Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm Lớn

AN 6.55 Kinh Soṇa

TÔI NGHE NHƯ VẦY. Một thời Đức Phật trú gần thành Rājagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu).

Lúc bấy giờ, Tôn giả Soṇa trú gần thành Rājagaha trong khu Rừng Lạnh (Sītavana). Khi đang độc cư thiền tịnh, tâm trí Tôn giả khởi lên ý nghĩ này: “Ta là một trong những đệ tử siêng năng (energetic / tinh tấn) nhất của Đức Phật. Vậy mà tâm ta vẫn chưa giải thoát khỏi các lậu hoặc (defilements / phiền não, những thứ làm ô nhiễm tâm) qua việc không chấp thủ (grasping / dính mắc, bám víu). Nhưng gia đình ta giàu có. Ta có thể hưởng thụ tài sản đó và tạo phước. Sao ta không từ bỏ việc tu tập và trở về đời sống thấp hơn, để có thể hưởng thụ tài sản và tạo phước?”

Bấy giờ, Đức Phật biết được suy nghĩ của Tôn giả Soṇa. Như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại hay co cánh tay đang duỗi ra, Ngài biến mất khỏi núi Linh Thứu và hiện ra tại Rừng Lạnh, trước mặt Soṇa, rồi ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn. Soṇa đảnh lễ Đức Phật và ngồi xuống một bên.

Đức Phật nói với Tôn giả: “Này Soṇa, có phải khi đang độc cư thiền tịnh, tâm trí thầy khởi lên ý nghĩ này: ‘Ta là một trong những đệ tử siêng năng nhất của Đức Phật. Vậy mà tâm ta vẫn chưa giải thoát khỏi các lậu hoặc qua việc không chấp thủ. Nhưng gia đình ta giàu có. Ta có thể hưởng thụ tài sản đó và tạo phước. Sao ta không từ bỏ việc tu tập và trở về đời sống thấp hơn, để có thể hưởng thụ tài sản và tạo phước?’”

“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”

“Này Soṇa, thầy nghĩ sao? Khi còn là cư sĩ, có phải thầy là người chơi đàn hạc cong rất giỏi không?”

“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”

“Khi dây đàn hạc của thầy căng quá, nó có réo rắt và dễ chơi không?”

“Bạch Thế Tôn, không.”

“Khi dây đàn hạc của thầy chùng quá, nó có réo rắt và dễ chơi không?”

“Bạch Thế Tôn, không.”

“Nhưng khi dây đàn hạc của thầy không quá căng cũng không quá chùng, mà được chỉnh ở mức độ vừa phải, nó có réo rắt và dễ chơi không?”

“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”

“Cũng vậy, này Soṇa, khi sự siêng năng quá mạnh mẽ, nó dẫn đến bồn chồn lo lắng (restlessness / trạo cử). Khi sự siêng năng quá yếu ớt, nó dẫn đến lười biếng. Vì vậy, này Soṇa, thầy nên chú tâm vào sự siêng năng và an tịnh (serenity / sự tĩnh lặng của tâm), tìm sự cân bằng của các căn (faculties / giác quan và tâm ý), và học hỏi khuôn mẫu của trạng thái này.”

“Bạch Thế Tôn, vâng ạ,” Soṇa đáp.

Sau khi khuyên dạy Soṇa như vậy, Đức Phật, như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại hay co cánh tay đang duỗi ra, biến mất khỏi Rừng Lạnh và hiện lại trên núi Linh Thứu.

Sau một thời gian, Soṇa chú tâm vào sự siêng năng và an tịnh, tìm thấy sự cân bằng của các căn, và học hỏi khuôn mẫu của trạng thái này. Rồi Soṇa, sống một mình, ẩn dật, chuyên cần, nhiệt tâm, và quyết chí, không bao lâu đã chứng ngộ được mục đích tối thượng của đời sống phạm hạnh (spiritual path / con đường tu tập tâm linh) ngay trong đời này. Tôn giả sống, đã thành tựu bằng trí tuệ (insight / tuệ giác, sự thấy biết trực tiếp) của chính mình mục tiêu mà vì đó các thiện nam tử chân chính từ bỏ đời sống thế tục, xuất gia sống không nhà cửa.

Tôn giả hiểu rõ: “Sanh (Rebirth / tái sinh) đã tận; đời sống phạm hạnh đã hoàn thành; những gì cần làm đã làm; không còn trở lui trạng thái này nữa.” Và Tôn giả Soṇa trở thành một trong những vị A-la-hán (perfected / bậc đã hoàn thiện, giác ngộ).

Sau đó, khi Soṇa đã chứng quả A-la-hán, Tôn giả nghĩ: “Sao ta không đến gặp Đức Phật và tuyên bố sự giác ngộ (enlightenment / sự tỉnh thức hoàn toàn) của mình trước Ngài?” Rồi Soṇa đi đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và thưa:

"Bạch Thế Tôn, một vị Tỳ kheo đã là bậc A-la-hán—đã đoạn tận các lậu hoặc, đã hoàn thành đời sống phạm hạnh, đã làm những gì cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích chân chính của mình, đã hoàn toàn chấm dứt kiết sử (fetter / những trói buộc tâm linh) đưa đến tái sanh, và được giải thoát chân chính nhờ giác ngộ—vị ấy chuyên tâm vào sáu điều. Vị ấy chuyên tâm vào ly dục (renunciation / sự từ bỏ ham muốn), độc cư (seclusion / sống một mình nơi thanh vắng), từ tâm (kindness / lòng nhân ái, không sân hận), sự chấm dứt tham ái (craving / sự khao khát, ham muốn), sự chấm dứt chấp thủ, và tâm minh mẫn (mental clarity / tâm sáng suốt, không mê mờ).

Bạch Thế Tôn, có thể có vị Tôn giả nào đó ở đây nghĩ rằng: ‘Có lẽ vị Tôn giả này chuyên tâm vào ly dục chỉ đơn thuần vì niềm tin (faith / tín).’ Nhưng không nên nhìn nhận như vậy. Một vị Tỳ kheo đã đoạn tận lậu hoặc không thấy nơi mình còn điều gì phải làm thêm, hay điều gì cần cải thiện. Vị ấy chuyên tâm vào ly dục vì đã giải thoát khỏi tham (greed / lòng tham), tức giận (hate / sân hận), và si mê (delusion / sự mê lầm) cùng với sự chấm dứt của tham, tức giận, và si mê.

Bạch Thế Tôn, có thể có vị Tôn giả nào đó ở đây nghĩ rằng: ‘Có lẽ vị Tôn giả này chuyên tâm vào độc cư vì thích lợi dưỡng, danh vọng, và tiếng tăm (possessions, honor, and popularity / của cải, sự tôn kính và sự nổi tiếng).’ Nhưng không nên nhìn nhận như vậy. …

Bạch Thế Tôn, có thể có vị Tôn giả nào đó ở đây nghĩ rằng: ‘Có lẽ vị Tôn giả này chuyên tâm vào từ tâm vì tin rằng việc tuân thủ giới luật và nghi lễ (precepts and observances / các quy tắc đạo đức và các nghi thức) là thiết yếu.’ Nhưng không nên nhìn nhận như vậy. …

Vị ấy chuyên tâm vào sự chấm dứt tham ái vì đã giải thoát khỏi tham, tức giận, và si mê cùng với sự chấm dứt của tham, tức giận, và si mê.

Vị ấy chuyên tâm vào sự chấm dứt chấp thủ vì đã giải thoát khỏi tham, tức giận, và si mê cùng với sự chấm dứt của tham, tức giận, và si mê.

Vị ấy chuyên tâm vào tâm minh mẫn vì đã giải thoát khỏi tham, tức giận, và si mê cùng với sự chấm dứt của tham, tức giận, và si mê.

Khi tâm của một vị Tỳ kheo được giải thoát chân chính như vậy, ngay cả khi những cảnh sắc (sights / đối tượng của mắt) hấp dẫn xuất hiện trong tầm nhìn, chúng cũng không chi phối được tâm vị ấy. Tâm (mind / ý thức, tâm trí) vẫn không bị ô nhiễm. Tâm vững vàng, không lay động, quan sát sự biến mất. Ngay cả khi những âm thanh (sounds / đối tượng của tai)… mùi hương (smells / đối tượng của mũi)… vị nếm (tastes / đối tượng của lưỡi)… xúc chạm (touches / đối tượng của thân)… và ý niệm (ideas / đối tượng của ý) hấp dẫn xuất hiện trong tầm của tâm, chúng cũng không chi phối được tâm. Tâm vẫn không ô nhiễm (untainted / trong sạch). Tâm vững vàng (steady / kiên định), không lay động (imperturbable / bình thản), quan sát sự biến mất (disappearance / sự diệt đi).

Giả sử có một ngọn núi là một khối đá rắn chắc, không có vết nứt hay lỗ hổng. Ngay cả khi những cơn bão dữ dội nổi lên từ phương đông, phương tây, phương bắc, và phương nam, chúng cũng không thể làm nó rung chuyển, lung lay hay run rẩy.

Cũng vậy, khi tâm của một vị Tỳ kheo được giải thoát chân chính như vậy, ngay cả khi những cảnh sắc hấp dẫn xuất hiện trong tầm nhìn, chúng cũng không chi phối được tâm vị ấy. … Tâm vẫn không bị ô nhiễm. Tâm vững vàng, không lay động, quan sát sự biến mất.

Khi chuyên tâm vào ly dục
Và độc cư trong tâm;
Khi chuyên tâm vào từ tâm
Và chấm dứt chấp thủ;

Khi chuyên tâm vào chấm dứt tham ái
Và tâm hồn sáng tỏ;
Và thấy rõ sự sinh khởi của các căn,
Tâm thầy giải thoát chân chính.

Với vị ấy, giải thoát chân chính,
Một Tỳ kheo tâm an tịnh,
Chẳng còn gì cần cải thiện,
Và chẳng còn gì phải làm thêm.

Như gió không thể lay động
Một khối đá rắn chắc,
Cũng vậy, sắc, vị, thanh,
Hương, và xúc chạm—tất cả—

Và các ý niệm, dù thích hay không thích,
Không làm xáo trộn người không bị ảnh hưởng.
Tâm vị ấy vững vàng và giải thoát
Khi quan sát sự biến mất."

VI. Ðại Phẩm

(I) (55) Sona

1. Như vầy tôi nghe:

Một thời, Thế Tôn trú tại Ràjagaha (Vương Xá) núi Gijjhakùta (Linh Thứu). Lúc bấy giờ Tôn giả Sona trú ở Ràjagaha, tại rừng Sìta. Rồi Tôn giả Sona, trong khi độc cư Thiền tịnh, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Những ai là đệ tử Thế Tôn, sống tinh cần tinh tấn, ta là một trong những vị ấy. Nhưng ta còn chấp thủ, tâm chưa giải thoát khỏi các lậu hoặc. Gia đình ta có tài sản, và ta có thể hưởng thọ tài sản và làm điều công đức. Vậy ta hãy từ bỏ học pháp, hoàn tục, thọ hưởng tài sản và làm các công đức”. Rồi Thế Tôn với tâm của mình biết được tâm của Tôn giả Sona, như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại hay co lại cánh tay đang duỗi ra, biến mất từ núi Gijjhakùta, hiện ra trước mặt Tôn giả Sona, ở rừng Sìta. Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Tông giả Sona đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Sona đang ngồi một bên:

− Này Sona, có phải trong khi thầy độc cư Thiền tịnh, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Những ai là đệ tử Thế Tôn, sống tinh cần tinh tấn, ta là một trong những vị ấy. Nhưng ta còn chấp thủ, tâm chưa giải thoát các lậu hoặc. Gia đình ta có tài sản, ta có thể hưởng thọ tài sản ấy và làm các công đức. Vậy ta hãy từ bỏ học pháp, hoàn tục, thọ hưởng tài sản và làm các công đức”?

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

− Thầy nghĩ thế nào, này Sona? Có phải thuở trước, khi còn là gia chủ, Thầy giỏi đánh đàn tỳ-bà có dây?

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

− Thầy nghĩ thế nào, này Sona? Khi những sợi dây đàn tỳ-bà của Thầy quá căng thẳng, trong khi ấy, đàn tỳ-bà của Thầy có phát âm hay sử dụng được không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Thầy nghĩ thế nào, này Sona? Khi những sợi dây đàn tỳ-bà của Thầy quá trùng, trong khi ấy, đàn tỳ-bà của Thầy có phát âm hay sử dụng được không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Nhưng này Sona? Khi những sợi dây đàn tỳ-bà của Thầy không quá căng thẳng, không quá trùng xuống, nhưng vặn đúng mức trung bình, trong khi ấy, đàn tỳ-bà của Thầy có phát âm hay sử dụng được không?

− Thưa được, bạch Thế Tôn.

− Cũng vậy, này Sona, khi tinh cần tinh tấn quá căng thẳng, thời đưa đến dao động; khi tinh cần tinh tấn quá thụ động, thời đưa đến biếng nhác. Do vậy, này Sona, Thầy phải an trú tinh tấn một cách bình đẳng, thể nhập các căn một cách bình đẳng, rồi tại đấy nắm giữ tướng.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Sona vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn sau khi giáo giới Tôn giả Sona với lời giáo giới, như một nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy, Thế Tôn biến mất tại rừng Sìta và hiện ra ở núi Gijjhakùta.

2. Rồi Tôn giả Sona, sau một thời gian an trú tinh tấn một cách bình đẳng, thể nhập các căn một cách bình đẳng và tại đấy nắm giữ tướng. Rồi Tôn giả Sona sống độc cư, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu, do mục đích gì các thiện nam tử chơn chánh xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình, vị ấy ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ và chứng đạt vô thượng cứu cánh Phạm hạnh. Vị ấy rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc gì nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái nay nữa”. Tôn giả Sona trở thành một vị A-la-hán. Sau khi chứng được A-la-hán, Tôn giả Sona suy nghĩ như sau: “Ta hãy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, ta sẽ nói lên ý nghĩa này với Thế Tôn”. Rồi Tôn giả Sona đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sona bạch Thế Tôn:

3. - Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, Phạm hạnh đã thành, đã làm những việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã trừ diệt, đã được giải thoát nhờ chánh trí; vị ấy có sáu chỗ để xu hướng, xu hướng xuất ly, xu hướng viễn ly, xu hướng vô sân, xu hướng ái diệt, xu hướng thủ diệt, xu hướng vô si.

4. Bạch Thế Tôn, có thể ở đây, một số Tôn giả suy nghĩ như sau: “Có Tôn giả này hoàn toàn chỉ y cứ trên tín, có xu hướng xuất ly”. Vị Tôn giả ấy chớ có quan điểm như vậy! Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, bạch Thế Tôn, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn thấy trong mình còn cái gì cần làm, hay còn cái gì cần phải làm thêm; do đoạn diệt tham ái, do viễn ly tham ái, vị ấy hướng tâm đến xu hướng xuất ly; do đoạn diệt sân, do viễn ly sân, vị ấy hướng tâm đến xu hướng xuất ly; do đoạn diệt si, do viễn ly si, vị ấy hướng tâm đến xu hướng xuất ly.

5. Bạch Thế Tôn, có thể ở đây một số Tôn giả suy nghĩ như sau: “Tôn giả này do tham muốn lợi dưỡng, cung kính, danh tiếng nên hướng tâm về xu hướng viễn ly”. Tôn giả ấy chớ có quan niệm như vậy! Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, đã thành tựu Phạm hạnh, đã làm những việc phải làm, không còn thấy trong mình còn cái gì cần làm hay còn cái gì cần phải làm thêm; do đoạn diệt tham ái, do viễn ly tham ái, vị ấy hướng tâm đến xu hướng viễn ly; do đoạn diệt sân, do viễn ly sân, vị ấy hướng tâm đến xu hướng viễn ly; do đoạn diệt si, do viễn ly si, vị ấy hướng tâm đến xu hướng viễn ly.

6-9. Bạch Thế Tôn, có thể đây một số Tôn giả suy nghĩ như sau: “Do đi ngược trở lại tối thắng giới cấm thủ, Tôn giả này hướng tâm đến xu hướng vô sân”. Tôn giả ấy chớ có quan điểm như vậy! Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, đã thành tựu Phạm hạnh, đã làm những việc phải làm, không còn thấy trong mình còn cái gì cần phải làm hay còn cái gì cần phải làm thêm; do đoạn diệt tham ái, do viễn ly tham ái, vị ấy hướng tâm đến xu hướng vô sân; do đoạn diệt sân, do viễn ly sân, vị ấy hướng tâm đến xu hướng vô sân; do đoạn diệt si, do viễn ly si, vị ấy hướng tâm đến xu hướng vô sân… Do đoạn diệt tham ái, do viễn ly tham ái, vị ấy hướng tâm đến xu hướng ái diệt; do đoạn diệt sân, do viễn ly sân, vị ấy hướng tâm đến xu hướng ái diệt; do đoạn diệt si, do viễn ly si, vị ấy hướng tâm đến xu hướng ái diệt… Do đoạn diệt tham ái, do viễn ly tham ái, vị ấy hướng tâm đến xu hướng thủ diệt; do đoạn diệt sân, do viễn ly sân, vị ấy hướng tâm đến xu hướng thủ diệt; do đoạn diệt si, do viễn ly si, vị ấy hướng tâm đến xu hướng thủ diệt. Do đoạn diệt tham ái, do viễn ly tham ái, vị ấy hướng tâm đến xu hướng vô si; do đoạn diệt sân, do viễn ly sân, vị ấy hướng tâm đến xu hướng vô si; do đoạn diệt si, do viễn ly si, vị ấy hướng tâm đến xu hướng vô si.

10. Như vậy, với Tỷ-kheo có tâm chơn chánh giải thoát, bạch Thế Tôn, nếu nhiều sắc do mắt nhận thức đi vào trong giới vức của mắt, chúng không chinh phục tâm vị ấy, và tâm vị ấy không lộn xộn, an trú, đạt được không dao động, quán thấy tánh diệt của chúng. Nếu nhiều tiếng do tai nhận thức… nếu nhiều hương do mũi nhận thức… nếu nhiều vị do lưỡi nhận thức… nếu nhiều xúc do thân nhận thức… nếu nhiều pháp do ý nhận thức đi vào trong giới vực của ý, chúng không chinh phục tâm của vị ấy, và tâm vị ấy không lộn xộn, an trú, đạt được không dao động, quán thấy tánh diệt của chúng.

11. Ví như, bạch Thế Tôn, một hòn núi đá, không có rạn nứt, không có trống bọng, một tảng đá lớn, nếu từ phương Ðông mưa to gió lớn đến, không có làm rung động, rung chuyển, chuyển động mạnh núi đá ấy. Nếu từ phương Tây mưa to gió lớn đến… nếu từ phương Bắc mưa to gió lớn đến… nếu từ phương Nam mưa to gió lớn đến không có làm rung động, rung chuyển, chuyển động mạnh núi đá ấy.

Cũng vậy, bạch Thế Tôn, với Tỷ-kheo có tâm chơn chánh giải thoát, nếu nhiều sắc do mắt nhận thức đi vào trong giới vức của mắt, chúng không chinh phục tâm vị ấy, và tâm vị ấy không lộn xộn, an trú, đạt được không dao động, quán thấy tánh diệt của chúng. Nếu nhiều tiếng do tai nhận thức… nếu nhiều hương do mũi nhận thức… nếu nhiều vị do lưỡi nhận thức… nếu nhiều xúc do thân nhận thức, nếu nhiều pháp do ý nhận thức đi vào trong giới vực của ý, chúng không chinh phục tâm vị ấy, và tâm vị ấy không lộn xộn, an trú, đạt được không dao động, quán thấy tánh diệt của chúng.

Với ai hướng xuất ly,
Tâm xu hướng viễn ly,
Với ai hướng vô sân,
Tâm xu hướng thủ diệt,
Với ai hướng ái diệt,
Tâm xu hướng vô si,
Có thấy xứ sanh khởi,
Tâm được chánh giải thoát.
Với vị chánh giải thoát,
Vị Tỷ-kheo tâm tịnh,
Không cần làm thêm gì,
Không có gì phải làm.
Như hòn núi đá tảng,
Gió không thể dao động,
Cũng vậy, toàn thể sắc,
Vị, tiếng, và hương, xúc,
Cho đến tất cả pháp,
Khả ái, không khả ái,
Không có thể dao động,
Một vị được như vậy,
Tâm kiên trú, giải thoát,
Thấy tánh diệt của chúng.

AN 6.56 Kinh Phagguna

Lúc bấy giờ, Tôn giả Phagguna đang bị bệnh, đau đớn, bệnh tình trầm trọng. Khi ấy, Tôn giả Ānanda đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và thưa:

“Bạch Thế Tôn, Tôn giả Phagguna đang bị bệnh. Bạch Thế Tôn, xin Ngài vì lòng bi mẫn mà đến thăm Tôn giả Phagguna.” Đức Phật im lặng nhận lời.

Rồi vào buổi chiều, Đức Phật rời khỏi nơi thiền tịnh và đi đến chỗ Tôn giả Phagguna. Tôn giả Phagguna thấy Đức Phật từ xa đi tới liền cố gắng ngồi dậy trên giường bệnh.

Đức Phật nói với Tôn giả: “Thôi được rồi, Phagguna, đừng ngồi dậy. Có chỗ ngồi đã được soạn sẵn kia, Ta sẽ ngồi đó.”

Ngài ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn và nói với Tôn giả Phagguna: “Ta mong thầy vẫn khỏe, Phagguna; ta mong thầy vẫn ổn. Và ta mong cơn đau đang giảm bớt, không tăng lên, sự giảm bớt của nó rõ ràng, chứ không phải sự tăng lên.”

"Bạch Thế Tôn, con không khỏe, con không ổn. Cơn đau rất khủng khiếp và đang tăng lên, không giảm bớt; sự tăng lên của nó rõ ràng, chứ không phải sự giảm bớt.

Những cơn gió đâm vào đầu con dữ dội đến nỗi, cảm giác như có người lực sĩ dùng mũi khoan sắc nhọn khoan vào đầu con. Con không khỏe.

