Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về Chư Thiên

AN 7.32 Kính Trọng Sự Tinh Cần Appamādagāravasutta

Rồi, vào lúc đêm khuya, một vị trời rực rỡ, chiếu sáng khắp rừng Jeta, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, đứng sang một bên, và thưa với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, bảy điều này không dẫn đến sự suy thoái của một vị Tỷ-kheo đang tu học. Bảy điều đó là gì? Kính trọng Bậc Đạo Sư, kính trọng Giáo Pháp, kính trọng Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng tu sĩ), kính trọng sự học tập, kính trọng thiền định (immersion / sự tập trung sâu), kính trọng sự tinh cần (diligence / siêng năng, không sao nhãng), và kính trọng sự hiếu khách. Bảy điều này không dẫn đến sự suy thoái của một vị Tỷ-kheo đang tu học.”

Vị trời ấy đã thưa như vậy, và Bậc Đạo Sư đã chấp thuận. Rồi vị trời ấy, biết rằng Bậc Đạo Sư đã chấp thuận, đảnh lễ và đi quanh Đức Phật theo chiều bên phải một cách kính cẩn, trước khi biến mất ngay tại đó.

Rồi, khi đêm đã qua, Đức Phật kể lại cho các vị Tỷ-kheo tất cả những gì đã xảy ra, và nói thêm:

"Kính trọng Bậc Đạo Sư và Giáo Pháp,
Và hết lòng kính trọng Tăng đoàn;
Kính trọng thiền định, luôn tinh tấn,
Và hết lòng kính trọng sự học tập.

Một vị Tỷ-kheo kính trọng sự tinh cần
Và lòng hiếu khách
Không thể suy thoái,
Và đã đến gần Niết-bàn."

IV. Phẩm Chư Thiên

(I) (31) Không Phóng Dật

1. Bấy giờ có một Thiên nhân, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên nhân ấy bạch Thế Tôn:

− Có bảy pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến đọa lạc. Thế nào là bảy? Tôn kính bậc Ðạo Sư, tôn kính Pháp; tôn kính chúng Tăng; tôn kính học tập; tôn kính định; tôn kính không phóng dật; tôn kính nghinh đón. Bảy pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến đọa lạc.

Thiên nhân ấy nói như vậy. Bậc Ðạo Sư chấp nhận. Rồi Thiên nhân ấy với ý nghĩ: “Bậc Ðạo Sư đã chấp nhận ta”, thân phía hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ.

2. Rồi Thế Tôn, sau khi đêm ấy đã qua, liền bảo các vị Tỷ-kheo:

− Ðêm nay, này các Tỷ-kheo, một Thiên nhân sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, này các Tỷ-kheo, Thiên nhân ấy thưa với Ta: “Có bảy pháp, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến đọa lạc. Thế nào là bảy? Tôn kính bậc Ðạo Sư, tôn kính Pháp; tôn kính Tăng, tôn kính học pháp; tôn kính định; tôn kính không phóng dật, tôn kính nghinh đón. Bảy pháp này bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến đọa lạc”. Này các Tỷ-kheo, Thiên nhân ấy nói như vậy, sau khi nói xong, đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về Ta, rồi biến mất tại chỗ.

Kính trọng bậc Ðạo Sư,
Kính trọng Pháp và Tăng,
Kính trọng định, nhiệt tâm,
Chí thành kính học tập,
Kính trọng không phóng dật,
Chí thành kính nghinh đón,
Không thể bị đọa lạc,
Tỷ-kheo gần Niết-bàn.

AN 7.33 Kính Trọng Lòng Xấu Hổ Hirigāravasutta

“Này các vị Tỷ-kheo, đêm nay, một vị trời rực rỡ, chiếu sáng khắp rừng Jeta, đến gặp Ta, đảnh lễ, đứng sang một bên, và thưa với Ta: ‘Bạch Thế Tôn, bảy điều này không dẫn đến sự suy thoái của một vị Tỷ-kheo đang tu học. Bảy điều đó là gì? Kính trọng Bậc Đạo Sư, kính trọng Giáo Pháp, kính trọng Tăng đoàn, kính trọng sự học tập, kính trọng thiền định, kính trọng lòng xấu hổ (conscience / sự xấu hổ với tội lỗi), và kính trọng lòng sợ điều ác (prudence / sự ghê sợ tội lỗi). Bảy điều này không dẫn đến sự suy thoái của một vị Tỷ-kheo đang tu học.’”

