Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm Về Chư Thiên

AN 6.65 Quả Vị Không Còn Quay Lại (Quả Bất Lai) Anāgāmiphalasutta

"Này các Tỷ-kheo, nếu không từ bỏ sáu pháp này, các ông không thể chứng ngộ quả Bất Lai (fruit of non-return / quả vị không còn quay lại cõi dục). Sáu pháp đó là gì? Thiếu niềm tin, không xấu hổ, và không sợ điều ác; lười biếng, thiếu tỉnh thức, và thiếu trí tuệ. Nếu không từ bỏ sáu pháp này, các ông không thể chứng ngộ quả Bất Lai.

Sau khi từ bỏ sáu pháp này, các ông có thể chứng ngộ quả Bất Lai. Sáu pháp đó là gì? Thiếu niềm tin, không xấu hổ, và không sợ điều ác; lười biếng, thiếu tỉnh thức, và thiếu trí tuệ. Sau khi từ bỏ sáu pháp này, các ông có thể chứng ngộ quả Bất Lai."

VII. Phẩm Chư Thiên

(I) (65) Vị Bất Lai

1. - Do không đoạn tận sáu pháp, này các Tỷ-kheo, không có thể chứng được quả Bất lai. Thế nào là sáu?

2. Bất tín, không tàm, không quý, biếng nhác, thất niệm, ác tuệ. Do không đoạn tận sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, không có thể chứng được quả Bất lai.

3. Do đoạn tận sáu pháp, này các Tỷ-kheo, có thể chứng được quả Bất lai. Thế nào là sáu?

4. Bất tín, không tàm, không quý, biếng nhác, thất niệm, ác tuệ. Này các Tỷ-kheo, do đoạn tận sáu pháp này, có thể chứng được quả Bất lai.

AN 6.66 Quả Vị A-la-hán Arahattasutta

"Này các Tỷ-kheo, nếu không từ bỏ sáu pháp này, các ông không thể chứng ngộ quả A-la-hán. Sáu pháp đó là gì? Uể oải sao nhãng (dullness / tâm trí lờ đờ, thiếu tập trung), buồn ngủ (drowsiness / trạng thái buồn ngủ), bồn chồn lo lắng (restlessness / tâm không yên, lo nghĩ), hối hận (remorse / ăn năn về việc đã làm), thiếu niềm tin, và sao nhãng (negligence / sự lơ là, không chú tâm). Nếu không từ bỏ sáu pháp này, các ông không thể chứng ngộ quả A-la-hán.

Sau khi từ bỏ sáu pháp này, các ông có thể chứng ngộ quả A-la-hán. Sáu pháp đó là gì? Uể oải sao nhãng, buồn ngủ, bồn chồn lo lắng, hối hận, thiếu niềm tin, và sao nhãng. Sau khi từ bỏ sáu pháp này, các ông có thể chứng ngộ quả A-la-hán."

(III) (66) A-La-Hán

1. - Do không đoạn tận sáu pháp, này Tỷ-kheo, không có thể chứng được quả A-la-hán. Thế nào là sáu?

2. Hôn trầm, thụy miên, trạo cử, hối quá, bất tín, phóng dật. Này các Tỷ-kheo, do không đoạn tận sáu pháp này, không có thể chứng được quả A-la-hán.

3. Do đoạn tận sáu pháp, này các Tỷ-kheo, có thể chứng được quả A-la-hán. Thế nào là sáu?

4. - Hôn trầm, thụy miên, trạo cử, hối quá, bất tín, phóng dật. Này các Tỷ-kheo, do đoạn tận sáu pháp này, có thể chứng quả A-la-hán.

AN 6.67 Bạn Bè Mittasutta

"Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo có bạn xấu, bạn đồng hành xấu, bạn bè xấu, thường xuyên giao du, gần gũi, lui tới và noi theo gương xấu của họ, thì không thể nào hoàn thành được việc thực hành các điều học phụ (supplementary regulations / những giới luật bổ sung). Không hoàn thành việc thực hành các điều học phụ, thì không thể nào hoàn thành được việc thực hành của một người còn phải học (trainee / người đang trong quá trình tu học, chưa phải A-la-hán). Không hoàn thành việc thực hành của một người còn phải học, thì không thể nào hoàn thành được giới hạnh (ethics / các quy tắc đạo đức). Không hoàn thành giới hạnh, thì không thể nào từ bỏ được dục tham (sensual desire / ham muốn dục lạc), hay ham muốn tái sinh vào cõi sắc giới hoặc cõi vô sắc giới.

