hương con.”

"Ngày xưa, có một vị Thầy tên là Sunetta. Ngài là người sáng lập tôn giáo và không còn ham muốn dục lạc. Ngài có nhiều trăm đệ tử. Ngài dạy họ con đường tái sinh vào cõi Phạm thiên. Những người thiếu niềm tin vào Sunetta—khi thân hoại mạng chung, sau khi chết—tái sinh vào nơi mất mát, nơi xấu xa, địa ngục. Những người đầy niềm tin vào Sunetta—khi thân hoại mạng chung, sau khi chết—tái sinh vào nơi tốt đẹp, cõi trời.

Ngày xưa có một vị thầy tên là Mūgapakkha… Aranemi… Kuddālaka… Hatthipāla… Jotipāla. Ngài là người sáng lập tôn giáo và không còn ham muốn dục lạc. Ngài có nhiều trăm đệ tử. Ngài dạy họ con đường tái sinh vào cõi Phạm thiên. Những người thiếu niềm tin vào Jotipāla—khi thân hoại mạng chung, sau khi chết—tái sinh vào nơi mất mát, nơi xấu xa, địa ngục. Những người đầy niềm tin vào Jotipāla—khi thân hoại mạng chung, sau khi chết—tái sinh vào nơi tốt đẹp, cõi trời.

Ông nghĩ sao, Bà-la-môn Dhammika? Nếu ai đó với ác ý lăng mạ và xúc phạm sáu vị thầy này cùng hàng trăm đệ tử của họ, họ có tạo ra nhiều điều ác không?"

“Vâng, thưa Thế Tôn.”

"Họ chắc chắn sẽ tạo ra nhiều điều ác. Nhưng người nào lăng mạ và xúc phạm một người duy nhất thành tựu tri kiến (accomplished in view / người có chánh kiến) với ác ý thì tạo ra điều ác còn nhiều hơn nữa. Tại sao vậy? Này Bà-la-môn Dhammika, Ta nói rằng bất kỳ tổn hại nào do những người ngoài cộng đồng Phật giáo gây ra cũng không thể sánh bằng những gì gây ra cho chính những người bạn đồng tu của mình. Vì vậy, ông nên tu tập như thế này: ‘Chúng ta sẽ không có ác ý đối với những người mà chúng ta muốn có làm bạn đồng tu.’ Đó là cách ông nên tu tập.

Sunetta và Mūgapakkha,
Và Aranemi vị Bà-la-môn,
Hatthipāla người học trò,
Và Kuddālaka là các vị Thầy.

Và Jotipāla Govinda
Là tư tế cho bảy vị vua.
Sáu vị thầy nổi tiếng này,
Những người vô hại trong quá khứ,

Không còn thối rữa, từ bi,
Vượt qua kiết sử của nhục dục.
Tách rời khỏi ham muốn dục lạc,
Họ tái sinh vào cõi Phạm thiên.

Nhiều trăm
Đệ tử của họ cũng vậy
Không còn mùi hôi thối, từ bi,
Vượt qua kiết sử của nhục dục.
Tách rời khỏi ham muốn dục lạc,
Họ tái sinh vào cõi Phạm thiên.

Người nào xúc phạm
Với ác ý
Những vị tiên tri ngoại đạo này,
Không còn ham muốn, nhập định tâm;
Người như vậy
Tạo ra nhiều điều ác.

Nhưng người nào xúc phạm
Với ác ý
Một người duy nhất thành tựu tri kiến,
Một Tỳ kheo đệ tử của Đức Phật;
Người đó
Tạo ra điều ác còn nhiều hơn nữa.

Ngươi không nên tấn công bậc thánh nhân,
Người đã từ bỏ nền tảng của các quan điểm.
Người này được gọi là
Thứ bảy của Tăng đoàn cao quý.

Họ chưa thoát khỏi ham muốn dục lạc,
Và các căn của họ vẫn còn non nớt:
Niềm tin, tỉnh thức, và siêng năng,
Định tĩnh và trí tuệ.

Nếu ngươi tấn công một Tỳ kheo như vậy,
Ngươi trước hết làm hại chính mình.
Đã làm hại chính mình,
Ngươi làm hại người khác.

Nhưng nếu ngươi bảo vệ chính mình,
Người khác cũng được bảo vệ.
Vì vậy, ngươi nên bảo vệ chính mình.
Người sáng suốt luôn không bị tổn thương."