Cơn đau đầu dữ dội đến nỗi, cảm giác như có người lực sĩ dùng dây da cứng siết chặt quanh đầu con. Con không khỏe.

Những cơn gió cắt vào bụng con dữ dội đến nỗi, như một người đồ tể khéo léo hay phụ tá của họ dùng dao mổ sắc bén rạch bụng bò. Con không khỏe.

Cảm giác nóng rát trong người con dữ dội đến nỗi, cảm giác như hai người lực sĩ nắm lấy tay một người yếu hơn để thiêu đốt và nướng người đó trên hố than hồng rực. Con không khỏe, con không ổn. Cơn đau rất khủng khiếp và đang tăng lên, không giảm bớt; sự tăng lên của nó rõ ràng, chứ không phải sự giảm bớt."

Sau đó, Đức Phật đã giáo huấn, khuyến khích, khích lệ và truyền cảm hứng cho Tôn giả Phagguna bằng một bài Pháp thoại (Dhamma talk / bài giảng về giáo lý), sau đó Ngài đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi.

Không lâu sau khi Đức Phật rời đi, Tôn giả Phagguna qua đời. Vào lúc lâm chung, các căn của Tôn giả sáng suốt và trong tỏ. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và thưa: “Bạch Thế Tôn, ngay sau khi Đức Phật rời đi, Tôn giả Phagguna đã qua đời. Vào lúc lâm chung, các căn của Tôn giả sáng suốt và trong tỏ.”

"Và tại sao các căn của thầy ấy lại không sáng suốt và trong tỏ chứ? Tâm của Tỳ kheo Phagguna chưa được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử (five lower fetters / năm trói buộc thấp hơn: thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, dục tham, sân hận). Nhưng khi nghe bài Pháp thoại đó, tâm thầy ấy đã được giải thoát khỏi chúng.

Này Ānanda, có sáu lợi ích này của việc nghe Pháp đúng lúc và quán xét ý nghĩa đúng lúc. Sáu lợi ích đó là gì?

Thứ nhất, trường hợp một vị Tỳ kheo có tâm chưa giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Vào lúc lâm chung, vị ấy được gặp Đấng Như Lai (Realized One / bậc đã chứng ngộ chân lý). Đấng Như Lai thuyết giảng cho vị ấy một bài Pháp tốt đẹp ở phần đầu, tốt đẹp ở phần giữa, và tốt đẹp ở phần cuối, có ý nghĩa và lời lẽ rõ ràng. Và Ngài khai thị một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Khi nghe bài Pháp thoại đó, tâm vị ấy được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Đây là lợi ích thứ nhất của việc nghe Pháp.

Tiếp theo, trường hợp một vị Tỳ kheo khác có tâm chưa giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Vào lúc lâm chung, vị ấy không được gặp Đấng Như Lai, nhưng được gặp một đệ tử của Đấng Như Lai. Đệ tử của Đấng Như Lai thuyết giảng Pháp cho vị ấy… Khi nghe bài Pháp thoại đó, tâm vị ấy được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Đây là lợi ích thứ hai của việc nghe Pháp.

Tiếp theo, trường hợp một vị Tỳ kheo khác có tâm chưa giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Vào lúc lâm chung, vị ấy không được gặp Đấng Như Lai, cũng không được gặp một đệ tử của Đấng Như Lai. Nhưng vị ấy suy ngẫm và quán xét Pháp trong tâm mình, dùng tâm trí xem xét những gì đã học và ghi nhớ. Khi làm như vậy, tâm vị ấy được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Đây là lợi ích thứ ba của việc nghe Pháp.

Tiếp theo, trường hợp một vị Tỳ kheo có tâm đã giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, nhưng chưa đạt đến sự chấm dứt hoàn toàn các chấp thủ (supreme ending of attachments / sự đoạn tận mọi dính mắc). Vào lúc lâm chung, vị ấy được gặp Đấng Như Lai. Đấng Như Lai thuyết giảng Pháp cho vị ấy… Khi nghe bài Pháp thoại đó, tâm vị ấy được giải thoát với sự chấm dứt hoàn toàn các chấp thủ. Đây là lợi ích thứ tư của việc nghe Pháp.

Tiếp theo, trường hợp một vị Tỳ kheo khác có tâm đã giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, nhưng chưa đạt đến sự chấm dứt hoàn toàn các chấp thủ. Vào lúc lâm chung, vị ấy không được gặp Đấng Như Lai, nhưng được gặp một đệ tử của Đấng Như Lai. Đệ tử của Đấng Như Lai thuyết giảng Pháp cho vị ấy… Khi nghe bài Pháp thoại đó, tâm vị ấy được giải thoát với sự chấm dứt hoàn toàn các chấp thủ. Đây là lợi ích thứ năm của việc nghe Pháp.

Tiếp theo, trường hợp một vị Tỳ kheo khác có tâm đã giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, nhưng chưa đạt đến sự chấm dứt hoàn toàn các chấp thủ. Vào lúc lâm chung, vị ấy không được gặp Đấng Như Lai, cũng không được gặp một đệ tử của Đấng Như Lai. Nhưng vị ấy suy ngẫm và quán xét Pháp trong tâm mình, dùng tâm trí xem xét những gì đã học và ghi nhớ. Khi làm như vậy, tâm vị ấy được giải thoát với sự chấm dứt hoàn toàn các chấp thủ. Đây là lợi ích thứ sáu của việc nghe Pháp.

Đó là sáu lợi ích của việc nghe Pháp đúng lúc và quán xét ý nghĩa đúng lúc."

(II) (56) Phagguna

1. Lúc bấy giờ, Tôn giả Phagguna bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Tôn giả Phagguna bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Lành thay, bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn đi đến Tôn giả Phagguna, vì lòng từ mẫn.

Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, từ chỗ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Phagguna. Tôn giả Phagguna thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy, muốn rời khỏi giường. Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Phagguna:

− Thôi được rồi, Phagguna! Thầy chớ có rời khỏi giường. Ðã có những chỗ ngồi đã soạn từ trước, Ta sẽ ngồi tại các chỗ ấy.

Rồi Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Phagguna:

− Này Phagguna, mong rằng Thầy có thể kham nhẫn! Mong rằng Thầy có thể chịu đựng! Mong rằng các khổ thọ được giảm thiểu, không tăng trưởng! Mong rằng triệu chứng giảm thiểu được thấy rõ, không tăng trưởng!

− Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn. Con không có thể chịu đựng. Khổ thọ của con tăng trưởng, không có giảm thiểu. Triệu chứng tăng trưởng được thấy rõ, không có giảm thiểu! Bạch Thế Tôn, ví như một người lực sĩ chém đầu (một người khác) với một thanh kiếm sắc bén; cũng vậy, bạch Thế Tôn, những ngọn gió kinh khủng thổi lên, đau nhói trong đầu con. Bạch Thế Tôn, con không thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Khổ thọ của con gia tăng, không có giảm thiểu, triệu chứng gia tăng được thấy rõ, không có giảm thiểu. Bạch Thế Tôn, như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da cứng quấn tròn quanh đầu rồi siết chặt; cũng vậy, bạch Thế Tôn, con cảm thấy đau đầu một cách kinh khủng. Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng, khổ thọ của con gia tăng, không có giảm thiểu. Triệu chứng gia tăng được thấy rõ, không có giảm thiểu. Bạch Thế Tôn, như một người đồ tể thiện xảo hay đệ tử người đồ tể cắt ngang bụng với một con dao cắt thịt bò sắt bén; cũng vậy, bạch Thế Tôn, một ngọn gió kinh khủng cắt ngang bụng của con. Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Những khổ thọ của con gia tăng, không có giảm thiểu, triệu chứng gia tăng được thấy rõ, không có giảm thiểu. Bạch Thế Tôn, ví như hai người lực sĩ, sau khi nắm cánh tay của một người yếu hơn, nướng người ấy, đốt người ấy trên một hố than hừng; cũng vậy, bạch Thế Tôn, một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân của con. Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Những khổ thọ của con gia tăng, không có giảm thiểu, triệu chứng gia tăng được thấy rõ, không có giảm thiểu.

Rồi Thế Tôn, với pháp thoại, nói lên cho Tôn giả Phagguna biết, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ, từ chỗ ngồi, đứng dậy và ra đi.

2. Rồi Tôn giả Phagguna, sau khi Thế Tôn ra đi không bao lâu, liền mệnh chung. Trong khi Tôn giả lâm chung, các căn được sáng chói. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Tôn giả Phagguna, sau khi Thế Tôn ra đi không bao lâu, đã mệnh chung. Trong khi Tôn giả mệnh chung, các căn được sáng chói.

− Này Ananda, tại sao các căn của Tôn giả Phagguna lại không sáng chói chứ? Này Ananda, với Tỷ-kheo Phagguna, tâm chưa được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Sau khi nghe pháp, tâm vị ấy được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Có sáu lợi ích này, này Ananda, nếu nghe pháp đúng thời, và thẩm sát ý nghĩa đúng thời. Thế nào là sáu?

3. Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo tâm chưa được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, vị ấy trong khi mạng chung, được thấy Thế Tôn. Thế Tôn thuyết pháp cho vị ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh. Sau khi nghe thuyết pháp, tâm vị ấy được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Ðây là lợi ích thứ nhất, này Ananda, khi được nghe pháp đúng thời.

4. Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo với tâm chưa được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, vị ấy trong khi mệnh chung, không được thấy Thế Tôn, nhưng chỉ được thấy đệ tử Như Lai. Ðệ tử Như Lai thuyết pháp cho vị ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh. Sau khi nghe thuyết pháp, tâm vị ấy được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Này Ananda, đây là lợi ích thứ hai khi được nghe pháp đúng thời.

5. Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo với tâm chưa được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, vị ấy trong khi mệnh chung, không được thấy Như Lai, cũng không được thấy đệ tử của Như Lai. Nhưng với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học một cách thông suốt; do vị ấy, với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học một cách thông suốt, nên tâm được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Này Ananda, đây là lợi ích thứ ba khi thẩm sát ý nghĩa đúng thời.

6. Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo với tâm đã được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, nhưng tâm chưa giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt sanh y, vị ấy trong khi mệnh chung được thấy Như Lai. Và Như Lai thuyết pháp cho vị ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Sau khi được nghe thuyết pháp, tâm vị ấy được giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt sanh y. Này Ananda, đây là lợi ích thứ tư khi được nghe pháp đúng thời.

7. Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo với tâm đã được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, nhưng tâm chưa giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt sanh y, vị ấy trong khi mạng chung không được thấy Như Lai, chỉ được thấy đệ tử của Như Lai. Ðệ tử Như Lai thuyết pháp cho vị ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Sau khi được nghe thuyết pháp, tâm vị ấy được giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt sanh y. Này Ananda, đây là lợi ích thứ năm khi được nghe pháp đúng thời.

8. Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo với tâm được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, nhưng tâm chưa giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt sanh y, vị ấy trong khi mệnh chung không được thấy Như Lai, cũng không được thấy đệ tử Như Lai. Nhưng với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được học thông suốt, do vị ấy với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học thông suốt, nên tâm được giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt sanh y này. Này Ananda, đây là lợi ích thứ sáu khi được thẩm sát ý nghĩa đúng thời.

Có sáu lợi ích này, này Ananda, khi được nghe pháp đúng thời, và khi được thẩm sát ý nghĩa đúng thời.

AN 6.57 Sáu Loại Tái Sanh (Chaḷabhijātisutta)

Một thời Đức Phật trú gần thành Rājagaha, trên núi Linh Thứu. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và thưa:

"Bạch Thế Tôn, Pūraṇa Kassapa mô tả sáu loại tái sanh (classes of rebirth / hạng người được sinh ra): đen, xanh, đỏ, vàng, trắng, và trắng tối thượng.

Loại tái sanh đen bao gồm những người giết cừu, heo, gia cầm, hoặc hươu nai, thợ săn hoặc ngư phủ, kẻ cướp, đao phủ, đồ tể giết bò, cai ngục, và bất kỳ ai khác có nghề nghiệp tàn ác.

Loại tái sanh xanh bao gồm các Tỳ kheo có đời sống gai góc, và bất kỳ ai khác dạy về hiệu quả của hành động và nghiệp báo (efficacy of deeds and action / năng lực của việc làm và kết quả của nó).

Loại tái sanh đỏ bao gồm các tu sĩ (ascetics / người thực hành khổ hạnh) Jain (Ni-kiền-tử) chỉ mặc một mảnh vải.

Loại tái sanh vàng bao gồm những người cư sĩ mặc áo trắng là đệ tử của các tu sĩ lõa thể.

Loại tái sanh trắng bao gồm các nam nữ tu sĩ Ājīvaka (Tà Mạng).

Và loại tái sanh trắng tối thượng bao gồm Nanda Vaccha, Kisa Saṅkicca, và tu sĩ cầm gậy tre Gosāla.

Đó là sáu loại tái sanh mà Pūraṇa Kassapa mô tả."

“Nhưng này Ānanda, có phải cả thế giới đã ủy quyền cho Pūraṇa Kassapa mô tả sáu loại tái sanh này không?”

“Bạch Thế Tôn, không.”

"Việc này giống như người ta ép một người nghèo khó, không một xu dính túi phải ăn thịt và bảo họ: ‘Hãy ăn miếng thịt này và trả tiền đi!’ Cũng vậy, Pūraṇa Kassapa đã mô tả sáu loại tái sanh này mà không có sự đồng ý của các vị tu sĩ và bà-la-môn đó. Và ông ta đã làm điều đó một cách ngu xuẩn, bất tài, vụng về, thiếu hiểu biết thông thường.

Tuy nhiên, Ta cũng mô tả sáu loại tái sanh. Hãy lắng nghe và chú tâm kỹ, Ta sẽ nói."

“Bạch Thế Tôn, vâng ạ,” Ānanda đáp. Đức Phật nói điều này:

"Và này Ānanda, sáu loại tái sanh là gì? Người sinh vào loại đen (dark class / hạng người có nghiệp xấu) tạo ra kết quả đen. Người sinh vào loại đen tạo ra kết quả sáng. Người sinh vào loại đen tạo ra sự tịch diệt (extinguishment / Niết-bàn), không đen cũng không sáng. Người sinh vào loại sáng (bright class / hạng người có nghiệp tốt) tạo ra kết quả đen. Người sinh vào loại sáng tạo ra kết quả sáng. Người sinh vào loại sáng tạo ra sự tịch diệt, không đen cũng không sáng.

Và làm thế nào người sinh vào loại đen tạo ra kết quả đen? Đó là khi một người được tái sanh vào một gia đình hạ tiện (low family / gia đình thuộc tầng lớp thấp kém)—gia đình của những người làm nghề liên quan đến xác chết, làm đồ tre, thợ săn, làm xe ngựa, hoặc nhặt rác—nghèo khổ, ít đồ ăn thức uống, cuộc sống khó khăn, khó kiếm thức ăn và chỗ ở. Và họ xấu xí, khó coi, dị dạng, bệnh tật—chột mắt, tàn tật, què quặt, hoặc liệt nửa người. Họ không có thức ăn, thức uống, quần áo, và xe cộ; vòng hoa, hương thơm, và đồ trang điểm; hoặc giường, nhà, và đèn đuốc. Và họ làm điều xấu ác qua thân, khẩu, ý (bad things by way of body, speech, and mind / hành động, lời nói và suy nghĩ bất thiện). Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sanh vào cõi khổ (place of loss / nơi đoạ lạc), ác xứ (bad place / nơi xấu xa), địa ngục (underworld, hell / cõi thấp nhất). Đó là cách người sinh vào loại đen tạo ra kết quả đen.

Và làm thế nào người sinh vào loại đen tạo ra kết quả sáng? Đó là khi một người được tái sanh vào một gia đình hạ tiện… Nhưng họ làm điều tốt lành qua thân, khẩu, ý (good things by way of body, speech, and mind / hành động, lời nói và suy nghĩ thiện lành). Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sanh vào cõi lành (good place / nơi tốt đẹp), cõi trời (heavenly realm / cảnh giới chư thiên). Đó là cách người sinh vào loại đen tạo ra kết quả sáng.

Và làm thế nào người sinh vào loại đen tạo ra sự tịch diệt, không đen cũng không sáng? Đó là khi một người được tái sanh vào một gia đình hạ tiện… Họ cạo bỏ râu tóc, đắp y vàng, từ bỏ đời sống thế tục, xuất gia sống không nhà cửa. Họ từ bỏ năm triền cái (five hindrances / năm chướng ngại tâm linh: tham dục, sân hận, uể oải buồn ngủ, bồn chồn lo lắng hối hận, hoài nghi), những phiền não của tâm (corruptions of the heart / những ô nhiễm làm yếu đi trí tuệ) làm suy yếu trí tuệ (wisdom / tuệ). Họ thiết lập vững chắc tâm mình trong bốn pháp quán niệm (four kinds of mindfulness meditation / bốn nền tảng của tỉnh thức: thân, thọ, tâm, pháp). Họ thực sự phát triển bảy yếu tố giác ngộ (seven awakening factors / bảy chi phần dẫn đến giác ngộ: niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả). Và rồi họ tạo ra sự tịch diệt, không đen cũng không sáng. Đó là cách người sinh vào loại đen tạo ra sự tịch diệt, không đen cũng không sáng.

Và làm thế nào người sinh vào loại sáng tạo ra kết quả đen? Đó là khi một người được tái sanh vào một gia đình cao quý (eminent family / gia đình thuộc tầng lớp thượng lưu)—một gia đình giàu có thuộc dòng dõi quý tộc, bà-la-môn, hoặc gia chủ—giàu sang, sung túc, và phú quý, có nhiều vàng bạc, nhiều tài sản và của cải, nhiều tiền bạc và ngũ cốc. Và họ hấp dẫn, ưa nhìn, đáng yêu, có vẻ đẹp tuyệt trần. Họ có thức ăn, thức uống, quần áo, và xe cộ; vòng hoa, hương thơm, và đồ trang điểm; và giường, nhà, và đèn đuốc. Nhưng họ làm điều xấu ác qua thân, khẩu, ý. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sanh vào cõi khổ, ác xứ, địa ngục. Đó là cách người sinh vào loại sáng tạo ra kết quả đen.

Và làm thế nào người sinh vào loại sáng tạo ra kết quả sáng? Đó là khi một người được tái sanh vào một gia đình cao quý… Và họ làm điều tốt lành qua thân, khẩu, ý. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sanh vào cõi lành, cõi trời. Đó là cách người sinh vào loại sáng tạo ra kết quả sáng.

Và làm thế nào người sinh vào loại sáng tạo ra sự tịch diệt, không đen cũng không sáng? Đó là khi một người được tái sanh vào một gia đình cao quý… Họ cạo bỏ râu tóc, đắp y vàng, từ bỏ đời sống thế tục, xuất gia sống không nhà cửa. Họ từ bỏ năm triền cái, những phiền não của tâm làm suy yếu trí tuệ. Họ thiết lập vững chắc tâm mình trong bốn pháp quán niệm. Họ thực sự phát triển bảy yếu tố giác ngộ. Và rồi họ tạo ra sự tịch diệt, không đen cũng không sáng. Đó là cách người sinh vào loại sáng tạo ra sự tịch diệt, không đen cũng không sáng.

Đó là sáu loại tái sanh."

(III) (57) Sáu Sanh Loại

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Ràijagaha (Vương Xá), tại núi Gijjhakùta (Linh Thứu). Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

2. - Bạch Thế Tôn, Tôn giả Pùrana Kassapa trình bày sáu sanh loại: sanh loại đen, sanh loại xanh, sanh loại đỏ, sanh loại vàng, sanh loại trắng, sanh loại hết sức trắng. Ở đây, bạch Thế Tôn, đây là loại sanh đen do Pùrana Kassapa trình bày: “Kẻ giết cừu, kẻ giết heo, kẻ giết chim, kẻ săn thú, kẻ hung bạo, người đánh cá, kẻ ăn trộm, kẻ ăn trộm giết người, kẻ ngục tốt và những người khác theo nghề tàn ác”. Ở đây, bạch Thế Tôn, đây là các sanh loại xanh do Pùrana Kassapa trình bày: “Các Tỷ-kheo sống như cỏ gai đâm bên hông, và tất cả những ai khác chủ trương nghiệp nhân luận, nghiệp quả luận”. Ở đây, bạch Thế Tôn, đây là các sanh loại đỏ do Pùrana Kassapa trình bày: “Các Ni-kiền-tử và những kẻ mặc một tấm vải”. Ở đây, bạch Thế Tôn, là các sanh loại vàng do Pùrana Kassapa trình bày: “Các gia chủ và đệ tử những người ở trần truồng”. Ở đây, bạch Thế Tôn, đây là các sanh loại trắng do Pùrana Kassapa trình bày: “Các tà mạng ngoại đạo và đệ tử của họ”. Ở đây, bạch Thế Tôn, đây là các sanh loại hết sức trắng do Pùrana Kassapa trình bày: “Nanda Vaccha, Kisa Sankicca và Makkhali Gosàla”. Bạch Thế Tôn, sáu sanh loại này do Pùrana Kassapa trình bày.

3. - Này Ananda, có phải toàn thế giới đều đồng ý chấp nhận sự trình bày thành sáu sanh loại này của Pùrana Kassapa không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Ví như này Ananda, một người nghèo khổ, không có sở hữu, sống túng thiếu, dầu miễn cưỡng, không muốn, người ta quăng cho người ấy một miếng thịt và nói: “Hãy ăn miếng thịt này, này Người kia, và trả tiền luôn”. Cũng vậy, này Ananda là lời tuyên bố của Pùrana Kassapa về sáu sanh loại này cho những Sa-môn, Bà-la-môn ấy, không được họ đồng ý, như bởi một kẻ ngu si, không thông minh, không biết thích ứng, bất thiện. Này Ananda, Ta tuyên bố có sáu sanh loại, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói:

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

− Này Ananda, thế nào là sáu sanh loại?