Một Tỷ-kheo có bạn tốt, bạn đồng hành tốt, bạn bè tốt, thường xuyên giao du, gần gũi, lui tới và noi theo gương tốt của họ, thì hoàn toàn có thể hoàn thành được việc thực hành các điều học phụ. Đã hoàn thành việc thực hành các điều học phụ, thì có thể hoàn thành được việc thực hành của một người còn phải học. Đã hoàn thành việc thực hành của một người còn phải học, thì có thể hoàn thành được giới hạnh. Đã hoàn thành giới hạnh, thì có thể từ bỏ được dục tham, và ham muốn tái sinh vào cõi sắc giới và cõi vô sắc giới."

(III) (67) Những Người Bạn

1. - Thật vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy, là ác thân hữu, ác bằng hữu, ác bạn bè, thân cận, hầu hạ, tôn kính ác thân hữu, chấp nhận tà kiến của họ, sẽ làm cho viên mãn hành trì pháp, sự kiện này không xảy ra. Không viên mãn hành trì pháp, sẽ có thể làm cho viên mãn hữu học pháp, sự kiện này không xảy ra. Không viên mãn hữu học pháp, sẽ viên mãn các giới luật, sự kiện này không xảy ra. Không viên mãn các giới luật, sẽ từ bỏ dục tham, sắc tham, hay vô sắc tham, sự kiện này không xảy ra

2. Thật vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy, là thiện thân hữu, thiện bằng hữu, thiện bạn bè, thân cận, hầu hạ, tôn kính thiện thân hữu, chấp nhận chánh kiến của họ, sẽ làm cho viên mãn hành trì pháp, sự kiện này có thể xảy ra. Sau khi viên mãn hành trì pháp, sẽ có thể làm cho viên mãn hữu học pháp, sự kiện này có thể xảy ra. Sau khi làm cho viên mãn hữu học pháp, sẽ làm cho viên mãn các giới luật, sự kiện này có xảy ra. Sau khi làm cho viên mãn các giới luật sẽ từ bỏ dục tham, sắc tham, hay vô sắc tham, sự kiện này có xảy ra.

AN 6.68 Ưa Thích Hội Chúng Saṅgaṇikārāmasutta

"Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo thích hội chúng và đoàn thể, yêu thích chúng và ưa thích vui hưởng chúng, thì không thể nào tìm thấy niềm vui trong sự độc cư, ẩn dật. Không tìm thấy niềm vui trong sự độc cư, ẩn dật, thì không thể nào học được các khuôn mẫu của tâm (patterns of the mind / các trạng thái, diễn biến của tâm). Không học được các khuôn mẫu của tâm, thì không thể nào hoàn thành được chánh kiến (right view / thấy biết đúng đắn). Không hoàn thành chánh kiến, thì không thể nào hoàn thành được chánh định (right immersion / sự tập trung đúng đắn). Không hoàn thành chánh định, thì không thể nào từ bỏ được các kiết sử (fetters / những trói buộc của tâm). Không từ bỏ được các kiết sử, thì không thể nào chứng ngộ Niết-bàn (extinguishment / sự kết thúc khổ đau).

Một Tỷ-kheo không thích hội chúng và đoàn thể, không yêu thích chúng và không ưa thích vui hưởng chúng, thì hoàn toàn có thể tìm thấy niềm vui trong sự độc cư, ẩn dật. Đối với người tìm thấy niềm vui trong sự độc cư, ẩn dật, thì có thể học được các khuôn mẫu của tâm. Đối với người học được các khuôn mẫu của tâm, thì có thể hoàn thành được chánh kiến. Đã hoàn thành chánh kiến, thì có thể hoàn thành được chánh định. Đã hoàn thành chánh định, thì có thể từ bỏ được các kiết sử. Đã từ bỏ được các kiết sử, thì có thể chứng ngộ Niết-bàn."