Đó là những gì vị trời ấy đã thưa. Rồi vị ấy đảnh lễ và đi quanh Ta theo chiều bên phải một cách kính cẩn, trước khi biến mất ngay tại đó.

"Người kính trọng Bậc Đạo Sư và Giáo Pháp,
Hết lòng kính trọng Tăng đoàn;
Kính trọng thiền định, luôn tinh tấn,
Và hết lòng kính trọng sự học tập;

Có lòng xấu hổ và lòng sợ điều ác,
Cung kính và tôn trọng—
Không thể nào suy thoái;
Họ đã đến gần Niết-bàn."

(II) (32) Xấu Hổ

1. - Ðêm này, này các Tỷ-kheo, một Thiên nhân, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên, Thiên nhân ấy thưa với Ta: “Có bảy pháp này, bạch Thế Tôn không đưa Tỷ-kheo đến đọa lạc. Thế nào là bảy? Tôn kính bậc Ðạo Sư, tôn kính Pháp; tôn kính Tăng, tôn kính học pháp; tôn kính định; tôn kính xấu hổ, tôn kính sợ hãi. Bảy pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến thối đọa”. Này các Tỷ-kheo, Thiên nhân ấy nói như vậy, nói như vậy xong, đảnh lễ Ta, thân bên hữu hướng về Ta rồi biến mất tại chỗ.

Kính trọng bậc Ðạo Sư,
Kính trọng Pháp và Tăng,
Kính trọng định, nhiệt tâm,
Chí thành kính học pháp,
Ðầy đủ tàm và quý,
Tùy thuận và tôn kính,
Không thể bị đọa lạc,
Vị ấy gần Niết-bàn.

AN 7.34 Dễ Dạy Bảo (Thứ Nhất) Paṭhamasovacassatāsutta

“Này các vị Tỷ-kheo, đêm nay một vị trời… thưa với Ta: ‘Bạch Thế Tôn, bảy điều này không dẫn đến sự suy thoái của một vị Tỷ-kheo đang tu học. Bảy điều đó là gì? Kính trọng Bậc Đạo Sư, kính trọng Giáo Pháp, kính trọng Tăng đoàn, kính trọng sự học tập, kính trọng thiền định; dễ dạy bảo (being easy to admonish / dễ tiếp thu lời khuyên răn), và tình bạn tốt đẹp. Bảy điều này không dẫn đến sự suy thoái của một vị Tỷ-kheo đang tu học.’”

Đó là những gì vị trời ấy đã thưa. Rồi vị ấy đảnh lễ và đi quanh Ta theo chiều bên phải một cách kính cẩn, trước khi biến mất ngay tại đó.

"Kính trọng Bậc Đạo Sư và Giáo Pháp,
Và hết lòng kính trọng Tăng đoàn;
Kính trọng thiền định, luôn tinh tấn,
Và hết lòng kính trọng sự học tập.

Người có bạn tốt, dễ dạy bảo,
Cung kính và tôn trọng,
Không thể suy thoái,
Và đã đến gần Niết-bàn."

(III) (33) Dễ Nói (1)

… (Giống như kinh 32, chỉ khác là thay thế hai pháp cuối cùng tàm và quý bằng thiện ngôn (dễ nói) và thiện bằng hữu)…

AN 7.35 Dễ Dạy Bảo (Thứ Hai) Dutiyasovacassatāsutta

“Này các vị Tỷ-kheo, đêm nay một vị trời… thưa với Ta: ‘Bạch Thế Tôn, bảy điều này không dẫn đến sự suy thoái của một vị Tỷ-kheo đang tu học. Bảy điều đó là gì? Kính trọng Bậc Đạo Sư, kính trọng Giáo Pháp, kính trọng Tăng đoàn, kính trọng sự học tập, kính trọng thiền định; dễ dạy bảo, và tình bạn tốt đẹp. Bảy điều này không dẫn đến sự suy thoái của một vị Tỷ-kheo đang tu học.’”