4. Ở đây, này Ananda, có một số sanh loại đen, sanh ra các pháp đen. Nhưng ở đây, này Ananda, có một số sanh loại đen sanh ra pháp trắng. Ở đây, này Ananda, có một số sanh loại đen sanh ra Niết-bàn, không đen không trắng. Ở đây, này Ananda, có một số sanh loại trắng sanh ra pháp đen. Ở đây, này Ananda, có một số sanh loại trắng sanh ra pháp trắng. Ở đây, này Ananda, có một số sanh loại trắng sanh ra Niết-bàn, không đen không trắng. Và này, Ananda, thế nào là một số sanh loại đen sanh ra pháp đen?

5. Ở đây, này Ananda, có một số người sanh ra trong gia đình thấp kém, gia đình người đổ phân hay gia đình người thợ săn, hay gia đình người đan tre, hay gia đình người đóng xe, hay gia đình người quét rác, hay trong gia đình một người nghèo khổ, khó tìm được đồ ăn uống để sống, khó tìm cho được đồ ăn đồ mặc. Và người ấy xấu xí, khó nhìn, lùn thấp, nhiều bệnh hoạn, đui một mắt, tàn tật, còm, què, hay đi khấp khểnh, không có được đồ ăn, đồ uống, đồ mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, phấn sáp, chỗ nằm, chỗ ở và đèn. Người ấy làm ác hạnh về thân, làm ác hạnh về lời, làm ác hạnh về ý. Người ấy do làm ác hạnh về thân, về lời, về ý, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Như vậy, này Ananda, là hạng sanh loại đen sanh ra pháp đen. Và này Ananda, thế nào là hạng sanh loại đen sanh ra pháp trắng?

6. Ở đây, này Ananda, có hạng người sanh ra trong gia đình thấp kém… chỗ nằm, chỗ ở và đèn. Người ấy làm thiện hạnh về thân, làm thiện hạnh về lời, làm thiện hạnh về ý. Người ấy do làm thiện hạnh về thân, về lời, về ý, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào cõi lành, Thiên giới, thế giới này. Như vậy, này Ananda, là hạng sanh loại đen sanh ra pháp trắng. Và này Ananda, thế nào là hạng sanh loại đen sanh ra Niết-bàn, không đen không trắng?

7. Ở đây, này Ananda, có hạng người sanh ra trong gia đình thấp kém… và người ấy xấu xí, khó nhìn, lùn thấp. Người ấy, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy xuất gia như vậy, sau khi đoạn tận năm triền cái, làm cho muội lược các kiết sử về tâm với trí tuệ, trú tâm trên Bốn niệm xứ, như thật tu tập Bảy giác chi, sanh ra Niết-bàn không đen không trắng. Như vậy, này Ananda là hạng sanh loại đen sanh ra Niết-bàn, không đen không trắng. Và này Ananda, thế nào là sanh loại trắng sanh ra pháp đen?

8. Ở đây, này Ananda, có hạng người sanh ra trong gia đình cao quý, trong gia đình Sát-đế-lỵ đại phú, hay trong gia đình Bà-la-môn đại phú, hay trong gia đình gia chủ đại phú, phú hào, có tiền của lớn, tài sản lớn, có nhiều vàng bạc, có nhiều tài sản, vật dụng, nhiều tiền của, ngũ cốc. Người ấy lại đẹp trai, dễ nhìn, dễ thương, với màu da tuyệt đẹp, mỹ miều. Người ấy lại được ăn đồ ăn, đồ uống, áo mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, chỗ nằm, chỗ trú, đèn đuốc. Người ấy làm ác hạnh về thân, làm ác hạnh về lời, làm ác hạnh về ý. Người ấy do làm ác hạnh về thân, do làm ác hạnh về lời, do làm ác hạnh về ý, sau khi thân hoại mạng chung sanh, sanh vào cõi dữ, ác thú, đạo xứ, địa ngục. Như vậy, này Ananda, là hạng sanh loại trắng sanh ra pháp đen. Và này Ananda, thế nào là hạng sanh loại trắng sanh ra pháp trắng?

9. Ở đây, này Ananda, có hạng người sanh ra trong gia đình cao quý, trong gia đình Sát-đế-lỵ đại phú… chỗ trú, đèn đuốc. Người ấy làm thiện hạnh về thân, làm thiện hạnh về lời, làm thiện hạnh về ý. Người ấy do làm thiện hạnh về thân, do làm thiện hạnh về lời, do làm thiện hạnh về ý, sau khi thân hoại mạng chung sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Như vậy, này Ananda, là hạng sanh loại trắng sanh ra pháp trắng. Và này Ananda, thế nào là hạng sanh loại trắng sanh ra Niết-bàn, không đen không trắng?

10. Ở đây, này Ananda, có hạng người sanh ra trong gia đình cao quý, trong gia đình Sát-đế-lỵ đại phú… chỗ trú, đèn đuốc. Vị ấy, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy xuất gia như vậy, sau khi đoạn tận năm triền cái, làm cho muội lược các kiết sử về tâm với trí tuệ, trú tâm trên Bốn niệm xứ, như thật tu tập Bảy giác chi, sanh ra Niết-bàn không đen không trắng. Như vậy, này Ananda là hạng sanh loại trắng sanh ra Niết-bàn, không đen không trắng.

Này Ananda, đây là sáu sanh loại.

AN 6.58 Các Lậu Hoặc (Āsavasutta)

"Này các Tỳ kheo, một vị Tỳ kheo có sáu phẩm chất thì xứng đáng nhận lễ vật cúng dường chư thiên (offerings dedicated to the gods / vật phẩm dâng cúng), xứng đáng được tiếp đãi (hospitality / sự hiếu khách), xứng đáng nhận vật cúng dường (religious donation / sự bố thí tôn giáo), xứng đáng được đảnh lễ chắp tay (veneration with joined palms / sự tôn kính), và là ruộng phước tối thượng (supreme field of merit / nơi gieo trồng phước báu tốt nhất) cho đời. Sáu phẩm chất đó là gì?

Đó là vị Tỳ kheo, bằng sự phòng hộ (restraint / sự kiểm soát, thu thúc), đã từ bỏ các lậu hoặc cần được từ bỏ bằng sự phòng hộ. Bằng sự thọ dụng (using / sự sử dụng đúng cách), đã từ bỏ các lậu hoặc cần được từ bỏ bằng sự thọ dụng. Bằng sự kham nhẫn (enduring / sự chịu đựng), đã từ bỏ các lậu hoặc cần được từ bỏ bằng sự kham nhẫn. Bằng sự tránh né (avoiding / sự né tránh), đã từ bỏ các lậu hoặc cần được từ bỏ bằng sự tránh né. Bằng sự trừ diệt (getting rid / sự loại bỏ), đã từ bỏ các lậu hoặc cần được từ bỏ bằng sự trừ diệt. Bằng sự tu tập (developing / sự phát triển), đã từ bỏ các lậu hoặc cần được từ bỏ bằng sự tu tập.

Và những lậu hoặc nào cần được từ bỏ bằng sự phòng hộ? Hãy xem trường hợp một vị Tỳ kheo, như lý tác ý (reflecting rationally / hướng tâm đúng pháp), sống phòng hộ nhãn căn (eye faculty / giác quan mắt). Vì những lậu hoặc phiền muộn và bức bối (distressing and feverish defilements / phiền não gây khổ não và nóng nảy) có thể khởi lên ở người sống không phòng hộ nhãn căn sẽ không khởi lên khi có sự phòng hộ như vậy. Như lý tác ý, vị ấy sống phòng hộ nhĩ căn (ear faculty / giác quan tai)… tỷ căn (nose faculty / giác quan mũi)… thiệt căn (tongue faculty / giác quan lưỡi)… thân căn (body faculty / giác quan thân)… ý căn (mind faculty / giác quan ý). Vì những lậu hoặc phiền muộn và bức bối có thể khởi lên ở người sống không phòng hộ ý căn sẽ không khởi lên khi có sự phòng hộ như vậy. Đây được gọi là những lậu hoặc cần được từ bỏ bằng sự phòng hộ.

Và những lậu hoặc nào cần được từ bỏ bằng sự thọ dụng? Hãy xem trường hợp một vị Tỳ kheo, như lý tác ý, sử dụng y phục (robes / áo cà sa): ‘Chỉ để ngăn ngừa lạnh và nóng; để ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, và loài bò sát; và để che đậy phần kín đáo.’ Như lý tác ý, vị ấy sử dụng vật thực khất thực (almsfood / thức ăn nhận được khi đi xin): ‘Không phải để vui đùa, hưởng thụ, trang điểm, hay trang hoàng, mà chỉ để duy trì thân này, để tránh tổn hại, và để hỗ trợ đời sống phạm hạnh (spiritual practice / việc tu tập tâm linh). Bằng cách này, ta sẽ chấm dứt cảm giác khó chịu cũ và không làm phát sinh cảm giác khó chịu mới, và ta sẽ có phương tiện để tiếp tục, không bị chê trách (blamelessness / không có lỗi lầm), và an trú thoải mái (comfortable abiding / sống một cách dễ chịu).’ Như lý tác ý, vị ấy sử dụng chỗ ở (lodgings / nơi trú ngụ): ‘Chỉ để ngăn ngừa lạnh và nóng; để ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, và loài bò sát; để che chở khỏi thời tiết khắc nghiệt và để hưởng thụ sự ẩn dật.’ Như lý tác ý, vị ấy sử dụng thuốc men và vật dụng cho người bệnh (medicines and supplies for the sick / thuốc và đồ dùng cần thiết khi ốm đau): ‘Chỉ để ngăn ngừa những cơn đau do bệnh tật và để tăng cường sức khỏe tốt.’ Vì những lậu hoặc phiền muộn và bức bối có thể khởi lên ở người sống không sử dụng những thứ này sẽ không khởi lên khi chúng được sử dụng. Đây được gọi là những lậu hoặc cần được từ bỏ bằng sự thọ dụng.

Và những lậu hoặc nào cần được từ bỏ bằng sự kham nhẫn? Hãy xem trường hợp một vị Tỳ kheo, như lý tác ý, chịu đựng lạnh, nóng, đói, và khát. Vị ấy chịu đựng sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, và loài bò sát. Vị ấy chịu đựng những lời chỉ trích thô lỗ và không mong muốn. Và vị ấy chịu đựng nỗi đau thể xác—nhói buốt, dữ dội, cấp tính, khó chịu, không vừa ý, và nguy hiểm đến tính mạng. Vì những lậu hoặc phiền muộn và bức bối có thể khởi lên ở người sống không chịu đựng những điều này sẽ không khởi lên khi chúng được chịu đựng. Đây được gọi là những lậu hoặc cần được từ bỏ bằng sự kham nhẫn.

Và những lậu hoặc nào cần được từ bỏ bằng sự tránh né? Hãy xem trường hợp một vị Tỳ kheo, như lý tác ý, tránh né voi dữ, ngựa hoang, bò hoang, chó dữ, rắn, gốc cây, nơi gai góc, hố sâu, vách đá, đầm lầy, và cống rãnh. Như lý tác ý, vị ấy tránh ngồi ở những chỗ không thích hợp, đi vào những khu vực không thích hợp, và giao du với bạn xấu—bất cứ điều gì mà những người bạn đồng tu có trí tuệ tin là môi trường xấu. Vì những lậu hoặc phiền muộn và bức bối có thể khởi lên ở người sống không tránh né những điều này sẽ không khởi lên khi chúng được tránh né. Đây được gọi là những lậu hoặc cần được từ bỏ bằng sự tránh né.

Và những lậu hoặc nào cần được từ bỏ bằng sự trừ diệt? Hãy xem trường hợp một vị Tỳ kheo, như lý tác ý, không dung thứ một ý nghĩ tham dục (sensual thought / suy nghĩ về ham muốn), ý nghĩ ác ý (malicious thought / suy nghĩ có hại), hay ý nghĩ tàn ác (cruel thought / suy nghĩ độc ác) đã khởi lên. Vị ấy không dung thứ bất kỳ phẩm chất xấu ác, bất thiện (bad, unskillful qualities / những tính chất không tốt, không khéo léo) nào đã khởi lên, mà từ bỏ chúng, trừ diệt chúng, loại bỏ chúng, và xóa sạch chúng. Vì những lậu hoặc phiền muộn và bức bối có thể khởi lên ở người sống không trừ diệt những điều này sẽ không khởi lên khi chúng được trừ diệt. Đây được gọi là những lậu hoặc cần được từ bỏ bằng sự trừ diệt.

Và những lậu hoặc nào cần được từ bỏ bằng sự tu tập? Hãy xem trường hợp một vị Tỳ kheo, như lý tác ý, phát triển các yếu tố giác ngộ (awakening factors / thất giác chi) là tỉnh thức (mindfulness / niệm), trạch pháp (investigation of principles / điều tra các nguyên lý), siêng năng (energy / tấn), vui vẻ (rapture / hỷ), an tịnh (tranquility / khinh an), định tâm (immersion / định), và xả (equanimity / sự bình tâm), dựa trên ly dục (seclusion / sự xa lìa), ly tham (fading away / sự phai nhạt ham muốn), và đoạn diệt (cessation / sự chấm dứt), và chín muồi thành sự buông bỏ (letting go / sự xả ly). Vì những lậu hoặc phiền muộn và bức bối có thể khởi lên ở người sống không phát triển những điều này sẽ không khởi lên khi chúng được phát triển. Đây được gọi là những lậu hoặc cần được từ bỏ bằng sự tu tập.

Một vị Tỳ kheo có sáu phẩm chất này thì xứng đáng nhận lễ vật cúng dường chư thiên, xứng đáng được tiếp đãi, xứng đáng nhận vật cúng dường, xứng đáng được đảnh lễ chắp tay, và là ruộng phước tối thượng cho đời."

(IV) (58) Các Lậu Hoặc

1. - Thành tựu sáu pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời. Thế nào là sáu?

2. Ở đầy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với các lậu hoặc phải do phòng hộ mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ do phòng hộ; đối với các lậu hoặc phải do thọ dụng mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ do thọ dụng; đối với các lậu hoặc phải do kham nhẫn mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ do kham nhẫn; đối với các lậu hoặc phải do tránh né mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ do tránh né; đối với các lậu hoặc phải do trừ diệt mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ do trừ diệt; đối với các lậu hoặc phải do tu tập mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ do tu tập. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do phòng hộ mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ do phòng hộ?

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh giác sát, sống phòng hộ với sự phòng hộ nhãn căn. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy sống không phòng hộ với sự phòng hộ nhãn căn, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên. Nếu vị ấy sống phòng hộ với sự phòng hộ nhãn căn, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Vị chơn chánh giác sát, sống phòng hộ với sự phòng hộ nhĩ căn… sống phòng hộ với sự phòng hộ tỷ căn… sống phòng hộ với sự phòng hộ thiệt căn… sống phòng hộ với sự phòng hộ thân căn… sống phòng hộ với sự phòng hộ ý căn. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy sống không phòng hộ với sự phòng hộ ý căn, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên. Nếu vị ấy sống phòng hộ với sự phòng hộ ý căn, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỷ-kheo, nếu sống không phòng hộ với sự phòng hộ các căn, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên. Nếu sống phòng hộ với sự phòng hộ các căn, như vậy các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không có thể khởi lên.

Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các lậu hoặc phải do phòng hộ mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ nhờ phòng hộ. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do thọ dụng mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ nhờ thọ dụng?

4. Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo chơn chánh giác sát thọ dụng y phục chỉ để ngăn ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát, chỉ với mục đích che đậy sự hổ thẹn. Vị ấy chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn khất thực, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để thân này khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh, nghĩ rằng: “Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn. Vị ấy chơn chánh giác sát thọ dụng sàng tọa chỉ để ngăn ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát, chỉ giải trừ nguy hiểm của thới tiết, chỉ với mục đích sống độc cư an tịnh. Vị ấy chơn chánh giác sát thọ dụng những dược phẩm trị bệnh, chỉ để ngăn chận các cảm giác thống khổ đã sanh để được ly khổ hoàn toàn. Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không chơn chánh giác sát khi thọ dụng như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên. Nếu vị ấy có chơn chánh giác sát khi thọ dụng như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa.

Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các lậu hoặc phải do thọ dụng mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ nhờ thọ dụng. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do kham nhẫn mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ nhờ kham nhẫn?

5. Này các Tỷ-kheo, ở đây có Tỷ-kheo chơn chánh giác sát kham nhẫn lạnh nóng, đói khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát, kham nhẫn những cách nói mạ lỵ phỉ báng, vị ấy có tánh kham nhẫn các cảm thọ về thân, những cảm thọ thống khổ, khốc liệt, đau nhói, nhức nhối không sung sướng, không thích thú, chết điếng người. Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không kham nhẫn như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên. Nếu vị ấy kham nhẫn như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa.

Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các lậu hoặc phải do kham nhẫn mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ nhờ kham nhẫn. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do tránh né mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ nhờ tránh né? 6. Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo chơn chánh giác sát, tránh né voi dữ, tránh né ngựa dữ, tránh né bò dữ, tránh né chó dữ, rắn, khúc cây, gai góc, hố sâu, vực núi, ao nước nhớp, vũng nước. Những chỗ ngồi không xứng đáng nếu ngồi, những trú xứ không nên lai vãng nếu đến, những bạn bè ác độc, nếu giao du bị các vị đồng Phạm hạnh có trí nghi ngờ khinh thường. Vị chơn chánh giác sát tránh né chỗ ngồi không xứng đáng ấy, trú xứ không nên lai vãng ấy và các bạn bè độc ác ấy. Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không tránh né như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu vị ấy tránh né như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa.

Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các lậu hoặc phải do tránh né mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ nhờ tránh né. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do trừ diệt mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ nhờ trừ diệt?

7. Này các Tỷ-kheo, ở đây vị Tỷ-kheo chơn chánh giác sát không chấp nhận dục niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ khử, diệt tận, không cho tồn tại dục niệm ấy; không chấp nhận sân niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ khử, diệt tận, không cho tồn tại sân niệm ấy; không chấp nhận hại niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ khử, diệt tận, không cho tồn tại hại niệm ấy; không chấp nhận các ác bất thiện pháp luôn luôn khởi lên, từ bỏ, trừ khử, diệt tận, không cho tồn tại các ác bất thiện pháp ấy. Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không trừ khử như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu vị ấy trừ khử như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa.

Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các lậu hoặc phải do trừ diệt mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ nhờ trừ diệt. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do tu tập mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ nhờ tu tập?

8. Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo chơn chánh giác sát tu tập niệm giác chi, niệm giác chi này y xuất y, y ly tham, y diệt tận, đưa đến từ bỏ, chơn chánh giác sát tu tập trạch pháp giác chi… (như trên)… tu tập tinh tấn giác chi… tu tập hỷ giác chi… tu tập khinh an giác chi… tu tập định giác chi… tu tập xả giác chi; xả giác chi này y xuất ly, y ly tham, y diệt tận, đưa đến từ bỏ. Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không tu tập như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu vị ấy tu tập như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa.

Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các lậu hoặc phải do tu tập mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ nhờ tu tập.

Này các Tỷ-kheo, thành tựu sáu pháp này, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời.

AN 6.59 Kinh Dārukammika

TÔI NGHE NHƯ VẦY. Một thời Đức Phật trú tại Ñātika trong ngôi nhà gạch.

Bấy giờ, gia chủ Dārukammika đến gặp Đức Phật, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ông: “Này gia chủ, Ta tự hỏi liệu gia đình ông có cúng dường không?”

“Bạch Thế Tôn, có ạ. Con cúng dường cho những vị Tỳ kheo là bậc A-la-hán hoặc đang trên đường đến quả vị A-la-hán; các vị ấy sống trong rừng (wilderness / nơi hoang dã), chỉ ăn vật thực khất thực (almsfood / đồ ăn xin được), và mặc y phấn tảo (rag robes / y làm từ vải vụn nhặt được).”

"Này gia chủ, là một cư sĩ (layman / người tại gia) hưởng thụ dục lạc (sensual pleasures / thú vui giác quan), sống ở nhà với con cái, dùng gỗ đàn hương nhập từ Kāsi, đeo vòng hoa, dùng hương thơm và đồ trang điểm, và nhận vàng bạc tiền tệ, thật khó cho ông để biết ai là bậc A-la-hán hay đang trên đường đến quả vị A-la-hán.

Nếu một vị Tỳ kheo sống trong rừng mà bồn chồn lo lắng (restless / trạo cử), xấc láo (insolent / ngạo mạn), hay thay đổi (fickle / không kiên định), nói lời thô tục (scurrilous / nói lời ác khẩu), lắm lời (loose-tongued / nói nhiều lời vô ích), thiếu tỉnh thức (unmindful / thất niệm), thiếu nhận thức tình huống (situational awareness / tỉnh giác) và định tâm (immersion / định), với tâm lang thang (straying mind / tâm phóng dật) và các căn không được kiểm soát (undisciplined faculties / các giác quan buông thả), thì về mặt này, vị ấy đáng bị chê trách (reprehensible / khiển trách). Nếu một vị Tỳ kheo sống trong rừng mà không bồn chồn lo lắng, xấc láo, hay thay đổi, nói lời thô tục, hay lắm lời, mà đã thiết lập tỉnh thức (established mindfulness / niệm), nhận thức tình huống và định tâm, với tâm hợp nhất (unified mind / tâm chuyên nhất) và các căn được thu thúc (restrained faculties / các giác quan được kiểm soát), thì về mặt này, vị ấy đáng được khen ngợi (praiseworthy / tán dương).

Nếu một vị Tỳ kheo sống trong làng mà bồn chồn lo lắng… thì về mặt này, vị ấy đáng bị chê trách. Nếu một vị Tỳ kheo sống trong làng mà không bồn chồn lo lắng… thì về mặt này, vị ấy đáng được khen ngợi.

Nếu một vị Tỳ kheo chỉ ăn vật thực khất thực mà bồn chồn lo lắng… thì về mặt này, vị ấy đáng bị chê trách. Nếu một vị Tỳ kheo chỉ ăn vật thực khất thực mà không bồn chồn lo lắng… thì về mặt này, vị ấy đáng được khen ngợi.