(IV) (68) Hội Chúng

1. - Thật vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy ưa thích hội chúng, vui thích hội chúng, chuyên tâm ưa thích hội chúng, ưa thích đồ chúng, vui thích đồ chúng, chuyên tâm ưa thích đồ chúng, vui thích đồ chúng sẽ hoan hỷ sống một mình, sống viễn ly, sự kiện này không xảy ra. Không hoan hỷ sống một mình, sống viễn ly, vị ấy sẽ nắm giữ tướng của tâm, sự kiện này không xảy ra, Không nắm giữ tướng của tâm, sẽ làm cho viên mãn chánh kiến, sự kiện này không xảy ra. Không làm cho viên mãn chánh kiến, sẽ làm cho viên mãn chánh định, sự kiện này không xảy ra. Không làm cho viên mãn chánh định, sẽ từ bỏ các kiết sử, sự kiện này không xảy ra. Không từ bỏ các kiết sử, sẽ chứng ngộ Niết-bàn, sự kiện này không xảy ra.

2. Thật vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy không ưa thích hội chúng, không vui thích hội chúng, không chuyên tâm ưa thích hội chúng, không ưa thích đồ chúng, không vui thích đồ chúng, không chuyên tâm ưa thích đồ dùng, không vui thích đồ dùng, không chuyên tâm ưa thích đồ dùng, sẽ hoan hỷ sống một mình, sống viễn ly, sự kiện này có xảy ra. Hoan hỷ sống một mình, sống viễn ly, vị ấy sẽ nắm giữ tướng của tâm, sự kiện này có xảy ra. Nắm giữ tướng của tâm, sẽ làm cho viên mãn chánh kiến, sự kiện này có xảy ra. Làm cho viên mãn chánh kiến, sẽ làm cho viên mãn chánh định, sự kiện này có xảy ra. Làm cho viên mãn chánh định, sẽ từ bỏ các kiết sử, sự kiện này có xảy ra. Từ bỏ các kiết sử, sẽ chứng ngộ Niếtbàn, sự kiện này có xảy ra.

AN 6.69 Một Vị Trời Devatāsutta

Rồi, vào cuối đêm, một vị trời rực rỡ, chiếu sáng toàn bộ rừng Kỳ-đà, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, đứng sang một bên, và thưa với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, sáu pháp này không dẫn đến sự suy thoái của một Tỷ-kheo. Sáu pháp đó là gì? Kính trọng Bậc Đạo Sư, kính trọng Giáo Pháp, kính trọng Tăng đoàn, kính trọng sự tu học; dễ được khuyên bảo, và tình bạn tốt đẹp. Sáu pháp này không dẫn đến sự suy thoái của một Tỷ-kheo.”

Vị trời ấy nói như vậy, và Bậc Đạo Sư đã chấp thuận. Rồi vị trời ấy, biết rằng Bậc Đạo Sư đã chấp thuận, đảnh lễ, và kính cẩn đi quanh Đức Phật theo chiều bên phải, trước khi biến mất ngay tại đó.

Rồi, khi đêm đã qua, Đức Phật nói với các Tỷ-kheo:

"Đêm nay, một vị trời rực rỡ, chiếu sáng toàn bộ rừng Kỳ-đà, đến gặp Ta, đảnh lễ, đứng sang một bên, và thưa với Ta: ‘Bạch Thế Tôn, sáu pháp này không dẫn đến sự suy thoái của một Tỷ-kheo. Sáu pháp đó là gì? Kính trọng Bậc Đạo Sư, kính trọng Giáo Pháp, kính trọng Tăng đoàn, kính trọng sự tu học; dễ được khuyên bảo, và tình bạn tốt đẹp. Sáu pháp này không dẫn đến sự suy thoái của một Tỷ-kheo.’

Đó là những gì vị trời ấy đã nói. Rồi vị ấy đảnh lễ và kính cẩn đi quanh Ta, giữ Ta ở phía bên phải của vị ấy, trước khi biến mất ngay tại đó."