Đó là những gì vị trời ấy đã thưa. Rồi vị ấy đảnh lễ và đi quanh Ta theo chiều bên phải một cách kính cẩn, trước khi biến mất ngay tại đó."

Khi Ngài nói điều này, Tôn giả Xá Lợi Phất thưa với Đức Phật:

"Bạch Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa chi tiết của lời dạy vắn tắt của Đức Phật như sau.

Đó là khi một vị Tỷ-kheo tự mình kính trọng Bậc Đạo Sư và tán thán sự kính trọng đó. Và vị ấy khuyến khích các vị Tỷ-kheo khác chưa có lòng kính trọng hãy kính trọng Bậc Đạo Sư. Và vị ấy tán thán các vị Tỷ-kheo khác kính trọng Bậc Đạo Sư đúng lúc, một cách chân thật và đúng đắn.

Vị ấy tự mình kính trọng Giáo Pháp …

Vị ấy tự mình kính trọng Tăng đoàn …

Vị ấy tự mình kính trọng sự học tập …

Vị ấy tự mình kính trọng thiền định …

Vị ấy tự mình dễ dạy bảo …

Vị ấy tự mình có bạn tốt, và tán thán tình bạn như vậy. Và vị ấy khuyến khích các vị Tỷ-kheo khác chưa có bạn tốt hãy xây dựng tình bạn tốt đẹp. Và vị ấy tán thán các vị Tỷ-kheo khác có bạn tốt đúng lúc, một cách chân thật và đúng đắn.

Đó là cách con hiểu ý nghĩa chi tiết của lời dạy vắn tắt của Đức Phật."

"Lành thay, lành thay, Xá Lợi Phất! Thật tốt khi con hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Ta đã nói vắn tắt như vậy.

Đó là khi một vị Tỷ-kheo tự mình kính trọng Bậc Đạo Sư … Và vị ấy khuyến khích các vị Tỷ-kheo khác chưa có lòng kính trọng hãy kính trọng Bậc Đạo Sư. Và vị ấy tán thán các vị Tỷ-kheo khác kính trọng Bậc Đạo Sư đúng lúc, một cách chân thật và đúng đắn.

Vị ấy tự mình kính trọng Giáo Pháp …

Vị ấy tự mình kính trọng Tăng đoàn …

Vị ấy tự mình kính trọng sự học tập …

Vị ấy tự mình kính trọng thiền định …

Vị ấy tự mình dễ dạy bảo …

Vị ấy tự mình có bạn tốt, và tán thán tình bạn như vậy. Và vị ấy khuyến khích các vị Tỷ-kheo khác chưa có bạn tốt hãy xây dựng tình bạn tốt đẹp. Và vị ấy tán thán các vị Tỷ-kheo khác có bạn tốt đúng lúc, một cách chân thật và đúng đắn.

Đây là cách hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Ta đã nói vắn tắt."

(IV) (34) Dể Nói (2)

1. - Ðêm nay, này các Tỷ-kheo, một Thiên nhân sau khi đêm ấy đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị ấy thưa với Ta: “Bảy pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến đọa lạc. Thế nào là bảy? Tôn kính bậc Ðạo Sư, tôn kính Pháp; tôn kính Tăng, tôn kính học pháp; tôn kính định; tôn kính thiện ngôn, tôn kính thiện bằng hữu. Bảy pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến đọa lạc”. Này các Tỷ-kheo, Thiên nhân ấy nói như vậy, sau khi nói xong, đảnh lễ Ta, thân bên hữu hướng về Ta rồi biến mất tại chỗ.

2. Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:

3. - Lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, bạch Thế Tôn, con hiểu một cách rộng rãi như sau: Ở đây, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo tự mình tôn kính bậc Ðạo Sư, tán thán sự tôn kính bậc Ðạo Sư. Ðối với những Tỷ-kheo khác không tôn kính bậc Ðạo Sư, vị ấy khích lệ họ tôn kính bậc Ðạo Sư. Ðối với những Tỷ-kheo khác tôn kính bậc Ðạo Sư, vị ấy tán thán một cách chơn thật, chơn chánh, đúng thời. Tự mình tôn kính Pháp… tự mình tôn kính chúng Tăng… tự mình tôn kính học pháp… tự mình tôn kính thiện ngôn… tự mình tôn kính thiện bằng hữu, tán thán sự tôn kính thiện bằng hữu. Ðối với những Tỷ-kheo khác không tôn kính thiện bằng hữu, vị ấy khích lệ họ tôn kính thiện bằng hữu. Ðối với những Tỷ-kheo khác Tôn kính thiện bằng hữu, vị ấy tán thán một cách chơn thật, chơn chánh, đúng thời. Lời nói vắn tắt này các Thế Tôn, bạch Thế Tôn, con hiểu một cách rộng rãi như vậy.

4. - Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Này Sàriputta, lời nói vắn tắt này của Ta, đã được Thầy hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy. Ở đây, này Sàriputta, Tỷ-kheo tự mình tôn kính bậc Ðạo Sư… (như trên, với những thay đổi cần thiết)… một cách chơn thực, chơn chánh, đúng thời. Lời nói vắn tắt này của Ta, này Sàriputta, cần phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

AN 7.36 Người Bạn (Thứ Nhất) Paṭhamamittasutta

"Này các vị Tỷ-kheo, các vị nên kết giao với người bạn có bảy yếu tố. Bảy yếu tố đó là gì? Họ cho những gì khó cho. Họ làm những gì khó làm. Họ chịu đựng những gì khó chịu đựng. Họ tiết lộ bí mật của họ cho bạn. Họ giữ bí mật của bạn. Họ không bỏ rơi bạn lúc gặp khó khăn. Họ không coi thường bạn lúc bạn mất mát. Các vị nên kết giao với người bạn có bảy yếu tố này.

"Người bạn cho đi điều khó cho,
Và làm những việc khó làm.
Họ chịu đựng lời nói khó nghe của bạn,
Và những điều khó kham nhẫn.

Họ nói cho bạn bí mật của họ,
Và giữ gìn bí mật của bạn.
Họ không bỏ rơi bạn lúc gian nan,
Hay coi thường khi bạn mất mát.

Người mà nơi họ
Tìm thấy những điều này, chính là bạn của bạn.
Nếu bạn muốn có một người bạn,
Bạn nên kết giao với người như vậy."

(V) (35) Bạn Hữu(1)

1. - Thành tựu bảy chi phần, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo cần phải thân cận như một người bạn. Thế nào là bảy?

2. Cho những gì khó cho, làm những gì khó làm, nhẫn những gì khó nhẫn, nói lên những gì bí mật của mình, che giấu bí mật của người khác, không từ bỏ khi gặp bất hạnh, không có khinh rẽ khi tài sản khánh tận.

Thành tựu bảy chi phần này, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo cần phải thân cận như một người bạn.

Bạn cho điều khó cho,
Làm những điều khó làm,
Kham nhẫn những lời nói,
Thật khó lòng kham nhẫn,
Nói lên bí mật mình,
Che giấu bí mật người,
Bất hạnh, không từ bỏ,
Khánh tận, không chê khinh,
Trong những trường hợp trên,
Tìm được người như vậy,
Với ai cần bạn hữu,
Hãy gần bạn như vậy.

AN 7.37 Người Bạn (Thứ Hai) Dutiyamittasutta

"Này các vị Tỷ-kheo, khi một người bạn có bảy phẩm chất, các vị nên kết giao, đồng hành và gần gũi họ, ngay cả khi họ xua đuổi các vị. Bảy phẩm chất đó là gì? Họ đáng mến, dễ chịu, đáng kính và đáng ngưỡng mộ. Họ khuyên răn bạn và họ chấp nhận lời khuyên răn. Họ nói về những vấn đề sâu sắc. Và họ không xúi giục bạn làm điều xấu. Khi một người bạn có bảy phẩm chất này, các vị nên kết giao, đồng hành và gần gũi họ, ngay cả khi họ xua đuổi các vị.