(XII) (54) Dhammika

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá) tại núi Gijihakùta (Linh Thứu).

Lúc bấy giờ, Tôn giả Dhammika trú tại chỗ sanh trưởng của mình và có tất cả bảy trú xứ tại chỗ sanh trưởng ấy. tại đấy, Tôn giả Dhammika đối với các khách Tỷ-kheo, mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm, khiến họ tức giận với những lời nói. Và các khách Tỷ-kheo ấy bị Tôn giả Dhammika mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm, khiến họ tức giận, liền bỏ đi, không có an trú và từ bỏ trú xứ. Rồi các cư sĩ tại chỗ sanh trưởng, suy nghĩ như sau: “Chúng ta đã cung cấp cho chúng Tỷ-kheo Tăng các vật dụng cần thiết như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, nhưng các khách Tỷ-kheo lại bỏ đi, không có an trú và từ bỏ trú xứ. Do nhân gì, do duyên gì, các khách Tỷ-kheo lại bỏ đi, không có an trú, từ bỏ trú xứ? “Rồi các cư sĩ tại chỗ sanh trưởng suy nghĩ: “Có Tôn giả Dhammika này mắng nhiếc các khách Tỷ-kheo, quở trách, não hại, châm biếm, làm họ tức giận với những lời nói. Các khách Tỷ-kheo ấy bị Tôn giả Dhammika mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm, làm cho tức giận với những lời nói, nên bỏ đi, không có an trú, từ bỏ trú xứ. Vậy chúng ta hãy mời Tôn giả Dhammika đi chỗ khác.” Rồi các cư sĩ tại chỗ sanh trưởng đi đến Tôn giả Dhammika; sau khi đến, thưa với Tôn giả Dhammika: “Thưa Tôn giả, Tôn giả Dhammika hãy từ bỏ trú xứ này. Tôn giả trú ở đây đã vừa đủ rồi.”

2. Rồi Tôn giả Dhammika từ bỏ trú xứ ấy, đi đến một trú xứ khác. Tại đấy, Tôn giả Dhammika mắng nhiếc các khách Tỷ-kheo, quở trách, não hại, châm biếm, làm cho tức giận với các lời nói. Và các khách Tỷ-kheo ấy bị Tôn giả Dhammika mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm, làm cho tức giận với các lời nói, liền bỏ đi, không an trú, và từ bỏ trú xứ. Rồi các cư sĩ tại chỗ sanh trưởng suy nghĩ như sau: “Chúng ta đã cung cấp cho chúng Tỷ-kheo các vật dụng cần thiết, như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, nhưng các khách Tỷ-kheo lại bỏ đi, không an trú, từ bỏ trú xứ. Do nhân gì, do duyên gì, các khách Tỷ-kheo lại bỏ đi, không có an trú, từ bỏ trú xứ? “Rồi các cư sĩ tại chỗ sanh trưởng suy nghĩ: “Có Tôn giả Dhammika này mắng nhiếc các khách Tỷ-kheo, quở trách, não hại, châm biếm, làm họ tức giận với những lời nói. Các khách Tỷ-kheo ấy bị Tôn giả Dhammika mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm, làm họ tức giận, nên bỏ đi, không có n trú, từ bỏ trú xứ. Vậy chúng ta hãy mời Tôn giả Dhammika đi đến chỗ khác”. Rồi các cư sĩ tại chỗ sanh trưởng đi đến Tôn giả Dhammika; sau khi đến, thưa với tôn giả Dhammika: “Thưa Tôn giả, Tôn giả Dhammika hãy tử bỏ trú xứ này. Tôn giả trú ở đây đã vừa đủ rồi”.