Khi Ngài nói điều này, Tôn giả Xá-lợi-phất thưa với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa chi tiết của lời dạy ngắn gọn của Đức Phật như sau. Đó là khi một Tỷ-kheo tự mình kính trọng Bậc Đạo Sư và tán thán sự kính trọng đó. Và vị ấy khuyến khích các Tỷ-kheo khác thiếu sự kính trọng như vậy hãy kính trọng Bậc Đạo Sư. Và vị ấy tán thán các Tỷ-kheo khác kính trọng Bậc Đạo Sư vào đúng lúc, một cách chân thật và đúng đắn. Vị ấy tự mình kính trọng Giáo Pháp… Vị ấy tự mình kính trọng Tăng đoàn… Vị ấy tự mình kính trọng sự tu học… Vị ấy tự mình dễ được khuyên bảo… Vị ấy tự mình có bạn bè tốt, và tán thán tình bạn như vậy. Và vị ấy khuyến khích các Tỷ-kheo khác thiếu bạn bè tốt hãy xây dựng tình bạn tốt đẹp. Và vị ấy tán thán các Tỷ-kheo khác có bạn bè tốt vào đúng lúc, một cách chân thật và đúng đắn. Đó là cách con hiểu ý nghĩa chi tiết của lời dạy ngắn gọn của Đức Phật.”

"Lành thay, lành thay, Xá-lợi-phất! Thật tốt khi con hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Ta đã nói ngắn gọn như thế này.

Đó là khi một Tỷ-kheo tự mình kính trọng Bậc Đạo Sư… Vị ấy tự mình kính trọng Giáo Pháp… Vị ấy tự mình kính trọng Tăng đoàn… Vị ấy tự mình kính trọng sự tu học… Vị ấy tự mình dễ được khuyên bảo… Vị ấy tự mình có bạn bè tốt, và tán thán tình bạn như vậy. Và vị ấy khuyến khích các Tỷ-kheo khác thiếu bạn bè tốt hãy xây dựng tình bạn tốt đẹp. Và vị ấy tán thán các Tỷ-kheo khác có bạn bè tốt vào đúng lúc, một cách chân thật và đúng đắn. Đây là cách để hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Ta đã nói ngắn gọn."

(V) (69) Vị Thiên Nhân

1. Bấy giờ có một Thiên nhân, sau đêm gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị Thiên nhân ấy bạch Thế Tôn:

− Có sáu pháp này, bạch Thế Tôn, dắt dẫn vị Tỷ-kheo đi đến không thối đọa. Thế nào là sáu? Tôn kính Ðạo Sư, tôn kính Pháp, tôn kính Tăng, tôn kính học pháp, tôn kính thiện ngôn, tôn kính thiện bằng hữu. Sáu pháp này, bạch Thế Tôn, dắt dẫn vị Tỷ-kheo đi đến không thối đọa. Thiên nhân ấy nói như vậy, bậc Ðạo Sư chấp nhận. thiên nhân ấy, với ý nghĩ: “Bậc Ðạo Sư đã chấp nhận ta”, đảnh lễ Thế tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, rồi biến mất tại chỗ.

2. Rồi Thế Tôn sau khi đêm ấy đã mãn, gọi các Tỷ-kheo và nói:

− Này các Tỷ-kheo, đêm nay có một Thiên nhân, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Ta, sau khi đến, đảnh lễ Ta, rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị Thiên nhân ấy bạch với Ta: “Có sáu pháp này, bạch Thế Tôn, dắt dẫn vị Tỷ-kheo đi đến không thối đọa. Thế nào là sáu? Tôn kính bậc Ðạo Sư, tôn kính Pháp, tôn kính Tăng, tôn kính học pháp, tôn kính thiện ngôn, tôn kính thiện bằng hữu. Sáu pháp này, bạch Thế Tôn, dắt dẫn Tỷ-kheo đi đến không thối đọa”. Này các Tỷ-kheo, vị Thiên nhân ấy nói như vậy, nói như vậy xong, đảnh lễ Ta, thân bên hữu hướng về Ta rồi biến mất tại chỗ.