Nếu một vị Tỳ kheo nhận lời mời (dùng bữa) mà bồn chồn lo lắng… thì về mặt này, vị ấy đáng bị chê trách. Nếu một vị Tỳ kheo nhận lời mời mà không bồn chồn lo lắng… thì về mặt này, vị ấy đáng được khen ngợi.

Nếu một vị Tỳ kheo mặc y phấn tảo mà bồn chồn lo lắng… thì về mặt này, vị ấy đáng bị chê trách. Nếu một vị Tỳ kheo mặc y phấn tảo mà không bồn chồn lo lắng… thì về mặt này, vị ấy đáng được khen ngợi.

Nếu một vị Tỳ kheo mặc y do gia chủ cúng dường mà bồn chồn lo lắng, xấc láo, hay thay đổi, nói lời thô tục, lắm lời, thiếu tỉnh thức, thiếu nhận thức tình huống và định tâm, với tâm lang thang và các căn không được kiểm soát, thì về mặt này, vị ấy đáng bị chê trách. Nếu một vị Tỳ kheo mặc y do gia chủ cúng dường mà không bồn chồn lo lắng, xấc láo, hay thay đổi, nói lời thô tục, hay lắm lời, mà đã thiết lập tỉnh thức, nhận thức tình huống và định tâm, với tâm hợp nhất và các căn được thu thúc, thì về mặt này, vị ấy đáng được khen ngợi.

Này gia chủ, hãy cứ cúng dường cho Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng Tỳ kheo). Tâm ông sẽ trở nên sáng suốt và trong sạch, và khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, ông sẽ được tái sanh vào cõi lành, cõi trời."

“Bạch Thế Tôn, từ hôm nay trở đi, con sẽ cúng dường cho Tăng đoàn.”

(V) (59) Người Bán Củi

1. Như vầy tôi nghe:

Một thời, Thế Tôn ở Nàdika, tại giảng đường bằng gạch. Bấy giờ có gia chủ bán củi đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với người bán củi đang ngồi xuống một bên:

2. - Này Gia chủ, trong gia đình Ông có bố thí không?

− Bạch Thế Tôn, trong gia đình con có bố thí. Những Tỷ-kheo là vị sống ở rừng, theo hạnh khất thực, mặc áo lấy vải lượm từ đống rác, bậc A-la-hán, hay thực hành A-la-hán đạo, những Tỷ-kheo như vậy, bạch Thế Tôn, đều được bố thí. 3. - Nhưng chắc chắn, này Gia chủ, đây thực là một sự khó khăn cho Ông, một người tại gia thọ dụng các dục, bị con cháu trói buộc, được dùng hương chiên đàn từ Kàsi, được đeo và thoa với vòng hoa, hương, hương liệu, được tiêu dùng vàng và bạc để có thể nói ai là bậc A-la-hán, ai là bậc thực hành Ala-hán đạo. Tỷ-kheo trú tại rừng núi, này Gia chủ, nếu tháo động, kiêu căng dao động, lắm mồm, lắm miệng, lắm lời, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, các căn thả lỏng, thời vị ấy về phương diện này đáng bị chỉ trích. Này Gia chủ, nếu Tỷ-kheo trú ở rừng núi, không tháo động, không kiêu căng, không dao động, không lắm mồm, lắm miệng, không lắm lời, chánh niệm, tỉnh giác, định tĩnh, nhất tâm, với các căn được phòng hộ, thời vị ấy về phương diện này đáng được tán thán. Nếu Tỷ-kheo sống ở cuối làng, này Gia chủ, tháo động, kiêu căng… các căn thả lỏng; vị ấy về phương diện này đáng bị chỉ trích. Nếu Tỷ-kheo sống ở cuối làng, này Gia chủ, không tháo động, không kiêu căng… các căn được phòng hộ, thời vị ấy về phương diện này đáng được tán thán. Nếu vị Tỷ-kheo theo hạnh khất thực, này Gia chủ, nhưng còn tháo động, kiêu căng… đáng bị chỉ trích. Nếu Tỷ-kheo theo hạnh khất thực, này Gia chủ, nhưng không tháo động, không kiêu căng… đáng được tán thán. Nếu Tỷ-kheo nào nhận lời mời, này Gia chủ, nhưng còn tháo động… đáng bị chỉ trích. Nếu Tỷ-kheo nào nhận lời mời, này Gia chủ, nhưng không tháo động… đáng được tán thán. Nếu Tỷ-kheo nào mặc áo lấy vải lượm từ đống rác, này Gia chủ, nhưng còn tháo động… đáng bị chỉ trích. Nếu Tỷ-kheo nào mặc áo lấy vải lượm từ đống rác, này Gia chủ, nhưng không tháo động… đáng được tán thán. Nếu Tỷ-kheo nào mang y từ người Gia chủ cúng, nhưng không tháo động… đáng được tán thán. Tuy vậy, này Gia chủ, hãy cúng dường chúng Tăng. Nếu Ông cúng dường chúng Tăng, tâm sẽ được định tín. Nếu Ông có tâm định tín, lúc thân hoại mạng chung, sẽ được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.

− Bạch Thế Tôn, bắt đầu từ hôm nay, con sẽ bố thí cúng dường chúng Tăng.

AN 6.60 Kinh Hatthisāriputta

TÔI NGHE NHƯ VẦY. Một thời Đức Phật trú gần thành Varanasi (Ba-la-nại), tại Vườn Nai ở Isipatana.

Lúc bấy giờ, một số vị Tỳ kheo trưởng lão (senior mendicants / Tỳ kheo lớn tuổi, có hạ lạp cao), sau bữa ăn, trên đường từ khất thực trở về, ngồi lại với nhau trong đình và bàn luận về giáo pháp (teachings / lời dạy của Đức Phật). Tôn giả Citta Hatthisāriputta đã ngắt lời họ khi họ đang nói chuyện.

Bấy giờ, Tôn giả Mahākoṭṭhita nói với Tôn giả Citta Hatthisāriputta: “Thưa Tôn giả, xin đừng ngắt lời các vị Tỳ kheo trưởng lão khi họ đang bàn luận về giáo pháp. Hãy đợi cho đến khi cuộc thảo luận kết thúc.”

Khi Tôn giả nói vậy, các bạn đồng tu của Citta Hatthisāriputta nói với Mahākoṭṭhita: “Thưa Tôn giả, xin đừng khiển trách Citta Hatthisāriputta. Thầy ấy rất sắc sảo, và hoàn toàn có khả năng bàn luận về giáo pháp với các vị Tỳ kheo trưởng lão.”

"Thưa các Tôn giả, không dễ để biết điều này, đối với những người không thấu hiểu tâm người khác (comprehend another’s mind / biết được tâm của người khác).

Hãy xem một người ngọt ngào nhất trong những người ngọt ngào, ôn hòa nhất trong những người ôn hòa, bình tĩnh nhất trong những người bình tĩnh, miễn là họ sống nương tựa vào Đạo sư (Teacher / bậc thầy, chỉ Đức Phật) hoặc một người bạn đồng tu (spiritual companion / bạn tu) đóng vai trò như một người thầy. Nhưng khi họ xa rời Đạo sư hoặc người bạn đồng tu đóng vai trò như một người thầy, họ giao du thân cận với các Tỳ kheo (monks / nam tu sĩ), Tỳ kheo ni (nuns / nữ tu sĩ), nam cư sĩ (laymen / nam tín đồ tại gia), và nữ cư sĩ (laywomen / nữ tín đồ tại gia); với các vua chúa (rulers / người cai trị) và các đại thần (chief ministers / quan chức cấp cao), và với các tu sĩ ngoại đạo (monastics of other religions / người tu theo tôn giáo khác) và đệ tử của họ. Khi giao du thân cận, họ trở nên thân mật và buông thả, dành thời gian tán gẫu, và do đó dục vọng (lust / ham muốn nhục dục) xâm chiếm tâm trí họ. Họ từ bỏ việc tu tập (resign the training / hoàn tục) và trở về đời sống thấp hơn (return to a lesser life / quay lại cuộc sống thế tục).

Giả sử một con bò thích ăn lúa bị buộc lại hoặc nhốt trong chuồng. Liệu có đúng khi nói rằng con bò đó sẽ không bao giờ xâm nhập vào ruộng lúa nữa không?"

“Thưa Tôn giả, không đúng. Vì rất có thể con bò đó sẽ giật đứt dây hoặc phá chuồng, rồi xâm nhập vào ruộng lúa.”

"Cũng vậy, hãy xem một người ngọt ngào nhất trong những người ngọt ngào… Khi giao du thân cận, họ trở nên thân mật và buông thả, dành thời gian tán gẫu, và do đó dục vọng xâm chiếm tâm trí họ. Họ từ bỏ việc tu tập và trở về đời sống thấp hơn.

Và hãy xem một người, hoàn toàn ly dục lạc (sensual pleasures / thú vui giác quan)… nhập và an trú vào sơ thiền (first absorption / tầng thiền thứ nhất). Nghĩ rằng, ‘Ta đắc sơ thiền!’ họ giao du thân cận với các Tỳ kheo… Họ từ bỏ việc tu tập và trở về đời sống thấp hơn.

Giả sử trời mưa lớn ở ngã tư đường khiến bụi biến mất và bùn xuất hiện. Liệu có đúng khi nói rằng bây giờ bụi sẽ không bao giờ xuất hiện ở ngã tư này nữa không?"

“Thưa Tôn giả, không đúng. Vì rất có thể người hoặc gia súc v.v… sẽ đi qua ngã tư, hoặc gió và mặt trời sẽ làm bay hơi ẩm để bụi lại xuất hiện.”

"Cũng vậy, hãy xem một người, hoàn toàn ly dục lạc… nhập và an trú vào sơ thiền. Nghĩ rằng, ‘Ta đắc sơ thiền!’ họ giao du thân cận với các Tỳ kheo… Họ từ bỏ việc tu tập và trở về đời sống thấp hơn.

Và hãy xem một người, khi tầm (placing of the mind / sự hướng tâm đến đối tượng) và tứ (keeping it connected / sự duy trì tâm trên đối tượng) lắng dịu… nhập và an trú vào nhị thiền (second absorption / tầng thiền thứ hai). Nghĩ rằng, ‘Ta đắc nhị thiền!’ họ giao du thân cận với các Tỳ kheo… Họ từ bỏ việc tu tập và trở về đời sống thấp hơn.

Giả sử có một cái ao lớn không xa thị trấn hoặc làng mạc. Sau khi trời mưa lớn, sò, hến, sỏi và đá cuội sẽ biến mất. Liệu có đúng khi nói rằng bây giờ sò, hến, sỏi và đá cuội sẽ không bao giờ xuất hiện ở đây nữa không?"

“Thưa Tôn giả, không đúng. Vì rất có thể người hoặc gia súc v.v… sẽ uống nước từ ao, hoặc gió và mặt trời sẽ làm bay hơi nước để sò, hến, sỏi và đá cuội lại xuất hiện.”

"Cũng vậy, hãy xem một người, khi tầm và tứ lắng dịu… nhập và an trú vào nhị thiền. Nghĩ rằng, ‘Ta đắc nhị thiền!’ họ giao du thân cận với các Tỳ kheo… Họ từ bỏ việc tu tập và trở về đời sống thấp hơn.

Và hãy xem một người, với sự phai nhạt của niềm vui (fading away of rapture / hỷ phai đi)… nhập và an trú vào tam thiền (third absorption / tầng thiền thứ ba). Nghĩ rằng, ‘Ta đắc tam thiền!’ họ giao du thân cận với các Tỳ kheo… Họ từ bỏ việc tu tập và trở về đời sống thấp hơn.

Giả sử một người vừa ăn xong một bữa ăn ngon. Họ sẽ không còn thèm ăn đồ thừa nữa. Liệu có đúng khi nói rằng bây giờ thức ăn sẽ không bao giờ hấp dẫn người này nữa không?"

“Thưa Tôn giả, không đúng. Vì rất có thể thức ăn khác sẽ không hấp dẫn người đó chừng nào chất dinh dưỡng vẫn còn. Nhưng khi chất dinh dưỡng biến mất, thức ăn sẽ lại hấp dẫn.”

"Cũng vậy, hãy xem một người, với sự phai nhạt của niềm vui… nhập và an trú vào tam thiền. Nghĩ rằng, ‘Ta đắc tam thiền!’ họ giao du thân cận với các Tỳ kheo… Họ từ bỏ việc tu tập và trở về đời sống thấp hơn.

Và hãy xem một người, từ bỏ an vui (pleasure / lạc) và khổ (pain / đau khổ)… nhập và an trú vào tứ thiền (fourth absorption / tầng thiền thứ tư). Nghĩ rằng, ‘Ta đắc tứ thiền!’ họ giao du thân cận với các Tỳ kheo… Họ từ bỏ việc tu tập và trở về đời sống thấp hơn.

Giả sử trong một thung lũng núi có một hồ nước phẳng lặng, không gợn sóng. Liệu có đúng khi nói rằng bây giờ sóng sẽ không bao giờ xuất hiện trong hồ này nữa không?"

“Thưa Tôn giả, không đúng. Vì rất có thể một cơn bão dữ dội có thể thổi lên từ phương đông, tây, bắc, hoặc nam, và khuấy động sóng trong hồ đó.”

"Cũng vậy, hãy xem một người, từ bỏ an vui và khổ… nhập và an trú vào tứ thiền. Nghĩ rằng, ‘Ta đắc tứ thiền!’ họ giao du thân cận với các Tỳ kheo… Họ từ bỏ việc tu tập và trở về đời sống thấp hơn.

Và hãy xem một người, không chú tâm vào bất kỳ tướng (signs / dấu hiệu, đặc điểm của đối tượng thiền) nào, nhập và an trú vào vô tướng tâm định (signless immersion of the heart / trạng thái định tâm không có đối tượng). Nghĩ rằng, ‘Ta đắc vô tướng tâm định!’ họ giao du thân cận với các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, nam cư sĩ, và nữ cư sĩ; với các vua chúa và đại thần, và với các tu sĩ ngoại đạo và đệ tử của họ. Khi giao du thân cận, họ trở nên thân mật và buông thả, dành thời gian tán gẫu, và do đó dục vọng xâm chiếm tâm trí họ. Họ từ bỏ việc tu tập và trở về đời sống thấp hơn.

Giả sử một vị vua hoặc đại thần của họ, trong khi đi dọc đường với một đội quân bốn binh chủng, đến một khu rừng và cắm trại qua đêm ở đó. Ở đó, vì tiếng ồn của voi, ngựa, xe, binh lính, và tiếng trống, trống trận, tù và, và chũm chọe, tiếng dế kêu sẽ biến mất. Liệu có đúng khi nói rằng bây giờ tiếng dế kêu sẽ không bao giờ được nghe thấy trong khu rừng này nữa không?"

“Thưa Tôn giả, không đúng. Vì rất có thể vị vua hoặc đại thần của họ sẽ rời khỏi khu rừng đó để tiếng dế kêu lại được nghe thấy ở đó.”

“Cũng vậy, hãy xem một người, không chú tâm vào bất kỳ tướng nào, nhập và an trú vào vô tướng tâm định… Họ từ bỏ việc tu tập và trở về đời sống thấp hơn.”

Sau một thời gian, Tôn giả Citta Hatthisāriputta từ bỏ việc tu tập và trở về đời sống thấp hơn. Bấy giờ, các Tỳ kheo là bạn đồng tu của Tôn giả đến gặp Tôn giả Mahākoṭṭhita và nói: “Có phải Tôn giả Mahākoṭṭhita đã thấu hiểu tâm của Citta Hatthisāriputta và biết rằng thầy ấy đã đạt được những chứng đắc thiền định (meditative attainments / thành tựu trong thiền) như vậy, nhưng vẫn sẽ từ bỏ việc tu tập và trở về đời sống thấp hơn không? Hay là chư thiên đã nói cho Tôn giả biết về điều đó?”

“Thưa các Tôn giả, tôi đã thấu hiểu tâm của thầy ấy và biết điều này. Và chư thiên cũng đã nói cho tôi biết.”

Bấy giờ, các Tỳ kheo là bạn đồng tu của Citta Hatthisāriputta đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và thưa: “Bạch Thế Tôn, Citta Hatthisāriputta, người đã đạt được những chứng đắc thiền định như vậy, vẫn đã từ bỏ việc tu tập và trở về đời sống thấp hơn.”

“Này các Tỳ kheo, chẳng bao lâu nữa Citta sẽ nhớ đến sự ly dục (renunciation / sự từ bỏ).”

Và không lâu sau, Citta Hatthisāriputta cạo bỏ râu tóc, đắp y vàng, từ bỏ đời sống thế tục, xuất gia sống không nhà cửa. Rồi Citta Hatthisāriputta, sống một mình, ẩn dật, chuyên cần (diligent / siêng năng), nhiệt tâm (keen / hăng hái), và quyết chí (resolute / kiên định), không bao lâu đã chứng ngộ được mục đích tối thượng của đời sống phạm hạnh (supreme culmination of the spiritual path / đỉnh cao của con đường tu tập) ngay trong đời này. Tôn giả sống, đã thành tựu bằng trí tuệ (insight / tuệ giác) của chính mình mục tiêu mà vì đó các thiện nam tử chân chính từ bỏ đời sống thế tục, xuất gia sống không nhà cửa.

Tôn giả hiểu rõ: “Sanh (Rebirth / tái sinh) đã tận; đời sống phạm hạnh (spiritual journey / con đường tu tập) đã hoàn thành; những gì cần làm đã làm; không còn trở lui trạng thái này nữa.” Và Tôn giả Citta Hatthisāriputta trở thành một trong những bậc A-la-hán (perfected / người đã hoàn thiện).

(VI) (60) Hatthisàriputta

1. Như vầy tôi nghe:

Một thời, Thế Tôn trú ở Bàrànasi tại Isipatana, vườn Lộc Uyển. Lúc bấy giờ, nhiều vị Tỷ-kheo trưởng lão, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về, ngồi tụ họp tại ngôi nhà hình tròn và thuyết về Thắng pháp luận. Tại đấy, Tôn giả Hatthisàriputta, trong khi các tỷ-kheo trưởng lão đang thuyết về Thắng pháp luận, lại nói xen vào chặng giữa. Rồi Tôn giả Mahàkotthita nói với Tôn giả Hatthisàriputta:

− Tôn giả Citta Hatthisàriputta, trong khi các tỷ-kheo trưởng lão đang thuyết về Thắng pháp luận, chớ có nói xen vào chặng giữa! Tôn giả Citta hãy chờ cho đến cuối câu chuyện.

Ðược nghe nói vậy, các Tỷ-kheo bạn bè của Tôn giả Citta Hatthisàriputta nói với Tôn giả Mahàkotthita:

− Tôn giả Kotthita chớ có bất mãn Tôn giả Citta Hatthisàriputta! Tôn giả Citta Hatthisàriputta là bậc Hiền trí. Tôn giả Citta Hatthisàriputta có thể nói chuyện về Thắng pháp luận với các Tỷ-kheo trưởng lão và thật rất khó lòng cho các Hiền giả để biết được tâm tư của người khác.

2. Ở đây, thưa các Hiền giả, có hạng người, khi còn sống gần vị Bổn sư hay sống gần một vị đồng Phạm hạnh đóng vai trò y chỉ sư, trong khi ấy, là người nhu hòa nhất trong những người nhu hòa, là người khiêm tốn nhất trong những người khiêm tốn, là người an tịnh nhất trong những người an tịnh. Khi người ấy rời khỏi bậc Ðạo Sư, rời khỏi các vị đồng Phạm hạnh đóng vai trò y chỉ sư, vị ấy sống giao thiệp với các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo-ni, với các nam cư sĩ, nữ cư sĩ, với các vua chúa, các đại thần của vua, với các ngoại đạo, các đệ tử ngoại đạo. Do vị ấy sống giao thiệp, phóng túng, thô lỗ, đam mê nói chuyện, tham ái tấn công tâm vị ấy. Vị ấy, với tâm bị tham ái tấn công, liền từ bỏ học pháp và hoàn tục. Ví như, này các Hiền giả, một con bò ăn lúa, bị dây cột lại, hay bị nhốt trong chuồng. Này Hiền giả, nếu có ai nói như sau: “Con bò ăn lúa này sẽ không bao giờ đi xuống ruộng lúa nữa”, nói như vậy, thưa các Hiền Giả, là nói một cách chơn chánh không?

− Thưa không, thưa Hiền giả, sự kiện này, thưa Hiền giả, có xảy ra: Con bò ăn lúa ấy, sau khi bứt dây, hay phá sập chuồng, có thể xuống ruộng lúa nữa.

Cũng vậy, này các Hiền giả, ở đây, một số người khi còn sống gần vị Bổn Sư, hay sống gần một vị đồng Phạm hạnh đóng vai trò y chỉ sư, trong khi ấy, là người nhu hòa nhất trong những người nhu hòa, là người khiêm tốn nhất trong những người khiêm tốn, là người an tịnh nhất trong những người an tịnh. Khi người ấy rời khỏi bậc Ðạo Sư, rời khỏi vị đồng Phạm hạnh đóng vai trò y chỉ sư, vị ấy sống giao thiệp với các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo-ni, với các nam cư sĩ, nữ cư sĩ, với các vua chúa, các đại thần của vua, với các ngoại đạo, các đệ tử ngoại đạo. Do vị ấy sống giao thiệp, phóng túng, thô lỗ, đam mê nói chuyện, tham ái tấn công tâm vị ấy. Vị ấy, với tâm bị tham ái tấn công, liền từ bỏ học pháp và hoàn tục.

3. Ví như có hạng người ly dục…, chứng và trú sơ Thiền. Với tư tưởng: “Ta đã được sơ Thiền”, vị ấy sống giao thiệp với các Tỷ-kheo… từ bỏ học pháp và hoàn tục. Ví như, này các Hiền giả, một cơn mưa to lớn xảy ra tại ngã tư đường, khiến cho bụi bặm biến mất và bùn hiện ra. Này các Hiền giả, nếu có ai nói như sau: “Nay tại ngã tư đường này, bụi sẽ không hiện ra nữa”. Người ấy nói như vậy có nói một cách chơn chánh không?