3. Rồi Tôn giả Dhammika từ bỏ trú xứ ấy, đi đến một xứ khác . Tại đấy, Tôn giả Dhammika mắng nhiếc các khách Tỷ-kheo, quở trách, não hại, châm biếm, làm tức giận với lời nói. Và các khách tỷ-kheo ấy bị Tôn giả Dhammika mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm, làm cho tức giận với lời nói, liền bỏ đi, không có an trú và từ bỏ trú xứ. Rồi các cư sĩ tại chỗ sanh trưởng suy nghĩ như sau: “Chúng ta đã cung cấp cho chúng Tỷ-kheo các vật dụng cần thiết như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, nhưng các khách Tỷ-kheo lại bỏ đi, không an trú, từ bỏ trú xứ. Do nhân gì, do duyên gì, các khách Tỷ-kheo lại bỏ đi, không có an trú, từ bỏ trú xứ? “. Rồi các cư sĩ tại chỗ sanh trưởng suy nghĩ: “Có Tôn giả Dhammika này mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm, làm họ tức giận với những lời nói. Các khách Tỷ-kheo ấy bị Tôn giả Dhammika mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm, làm tức giận với những lời nói, nên bỏ đi, không có an trú, từ bỏ trú xứ. Vậy chúng ta hãy mời Tôn giả Dhammika rời bỏ hoàn toàn bảy trú xứ tại chỗ đất sanh trưởng”. Rồi các cư sĩ tại chỗ đất sanh trưởng đi đến Tôn giả Dhammika; sau khi đến, nói với Tôn giả Dhammika: “Thưa Tôn giả, Tôn giả Dhammika hãy rời bỏ hoàn toàn bảy trú xứ tại chỗ đất sanh trưởng”.

4. Rồi Tôn giả Dhammika suy nghĩ: “Ta đã bị các cư sĩ tại chỗ đất sanh trưởng mời rời bỏ hoàn toàn bảy trú xứ tại chỗ đất sanh trưởng. Nay ta sẽ đi tại chỗ nào? Ta hãy đi đến Thế Tôn”. Rồi Tôn giả Dhammika cầm y bát, ra đi, hướng đến Ràjagaha (Vương Xá), dần dần đi đến núi Gijihakùta (Linh Thứu) tại Ràjagaha; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Dhammika đang ngồi xuống một bên:

− Này Bà-la-môn Dhammika, Ông đi từ đâu đến?

− Bạch Thế Tôn, con bị các cư sĩ tại chỗ đất sanh trưởng mời rời bỏ hoàn toàn bảy trú xứ tại chỗ đất sanh trưởng!

− Thôi vừa rồi, này Bà-la-môn Dhammika! Sự việc này, đối với Ông có hề hấn gì! Dầu họ có mời Ông từ bỏ tại chỗ nào, chỗ nào, sau khi đã từ bỏ chỗ ấy, chỗ ấy, Ông đã đi đến gần Ta!

5. Trong quá khứ, này Bà-la-môn Dhammika, các nhà buôn đường biển đem theo một con chim để tìm bờ, khi họ đi tàu ra biển. Khi chiếc tàu ra xa, không thấy bờ, họ thả con chim đi tìm bờ. Con chim bay về hướng Ðông, bay về hướng Tây, bay về hướng Bắc, bay về hướng Nam, bay về hướng Trên, bay về hướng Gió. Nếu nó thấy bờ xung quanh, nó liền bay luôn. Nếu nó không thấy bờ xung quanh, nó bay trở lui về tàu. Cũng vậy, này Bà-la-môn Dhammika, dầu họ có mời Ông từ bỏ tại chỗ nào, chỗ nào, sau khi đã từ bỏ chỗ ấy, chỗ ấy, Ông đã đi đến gần Ta.