3. Ðược nói như vậy, Tôn giả Sàriputta đảnh lễ Thế Tôn và thưa rằng:

− Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vầy: Ở đây, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo tự mình tôn kính bậc Ðạo sư và nói lời tán thán sự tôn kính bậc Ðạo Sư. Ðối với các Tỷ-kheo khác không tôn kính bậc Ðạo Sư, họ được khích lệ trong sự tôn kính bậc Ðạo Sư. Và đối với các Tỷ-kheo khác có tôn kính bậc Ðạo Sư, vị ấy nói lên lời tán thán với họ, như chân, như thật, đúng thời. Tự mình tôn kính Pháp… tự mình tôn kính thiện ngôn… tự mình tôn kính thiện bằng hữu và nói lời tán thán sự tôn kính thiện bằng hữu. Ðối với các Tỷ-kheo khác không tôn kính thiện bằng hữu, họ được khích lệ trong sự tôn kính thiện bằng hữu, vị ấy nói lên lời tán thán với họ, như chân, như thật, đúng thời. Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

− Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Lành thay này Sàriputta, Thầy đã hiểu lời noi vắn tắt này của Ta một cách rộng rãi như vậy. Ở đây, này Sàriputta, Tỷ-kheo tự mình tôn kính bậc Ðạo Sư, và nói lời tán thán sự tôn kính bậc Ðạo Sư.

Ðối với các vị Tỷ-kheo khác không tôn kính bậc Ðạo Sư, họ được khích lệ trong sự tôn kính bậc Ðạo Sư. Và đối với các vị Tỷ-kheo khác có tôn kính bậc Ðạo Sư, vị ấy nói lên lời tán thán với họ như chân, như thật, đúng thời. Tự mình tôn kính Pháp… tự mình tôn kính Tăng… tự mình tôn kính học pháp… tự mình tôn kính thiện ngôn… tự mình tôn kính thiện bằng hữu và nói lời tán thán sự tôn kính thiện bằng hữu. Ðối với các Tỷ-kheo khác không tôn kính thiện bằng hữu, họ được khích lệ trong sự tôn kính thiện bằng hữu. Và đối với các Tỷ-kheo khác có tôn kính bằng hữu, vị ấy nói lên lời tán thán với họ như chân, như thật, đúng thời. Này Sàriputta lời nói vắn tắt này của Ta cần phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi.

AN 6.70 Thiền Định Samādhisutta

"Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo không có định (immersion / sự tập trung tâm ý) an tịnh, vi tế, lắng dịu, và nhất tâm thì không thể nào thể hiện được nhiều loại thần thông (psychic power / năng lực siêu nhiên): từ một thân hiện thành nhiều thân, rồi từ nhiều thân trở lại một thân; hiện hình và biến mất; đi xuyên qua tường, thành lũy, hay núi non không bị cản trở như đi trong hư không; độn thổ và trồi lên khỏi mặt đất như trong nước; đi trên mặt nước như trên đất liền; bay đi trong hư không như chim đang bay, ngồi kiết già; chạm và vuốt ve mặt trời và mặt trăng, vốn rất hùng mạnh và uy lực. Họ kiểm soát thân thể cho đến tận cõi trời Phạm thiên.

Không thể nào với thiên nhĩ thông (clairaudience / khả năng nghe siêu phàm) thanh tịnh và siêu phàm, họ nghe được cả hai loại âm thanh, của người và của trời, dù gần hay xa.

Không thể nào họ hiểu được tâm của các chúng sinh và cá nhân khác, sau khi đã thấu hiểu chúng bằng tâm của chính mình, hiểu tâm có tham là ‘tâm có tham’… và tâm giải thoát (freed mind / tâm đã được giải thoát khỏi phiền não) là ‘tâm giải thoát’.

Không thể nào họ nhớ lại được nhiều đời quá khứ, với các đặc điểm và chi tiết.

Không thể nào với thiên nhãn thông (clairvoyance / khả năng thấy siêu phàm) thanh tịnh và vượt hơn người thường, họ hiểu được chúng sinh tái sinh như thế nào tùy theo nghiệp của họ.

Không thể nào họ chứng ngộ được tâm giải thoát không còn ô nhiễm và tuệ giải thoát (freedom by wisdom / sự giải thoát bằng trí tuệ) ngay trong đời này, và sống sau khi đã chứng ngộ điều đó bằng tuệ giác của chính mình do sự chấm dứt các lậu hoặc (defilements / những ô nhiễm tiềm ẩn).