− Thưa không, thưa Hiền giả. Sự kiện này có xảy ra, thưa Hiền giả: “Tại ngã tư đường này, có người đi qua, hay có trâu bò đi qua, hay gió và nóng có thể làm cho khô khí ẩm ướt và bụi sẽ hiện ra trở lại.

− Cũng như vậy, thưa các Hiền giả, ở đây có hạng người ly dục… chứng và trú Thiền thứ nhất. Vị ấy, với ý nghĩa: “Ta đã chứng sơ thiền”, sống giao thiệp với các Tỷ-kheo… từ bỏ học pháp và hoàn tục.

4. Ở đây, này các Hiền giả, có hạng người làm cho tịnh chỉ tầm và tứ… chứng và trú Thiền thứ hai. Vị ấy, với ý nghĩa: “Ta đã chứng được Thiền thứ hai”, giao thiệp với các Tỷ-kheo… từ bỏ học pháp và hoàn tục. Ví như, thưa các Hiền giả, một hồ nước lớn gần một làng hay thị trấn. Tại đấy, một cơn mưa to xảy đến, khiến cho các loài sò ốc, các đá sỏi biến mất.

Thưa các Hiền giả, nếu có ai nói như sau: “Nay tại hồ nước này, các loại sò ốc, các đá sỏi sẽ không xuất hiện ra nữa”. Người ấy nói như vậy có nói một cách chơn chánh không?

− Thưa không, thưa Hiền giả. Sự kiện này có xảy ra, thưa Hiền giả: Tại hồ nước này, loài Người có thể uống, hay loài trâu bò có thể uống, hay gió và sức nóng có thể làm cho khô khí ẩm ướt, và các loài sò ốc, các đá sỏi có thể xuất hiện ra lại.

− Cũng vậy, thưa các Hiền giả, ở đây có hạng người làm cho tịnh chỉ tầm và tứ… chứng và trú Thiền thứ hai. Vị ấy với ý nghĩ: “Ta đã chứng được Thiền thứ hai”, giao thiệp với các Tỷ-kheo… từ bỏ học pháp và hoàn tục.

5. Ở đây, thưa các Hiền giả, có hạng người từ bỏ hỷ… chứng và trú Thiền thứ ba. Vị ấy với ý nghĩ: “Ta đã chứng được Thiền thứ ba”, giao thiệp với các Tỷ-kheo… từ bỏ học pháp và hoàn tục. Ví như, thưa các Hiền giả, có người đã ăn đồ ăn thượng vị, không ưa thích các đồ ăn hôm qua để lại. Thưa các Hiền giả, nếu ai nói như sau: “Nay người này không còn ưa thích đồ ăn nữa”, thưa các Hiền giả, người ấy nói như vậy có nói một cách chơn chánh không?

− Thưa không, thưa Hiền giả. Sự kiện có xảy ra: Người này, thưa Hiền giả, khi ăn đồ ăn thượng vị, cho đến khi nào chất dinh dưỡng còn tồn tại trong thân, cho đến khi ấy, không có một món ăn nào khác sẽ làm vị ấy ưa thích. Cho đến khi chất dinh dưỡng tiêu mất, khi ấy món ăn có thể làm cho vị ấy ưa thích. − Cũng vậy, này các Hiền giả, ở đây có hạng người từ bỏ hỷ… chứng và trú Thiền thứ ba, vị ấy với ý nghĩ: “Ta đã chứng được Thiền thứ ba”, giao thiệp với các Tỷ-kheo… từ bỏ học pháp và hoàn tục.

6. Ví như, này các Hiền giả, có hạng người từ bỏ lạc, từ bỏ khổ… chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Vị ấy với ý nghĩ: “Ta đã chứng được Thiền thứ tư”, giao thiệp với các Tỷ-kheo… từ bỏ học pháp và hoàn tục. Ví như, này các Hiền giả, một hồ nước trong khe núi, không có gió, không có sóng. Rồi thưa các Hiền giả, nếu có ai nói như sau: “Nay trong hồ nước này sẽ không hiện ra sóng nữa”, người ấy, thưa các Hiền giả, có nói một cách chơn chánh không?

− Thưa không, thưa Hiền giả. Sự kiện này có thể xảy ra: Nếu từ phương Ðông, mưa to gió lớn đến, mưa to gió lớn ấy làm cho hồ nước ấy khởi sóng; nếu từ phương Tây… nếu từ phương Bắc… nếu từ phương Nam, mưa to gió lớn đến, mưa to gió lớn ấy làm cho hồ nước ấy khởi sóng.

− Cũng vậy, này các Hiền giả, ở đây có hạng người từ bỏ lạc, từ bỏ khổ… chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Vị ấy với ý nghĩ: “Ta đã chứng được Thiền thứ tư”, giao thiệp với Tỷ-kheo… từ bỏ học pháp và hoàn tục.

7. Ở đây, này các Hiền giả, có hạng người không tác ý tất cả các tướng, chứng đạt và an trú vô tướng tâm định. Vị ấy, với ý nghĩ: “Ta đã chứng đạt được vô tướng tâm định”, sống giao thiệp với các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo-ni, với các nam cư sĩ, nữ cư sĩ, với các vua chúa, đại thần các vua chúa, với các ngoại đạo, các đệ tử ngoại đạo. Do vị ấy sống giao thiệp, phóng túng, thô lỗ, đam mê nói chuyện, nên tham ái tấn công tâm vị ấy. Vị ấy, với tâm bị tham ái tấn công, liền từ bỏ học pháp và hoàn tục. Ví như, thưa các Hiền giả, một vị vua, hay đại thần của vua, đang đi giữa đường cùng với bốn loại binh chủng, đến trú ở một đêm tại một khóm rừng. Ở đấy, do tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe, tiếng bộ binh, tiếng trống lớn, trống nhỏ, tiếng tù và, nên tiếng của con dế biến mất. Rồi này các Hiền giả, có người nói như sau: “Nay trong khóm rừng này, tiếng kêu của con dế không hiện ra nữa”. Người ấy nói như vậy, thưa các Hiền giả, có nói một cách chơn chánh không?

− Thưa không, thưa Hiền giả. Sự kiện này có xảy ra, thưa Hiền giả: Khi nào vua hay vị đại thần của vua ra đi khỏi khóm rừng này, khi ấy tiếng con dế kêu sẽ hiện hữu.

− Cũng vậy, thưa các Hiền giả, ở đây, có hạng người do không tác ý tất cả các tướng, chứng đạt và an trú vô tướng tâm định. Vị ấy, với ý nghĩ: “Ta đạt được vô tướng tâm định”, sống giao thiệp với các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo-ni, với các nam cư sĩ, nữ cư sĩ, với các vua chúa, các đại thần của vua, với các ngoại đạo, các đệ tử ngoại đạo. Do vị ấy sống giao thiệp, phóng túng, thô lỗ, đam mê nói chuyện, nên tham ái tấn công tâm vị ấy. Vị ấy, với tâm bị tham ái tấn công, liền từ bỏ học pháp và hoàn tục.

8. Rồi Tôn giả Citta Hatthisàriputta sau một thời gian từ bỏ học pháp và hoàn tục. Rồi các Tỷ-kheo, bạn của Tôn giả Citta Hatthisàriputta đi đến Tôn giả Mahàkotthita, sau khi đến nói với Tôn giả Mahàkotthita:

− Có phải Tôn giả Mahàkotthita biết được tâm của Citta Hatthisàriputta với tâm của mình: “Citta Hatthisàriputta đã chứng quả chứng này, quả chứng này, hay là chư Thiên báo cho biết về vấn đề này; tuy vậy, vị ấy sẽ từ bỏ học pháp và hoàn tục”?

− Thưa chư Hiền, tôi biết được tâm của Citta Hatthisàriputta với tâm của tôi, rằng Citta đã chứng được quả chứng này, quả chứng này, và chư Thiên cũng báo cho biết về vấn đề này: “Thưa Tôn giả, Citta Hatthisàriputta đã chứng được quả chứng này, quả chứng này, nhưng vị ấy sẽ từ bỏ học pháp và hoàn tục”. Rồi các bạn bè của Citta Hatthisàriputta đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Citta Hatthisàriputta đã chứng được quả chứng này, quả chứng này, nhưng đã từ bỏ học pháp và hoàn tục.

− Này các Tỷ-kheo, Citta không bao lâu sẽ nghĩ đến xuất ly.

9. Rồi Citta Hatthisàriputta không bao lâu cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Rồi Tôn giả Citta Hatthisàriputta sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu chứng được mục đích mà các thiện nam tử chân chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, hướng đến. Ðó là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, vị ấy ngay trong hiện tại đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết rõ rằng: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

Và Tôn giả Citta Hatthisàriputta trở thành một vị A-la-hán.

AN 6.61 Kinh Ở Giữa (Majjhesutta)

TÔI NGHE NHƯ VẦY. Một thời Đức Phật trú gần thành Varanasi, tại Vườn Nai ở Isipatana.

Lúc bấy giờ, sau bữa ăn, trên đường từ khất thực trở về, một số vị Tỳ kheo trưởng lão ngồi lại với nhau trong đình và cuộc thảo luận này đã nảy sinh giữa họ: "Thưa các Tôn giả, điều này đã được Đức Phật nói trong ‘Con Đường Đến Bờ Kia’ (Pārāyanavagga), trong ‘Những Câu Hỏi của Metteyya’:

‘Người trí tuệ (thoughtful one / bậc có suy xét, có trí tuệ) đã biết cả hai đầu (ends / cực đoan),
Và không bị kẹt ở giữa (middle / trung đạo):
Vị ấy là bậc đại nhân, Ta tuyên bố,
Vị ấy đã thoát khỏi người thợ may (seamstress / chỉ tham ái) ở đây.’

Nhưng một đầu là gì? Đầu thứ hai là gì? Cái giữa là gì? Và ai là người thợ may?" Khi điều này được nói ra, một trong các vị Tỳ kheo nói với các vị Tỳ kheo trưởng lão:

“Thưa các Tôn giả, xúc (Contact / sự tiếp xúc giữa căn, trần, thức) là một đầu. Nguồn gốc của xúc (origin of contact / tập khởi của xúc) là đầu thứ hai. Sự chấm dứt của xúc (cessation of contact / diệt của xúc) là cái giữa. Và tham ái (craving / sự khao khát) là người thợ may, vì tham ái dệt nên sự tái sanh (reborn / sinh lại) của một người trong trạng thái tồn tại (state of existence / cảnh giới) này hay trạng thái tồn tại khác. Đó là cách một vị Tỳ kheo biết trực tiếp (directly knows / thắng tri) những gì cần được biết trực tiếp và hiểu hoàn toàn (completely understands / liễu tri) những gì cần được hiểu hoàn toàn. Biết và hiểu như vậy, vị ấy chấm dứt khổ (suffering / sự đau khổ) ngay trong đời này.”

Khi điều này được nói ra, một trong các vị Tỳ kheo nói với các vị Tỳ kheo trưởng lão:

“Thưa các Tôn giả, quá khứ (past / thời gian đã qua) là một đầu. Tương lai (future / thời gian sắp tới) là đầu thứ hai. Hiện tại (present / thời gian đang diễn ra) là cái giữa. Và tham ái là người thợ may… Đó là cách một vị Tỳ kheo biết trực tiếp… chấm dứt khổ ngay trong đời này.”

Khi điều này được nói ra, một trong các vị Tỳ kheo nói với các vị Tỳ kheo trưởng lão:

“Thưa các Tôn giả, cảm giác an vui (pleasant feeling / lạc thọ) là một đầu. Cảm giác khổ (painful feeling / khổ thọ) là đầu thứ hai. Cảm giác trung tính (neutral feeling / xả thọ, không khổ không lạc) là cái giữa. Và tham ái là người thợ may… Đó là cách một vị Tỳ kheo biết trực tiếp… chấm dứt khổ ngay trong đời này.”

Khi điều này được nói ra, một trong các vị Tỳ kheo nói với các vị Tỳ kheo trưởng lão:

“Thưa các Tôn giả, danh (Name / phần tâm lý: thọ, tưởng, hành, thức) là một đầu. Sắc (Form / phần vật chất: thân thể) là đầu thứ hai. Thức (Consciousness / sự nhận biết) là cái giữa. Và tham ái là người thợ may… Đó là cách một vị Tỳ kheo biết trực tiếp… chấm dứt khổ ngay trong đời này.”

Khi điều này được nói ra, một trong các vị Tỳ kheo nói với các vị Tỳ kheo trưởng lão:

“Thưa các Tôn giả, sáu nội xứ (six interior sense fields / sáu giác quan bên trong: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) là một đầu. Sáu ngoại xứ (six exterior sense fields / sáu đối tượng bên ngoài: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) là đầu thứ hai. Thức là cái giữa. Và tham ái là người thợ may… Đó là cách một vị Tỳ kheo biết trực tiếp… chấm dứt khổ ngay trong đời này.”

Khi điều này được nói ra, một trong các vị Tỳ kheo nói với các vị Tỳ kheo trưởng lão:

“Thưa các Tôn giả, thân kiến (Substantial reality / thực tại có tự ngã, niềm tin vào một cái tôi thường hằng) là một đầu. Nguồn gốc của thân kiến (origin of substantial reality / tập khởi của thân kiến) là đầu thứ hai. Sự chấm dứt của thân kiến (cessation of substantial reality / diệt của thân kiến) là cái giữa. Và tham ái là người thợ may, vì tham ái dệt nên sự tái sanh của một người trong trạng thái tồn tại này hay trạng thái tồn tại khác. Đó là cách một vị Tỳ kheo biết trực tiếp những gì cần được biết trực tiếp và hiểu hoàn toàn những gì cần được hiểu hoàn toàn. Biết và hiểu như vậy, vị ấy chấm dứt khổ ngay trong đời này.”

Khi điều này được nói ra, một trong các vị Tỳ kheo nói với các vị Tỳ kheo trưởng lão:

“Mỗi người chúng ta đã nói lên từ tấm lòng. Nào, thưa các Tôn giả, chúng ta hãy đến gặp Đức Phật và trình bày với Ngài về điều này. Ngài trả lời thế nào, chúng ta sẽ ghi nhớ như vậy.”

“Thưa Tôn giả, vâng ạ,” các vị Tỳ kheo trưởng lão đó đáp. Sau đó, các vị Tỳ kheo trưởng lão đó đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và trình bày với Đức Phật tất cả những gì họ đã thảo luận. Họ hỏi: “Bạch Thế Tôn, ai đã nói đúng?”

"Này các Tỳ kheo, tất cả các thầy đều đã nói đúng theo một cách nào đó. Tuy nhiên, đây là điều Ta muốn nói đến trong ‘Con Đường Đến Bờ Kia’, trong ‘Những Câu Hỏi của Metteyya’ khi Ta nói:

‘Bậc hiền trí đã biết cả hai đầu,
Và không bị kẹt ở giữa.
Vị ấy là bậc đại nhân, Ta tuyên bố,
Vị ấy đã thoát khỏi người thợ may ở đây.’

Hãy lắng nghe và chú tâm kỹ, Ta sẽ nói."

“Bạch Thế Tôn, vâng ạ,” họ đáp. Đức Phật nói điều này:

“Này các Tỳ kheo, xúc là một đầu. Nguồn gốc của xúc là đầu thứ hai. Sự chấm dứt của xúc là cái giữa. Và tham ái là người thợ may, vì tham ái dệt nên sự tái sanh của một người trong trạng thái tồn tại này hay trạng thái tồn tại khác. Đó là cách một vị Tỳ kheo biết trực tiếp những gì cần được biết trực tiếp và hiểu hoàn toàn những gì cần được hiểu hoàn toàn. Biết và hiểu như vậy, vị ấy chấm dứt khổ ngay trong đời này.”

(VII) (61) Con Ðường Ði Ðến Bờ Bên Kia

1. Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Bàrànasi, tại Isipatana, vườn Lộc Uyển. Lúc bấy giờ, nhiều Tỷ-kheo trưởng lão, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, ngồi tụ họp tại ngôi nhà hình tròn, và câu chuyện sau đây được khởi lên:

− Này chư Hiền, Thế Tôn đã nói như sau trong “Con đường đến bờ bên kia” trong câu hỏi của Metteyya:

Ai biết hai cực đoan,
Giữa bậc Trí không nhiễm,
Ta gọi bậc Ðại nhân,
Ðây, vượt người dệt vải.

− Thưa Hiền giả, thế nào là một cực đoan? Thế nào là cực đoan thứ hai? Thế nào là chặng giữa? Thế nào là người dệt vải?

2. Ðược nói vậy, một Tỷ-kheo thưa với các Tỷ-kheo trưởng lão:

− Thưa chư Hiền, xúc là một cực đoan. Xúc tập khởi là cực đoan thứ hai. Xúc diệt là chặng giữa. Ái là người thợ dệt; vì rằng ái dệt, nên khiến cho vị ấy phải sanh ở hữu này. Cho đến như vậy, thưa chư Hiền, Tỷ-kheo thắng tri được điều có thể thắng tri, liễu tri được điều có thể liễu tri. Do thắng tri được điều có thể thắng tri, do liễu tri được điều có thể liễu tri, ngay trong hiện tại, vị ấy có thể chấm dứt khổ đau.

3. Ðược nói vậy, một Tỷ-kheo khác thưa với các Tỷ-kheo trưởng lão:

− Quá khứ, thưa chư Hiền, là một cực đoan. Tương lai là cực đoan thứ hai. Hiện tại là chặng giữa. Ái là người dệt vải. Do ái dệt, nên khiến cho vị ấy phải sanh ở hữu này. Cho đến như vậy, thưa chư Hiền, Tỷ-kheo thắng tri được điều có thể tri… vị ấy có thể chấm dứt khổ đau.

4. Ðược nói vậy, một Tỷ-kheo khác thưa với các Tỷ-kheo trưởng lão: − Lạc, thưa chư Hiền, là một cực đoan. Khổ là cực đoan thứ hai. Không khổ không lạc là chặng giữa. Ái là người dệt vải. Do ái dệt, nên khiến cho vị ấy phải sanh ở hữu này… có thể chấm dứt khổ đau.

5. Ðược nói vậy, một Tỷ-kheo khác thưa với các Tỷ-kheo trưởng lão:

− Danh, thưa chư Hiền, là một cực đoan. Sắc là cực đoan thứ hai. Thức là chặng giữa. Ái là người dệt vải. Do ái dệt… có thể chấm dứt khổ đau.

6. Ðược nói vậy, một Tỷ-kheo khác thưa với các Tỷ-kheo trưởng lão:

− Sáu nội xứ, thưa chư Hiền, là một cực đoan. Sáu ngoại xứ là cực đoan thứ hai. Thức là chặng giữa. Ái là người dệt vải. Do ái dệt… có thể chấm dứt khổ đau.

7. Ðược nói vậy, một Tỷ-kheo khác thưa với các Tỷ-kheo trưởng lão:

− Thân, thưa chư Hiền, là một cực đoan. Thân tập khởi là cực đoan thứ hai. Thân kiến diệt là chặng giữa. Ái là người dệt vải. Do ái dệt… có thể chấm dứt khổ đau.

8. Ðược nói vậy, một Tỷ-kheo khác thưa với các Tỷ-kheo trưởng lão:

− Thưa chư Hiền, tất cả chúng tôi đã trả lời tùy theo sự hiểu biết của chúng tôi. Thưa chư Hiền, chúng ta sẽ đi đến Thế Tôn, sau khi đến, chúng ta sẽ hỏi Thế Tôn về ý nghĩa này. Thế Tôn trả lời cho chúng ta như thế nào, chúng ta sẽ thọ trì như vậy.

− Thưa vâng, thưa Hiền giả.

Các Tỷ-kheo trưởng lão vâng đáp Tỷ-kheo ấy. Rồi các trưởng lão đi đến Thế Tôn, sau khi đi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ -kheo trưởng lão thuật lại với Thế Tôn tất cả câu chuyện đã xảy ra và thưa:

− Bạch Thế Tôn, ai là người đã khéo nói?

− Tất cả các Thầy, này các Tỷ-kheo, đều khéo nói theo phương pháp của mình. Nhưng, đây là vấn đề Ta nói về con đường đi đến bờ bên kia trong các câu hỏi của Metteyya.

Ai biết hai cực đoan,
Giữa bậc Trí không nhiễm,
Ta gọi bậc Ðại nhân,
Ðây, vượt người dệt vải.

Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói:

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các vị Tỷ-kheo trưởng lão vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

− Xúc, này các Tỷ-kheo, là cực đoan. Xúc tập khởi là cực đoan thứ hai. Xúc diệt là chặng giữa. Ái là người dệt vải; vì rằng ái dệt nên khiến cho vị ấy phải sanh ở hữu này. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thắng tri được điều có thể thắng tri, liễu tri được điều có thể liễu tri. Do thắng tri được điều có thể thắng tri, liễu tri được điều có thể liễu tri, ngay trong hiện tại, vị ấy có thể chấm dứt khổ đau.

AN 6.62 Tri Kiến về Căn của Chúng Sanh (Purisindriyañāṇasutta)

TÔI NGHE NHƯ VẦY. Một thời Đức Phật đang du hành trong xứ Kosala cùng với một Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng Tỳ kheo) đông đảo, khi Ngài đến một thị trấn của người Kosala tên là Daṇḍakappaka. Đức Phật rời khỏi con đường và ngồi dưới gốc cây trên chỗ đã soạn sẵn. Các Tỳ kheo vào Daṇḍakappaka để tìm nhà khách (guest house / nơi ở tạm cho khách).

Bấy giờ, Tôn giả Ānanda cùng với một số Tỳ kheo đến sông Aciravatī để tắm. Sau khi tắm xong và lên bờ, Tôn giả đứng trong một chiếc y để lau khô người.