"Họ được yêu mến, kính trọng, và ngưỡng mộ,
Là người khuyên răn và chấp nhận lời khuyên răn,
Nói về những vấn đề sâu sắc,
Và không xúi giục bạn làm điều xấu.

Người mà nơi họ
Tìm thấy những điều này, chính là bạn của bạn.
Nếu bạn muốn có một người bạn,
Nhân từ và thông cảm,
Bạn nên kết giao với người như vậy,
Ngay cả khi họ xua đuổi bạn."

(VI) (36) Bạn Hữu (2)

1. - Thành tựu bảy chi phần, này các Tỷ-kheo, là người bạn cần phải thân cận, cần phải giao thiệp, cần phải hầu cận, dầu có bị xua đuổi. Thế nào là bảy?

2. Khả ái, khả ý; tôn trọng; đáng được bắt chước; nhà thuyết giả; kham nhẫn lời nói; nói lời sâu kín; không có hối thúc những điều không hợp lý.

Thành tựu bảy pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là người bạn, cần phải thân cận, cần phải giao thiệp, cần phải hầu hạ, dầu có bị xua đuổi.

Khả ái và đáng kính,
Ðáng bắt chước, thuyết giả,
Kham nhẫn các lời nói,
Nói những lời thâm sâu,
Không hối thúc ép buộc,
Những điều không hợp lý,
Ai có những pháp này,
Ở đời, người như vậy,
Người ấy là bạn hữu,
Với ai cần bạn hữu,
Người mong muốn lợi ích,
Với lòng từ ai mẫn.
Dầu có bị đuổi xua,
Hãy thân cận bạn ấy.

AN 7.38 Phân Tích Biện Giải (Thứ Nhất) Paṭhamapaṭisambhidāsutta

"Này các vị Tỷ-kheo, một vị Tỷ-kheo có bảy phẩm chất sẽ sớm nhận ra bốn loại phân tích biện giải (textual analysis / sự hiểu biết thấu đáo về giáo pháp) và sống sau khi đã đạt được chúng bằng tuệ giác (insight / sự hiểu biết sâu sắc, trí tuệ trực tiếp) của chính mình. Bảy phẩm chất đó là gì?

Đó là khi một vị Tỷ-kheo thực sự hiểu rõ: ‘Đây là tâm uể oải sao nhãng (mental sluggishness / trạng thái tâm trí lờ đờ, thiếu năng động)’.

Vị ấy thực sự hiểu rõ tâm co rút bên trong là ‘tâm co rút bên trong’.

Vị ấy thực sự hiểu rõ tâm phân tán bên ngoài là ‘tâm phân tán bên ngoài’.

Vị ấy biết các cảm thọ (feelings / cảm giác dễ chịu, khó chịu hoặc trung tính) khi chúng sinh khởi, khi chúng tồn tại, và khi chúng diệt đi.

Vị ấy biết các nhận biết (perceptions / tưởng, nhận ra) khi chúng sinh khởi, khi chúng tồn tại, và khi chúng diệt đi.

Vị ấy biết các suy nghĩ (thoughts / tư duy, ý niệm) khi chúng sinh khởi, khi chúng tồn tại, và khi chúng diệt đi.

Các dạng thức của các phẩm chất—phù hợp hay không phù hợp, thấp kém hay cao thượng, hoặc những phẩm chất thuộc về phần tối hay phần sáng—được nắm bắt đúng đắn, chú tâm, ghi nhớ trong tâm, và thấu hiểu bằng trí tuệ (wisdom / sự hiểu biết đúng đắn).

Một vị Tỷ-kheo có bảy phẩm chất này sẽ sớm nhận ra bốn loại phân tích biện giải và sống sau khi đã đạt được chúng bằng tuệ giác của chính mình."