Nhưng một Tỷ-kheo có định an tịnh, vi tế, lắng dịu, và nhất tâm thì hoàn toàn có thể thể hiện được nhiều loại thần thông…

Có thể với thiên nhĩ thông thanh tịnh và siêu phàm, họ nghe được cả hai loại âm thanh…

Có thể họ hiểu được tâm của các chúng sinh khác…

Có thể họ nhớ lại được nhiều đời quá khứ, với các đặc điểm và chi tiết.

Có thể với thiên nhãn thông thanh tịnh và vượt hơn người thường, họ hiểu được chúng sinh tái sinh như thế nào tùy theo nghiệp của họ.

Có thể họ chứng ngộ được tâm giải thoát không còn ô nhiễm và tuệ giải thoát ngay trong đời này, và sống sau khi đã chứng ngộ điều đó bằng tuệ giác của chính mình do sự chấm dứt các lậu hoặc."

(VI) (70) Thần Thông

1. - Thật vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy không có Thiền định, tịch tĩnh, không đạt được khinh an thù diệu, không chứng đắc nội tĩnh nhứt tâm, sẽ chứng được nhiều loại thần thông. Một thân hiện ra nhiều thân… nhiều thân hiện ra một thân… có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên, sự kiện này không xảy ra. Với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân sẽ nghe hai loại tiếng chư Thiên và loài Người, xa và gần, sự kiện này không xảy ra. Sau khi đi sâu vào tâm của các chúng sanh, của loài Người với tâm của mình, vị ấy sẽ rõ biết được: “Tâm có tham, biết là tâm có tham… tâm không giải thoát, biết là tâm không giải thoát” sự kiện này không xảy ra. Sẽ nhớ đến các Ðời sống quá khứ, như một đời, hai đời. Sẽ nhớ đến các đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết, sự kiện này không xảy ra. Với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, sẽ thấy được các chúng sanh… vị ấy sẽ rõ biết các chúng sanh tùy theo hạnh nghiệp của họ, sự kiện này không xảy ra. Do đoạn diệt các lậu hoặc… sau khi chứng ngộ, chứng đạt và an trú, sự kiện này không xảy ra. 2. Thật vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy có Thiền định tịch tĩnh, đạt được sự khinh an thù diệu, chứng đắc nội tĩnh nhứt tâm, sẽ chứng được nhiều loại thần thông. Một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân… có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên, sự kiện này có thể xảy ra. Với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân, sẽ nghe hai loại tiếng chư Thiên và loài Người, xa và gần, sự kiện này có xảy ra. Sau khi đi sâu vào tâm của các chúng sanh, của loài Người với tâm của mình, vị ấy sẽ rõ biết: “Tâm có tham, biết được là tâm có tham… tâm không giải thoát, biết được là tâm không giải thoát”, sự kiện này có xảy ra. Vị ấy sẽ nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời… sẽ nhớ đến đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết, sự kiện này có xảy ra. Với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, sẽ thấy được các chúng sanh… vị ấy sẽ rõ biết các chúng sanh tùy theo hạnh nghiệp của họ”, sự kiện nào có xảy ra. Do đoạn diệt các lậu hoặc… sau khi chứng ngộ, chứng đạt và an trú, sự kiện này có xảy ra.

AN 6.71 Khả Năng Chứng Ngộ Sakkhibhabbasutta

"Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo có sáu phẩm chất thì không có khả năng chứng ngộ bất cứ điều gì có thể chứng ngộ, vì mỗi một điều đều nằm trong tầm tay. Sáu phẩm chất đó là gì? Đó là khi một Tỷ-kheo không thực sự hiểu rõ những phẩm chất nào làm cho mọi việc trở nên tồi tệ hơn, những phẩm chất nào giữ cho mọi việc ổn định, những phẩm chất nào dẫn đến sự thù thắng (distinction / sự vượt trội, đặc biệt), và những phẩm chất nào dẫn đến sự thâm nhập (penetration / sự thấu suốt, liễu ngộ). Và vị ấy không thực hành cẩn thận hoặc không làm những gì phù hợp. Một Tỷ-kheo có sáu phẩm chất này thì không có khả năng chứng ngộ bất cứ điều gì có thể chứng ngộ, vì mỗi một điều đều nằm trong tầm tay.