6. Thuở xưa, này Bà-la-môn Dhammika, vua Koravya có một cây bàng chúa tên là Suppatittha, cây này có năm cành, có bóng mát dịu, rất là khả ý. Này Bà-la-môn Dhammika, cây bàng chúa Suppatittha tỏa rộng ra đến mười hai do tuần, các rễ mọc lan rộng đến năm do tuần. Này Bà-la-môn Dhammika, cây bàng chúa Suppatittha có những trái cây to lớn, lớn như những cái nồi con; những trái cây ngọt lịm như vậy, trong sáng và ngọt như mật ong. Này Bà-la-môn Dhammika, vua với các cung nữ hưởng thụ một cành cây của cây bàng chúa Suppatittha; quân đội hưởng thụ một cành; các Sa-môn, Bà-la-môn hưởng thụ một cành; các loài thú, loài chim hưởng thụ một cành. Này Bà-la-môn Dhammika, không có ai phòng hộ các trái của cây bàng chúa Suppatittha, và không có ai hại nhau vì trái cây. Rồi này Bà-la-môn Dhammika, một người sau khi đã ăn hết cho đến thỏa thích những trái của cây bàng chúa Suppatittha, liền bẻ gãy một cành rồi bỏ đi. Rồi này Bà-la-môn Dhammika, vị Thiên trú ở cây bàng chúa Suppatittha suy nghĩ như sau: “Thật là vi diệu, thưa Tôn giả! Thật là hy hữu, thưa Tôn giả, con người lại ác cho đến như vậy! Sau khi ăn cho đến thỏa thích các trái của cây bàng chúa Suppatittha, lại bẻ một cành rồi bỏ đi! Vậy cây bàng chúa Suppatittha hãy đừng sanh trái nữa trong tương lai! “Rồi này Bà-la-môn Dhammika, cây bàng chúa Suppatittha không sanh trái nữa trong tương lai. Rồi này Bà-la-môn Dhammika, vua Koravya đi đến Thiên chủ Sakka; sau khi đến, thưa với Thiên chủ Sakka: “Tôn giả có biết không? Cây bàng chúa Suppatittha không sanh trái nữa! “Rồi này Bà-la-môn Dhammika, Thiên chủ Sakka thực hiện thần thông, khiến cho mưa to gió lớn khởi lên, làm cây bàng chúa Suppatittha ngã xuống và bậc gốc rễ. Này Bà-la-môn Dhammika, vị Thiên trú ở cây bàng chúa Suppatittha khổ đau, sầu muộn, nước mắt đầy mặt, khóc lóc, đứng một bên. Này Bà-la-môn Dhammika, rồi Thiên chủ Suppatittha đi đến vị Thiên trú ở cây bàng chuá Suppatittha, sau khi đến, nói với vị Thiên trú ở cây bàng chúa Suppatittha như sau:

“- Vì sao, này vị Thiên kia, Ông lại khổ đau, sầu muộn, nước mắt đầy mặt, khóc lóc, đứng một bên?

“- Thưa Tôn giả, có cơn mưa to gió lớn khởi lên, và làm cho chỗ trú xứ của con bị ngã xuống và bật gốc rễ lên.

“- Này vị Thiên kia, có phải Ông đang gìn giữ cây pháp, nhưng cơn mưa to lớn ấy khởi lên, làm trú xứ của Ông bị ngã xuống và bật gốc rễ lên?

“- Làm thế nào, thưa Tôn giả, một cây… được gìn giữ như một cây pháp?

“- Ở đây, này vị Thiên kia, những người cần rễ đến lấy rễ cây đi, những người cần vỏ đến lấy vỏ cây đi. Những người cần lá đến lấy lá đi. Những người cần bông đến lấy bông đi. Những người cần trái đến lấy trái đi. Như vậy, không có gì để khiến cho một vị Thiên phải không hoan hỷ, không vui vẻ. Như vậy, là một cây được gìn giữ như một cây pháp.

“- Thưa Tôn giả, con không gìn giữ một cây pháp, khi cơn mưa to lớn ấy khởi lên, làm chỗ trú xứ của con ngã xuống và bật gốc rễ lên!

“- Này vị Thiên kia, nếu Ông gìn giữ cây pháp, thời trú xứ của Ông sẽ trở lại như xưa.

Thưa Tôn giã, con sẽ gìn giữ cây pháp, mong rằng trú xứ cuả con trở lại như xưa.

Rồi Thiên chủ Sakka thực hiện thần thông khiến cho mưa to gió lớn đến dựng đứng lại cây bàng chúa và chữa lành những rễ cây

Cũng vậy, này Bà-la-môn Dhammika, Ông có gìn giữ Sa-môn pháp, khi các người cư sĩ tại chỗ sanh trưởng mời Ông đi khỏi bảy trú xứ tại chỗ sanh trưởng không?

− Như thế nào, thưa Tôn giả, là một Sa-môn gìn giữ Sa-môn pháp?

− Như thế này, này Bà-la-môn Dhammika, ở đây, một Sa-môn không có mắng nhiếc lại người đã mắng nhiếc mình, không có tức giận người đã tức giận mình, không có quở trách người đã quở trách mình. Như vậy, này Bà-la-môn Dhammika, là vị Sa-môn gìn giữ Sa-môn pháp.

− Thưa Tôn giả, con không gìn giữ Sa-môn pháp khi những người cư sĩ ở tại chỗ sanh trưởng mời con đi khỏi hoàn toàn bảy trú xứ trong chỗ được sanh trưởng.