(VII) (37) Vô Ngại Giải

1. - Thành tựu bảy pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không bao lâu, với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú bốn vô ngại giải. Thế nào là bảy?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi nào tâm thụ động, như thật rõ biết: “Ðây là tâm ta thụ động”; khi nào tâm muội lược, như thật rõ biết: “Nội tâm ta muội lược”; khi nào tâm tán loạn, hướng ngoại”. Như thật rõ biết tâm ta tán loạn hướng ngoại. Vị ấy nhận thức được các thọ khởi lên, nhận thức được các thọ an trú, nhận thức được các thọ đi đến tiêu diệt; nhận thức được các tưởng khởi lên, nhận thức được các tưởng an trú, nhận thức được các tưởng tiêu diệt; nhận thức được các tầm khởi lên, nhận thức được các tầm an trú, nhận thức được các tầm tiêu diệt. Ðối với các pháp thích hợp hay không thích hợp, đối với các pháp hạ liệt hay thù thắng, đối với các pháp dự phần đen hay dự phần trắng, vị ấy khéo nắm giữ tướng, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập với trí tuệ.

Thành tựu bảy pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo không bao lâu, với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú bốn vô ngại giải.

AN 7.39 Phân Tích Biện Giải (Thứ Hai) Dutiyapaṭisambhidāsutta

"Này các vị Tỷ-kheo, nhờ có bảy phẩm chất, Tôn giả Xá Lợi Phất đã nhận ra bốn loại phân tích biện giải và sống sau khi đã đạt được chúng bằng tuệ giác của chính mình. Bảy phẩm chất đó là gì?

Đó là khi Tôn giả Xá Lợi Phất thực sự hiểu rõ: ‘Đây là tâm uể oải sao nhãng’.

Ngài thực sự hiểu rõ tâm co rút bên trong là ‘tâm co rút bên trong’.

Ngài thực sự hiểu rõ tâm phân tán bên ngoài là ‘tâm phân tán bên ngoài’.

Ngài biết các cảm thọ, nhận biết, và suy nghĩ khi chúng sinh khởi, khi chúng tồn tại, và khi chúng diệt đi.

Các dạng thức của các phẩm chất—phù hợp hay không phù hợp, thấp kém hay cao thượng, hoặc những phẩm chất thuộc về phần tối hay phần sáng—được nắm bắt đúng đắn, chú tâm, ghi nhớ trong tâm, và thấu hiểu bằng trí tuệ.

Nhờ có bảy phẩm chất này, Tôn giả Xá Lợi Phất đã nhận ra bốn loại phân tích biện giải và sống sau khi đã đạt được chúng bằng tuệ giác của chính mình."

3. Thành tựu bảy pháp này, này các Tỷ-kheo Sàriputta với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú bốn vô ngại giải. Thế nào là bảy?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Sàriputta khi nào tâm thụ động, như thật rõ biết: “Ðây là tâm ta thụ động”; khi nào tâm muội lược, như thật rõ biết: “Nội tâm ta muội lược”;… (như trên, số 2,… chứng đạt và an trú bốn vô ngại giải).

AN 7.40 Làm Chủ Tâm (Thứ Nhất) Paṭhamavasasutta

“Này các vị Tỷ-kheo, một vị Tỷ-kheo có bảy phẩm chất sẽ làm chủ được tâm mình và không bị tâm làm chủ. Bảy phẩm chất đó là gì? Đó là khi một vị Tỷ-kheo khéo léo trong thiền định, khéo léo trong việc nhập thiền định, khéo léo trong việc duy trì thiền định, khéo léo trong việc xuất thiền định, khéo léo trong việc làm cho tâm hoan hỷ để thiền định, khéo léo trong các đề mục thiền định (meditation subjects for immersion / các đối tượng để tập trung tâm khi thiền), và khéo léo trong việc hướng tâm đã được thanh lọc bởi thiền định. Một vị Tỷ-kheo có bảy phẩm chất này sẽ làm chủ được tâm mình và không bị tâm làm chủ.”