Khi ấy, một vị Tỳ kheo nào đó đến gặp Tôn giả Ānanda và nói: “Thưa Tôn giả Ānanda, khi Đức Phật tuyên bố rằng Devadatta sẽ đi đến cõi khổ (place of loss / nơi đoạ lạc), đến địa ngục (hell / cõi thấp nhất), ở đó trong một kiếp (eon / thời gian rất dài), không thể cứu vãn (irredeemable / không thể thay đổi được), Ngài đã làm vậy sau khi suy xét toàn tâm toàn ý (wholeheartedly deliberating / cân nhắc kỹ lưỡng), hay đó chỉ là một cách nói?”

“Thầy nói đúng, thưa Tôn giả, đó là cách Đức Phật đã tuyên bố.”

Sau đó, Tôn giả Ānanda đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và kể lại những gì đã xảy ra.

"Này Ānanda, vị Tỳ kheo đó hẳn là người mới tu, mới xuất gia, hoặc là một vị Tỳ kheo trưởng lão ngu si, bất tài. Làm sao mà thầy ấy có thể coi một điều Ta đã tuyên bố dứt khoát (categorically / rõ ràng, không nghi ngờ) là mơ hồ (ambiguous / không rõ ràng) được? Ta không thấy một người nào khác mà Ta đã suy xét toàn tâm toàn ý trước khi đưa ra tuyên bố như Ta đã làm trong trường hợp của Devadatta.

Chừng nào Ta còn thấy dù chỉ một phần nhỏ như đầu sợi tóc thiện lành (goodness / điều tốt) ở Devadatta, Ta đã không tuyên bố rằng ông ta sẽ đi đến cõi khổ, đến địa ngục, ở đó trong một kiếp, không thể cứu vãn. Nhưng khi Ta thấy rằng không còn dù chỉ một phần nhỏ như đầu sợi tóc thiện lành nào ở Devadatta, Ta đã tuyên bố rằng ông ta sẽ đi đến cõi khổ, đến địa ngục, ở đó trong một kiếp, không thể cứu vãn.

Giả sử có một hố phân sâu hơn chiều cao của một người đàn ông, đầy phân đến tận miệng, và có người bị chìm ngập đầu trong đó. Rồi có một người đến muốn giúp cứu họ, muốn kéo họ ra khỏi hố phân đó. Nhưng đi vòng quanh hố phân, người đó không thể thấy dù chỉ một phần nhỏ như đầu sợi tóc nào của người kia mà không bị dính phân.

Cũng vậy, khi Ta thấy rằng không còn dù chỉ một phần nhỏ như đầu sợi tóc thiện lành nào ở Devadatta, Ta đã tuyên bố rằng ông ta sẽ đi đến cõi khổ, đến địa ngục, ở đó trong một kiếp, không thể cứu vãn. Nếu tất cả các thầy lắng nghe, này Ānanda, Ta sẽ phân tích các tri kiến của Đấng Như Lai về căn (faculties / năng lực tâm linh) của chúng sanh."

“Bạch Thế Tôn, bây giờ là lúc thích hợp! Bạch Đấng Thiện Thệ, bây giờ là lúc thích hợp! Xin Đức Phật hãy phân tích các căn của chúng sanh. Các Tỳ kheo sẽ lắng nghe và ghi nhớ.”

“Vậy thì, này Ānanda, hãy lắng nghe và chú tâm kỹ, Ta sẽ nói.”

“Bạch Thế Tôn, vâng ạ,” Ānanda đáp. Đức Phật nói điều này:

“Này Ānanda, khi Ta thấu hiểu tâm (comprehending their mind / biết rõ tâm) của một người, Ta hiểu rằng: ‘Cả phẩm chất thiện (skillful qualities / những tính chất tốt đẹp, khéo léo) và bất thiện (unskillful qualities / những tính chất xấu xa, vụng về) đều có ở người này.’ Sau một thời gian, Ta thấu hiểu tâm họ và hiểu rằng: ‘Các phẩm chất thiện của người này đã biến mất, nhưng các phẩm chất bất thiện vẫn còn đó. Tuy nhiên, căn lành (skillful root / gốc rễ của điều thiện) của họ chưa bị đứt đoạn, và từ đó điều thiện sẽ xuất hiện. Vì vậy, người này không có khả năng suy thoái (liable to decline / có thể đi xuống) trong tương lai.’ Giả sử có một số hạt giống (seeds / mầm mống) còn nguyên vẹn, không hư hỏng, không bị ảnh hưởng bởi thời tiết, màu mỡ, và được bảo quản tốt. Chúng được gieo trên một cánh đồng màu mỡ, được chuẩn bị tốt. Chẳng phải con sẽ biết rằng những hạt giống đó sẽ nảy mầm, tăng trưởng và chín muồi sao?”

“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”

"Cũng vậy, khi Ta thấu hiểu tâm của một người, Ta hiểu… Người này không có khả năng suy thoái trong tương lai… Đây là cách Đấng Như Lai biết một cá nhân khác bằng cách thấu hiểu tâm của họ. Và đây là cách Đấng Như Lai biết các căn của một người bằng cách thấu hiểu tâm của họ. Và đây là cách Đấng Như Lai biết sự phát sinh trong tương lai (future origination / sự khởi lên sau này) của các phẩm chất của một người bằng cách thấu hiểu tâm của họ.

Khi Ta thấu hiểu tâm của một người, Ta hiểu rằng: ‘Cả phẩm chất thiện và bất thiện đều có ở người này.’ Sau một thời gian, Ta thấu hiểu tâm họ và hiểu rằng: ‘Các phẩm chất bất thiện của người này đã biến mất, nhưng các phẩm chất thiện vẫn còn đó. Tuy nhiên, căn bất thiện (unskillful root / gốc rễ của điều ác) của họ chưa bị đứt đoạn, và từ đó điều bất thiện sẽ xuất hiện. Vì vậy, người này vẫn có khả năng suy thoái trong tương lai.’ Giả sử có một số hạt giống còn nguyên vẹn, không hư hỏng, không bị ảnh hưởng bởi thời tiết, màu mỡ, và được bảo quản tốt. Và chúng được gieo trên một tảng đá rộng. Chẳng phải con sẽ biết rằng những hạt giống đó sẽ không nảy mầm, tăng trưởng và chín muồi sao?"

“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”

"Cũng vậy, khi Ta thấu hiểu tâm của một người, Ta hiểu… Người này vẫn có khả năng suy thoái trong tương lai… Đây là cách Đấng Như Lai biết một cá nhân khác…

Khi Ta thấu hiểu tâm của một người, Ta hiểu rằng: ‘Cả phẩm chất thiện và bất thiện đều có ở người này.’ Sau một thời gian, Ta thấu hiểu tâm họ và hiểu rằng: ‘Người này không có dù chỉ một phần nhỏ như đầu sợi tóc thiện lành. Họ chỉ có những phẩm chất đen tối, bất thiện (exclusively dark, unskillful qualities / hoàn toàn xấu xa, vụng về). Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ sẽ được tái sanh vào cõi khổ, ác xứ, địa ngục.’ Giả sử có một số hạt giống bị vỡ, hư hỏng, bị ảnh hưởng bởi thời tiết. Chúng được gieo trên một cánh đồng màu mỡ, được chuẩn bị tốt. Chẳng phải con sẽ biết rằng những hạt giống đó sẽ không nảy mầm, tăng trưởng và chín muồi sao?"

“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”

“Cũng vậy, khi Ta thấu hiểu tâm của một người, Ta hiểu… ‘Người này không có dù chỉ một phần nhỏ như đầu sợi tóc thiện lành. Họ chỉ có những phẩm chất đen tối, bất thiện. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ sẽ được tái sanh vào cõi khổ, ác xứ, địa ngục.’ …”

Khi Ngài nói điều này, Tôn giả Ānanda thưa với Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, Ngài có thể mô tả ba người khác tương ứng với ba người này không?”

“Ta có thể, này Ānanda,” Đức Phật nói. “Này Ānanda, khi Ta thấu hiểu tâm của một người, Ta hiểu rằng: ‘Cả phẩm chất thiện và bất thiện đều có ở người này.’ Sau một thời gian, Ta thấu hiểu tâm họ và hiểu rằng: ‘Các phẩm chất thiện của người này đã biến mất, nhưng các phẩm chất bất thiện vẫn còn đó. Tuy nhiên, căn lành của họ chưa bị đứt đoạn, nhưng sắp bị hủy diệt hoàn toàn. Vì vậy, người này vẫn có khả năng suy thoái trong tương lai.’ Giả sử có một ít than hồng đang cháy, rực lửa và sáng rực. Và chúng được đặt trên một tảng đá rộng. Chẳng phải con sẽ biết rằng những cục than đó sẽ không lớn lên, tăng trưởng và lan rộng sao?”

“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”

“Hoặc giả sử trời đã về chiều và mặt trời đang lặn. Chẳng phải con sẽ biết rằng ánh sáng sắp biến mất và bóng tối xuất hiện sao?”

“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”

“Hoặc giả sử sắp đến giờ ăn nửa đêm. Chẳng phải con sẽ biết rằng ánh sáng đã biến mất và bóng tối đã xuất hiện sao?”

“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”

"Cũng vậy, khi Ta thấu hiểu tâm của một người, Ta hiểu… Người này vẫn có khả năng suy thoái trong tương lai…

Khi Ta thấu hiểu tâm của một người, Ta hiểu rằng: ‘Cả phẩm chất thiện và bất thiện đều có ở người này.’ Sau một thời gian, Ta thấu hiểu tâm họ và hiểu rằng: ‘Các phẩm chất bất thiện của người này đã biến mất, nhưng các phẩm chất thiện vẫn còn đó. Tuy nhiên, căn bất thiện của họ chưa bị đứt đoạn, nhưng sắp bị hủy diệt hoàn toàn. Vì vậy, người này không có khả năng suy thoái trong tương lai.’ Giả sử có một ít than hồng đang cháy, rực lửa và sáng rực. Chúng được đặt trên một đống cỏ hoặc gỗ. Chẳng phải con sẽ biết rằng những cục than đó sẽ lớn lên, tăng trưởng và lan rộng sao?"

“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”

“Giả sử trời vừa rạng đông và mặt trời đang mọc. Chẳng phải con sẽ biết rằng bóng tối sẽ biến mất và ánh sáng xuất hiện sao?”

“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”

“Hoặc giả sử sắp đến giờ ăn trưa. Chẳng phải con sẽ biết rằng bóng tối đã biến mất và ánh sáng đã xuất hiện sao?”

“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”

"Cũng vậy, khi Ta thấu hiểu tâm của một người, Ta hiểu… Người này không có khả năng suy thoái trong tương lai…

Khi Ta thấu hiểu tâm của một người, Ta hiểu rằng: ‘Cả phẩm chất thiện và bất thiện đều có ở người này.’ Sau một thời gian, Ta thấu hiểu tâm họ và hiểu rằng: ‘Người này không có dù chỉ một phần nhỏ như đầu sợi tóc bất thiện. Họ chỉ có những phẩm chất sáng sủa, không tỳ vết (exclusively bright, blameless qualities / hoàn toàn tốt đẹp, không có lỗi lầm). Họ sẽ nhập diệt (become extinguished / đạt Niết-bàn) ngay trong đời này.’ Giả sử có một ít than nguội, đã tắt. Chúng được đặt trên một đống cỏ hoặc gỗ. Chẳng phải con sẽ biết rằng những cục than đó sẽ không lớn lên, tăng trưởng và lan rộng sao?"

“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”

"Cũng vậy, khi Ta thấu hiểu tâm của một người, Ta hiểu… ‘Người này không có dù chỉ một phần nhỏ như đầu sợi tóc bất thiện. Họ chỉ có những phẩm chất sáng sủa, không tỳ vết. Họ sẽ nhập diệt ngay trong đời này.’ Đây là cách Đấng Như Lai biết một cá nhân khác bằng cách thấu hiểu tâm của họ. Và đây là cách Đấng Như Lai biết các căn của một người bằng cách thấu hiểu tâm của họ. Và đây là cách Đấng Như Lai biết sự phát sinh trong tương lai của các phẩm chất của một người bằng cách thấu hiểu tâm của họ.

Và như vậy, này Ānanda, trong ba người đầu tiên, một người không có khả năng suy thoái, một người có khả năng suy thoái, và một người chắc chắn sẽ đến cõi khổ, địa ngục. Và trong ba người thứ hai, một người có khả năng suy thoái, một người không có khả năng suy thoái, và một người chắc chắn sẽ nhập diệt."

(VIII) (62) Lời Cảm Hứng

1. Như vầy tôi nghe:

Một thời, Thế Tôn đang du hành giữa dân chúng Kosala với đại chúng Tỷ-kheo, đi đến một thị trấn của dân chúng Kosala tên là Dandakappaka. Rồi Thế Tôn từ trên đường bước xuống, ngồi xuống trên chỗ đã được sửa soạn dưới một gốc cây; còn các Tỷ-kheo ấy đi vào Dandakappaka để tìm chỗ ở. Bấy giờ Tôn giả Aụnanda cùng với một số đông Tỷ-kheo, đi đến sông Aciravatì để rửa tay chân, sau khi rửa tay chân ở sông Aciravatì xong, ra khỏi sông, đứng trên bờ đắp một y để phơi tay chân cho khô.

2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Tôn giả Ananda, sau khi đến, thưa với Tôn giả Ananda:

− Có phải Thế Tôn tập trung tất cả tâm, thưa Tôn giả Ananda, để tuyên bố về Devadatta như sau: “Devadatta phải sanh vào đọa xứ, phải sanh vào địa ngục cho đến một kiếp, không thể cứu hộ được” hay có phải nhờ một Thiên nhân?

− Thật đúng như Thế Tôn đã tuyên bố.

Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Ở đây, bạch Thế Tôn, với một số đông Tỷ-kheo, con đi đến sông Aciravatì để rửa tay chân, sau khi rửa tay chân ở sông Aciravatì xong, ra khỏi sông, đứng trên bờ đắp một tấm y để phơi tay chân cho khô. Rồi bạch Thế Tôn, một Tỷ-kheo đi đến con, sau khi đến thưa với con: “Có phải Thế Tôn tập trung tất cả tâm, thưa Tôn giả Ananda, để tuyên bố về Devadatta như sau: ‘Devadatta phải sanh vào đọa xứ, phải sanh vào địa ngục cho đến một kiếp, không thể cứu độ được’ hay có phải nhờ một Thiên nhân? “

Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời Tỷ-kheo ấy: “Thưa Hiền giả, thật đúng như Thế Tôn đã tuyên bố”.

− Này Ananda, hoặc Tỷ-kheo ấy là vị tân nhập, xuất gia chưa được bao lâu, hay vị ấy là Tỷ-kheo trưởng lão ngu si, không thông minh. Làm sao khi ta đã tuyên bố một chiều, ở đây lại có thể có trường hợp thứ hai được? Ta không thể thấy về một người nào khác, này Aụnanda, sau khi tập trung tất cả tâm, Ta đã tuyên bố như vậy, trừ với Devadatta! Cho đến khi nào, này Ananda, Ta thấy một pháp trắng nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa ở Devadatta, thời Ta đã không tuyên bố về Devadatta như sau: “Devadatta phải sanh vào đọa xứ, phải sanh vào địa ngục cho đến một kiếp, không thể cứu độ được”. Cho đến khi nào, này Ananda, Ta không thấy một pháp trắng nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa ở Davadatta, cho nên Ta đã tuyên bố về Devadatta như sau: “Devadatta phải sanh vào đọa xứ, phải sanh vào địa ngục cho đến một kiếp, không thể cứu hộ được”. Ví như, này Ananda, một hố phân cao hơn đầu người, đầy cả phân, và một người rơi vào hố phân cho đến cả đầu. Rồi một người khác đi đến, muốn lợi ích, muốn hạnh phúc, muốn người ấy an ổn khỏi các khổ ách, muốn kéo người ấy ra khỏi hố phân ấy. Người này đi vòng quanh hố phân và không thấy cho đến một điểm nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa ở người ấy mà không bị dính phân, để có thể nắm lấy chỗ ấy và kéo lên. Cũng vậy, này Ananda, cho đến khi nào, Ta thấy một pháp trắng nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa ở Devadatta, thời Ta đã không tuyên bố về Devadatta như sau: “Devadatta phải sanh vào đọa xứ, phải sanh vào địa ngục cho đến một kiếp, không thể cứu hộ được”. Nếu thầy muốn nghe, này Ananda, Như Lai sẽ phân tích về căn trí của con người.

− Nay đã đến thời, bạch Thế Tôn! Nay đã đến thời, bạch Thiên Thệ, để Thế Tôn phân tích các căn trí của con người, sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì. − Vậy này Ananda, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói:

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

3. - Ở đây, này Ananda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của một người khác: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian khác, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này, các pháp thiện đã biến mất, các pháp bất thiện đang hiện hữu, nhưng còn có cội gốc thiện chưa bị cắt đứt. Và pháp thiện sẽ khởi lên từ cội gốc thiện ấy”. Như vậy người này sẽ không bị thối đọa trong tương lai. Ví như, này Ananda, các hột giống chưa bị bể vụn, chưa bị hư thối, chưa bị gió và sức nóng phá hoại, còn giữ được sức sống bám sâu trong cánh đồng, được gieo trên mảnh đất khéo sửa soạn. Này Ananda, Thầy có thể biết những hột giống này sẽ được lớn lên, được tăng trưởng, được lớn mạnh không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Cũng vậy, này Ananda, ở đây, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của một người khác: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian khác, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này, các pháp thiện đã biến mất, các pháp bất thiện đang hiện hữu. Nhưng còn có cội gốc thiện chưa bị cắt đứt. Và thiện pháp sẽ khởi lên từ cội gốc thiện ấy”. Như vậy người này sẽ không bị thối đọa trong tương lai. Như vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình biết được tâm của loài Người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình đã biết được các căn trí của người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình biết được pháp sanh khởi trong tương lai.

4. Ở đây, này Ananda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của một người khác: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian khác, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này, các pháp bất thiện đã biến mất, các pháp thiện đang hiện hữu, nhưng còn có cội gốc bất thiện chưa bị cắt đứt và các pháp bất thiện sẽ khởi lên từ cội gốc bất thiện ấy”. Như vậy người này sẽ bị thối đọa trong tương lai. Ví như, này Ananda, các hột giống chưa bị bể vụn, chưa bị hư thối, chưa bị gió và sức nóng phá hoại, còn giữ được sức sống, được bám sâu trong cánh đồng, được gieo trên mảnh đất đầy sỏi đá. Này Ananda, Thầy có thể rõ biết những hột giống này sẽ không có thể được lớn lên, được tăng trưởng, được lớn mạnh không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Cũng vậy, này Ananda, ở đây, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian khác, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này, các pháp bất thiện đã biến mất, các pháp thiện đang hiện hữu, nhưng cội gốc của pháp bất thiện chưa được cắt đứt và các pháp bất thiện sẽ khởi lên từ cội gốc bất thiện ấy. Như vậy người này sẽ bị thối đọa trong tương lai”. Như vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình, đã biết được tâm của loài Người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình đã biết được các căn trí của người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình biết được pháp sanh khởi trong tương lai.

5. Ở đây, này Ananda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Người này không có pháp trắng cho đến nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa. Người này thành tựu với những pháp bất thiện, chỉ một mặt màu đen, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục”. Ví như, này Ananda, các hột giống bị bể vụn, bị hư thối, bị gió và sức nóng phá hoại, được bám sâu trong cánh đồng, được gieo trên mảnh đất khéo sửa soạn. Này Aụnanda, Thầy có thể rõ biết những hột giống này không thể được lớn lên, được tăng trưởng, được lớn mạnh không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Cũng vậy, này Ananda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác: “Trong người này, có những pháp thiện, và những pháp bất thiện”. Sau một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Người này không có pháp trắng cho đến nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa. Người này thành tựu với những pháp bất thiện, chỉ một mặt màu đen, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục”. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình biết được tâm của loài Người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình đã biết được các căn trí của người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình, biết được pháp sanh khởi trong tương lai.

Khi được nói vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, có thể tuyên bố ba hạng người khác đồng loại với ba người này hay không?

− Có thể được, này Ananda.

Thế Tôn nói như sau:

6. - Ở đây, này Ananda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác như sau: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này, các pháp thiện đã biến mất, các pháp bất thiện đang hiện khởi; và cội gốc thiện chưa bị cắt đứt và nhưng đi đến hoàn toàn bị nhổ lên bởi người ấy. Như vậy, người này sẽ đi đến thối đọa trong tương lai”. Ví như, này Ananda, các cục than cháy đỏ, rực cháy, cháy lửa ngọn, được quăng trên đất sỏi. Này Ananda, Thầy có biết không, đống than này không có thể lớn lên, tăng trưởng, lớn mạnh?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

Ví như, này Ananda, vào buổi chiều, mặt trời đang lặn, Thầy có thể biết được chăng, này Ananda, biết rằng: “Ánh sáng đã biến mất, bóng tối đã xuất hiện”?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

Ví như, này Ananda, khi đêm đã qua một phần, trong thời gian ăn cơm, Thầy có biết chăng, này Ananda, biết rằng: “Ánh sáng đã biến mất, bóng tối đã xuất hiện”?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Cũng vậy, này Ananda, ở đây với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác như sau: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy, biết rằng: “Trong người này, các pháp thiện đã biến mất, các pháp bất thiện đã hiện khởi. Và cội gốc thiện chưa bị cắt đứt, đi đến hoàn toàn bị nhổ lên bởi người ấy. Như vậy, người này sẽ đi đến thối đọa trong tương lai”. Cũng vậy, này Aụnanda, Như Lai biết được tâm của loài Người, với tâm của mình. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình đã biết được các căn trí của người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình, biết được pháp sanh khởi trong tương lai.