7. - Thuở xưa, này Bà-la-môn Dhammika, có một ngoại đạo sư tên là Sunettto (Diệu Nhãn) đã viễn ly các dục. Này Bà-la-môn Dhammika, ngoại đạo sư Sunetto có hàng trăm đệ tử. Ngoại đạo sư Sunetto thuyết pháp về cộng trú tại Phạm thiên giới cho các người đệ tử. Những ai nghe ngoại đạo sư Sunetto thuyết giảng về cộng trú tại Phạm thiên giới, này Bà-la-môn Dhammika, tâm không được hoan hỷ, các người ấy sau khi thân hoại mạng chung bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những ai, này Bà-la-môn Dhammika, nghe ngoại đạo sư Sunetto thuyết giảng về cọng trú tại Phạm thiên giới, tâm được hoan hỷ, các người ấy sau khi thân hoại mạng chung được sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Thuở xưa, này Bà-la-môn Dhammika, có ngoại đạo sư tên là Mugapakkha… có ngoại đạo sư tên là Aranemi… có ngoại đạo sư tên là Kuddàlaka… có ngoại đạo sư tên là Hatthipàla… có ngoại đạo sư tên là Jotipàla đã viễn ly các dục… được sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Ông nghĩ thế nào, này Bàla-môn Dhammika? đối với sáu ngoại đạo sư này đã viễn ly các dục, hay đối với chúng đệ tử hàng trăm hội chúng của những vị ấy, ai với tâm uế nhiễm, mắng nhiếc, quở trách, như vậy có sanh khởi ra nhiều vô phước không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

8. - Thật vậy, này Bà-la-môn Dhammika, đối với sáu ngoại đạo sư này đã viễn ly các dục, hay đối với chúng đệ tử hàng trăm hội chúng của những vị ấy, ai với tâm uế nhiễm, mắng nhiếc, quở trách, có sanh khởi ra nhiều vô phước. Còn ai, đối với bị đầy đủ chánh kiến, với tâm uế nhiễm, mắng nhiếc, quở trách, như vậy sanh khởi ra nhiều vô phước hơn nữa. Vì cớ sao? Ta tuyên bố rằng, này Bà-la-môn Dhammika, sự tổn hại đối với các ngoại đạo sư như vậy không bằng sự tổn hại nếu đối xử với các vị đồng Phạm hạnh. Do vậy, này các Bà-la-môn Dhammika, cần phải học tập như sau:

9. Chúng tôi sẽ không có tâm uế nhiễm đối với vị đồng Phạm hạnh”. Này Bà-la-môn Dhammika, các Ông cần phải học tập như vậy.

Các vị Bà-la-môn,
Như Sư Sunetto,
Sư Mugapakkha,
Và Aranemi,
Sư Kuddalaka,
Và Hatthipàla,
Sư Jotipàla,
Và Sư Govinda,
Là quốc sư thứ bảy.
Sáu Sư bạn vị này,
Là những vị danh tiếng,
Quá khứ không hại ai,
Thoát hôi hám, từ bi,
Giải thoát dục kiết sử,
Thoát ly tham ái dục,
Ðạt được Phạm thiên giới.
Và các hàng đệ tử,
Con số lên hàng trăm,
Thoát hôi hám, từ bi,
Giải thoát dục kiết sử,
Thoát ly tham ái dục,
Ðạt được Phạm thiên giới.
Ẩn sĩ ngoại đạo ấy,
Ly tham, tâm Thiền định,
Nếu với tâm uế nhiễm,
Có ai mắng nhiếc họ,
Người như vậy tạo ra,
Rất nhiều sự vô phước.
Ðối một đệ tử Phật,
Tỷ-kheo có chánh kiến,
Nếu với tâm uế nhiễm,
Có ai mắng vị ấy,
Người như vậy tạo ra,
Nhiều vô phước hơn nưã
Chớ Phật lòng bậc thiện,
Hãy từ bỏ kiến xứ,
Tối thượng trong Thánh chúng,
Vị ấy được gọi vậy.
Ai chưa ly các dục,
Năm căn còn mềm dịu,
Tín, niệm và tinh tấn,
Với chỉ và với quán,
Nếu phật ý vị ấy,
Trước hết tự hại mình,
Sau khi tự hại mình,
Lại hại đến người khác,
Ai tự bảo vệ mình,
Bề ngoài cũng bảo vệ,
Do vậy, bảo vệ mình,
Bậc trí không tổn hại.