Một Tỷ-kheo có sáu phẩm chất thì có khả năng chứng ngộ bất cứ điều gì có thể chứng ngộ, vì mỗi một điều đều nằm trong tầm tay. Sáu phẩm chất đó là gì? Đó là khi một Tỷ-kheo thực sự hiểu rõ những phẩm chất nào làm cho mọi việc trở nên tồi tệ hơn, những phẩm chất nào giữ cho mọi việc ổn định, những phẩm chất nào dẫn đến sự thù thắng, và những phẩm chất nào dẫn đến sự thâm nhập. Và vị ấy thực hành cẩn thận và làm những gì phù hợp. Một Tỷ-kheo có sáu phẩm chất này thì có khả năng chứng ngộ bất cứ điều gì có thể chứng ngộ, vì mỗi một điều đều nằm trong tầm tay."

(VII) (71) Chứng Nhân

1- Thành tựu sáu pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có thể đạt được địa vị chứng nhân, quả chứng này hay quả chứng khác, dầu thuộc loại xứ nào. Thế nào là sáu?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không như thật rõ biết: “Những pháp này dự phần vào thối đọa”, không như thật rõ biết: “Những pháp này dự phần vào an trú”, không như thật rõ biết: “Những pháp này dự phần vào thắng tiến hay thù thắng”, không như thật rõ biết: “Những pháp này dự phần vào thể nhập”, làm việc không chu toàn và làm việc không có lợi ích.

Thành tựu sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, không có thể đạt được địa vị một chứng nhân, quả chứng này hay quả chứng khác, dầu thuộc loại xứ nào.

3. Thành tựu sáu pháp này, các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật rõ biết: “Những pháp này dự phần vào thối đọa”, như thật rõ biết: “Những pháp này dự phần vào an trú”, như thật rõ biết:” Những pháp này dự phần vào thắng tiến”, Nhu thật rõ biết “Những pháp này dự phần vào dự phần vào thể nhập”, làm việc có chu toàn, làm việc có lợi ích.

Thành tựu sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có thể đạt được địa vị chứng nhân, qua chứng này hay qua chứng khác, dầu thuộc loại xứ nào

AN 6.72 Sức Mạnh Balasutta

"Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo có sáu phẩm chất không thể đạt được sức mạnh trong định (strength in immersion / năng lực vững chắc trong thiền định). Sáu phẩm chất đó là gì? Đó là khi một Tỷ-kheo không thiện xảo trong việc nhập định, không thiện xảo trong việc trụ định, hoặc không thiện xảo trong việc xuất định. Và vị ấy không thực hành cẩn thận và kiên trì, và không làm những gì phù hợp. Một Tỷ-kheo có sáu phẩm chất này không thể đạt được sức mạnh trong định.

Một Tỷ-kheo có sáu phẩm chất có thể đạt được sức mạnh trong định. Sáu phẩm chất đó là gì? Đó là khi một Tỷ-kheo thiện xảo trong việc nhập định, thiện xảo trong việc trụ định, và thiện xảo trong việc xuất định. Và vị ấy thực hành cẩn thận và kiên trì, và làm những gì phù hợp. Một Tỷ-kheo có sáu phẩm chất này có thể đạt được sức mạnh trong định."

(VIII) (72) Sức Mạnh

1. - Thành tựu sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có thể đạt được sức mạnh trong Thiền định. Thế nào là sáu?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không thiện xảo đạt được thiền định, không thiện xảo an trú được Thiền định, không thiện xảo xuất khỏi thiền định, làm việc không chu toàn, làm việc không kiên trì và làm việc không có lợi ích.

Thành tựu sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có thể đạt được sức mạnh trong Thiền định.