7. Ở đây, này Ananda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác như sau: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này, các pháp bất thiện đã biến mất, các pháp thiện hiện khởi; cội gốc bất thiện chưa bị cắt đứt, nhưng đi đến hoàn toàn bị nhổ lên bởi người ấy. Như vậy, người này sẽ không phải bị thối đọa trong tương lai”. Ví như, này Ananda, đống than cháy đỏ, rực cháy, cháy lửa ngọn, quăng trên một đống cỏ khô, hay trên đống củi khô. Này Ananda, Thầy có biết chăng, đống than này sẽ được lớn lên, tăng trưởng, lớn mạnh?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Ví như, này Ananda, đêm đã gần mãn, mặt trời đang mọc; này Ananda, Thầy có biết chăng bóng tối sắp sửa biến mất, ánh sáng sẽ hiện ra”?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Ví như, này Ananda, trong một thời gian sau, vào giữa trưa, vào giờ ăn cơm, Thầy có biết chăng, này Ananda, bóng tối đã biến mất, ánh sáng đã hiện ra”?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Cũng vậy, này Ananda, ở đây, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác như sau: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian khác, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này, pháp bất thiện đã biến mất, các pháp thiện được hiện khởi; cội gốc bất thiện chưa bị cắt đứt, nhưng đi đến hoàn toàn bị nhổ lên bởi người ấy. Như vậy, người này sẽ không phải bị thối đọa trong tương lai”. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai biết được tâm của loài Người với tâm của mình. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình đã biết được các căn trí của người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình, biết được pháp sanh khởi trong tương lai.

8. Ở đây, này Ananda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác như sau: “Trong người này, có những pháp thiện, cũng có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này không có pháp bất thiện cho đến nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa. Người này thành tựu với những pháp thuần túy trắng, những pháp không có lỗi lầm, ngay trong hiện tại, sẽ được nhập Niết-bàn”. Ví như, này Ananda, những cục than nguội lạnh, đã dập tắt, bị quăng trên đống cỏ hay trên đống củi khô. Này Ananda, Thầy có biết chăng, đống than này không thể lớn lên, tăng trưởng, lớn mạnh?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

Cũng vậy, ở đây này Aụnanda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác như sau: “Trong người này, có những pháp thiện, cũng có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này không có pháp bất thiện cho đến nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa. Người này thành tựu với những pháp thuần túy trắng, những pháp không có lỗi lầm, ngay trong hiện tại, sẽ được nhập Niết-bàn”. Như vậy, này Ananda, Như Lai biết được tâm của loài Người với tâm của mình. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình đã biết được căn trí của mình, biết được pháp sanh khởi trong tương lai.

Ở đây, này Ananda, ba hạng người trước, một trong ba người ấy không phải bị thối đọa, một phải bị thối đọa, một bị rơi vào đọa xứ, địa ngục. Ở đây, này Ananda, trong ba hạng người sau, một trong ba hạng người này không phải bị thối đọa, một phải bị thối đọa, một được nhập Niết-bàn.

AN 6.63 Kinh Thâm Nhập (Nibbedhikasutta)

“Này các Tỳ kheo, Ta sẽ giảng cho các thầy một bài pháp thâm nhập (penetrative exposition / bài giảng đi sâu vào bản chất). Hãy lắng nghe và chú tâm kỹ, Ta sẽ nói.”

“Bạch Thế Tôn, vâng ạ,” họ đáp. Đức Phật nói điều này:

"Này các Tỳ kheo, bài pháp thâm nhập là gì? Dục lạc (Sensual pleasures / thú vui giác quan) cần được biết rõ. Và nguồn gốc (source / tập khởi), tính đa dạng (diversity / sự khác biệt), kết quả (result / quả báo), sự chấm dứt (cessation / sự diệt), và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt (practice that leads to their cessation / đạo đế) của chúng cần được biết rõ.

Cảm thọ (Feelings / cảm giác) cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của chúng cần được biết rõ.

Nhận thức (Perceptions / tưởng, nhận ra) cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của chúng cần được biết rõ.

Lậu hoặc (Defilements / phiền não) cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của chúng cần được biết rõ.

Nghiệp (Deeds / hành động có chủ ý) cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của chúng cần được biết rõ.

Khổ (Suffering / sự đau khổ) cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của nó cần được biết rõ.

‘Dục lạc cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của chúng cần được biết rõ.’ Đó là điều Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Có năm loại kích thích giác quan (sensual stimulation / đối tượng làm khởi sinh ham muốn) này. Sắc (Sights / hình ảnh) được biết bởi mắt, ưa thích (likable / đáng thích), mong muốn (desirable / đáng khao khát), dễ chịu (agreeable / vừa ý), an vui (pleasant / vui thích), thuộc về giác quan (sensual / liên quan đến các căn), và kích thích (arousing / gợi lên ham muốn). Thanh (Sounds / âm thanh) được biết bởi tai… Hương (Smells / mùi) được biết bởi mũi… Vị (Tastes / vị nếm) được biết bởi lưỡi… Xúc (Touches / sự chạm) được biết bởi thân, ưa thích, mong muốn, dễ chịu, an vui, thuộc về giác quan, và kích thích. Tuy nhiên, đây không phải là dục lạc. Trong sự tu tập của bậc Thánh (training of the Noble One / con đường thực hành của bậc giác ngộ), chúng được gọi là ‘các loại kích thích giác quan’.

Ý định tham lam (Greedy intention / tác ý tham ái) là dục lạc của con người.
Những thứ đẹp đẽ của thế gian không phải là dục lạc.
Ý định tham lam là dục lạc của con người.
Những thứ đẹp đẽ của thế gian vẫn y nguyên như vậy,
nhưng người chú tâm loại bỏ ham muốn đối với chúng.

Và nguồn gốc của dục lạc là gì? Xúc (Contact / sự tiếp xúc) là nguồn gốc của chúng.

Và tính đa dạng của dục lạc là gì? Ham muốn dục lạc (sensual desire / lòng khao khát) đối với sắc, thanh, hương, vị, và xúc đều khác nhau. Đây được gọi là tính đa dạng của dục lạc.

Và kết quả của dục lạc là gì? Khi người ham muốn dục lạc tạo ra một sự hóa sanh (incarnation / sự hiện hữu) tương ứng, tham gia vào nghiệp tốt hoặc xấu (good or bad deeds / hành động thiện hoặc ác)—đây được gọi là kết quả của dục lạc.

Và sự chấm dứt của dục lạc là gì? Khi xúc chấm dứt, dục lạc chấm dứt. Con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt dục lạc chính là con đường tám ngành cao quý (noble eightfold path / Bát Chánh Đạo) này, đó là: chánh kiến (right view / hiểu biết đúng đắn), chánh tư duy (right thought / suy nghĩ đúng đắn), chánh ngữ (right speech / lời nói đúng đắn), chánh nghiệp (right action / hành động đúng đắn), chánh mạng (right livelihood / nuôi mạng đúng đắn), chánh tinh tấn (right effort / cố gắng đúng đắn), chánh niệm (right mindfulness / tỉnh thức đúng đắn), và chánh định (right immersion / định tâm đúng đắn).

Khi một vị Thánh đệ tử (noble disciple / người đệ tử đã chứng ngộ) hiểu dục lạc theo cách này—và hiểu nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của chúng—vị ấy hiểu rằng đời sống phạm hạnh thâm nhập này là sự chấm dứt của dục lạc. ‘Dục lạc cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của chúng cần được biết rõ.’ Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

‘Cảm thọ cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của chúng cần được biết rõ.’ Đó là điều Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Có ba loại cảm thọ này: an vui (pleasant / lạc), khổ (painful / khổ), và trung tính (neutral / xả).

Và nguồn gốc của cảm thọ là gì? Xúc là nguồn gốc của chúng.

Và tính đa dạng của cảm thọ là gì? Có cảm thọ an vui thuộc về thể xác (pleasant feelings of the flesh / lạc thọ liên quan đến thân), cảm thọ an vui không thuộc về thể xác (pleasant feelings not of the flesh / lạc thọ không liên quan đến thân), cảm thọ khổ thuộc về thể xác (painful feelings of the flesh / khổ thọ liên quan đến thân), cảm thọ khổ không thuộc về thể xác (painful feelings not of the flesh / khổ thọ không liên quan đến thân), cảm thọ trung tính thuộc về thể xác (neutral feelings of the flesh / xả thọ liên quan đến thân), và cảm thọ trung tính không thuộc về thể xác (neutral feelings not of the flesh / xả thọ không liên quan đến thân). Đây được gọi là tính đa dạng của cảm thọ.

Và kết quả của cảm thọ là gì? Khi người có cảm thọ tạo ra một sự hóa sanh tương ứng, tham gia vào nghiệp tốt hoặc xấu—đây được gọi là kết quả của cảm thọ.

Và sự chấm dứt của cảm thọ là gì? Khi xúc chấm dứt, cảm thọ chấm dứt. Con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt cảm thọ chính là con đường tám ngành cao quý này, đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.

Khi một vị Thánh đệ tử hiểu cảm thọ theo cách này… vị ấy hiểu rằng đời sống phạm hạnh thâm nhập này là sự chấm dứt của cảm thọ. ‘Cảm thọ cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của chúng cần được biết rõ.’ Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

‘Nhận thức cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của chúng cần được biết rõ.’ Đó là điều Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Có sáu loại nhận thức này: nhận thức về sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp (perceptions of sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas / tưởng về hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, sự chạm, và đối tượng của ý).

Và nguồn gốc của nhận thức là gì? Xúc là nguồn gốc của chúng.

Và tính đa dạng của nhận thức là gì? Nhận thức về sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp đều khác nhau. Đây được gọi là tính đa dạng của nhận thức.

Và kết quả của nhận thức là gì? Sự giao tiếp (Communication / sự diễn đạt, giao tiếp) là kết quả của nhận thức, Ta nói vậy. Con giao tiếp điều gì đó theo cách con nhận thức nó, nói rằng ‘Đó là những gì tôi đã nhận thức.’ Đây được gọi là kết quả của nhận thức.

Và sự chấm dứt của nhận thức là gì? Khi xúc chấm dứt, nhận thức chấm dứt. Con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt nhận thức chính là con đường tám ngành cao quý này, đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.

Khi một vị Thánh đệ tử hiểu nhận thức theo cách này… vị ấy hiểu rằng đời sống phạm hạnh thâm nhập này là sự chấm dứt của nhận thức. ‘Nhận thức cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của chúng cần được biết rõ.’ Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

‘Lậu hoặc cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của chúng cần được biết rõ.’ Đó là điều Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Có ba loại lậu hoặc này: dục lậu (defilements of sensuality / lậu hoặc do ham muốn dục lạc), hữu lậu (desire to be reborn / lậu hoặc do ham muốn tái sanh), và vô minh lậu (ignorance / lậu hoặc do sự không biết).

Và nguồn gốc của lậu hoặc là gì? Vô minh (Ignorance / sự không biết) là nguồn gốc của lậu hoặc.

Và tính đa dạng của lậu hoặc là gì? Có những lậu hoặc dẫn đến tái sanh vào địa ngục, cõi súc sanh, cõi ngạ quỷ, cõi người, và cõi trời (rebirth in hell, the animal realm, the ghost realm, the human world, and the world of the gods / các cảnh giới khác nhau). Đây được gọi là tính đa dạng của lậu hoặc.

Và kết quả của lậu hoặc là gì? Khi người vô minh tạo ra một sự hóa sanh tương ứng, tham gia vào nghiệp tốt hoặc xấu—đây được gọi là kết quả của lậu hoặc.

Và sự chấm dứt của lậu hoặc là gì? Khi vô minh chấm dứt, lậu hoặc chấm dứt. Con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt lậu hoặc chính là con đường tám ngành cao quý này, đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.

Khi một vị Thánh đệ tử hiểu lậu hoặc theo cách này… vị ấy hiểu rằng đời sống phạm hạnh thâm nhập này là sự chấm dứt của lậu hoặc. ‘Lậu hoặc cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của chúng cần được biết rõ.’ Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

‘Nghiệp cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của chúng cần được biết rõ.’ Đó là điều Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Chính tác ý (intention / chủ đích, ý muốn) là cái Ta gọi là nghiệp. Vì sau khi lựa chọn, người ta hành động qua thân, khẩu, và ý (acts by way of body, speech, and mind / tạo nghiệp qua hành động, lời nói và suy nghĩ).

Và nguồn gốc của nghiệp là gì? Xúc là nguồn gốc của chúng.

Và tính đa dạng của nghiệp là gì? Có những nghiệp dẫn đến tái sanh vào địa ngục, cõi súc sanh, cõi ngạ quỷ, cõi người, và cõi trời. Đây được gọi là tính đa dạng của nghiệp.

Và kết quả của nghiệp là gì? Kết quả của nghiệp có ba loại, Ta nói vậy: ngay trong đời này (in this very life / hiện báo), khi tái sanh vào đời sau (on rebirth in the next life / sanh báo), hoặc vào một thời điểm sau đó (at some later time / hậu báo). Đây được gọi là kết quả của nghiệp.

Và sự chấm dứt của nghiệp là gì? Khi xúc chấm dứt, nghiệp chấm dứt. Con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt nghiệp chính là con đường tám ngành cao quý này, đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.

Khi một vị Thánh đệ tử hiểu nghiệp theo cách này… vị ấy hiểu rằng đời sống phạm hạnh thâm nhập này là sự chấm dứt của nghiệp. ‘Nghiệp cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của chúng cần được biết rõ.’ Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

‘Khổ cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của nó cần được biết rõ.’ Đó là điều Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Sanh (Rebirth / sự sinh ra) là khổ; già (old age / sự già nua) là khổ; bệnh (illness / sự ốm đau) là khổ; chết (death / sự chết) là khổ; sầu (sorrow / buồn rầu), bi (lamentation / than khóc), khổ (pain / đau đớn thể xác), ưu (sadness / buồn phiền tinh thần), và não (distress / tuyệt vọng) là khổ; cầu không được (not getting what you wish for / mong muốn mà không đạt được) là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn (five grasping aggregates / năm nhóm yếu tố bị chấp thủ: sắc, thọ, tưởng, hành, thức) là khổ.

Và nguồn gốc của khổ là gì? Tham ái (Craving / sự khao khát) là nguồn gốc của khổ.

Và tính đa dạng của khổ là gì? Có khổ nặng (severe suffering / đau khổ dữ dội), khổ nhẹ (mild suffering / đau khổ ít), khổ khó phai (slow to fade suffering / đau khổ kéo dài), và khổ mau phai (quick to fade suffering / đau khổ chóng qua). Đây được gọi là tính đa dạng của khổ.

Và kết quả của khổ là gì? Đó là khi một người bị khổ chi phối (overcome by suffering / bị đau khổ xâm chiếm) và khổ áp đảo (overwhelmed by suffering / bị đau khổ đè nặng) buồn rầu (sorrows / sầu muộn), than khóc (wails / kêu la), và kể lể (laments / than van), đấm ngực (beating their breast / tự hành hạ) và rơi vào hoang mang (falling into confusion / mất phương hướng). Hoặc, bị khổ đó chi phối, họ bắt đầu tìm kiếm bên ngoài (external search / tìm sự giúp đỡ từ bên ngoài), tự hỏi: ‘Ai biết một hai câu thần chú để chấm dứt khổ này?’ Kết quả của khổ là hoang mang hoặc tìm kiếm, Ta nói vậy. Đây được gọi là kết quả của khổ.

Và sự chấm dứt của khổ là gì? Khi tham ái chấm dứt, khổ chấm dứt. Con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt khổ chính là con đường tám ngành cao quý này, đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.

Khi một vị Thánh đệ tử hiểu khổ theo cách này… vị ấy hiểu rằng đời sống phạm hạnh thâm nhập này là sự chấm dứt của khổ. ‘Khổ cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của nó cần được biết rõ.’ Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

Đây là bài pháp thâm nhập."

(IX) (63) Một Pháp Môn Quyết Trạch

1. - Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Thầy pháp môn thể nhập, pháp môn pháp. Hãy nghe và tác ý, Ta sẽ giảng.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

2. - Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp môn thể nhập (quyết trạch), pháp môn pháp?

Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các dục, cần phải biết duyên khởi các dục, cần phải biết các dục sai biệt, cần phải biết các dục dị thục, cần phải biết các dục đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến các dục đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, cần phải biết cảm thọ, cần phải biết các cảm thọ duyên khởi, cần phải biết các cảm thọ sai biệt, cần phải biết các cảm thọ dị thục, cần phải biết các cản thọ đoạn diệt, cần phaỉ biết con đường đưa đến các cảm thọ đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các tưởng, cần phải biết các tưởng duyên khởi, cần phải biết các tưởng sai biệt, cần phải biết các tưởng dị thục, cần phải biết các tưởng đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến các tưởng đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các lậu hoặc, cần phải biết các lậu hoặc duyên khởi, cần phaỉ biết các lậu hoặc sai biệt, cần phải biết các lậu hoặc dị thục, cần phải biết các lậu hoặc đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến các lậu hoặc đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, cần phải biết nghiệp, cần phải biết duyên khởi các nghiệp, cần phải biết các nghiệp sai biệt, cần phải biết các nghiệp dị thục, cần phải biết các nghiệp đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến nghiệp đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, cần phải biết khổ, cần phải biết khổ duyên khởi, cần phải biết khổ sai biệt, cần phải biết khổ dị thục, cần phải biết khổ đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến khổ đoạn diệt.

3. Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các dục, cần phải biết các dục duyên khởi, cần phải biết các dục sai biệt, cần phải biết các dục dị thục, cần phải biết các dục đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến các dục đoạn diệt, đã được nói như vậy. Và do duyên gì được nói như vậy?

Này các Tỷ-kheo, có năm dục trưởng dưỡng này: Các sắc do mắt nhận thức, khả lạc, khả ý, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Các tiếng do tai nhận thức… các hương do mũi nhận thức… các vị do lưỡi nhận thức… các xúc do thân nhận thức… khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, dầu chúng không phải dục, chúng được gọi là dục trưởng dưỡng trong giới luật của bậc Thánh.

Các tư duy tham ái,
Là dục của con người,
Các hoa mỹ ở đời,
Chúng không phải là dục,
Các tư duy tham ái
Là dụccủa con người,
Các hoa mỹ an trú
Như vậy ở trên đời,
Ở đây những bậc Trí,
Nhiếp phục được lòng dục.

4. Này các Tỷ-kheo, thế nào là các dục duyên khởi? Xúc, này các Tỷ-kheo, là các dục duyên khởi.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các dục sai biệt? Này các Tỷ-kheo, dục trên các sắc là khác, dục trên các tiếng là khác, dục trên các hương là khác, dục trên các vị là khác, dục trên các xúc là khác. Này các Tỷ-kheo, đây là các dục sai biệt. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các dục dị thục? Này các Tỷ-kheo, khi muốn một cái gì, sanh khởi một tự ngã khởi lên từ vật ấy, từ vật ấy, để dự phần phước đức, hay để dự phần không phước đức, Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các dục dị thục.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các dục đoạn diệt? Xúc đoạn diệt, này các Tỷ-kheo là dục đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo tám ngành đưa đến các dục đoạn diệt. Tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Khi nào, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử rõ biết các dục như vậy, rõ biết các dục sanh khởi như vậy, rõ biết các dục sai biệt như vậy, rõ biết các dục dị thục như vậy, rõ biết các dục đoạn diệt như vậy, rõ biết con đường đưa đến các dục đoạn diệt như vậy, khi ấy, vị ấy được rõ biết Phạm hạnh thế nhập này như là các dục đoạn diệt.

Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các dục… cần phải biết con đường đưa đến dục đoạn diệt, Ðoạn diệt đã được nói như vậy. Chính do duyên này, đã được nói như vậy.

5. Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các cảm thọ… cần phải biết con đường đưa đến các cảm thọ đoạn diệt, đã được nói như vậy. Do duyên gì đã được nói như vậy?

Này các Tỷ-kheo, có ba cảm thọ này: lạc thọ, khổ thọ, phi khổ phi lạc thọ.

6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các cảm thọ sanh khởi? Xúc, này các Tỷ-kheo, là các cảm thọ sanh khởi. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các cảm thọ sai biệt? Này các Tỷ-kheo, có các lạc thọ liên hệ đến vật chất có các lạc thọ không liên hệ đến vật chất; có các khổ thọ không liên hệ đến vật chất, có các khổ lạc thọ không liên hệ đến vật chất; có các cảm thọ không khổ không lạc liên hệ đến vật chất, có các cảm thọ không khổ không lạc không liên hệ đến vật chất. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các cảm thọ sai biệt.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các cảm thọ dị thục? Này các Tỷ-kheo, khi nào cảm thọ cái gì, sanh khởi một tự ngã khởi lên từ vật ấy, từ vật ấy, để dự phần phước đức, hay để dự phần không phước đức. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các cảm thọ dị thục.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các cảm thọ đoạn diệt? Xúc đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, là các cảm thọ đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo tám ngành đưa đến các cảm thọ đoạn diệt. Tức là chánh tri kiến… chánh định. Và khi nào, này các Tỷ kheo, vị thánh đệ tử đã biết các cảm thọ như vậy, rõ biết các cảm thọ sanh khởi như vậy, rõ biết các cảm thọ sai biệt như vậy, rõ biết các cảm thọ dị thục như vậy, rõ biết các cảm thọ đoạn diệt như vậy, khi ấy, vị ấy được rõ biết Phạm hạnh thể nhập này như là các cảm thọ đoạn diệt.

Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các cảm thọ… cần phải biết con đường đưa đến các cảm thọ đoạn diệt, đã nói như vậy. Chính do duyên này, đã được nói như vậy.

7. Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các tưởng…cần phải biết con đường đưa đến các tưởng đoạn diệt, đã được nói như vậy. Do duyên gì đã được nói như vậy?

Này các Tỷ-kheo, có sáu tưởng này: Sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng.

8. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tưởng sanh khởi? Này các Tỷ-kheo, xúc là các tưởng sanh khởi.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các tưởng sai biệt? Này các Tỷ-kheo, các tưởng trong các sắc là khác, các tưởng trong các hương là khác, các tưởng trong các vị là khác, các tưởng trong các xúc là khác, các tưởng trong các pháp là khác. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các tưởng sai biệt. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các tưởng dị thục? Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng các tưởng là kết quả của thói quen, khi nào người ta biết sự vật như thế nào, như thế nào, người ta nói sự vật ấy như sau, như sau: “Như vậy tôi tưởng”. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các tưởng dị thục.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các tưởng đoạn diệt? Xúc đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, là tưởng đoạn diệt. Ðây là Thánh đạo tám ngành đưa đến các tưởng đoạn diệt. Tức là chánh tri kiến… chánh định. Khi nào này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử rõ biết các tưởng như vậy, rõ biết các tưởng sanh khởi như vậy, rõ biết các tưởng sai biệt như vậy, rõ biết các tưởng dị thục như vậy, rõ biết các tưởng đoạn diệt như vậy, rõ biết con đường đưa đến các tưởng đoạn diệt như vậy, khi ấy, vị ấy được rõ biết Phạm hạnh thể nhập này như là các tưởng đoạn diệt.

Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các tưởng… cần phải biết con đường đưa đến các tưởng đoạn diệt, đã được nói như vậy. Chính do duyên này đã được nói như vậy.

9. Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các lậu hoặc… cần phải biết con đường đưa đến các lậu hoặc đoạn diệt, đã được nói như vậy. Chính do duyên nào đã được nói như vậy? Này các Tỷ-kheo, có ba lậu hoặc này: dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu.

10. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc sanh khởi? Vô minh, này các Tỷ-kheo, là các lậu hoặc sanh khởi.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc sai biệt? Này các Tỷ-kheo, có các lậu hoặc đưa đến địa ngục, có các lậu hoặc đưa đến bàng sanh, có các lậu hoặc đưa đến ngạ quỷ, có các lậu hoặc đưa đến thế giới loài người, có các lậu hoặc đưa đền thế giới chư Thiên. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các lậu hoặc sai biệt.

Và này các Tỷ Kheo, thế nào là các lậu hoặc dị thục? Này các Tỷ kheo, khi nào vì vô minh cái gì sanh khởi, một tự ngã khởi lên từ vật ấy, từ vật ấy, để dự phấn phước đức, hay để dự phấn không phước đức. Này các Tỷ kheo, đây gọi là các lậu hoặc dị thục.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc đoạn diệt? Vô minh đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, là các lậu đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo tám ngành đưa đến các lậu hoặc đoạn diệt. Tức là chánh tri kiến… chánh định. Khi nào, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử rõ biết các lậu hoặc là như vậy, rõ biết các lậu hoặc sanh khởi như vậy, rõ biết các lậu hoặc sai biệt như vậy, rõ biết các lậu hoặc dị thục như vậy, rõ biết các lậu hoặc đoạn diệt như vậy, rõ biết con đường đưa đến các lậu hoặc đoạn diệt như vậy, khi ấy, vị ấy được rõ biết Phạm hạnh thể nhập này như là các lậu hoặc đoạn diệt.

Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các lậu hoặc… cần phải biết con đường đưa đến các lậu hoặc đoạn diệt, đã được nói như vậy. Chính do duyên này đã được nói như vậy.

11. Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các nghiệp… cần phải biết con đường đưa đến các nghiệp đoạn diệt được nói như vậy. Do duyên gì được nói như vậy?

Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng suy tư là nghiệp; sau khi suy tư, tạo nghiệp về thân, về lời, về ý.

12. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các nghiệp sanh khởi? Này các Tỷ-kheo, xúc là các nghiệp sanh khởi.

− Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các nghiệp sai biệt? Này các Tỷ-kheo, có nghiệp đưa đến cảm thọ ở địa ngục, có nghiệp đưa đến cảm thọ loài bàng sanh, có nghiệp đưa đến cảm thọ cõi ngạ quỷ, có nghiệp đưa đến cảm thọ thế giới loài Người, có nghiệp đưa đến cảm thọ thế giới chư Thiên. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các nghiệp sai biệt. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các nghiệp dị thục? Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng có ba loại nghiệp dị thục: Ở ngay đời hiện tại, hay ở đời sau, hay ở một đời sau nữa. Này các Tỷ-kheo, đây là các nghiệp dị thục.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là nghiệp đoạn diệt? Xúc đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, là nghiệp đoạn diệt. Ðây là Thánh đạo tám ngành, con đường đưa đến các nghiệp đoạn diệt. Ðó là chánh tri kiến… chánh định. Khi nào, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử rõ biết các nghiệp như vậy, rõ biết các nghiệp sanh khởi như vậy, rõ biết các nghiệp sai biệt như vậy, rõ biết các nghiệp dị thục như vậy, rõ biết các nghiệp đoạn diệt như vậy, rõ biết con đường đưa đến các nghiệp đoạn diệt như vậy, khi ấy, vị ấy rõ biết Phạm hạnh thể nhập này như là các nghiệp đoạn diệt.

Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các nghiệp… cần phải rõ biết con đường đưa đến các nghiệp đoạn diệt, đã được nói như vậy. Chính do duyên này đã được nói như vậy.

13. Này các Tỷ-kheo, cần phải biết khổ, cần phải biết khổ sanh khởi, cần phải biết khổ sai biệt, cần phải biết khổ dị thục, cần phải biết khổ đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến khổ đoạn diệt, đã được nói như vậy. Chính do duyên gì đã được nói như vậy?

Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu bi khổ não là khổ, cầu không được là khổ, tóm lại năm thủ uẩn là khổ.

14. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ sanh khởi? Ái, này các Tỷ-kheo, là khổ sanh khởi.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ sai biệt? Này các Tỷ-kheo có khổ lớn, có khổ nhỏ, có khổ chậm biến, có khổ mau biến. Này các Tỷ-kheo, đây là khổ sai biệt.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ dị thục? Này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người bị khổ chinh phục, tâm bị trói buộc, ưu sầu, bi thảm, than van, đập ngực, khóc lóc, đi đến bất tỉnh; do bị khổ chinh phục, tâm bị trói buộc, nên đi tìm phía bên ngoài xem có ai biết được một câu, hai câu thần chú đề đoạn diệt khổ này.

Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng khổ đem lại kết quả mê loạn, đem lại kết quả tìm kiếm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là khổ dị thục.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ đoạn diệt?

Ái đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, là khổ đoạn diệt. Ðây là Thánh đạo tám ngành đưa đến khổ đoạn diệt. Ðó là chánh kiến… chánh định. Này các Tỷ-kheo, khi nào Thánh đệ tử rõ biết khổ như vậy, rõ biết khổ sanh khởi như vậy, rõ biết khổ sai biệt như vậy, rõ biết khổ dị thục như vậy, rõ biết khổ đoạn diệt như vậy, rõ biết con đường đưa đến khổ đoạn diệt như vậy, khi ấy, vị ấy được rõ biết Phạm hạnh thể nhập này như là khổ đoạn diệt.

Này các Tỷ-kheo, cần phải biết khổ, cần phải biết khổ sanh khởi, cần phải biết khổ sai biệt, cần phải biết khổ dị thục, cần phải biết khổ đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến khổ đoạn diệt, đã được nói như vậy. Chính do duyên này, đã được nói như vậy.

Này các Tỷ-kheo, đây là thể nhập pháp môn, pháp pháp môn.

AN 6.64 Tiếng Rống Sư Tử (Sīhanādasutta)

"Này các Tỳ kheo, Đấng Như Lai (Realized One / bậc đã chứng ngộ chân lý) sở hữu sáu năng lực của Đấng Như Lai (powers of a Realized One / Như Lai lực). Với những năng lực này, Ngài xác lập vị trí tối thượng (bull’s place / địa vị của bậc đứng đầu), rống tiếng rống sư tử (lion’s roar / lời tuyên bố chân lý hùng hồn) trong các hội chúng (assemblies / đám đông), và chuyển bánh xe Pháp (divine wheel / bánh xe giáo pháp thiêng liêng). Sáu năng lực đó là gì?

Thứ nhất, Đấng Như Lai thực sự hiểu rõ điều có thể (possible / khả năng xảy ra) là có thể và điều không thể (impossible / không thể xảy ra) là không thể. Vì Ngài thực sự hiểu rõ điều này, đây là một năng lực của Đấng Như Lai. Dựa vào năng lực này, Ngài xác lập vị trí tối thượng, rống tiếng rống sư tử trong các hội chúng, và chuyển bánh xe Pháp.

Hơn nữa, Đấng Như Lai thực sự hiểu rõ kết quả của nghiệp (result of deeds / quả báo của hành động) đã tạo ra trong quá khứ, tương lai, và hiện tại xét về cơ sở (grounds / điều kiện) và nguyên nhân (causes / lý do). Vì Ngài thực sự hiểu rõ điều này, đây là một năng lực của Đấng Như Lai. …

Hơn nữa, Đấng Như Lai thực sự hiểu rõ sự ô nhiễm (corruption / sự suy đồi), sự thanh tịnh (cleansing / sự trong sạch), và sự xuất khởi (emergence / sự đi lên, thoát ra) liên quan đến các tầng thiền (absorptions / trạng thái nhập định), các tầng giải thoát (liberations / trạng thái tâm giải thoát khỏi đối tượng), các tầng định (immersions / trạng thái tâm định tĩnh), và các chứng đắc (attainments / thành tựu tâm linh). Vì Ngài thực sự hiểu rõ điều này, đây là một năng lực của Đấng Như Lai. …

Hơn nữa, Đấng Như Lai nhớ lại nhiều kiếp quá khứ (past lives / đời sống trước). Đó là: một, hai, ba, bốn, năm, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, một trăm, một nghìn, một trăm nghìn kiếp; nhiều kiếp (eons / thời kỳ dài) thế giới hoại (world contracting / thế giới co lại, hủy diệt), nhiều kiếp thế giới thành (world expanding / thế giới mở rộng, hình thành), nhiều kiếp thế giới hoại và thành. Ngài nhớ: ‘Ở đó, ta tên là thế này, dòng họ là thế kia, trông như thế này, và thức ăn của ta là thế đó. Đây là cách ta cảm nhận an vui và khổ đau, và đó là cách cuộc đời ta kết thúc. Khi ta qua đời từ nơi đó, ta được tái sanh ở một nơi khác. Ở đó, ta cũng tên là thế này, dòng họ là thế kia, trông như thế này, và thức ăn của ta là thế đó. Đây là cách ta cảm nhận an vui và khổ đau, và đó là cách cuộc đời ta kết thúc. Khi ta qua đời từ nơi đó, ta được tái sanh ở đây.’ Và cứ thế, Ngài nhớ lại nhiều kiếp quá khứ của mình, với các đặc điểm và chi tiết. Vì Ngài thực sự hiểu rõ điều này, đây là một năng lực của Đấng Như Lai. …

Hơn nữa, với thiên nhãn (clairvoyance / khả năng nhìn thấy xa và rõ) thanh tịnh và siêu phàm, Đấng Như Lai thấy các chúng sanh (sentient beings / các loài hữu tình) chết đi (passing away / qua đời) và tái sanh (reborn / sinh lại)—hạ liệt (inferior / thấp kém) và cao thượng (superior / tốt đẹp), xấu xí (ugly / không đẹp) và xinh đẹp (beautiful / đẹp đẽ), ở cõi lành (good place / nơi tốt) hoặc cõi dữ (bad place / nơi xấu). Ngài hiểu rõ chúng sanh tái sanh như thế nào tùy theo nghiệp (deeds / hành động) của họ. Vì Ngài thực sự hiểu rõ điều này, đây là một năng lực của Đấng Như Lai. …

Hơn nữa, Đấng Như Lai đã chứng ngộ tâm giải thoát vô lậu (undefiled freedom of heart / sự giải thoát của tâm khỏi phiền não) và tuệ giải thoát (freedom by wisdom / sự giải thoát bằng trí tuệ) ngay trong đời này. Và Ngài sống, đã chứng ngộ điều đó bằng trí tuệ (insight / tuệ giác) của chính mình nhờ sự đoạn tận các lậu hoặc (ending of defilements / chấm dứt phiền não). Vì Ngài thực sự hiểu rõ điều này, đây là một năng lực của Đấng Như Lai. Dựa vào năng lực này, Ngài xác lập vị trí tối thượng, rống tiếng rống sư tử trong các hội chúng, và chuyển bánh xe Pháp. Đây là sáu năng lực của Đấng Như Lai mà Đấng Như Lai sở hữu. Với những năng lực này, Ngài xác lập vị trí tối thượng, rống tiếng rống sư tử trong các hội chúng, và chuyển bánh xe Pháp.

Nếu người khác đến gặp Đấng Như Lai và đặt câu hỏi về tri kiến chân thực (true knowledge / sự hiểu biết đúng sự thật) của Ngài về điều có thể là có thể và điều không thể là không thể, Đấng Như Lai trả lời họ theo bất kỳ cách nào mà Ngài đã thực sự biết rõ.

Nếu người khác đến gặp Đấng Như Lai và đặt câu hỏi về tri kiến chân thực của Ngài về kết quả của nghiệp đã tạo ra trong quá khứ, tương lai, và hiện tại xét về cơ sở và nguyên nhân, Đấng Như Lai trả lời họ theo bất kỳ cách nào mà Ngài đã thực sự biết rõ.

Nếu người khác đến gặp Đấng Như Lai và đặt câu hỏi về tri kiến chân thực của Ngài về sự ô nhiễm, sự thanh tịnh, và sự xuất khởi liên quan đến các tầng thiền, các tầng giải thoát, các tầng định, và các chứng đắc, Đấng Như Lai trả lời họ theo bất kỳ cách nào mà Ngài đã thực sự biết rõ.

Nếu người khác đến gặp Đấng Như Lai và đặt câu hỏi về tri kiến chân thực của Ngài về việc nhớ lại các kiếp quá khứ, Đấng Như Lai trả lời họ theo bất kỳ cách nào mà Ngài đã thực sự biết rõ.

Nếu người khác đến gặp Đấng Như Lai và đặt câu hỏi về tri kiến chân thực của Ngài về sự chết đi và tái sanh của chúng sanh, Đấng Như Lai trả lời họ theo bất kỳ cách nào mà Ngài đã thực sự biết rõ.

Nếu người khác đến gặp Đấng Như Lai và đặt câu hỏi về tri kiến chân thực của Ngài về sự đoạn tận các lậu hoặc, Đấng Như Lai trả lời họ theo bất kỳ cách nào mà Ngài đã thực sự biết rõ.

Và Ta nói rằng tri kiến chân thực về điều có thể là có thể và điều không thể là không thể là dành cho những người có định tâm (immersion / định), không phải cho những người không có định tâm. Và tri kiến chân thực về kết quả của nghiệp đã tạo ra trong quá khứ, tương lai, và hiện tại xét về cơ sở và nguyên nhân là dành cho những người có định tâm, không phải cho những người không có định tâm. Và tri kiến chân thực về sự ô nhiễm, sự thanh tịnh, và sự xuất khởi liên quan đến các tầng thiền, các tầng giải thoát, các tầng định, và các chứng đắc là dành cho những người có định tâm, không phải cho những người không có định tâm. Và tri kiến chân thực về việc nhớ lại các kiếp quá khứ là dành cho những người có định tâm, không phải cho những người không có định tâm. Và tri kiến chân thực về sự chết đi và tái sanh của chúng sanh là dành cho những người có định tâm, không phải cho những người không có định tâm. Và tri kiến chân thực về sự đoạn tận các lậu hoặc là dành cho những người có định tâm, không phải cho những người không có định tâm.

Và như vậy, này các Tỳ kheo, định tâm là con đường (path / đạo). Không định tâm là con đường sai lầm (wrong path / tà đạo)."

(X) (64) Tiếng Rống Con Sư Tử

1. - Này các Tỷ-kheo, có sáu Như Lai lực của Như Lai, do thành tựu các lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị ngư vương, rống tiếng rống con sư tử trong các hội chúng, chuyển bánh xe pháp. Thế nào là sáu?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết xứ là xứ, phi xứ là phi xứ. Này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết xứ là xứ, phi xứ là phi xứ, như vậy là Như Lai lực của Như Lai. Chính nhờ Như Lai lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị ngưu vương, rống tiếng rống con sư tử trong các hội chúng, chuyển bánh xe pháp.

3. Lại nữa, này các Tỷ kheo, Như Lai như thật rõ biết quả báo tùy thuộc sở do, tùy thuộc sở nhân của các thọ nghiệp quá khứ, vị lai, hiện tại. Này các Tỷ kheo, Như Lai như thật rõ biết quả báo tùy thuộc sở do, tùy theo sở nhân của các hành nghiệp quá khứ, vị lai, hiện tại, như vậy là Như Lai lực của Như Lai… chuyển bánh xe pháp.

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết sự tạp nhiễm, sự thanh tịnh, sự xuất khởi của những thành đạt về Thiền, về giải thoát, về định. Này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật biết… và chuyển bánh xe pháp.

5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như Lai nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời… Như vậy, Như Lai nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết… và chuyển bánh xe pháp.

6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như Lai với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh… Này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết… và chuyển bánh xe pháp.

7. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như Lai nhờ đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí, chứng ngộ thành tựu và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, Như Lai nhờ đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, thành tựu và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính nhờ Như Lai lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị ngư vương, rống tiếng con sư tử trong các hội chúng và chuyển bánh xe pháp.

Này các Tỷ-kheo, có sáu Như Lai lực này của Như Lai, do thành tựu các lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị ngư vương, rống tiếng rống con sư tử trong các hội chúng, chuyển bánh xe chánh pháp.

8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có những người khác đến hỏi Như Lai các câu hỏi liên hệ đến như thật trí về xứ là xứ, phi xứ là phi xứ, này các Tỷ-kheo, tùy theo, tùy theo như thật trí hiểu biết của Như Lai về xứ là xứ, phi xứ là phi xứ; tùy theo như vậy, tùy theo như vậy, Như Lai trả lời các câu hỏi liên hệ đến như thật trí về xứ là xứ, phi xứ là phi xứ.

9. Ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có những người khác đến hỏi Như Lai các câu hỏi liên hệ đến như thật trí về quả báo tùy thuộc sở do, tùy theo sở nhân của các thọ nghiệp quá khứ, vị lai, hiện tại, này các Tỷ-kheo, tùy theo, tùy theo như thật trí hiểu biết của Như Lai về quả báo tùy thuộc sờ do, tùy theo sở nhân của các thọ nghiệp quá khứ, vị lai, hiện tại; tùy theo như vậy, tùy theo như vậy, Như Lai trả lời các câu hỏi liên hệ đến như thật trí về quả báo tùy thuộc sở do, tùy thuộc sở nhân của các thọ nghiệp quá khứ, vị lai, hiện tại.

10. Ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có những người khác đến hỏi Như Lai các câu hỏi liên hệ đến sự tạp nhiễm, sự thanh tịnh, sự xuất khởi của những thành đạt về thiền, về giải thoát, về định, này các Tỷ-kheo; tùy theo, tùy theo như thật trí hiểu biết của Như Lai về sự tạp nhiễm, sự thanh tịnh, sự xuất khởi của thành tựu về Thiền, về giải thoát, về định; tùy theo như vậy, tùy theo như vậy, Như Lai trả lời các câu hỏi liên hệ đến như thật trí về sự tạp nhiễm, sự thanh tịnh, sự xuất khởi của những thành đạt về Thiền, về giải thoát, về định.

11. Ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có những người khác đến hỏi Như lai các câu hỏi liên hệ đến như thật trí về nhớ đến các đời sống quá khứ, này các Tỷ-kheo, tùy theo, tùy theo như thật trí hiểu biết của Như Lai, về nhớ đến các đời sống quá khứ; tùy theo như vậy, tùy theo như vậy, Như Lai trả lời các câu hỏi liên hệ đến như thật trí về nhớ đến các đời sống quá khứ.

12. Ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có những người khác đến hỏi Như Lai các câu hỏi liên hệ đến như thật trí về sự sanh diệt của các chúng sanh, này các Tỷ-kheo, tùy theo, tùy theo như thật trí hiểu biết của Như Lai về sự sanh diệt của các chúng sanh; tùy theo như vậy, tùy theo như vậy, Như Lai trả lời các câu hỏi liên hệ đến như thật trí về sự sanh diệt của các chúng sanh.

13. Ở đây, này các Tỷ-kheo nếu có những người khác đến hỏi Như Lai các câu hỏi liên hệ đến như thật trí… về sự đoạn diệt các lậu hoặc; hiểu biết của Như Lai về sự đoạn diệt các lậu hoặc; tùy theo như vậy, tùy theo như vậy, Như Lai trả lời các câu hỏi liên hệ đến như thật trí về sự đoạn diệt các lậu hoặc.

14. Ở đây, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến như thật trí này, về xứ là xứ, phi xứ là phi xứ, Ta tuyên bố rằng trí ấy chỉ có đối với người có Thiền định, không phải với người không Thiền định. Liên hệ đến như thật trí về quả báo tùy thuộc sở do, tùy theo sở nhân của các thọ nghiệp quá khứ, vị lai, hiện tại, Ta tuyên bố rằng trí ấy chỉ có đối với người có Thiền định, không phải với người không có Thiền định. Liên hệ đến như thật trí về sự tạp nhiễm, sự thanh tịnh, sự xuất khởi của những thành đạt về Thiền, về giải thoát, về định, Ta tuyên bố rằng trí ấy chỉ có đối với người có Thiền định, không phải với người không có Thiền định. Ở đây, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến như thật trí, nhớ đến các đời sống quá khứ, Ta tuyên bố rằng trí ấy chỉ có đối với người có Thiền định, không phải với người không thiền định. Liên hệ đến như thật trí về sự sanh diệt của chúng sanh, Ta tuyên bố rằng trí ấy chỉ có đối với người có Thiền định. Ở đây, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến như thật trí về sự đoạn diệt các lậu hoặc, Ta tuyên bố rằng trí ấy chỉ có đối với người có Thiền định, không phải với người không có thiền định . Như vậy, này các Tỷ-kheo, định là chánh đạo, không định là tà đạo.