3. Thành tựu sáu pháp này, này các Tỷ-kheo có thể đạt được sứ mạnh trong Thiền định. Thế nào là sáu?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thiện xảo đạt được Thiền định, thiện xảo an trú được Thiền định, thiện xảo xuất khỏi Thiền định, làm việc có chu toán, làm việc có kiên trì, làm việc có lợi ích.

Thành tựu sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo có thể đạt được sức mạnh trong Thiền định.

AN 6.73 Sơ Thiền (Thứ Nhất) Paṭhamatajjhānasutta

"Này các Tỷ-kheo, nếu không từ bỏ sáu phẩm chất này, các ông không thể nhập và an trú trong sơ thiền (first absorption / tầng thiền thứ nhất). Sáu phẩm chất đó là gì? Ham muốn dục lạc, sân hận (ill will / tức giận, ác ý), uể oải sao nhãng và buồn ngủ (dullness and drowsiness / sự buồn ngủ và tâm trí lờ đờ), bồn chồn lo lắng và hối hận (restlessness and remorse / bồn chồn và hối hận), và nghi ngờ. Và những tác hại của dục lạc chưa được thấy rõ một cách chân thật bằng chánh trí tuệ. Nếu không từ bỏ sáu phẩm chất này, các ông không thể nhập và an trú trong sơ thiền.

Nhưng sau khi từ bỏ sáu phẩm chất này, các ông có thể nhập và an trú trong sơ thiền. Sáu phẩm chất đó là gì? Ham muốn dục lạc, sân hận, uể oải sao nhãng và buồn ngủ, bồn chồn lo lắng và hối hận, và nghi ngờ. Và những tác hại của dục lạc đã được thấy rõ một cách chân thật bằng chánh trí tuệ. Sau khi từ bỏ sáu phẩm chất này, các ông có thể nhập và an trú trong sơ thiền."

(XI) (73) Thiền (1)

1. - Không đoạn tận sáu pháp, này các Tỷ-kheo, không có thể đạt được an trú sơ Thiền. Thế nào là sáu?

2. Dục tham, sân, hôn trầm, thụy miên, trạo hối, nghi, không như thật khéo thấy với chánh trí tuệ các nguy hại trong các dục. Không đoạn tận sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, không có thể đạt được và an trú sơ thiền.

3. Ðoạn tận sáu pháp, này các Tỷ-kheo, có thể đạt được và an trú sơ Thiền. Thế nào là sáu?

4. Dục tham, sân, hôn trầm thụy miên, trạo hối, nghi, như thật khéo thấy với chánh trí tuệ các nguy hại trong các dục. Ðoạn tận sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, có thể đạt được và an trú sơ Thiền.

AN 6.74 Sơ Thiền (Thứ Hai) Dutiyatajjhānasutta

"Này các Tỷ-kheo, nếu không từ bỏ sáu phẩm chất này, các ông không thể nhập và an trú trong sơ thiền. Sáu phẩm chất đó là gì? Những suy nghĩ về dục lạc, ác ý, và tàn nhẫn; và những nhận thức (perceptions / tưởng, nhận ra) về dục lạc, ác ý, và tàn nhẫn. Nếu không từ bỏ sáu phẩm chất này, các ông không thể nhập và an trú trong sơ thiền.

Nhưng sau khi từ bỏ sáu phẩm chất này, các ông có thể nhập và an trú trong sơ thiền. Sáu phẩm chất đó là gì? Những suy nghĩ về dục lạc, ác ý, và tàn nhẫn; và những nhận thức về dục lạc, ác ý, và tàn nhẫn. Sau khi từ bỏ sáu phẩm chất này, các ông có thể nhập và an trú trong sơ thiền."

(74) Thiền (2)

1. - Không đoạn tận sáu pháp, này các Tỷ-kheo, không có thể đạt được và an trú sơ Thiền. Thế nào là sáu?

2. Dục tâm, sân tâm, hại tâm, dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng. Không đoạn tận sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, không có thể đạt được và an trú sơ Thiền.

3. Ðoạn tận sáu pháp, này các Tỷ-kheo, có thể đạt được và an trú sơ Thiền. Thế nào là sáu?

4. Dục tầm, sân tầm, hại tầm, dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng. Ðoạn tận sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, có thể đạt được và an trú sơ Thiền.