(VIII) (38) Ðiều Phục

1. - Thành tựu bảy pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo điều phục tâm và không để mình bị tâm điều phục. Thế nào là bảy?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thiện xảo về định, thiện xảo nhập định, thiện xảo an trú định, thiện xảo xuất khỏi định, thiện xảo trong sự thoải mái của định, thiện xảo trong cảnh giới của định, thiện xảo trong dẫn phát đến định.

Thành tựu bảy pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo điều phục tâm và không để mình bị tâm điều phục.

AN 7.41 Làm Chủ Tâm (Thứ Hai) Dutiyavasasutta

“Này các vị Tỷ-kheo, nhờ có bảy phẩm chất, Tôn giả Xá Lợi Phất đã làm chủ được tâm mình và không bị tâm làm chủ. Bảy phẩm chất đó là gì? Tôn giả Xá Lợi Phất khéo léo trong thiền định, khéo léo trong việc nhập thiền định, khéo léo trong việc duy trì thiền định, khéo léo trong việc xuất thiền định, khéo léo trong việc làm cho tâm hoan hỷ để thiền định, khéo léo trong các đề mục thiền định, và khéo léo trong việc hướng tâm đã được thanh lọc bởi thiền định. Nhờ có bảy phẩm chất này, Tôn giả Xá Lợi Phất đã làm chủ được tâm mình và không bị tâm làm chủ.”

3. Thành tựu bảy pháp, này các Tỷ kheo, Sariputta điều phục tâm và Sariputta không để mình bị tâm điều phục. Thế nào là bảy

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Sàriputta thiện xảo về định, thiện xảo nhập định, thiện xảo an trú định, thiện xảo xuất khỏi định, thiện xảo trong sự thoải mái về Thiền định, thiện xảo trong cảnh giới định, thiện xảo trong dẫn phát đến định.

Thành tựu bảy pháp này, này các Tỷ-kheo, Sàriputta điều phục tâm và Sàriputta không để mình bị tâm điều phục.

AN 7.42 Tốt Nghiệp (Thứ Nhất) Paṭhamaniddasasutta

Khi ấy, Tôn giả Xá Lợi Phất vào buổi sáng đắp y, mang bát và y, vào thành Xá Vệ để khất thực. Rồi ngài nghĩ: “Còn quá sớm để đi khất thực ở Xá Vệ. Sao mình không đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo (wanderers of other religions / những người tu hành không theo Phật giáo)?”

Rồi ngài đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo và chào hỏi với các du sĩ ở đó. Sau khi chào hỏi và chuyện trò lịch sự xong, ngài ngồi sang một bên.

Lúc bấy giờ, khi các du sĩ ngoại đạo ấy đang ngồi lại với nhau, cuộc thảo luận này đã nảy sinh giữa họ: “Thưa các đạo hữu, bất kỳ ai sống đời sống phạm hạnh trọn vẹn và thanh tịnh trong mười hai năm thì đủ tiêu chuẩn để được gọi là một ‘Tỷ-kheo tốt nghiệp’.”

Tôn giả Xá Lợi Phất không tán thành cũng không bác bỏ lời tuyên bố đó của các du sĩ ngoại đạo. Ngài đứng dậy khỏi chỗ ngồi, nghĩ rằng: “Ta sẽ tìm hiểu ý nghĩa của lời tuyên bố này từ chính Đức Phật.”

Rồi Tôn giả Xá Lợi Phất đi khất thực ở Xá Vệ. Sau bữa ăn, khi đi khất thực về, ngài đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi sang một bên, và kể lại những gì đã xảy ra, rồi thưa thêm:

“Bạch Thế Tôn, trong giáo pháp và giới luật này, chúng ta có thể mô tả một vị Tỷ-kheo là ‘tốt nghiệp’ chỉ vì vị ấy đã hoàn thành một số năm nhất định không?”

"Không, Xá Lợi Phất, chúng ta không thể. Ta tuyên bố bảy tiêu chuẩn này để tốt nghiệp sau khi đã tự mình chứng ngộ bằng tuệ giác.

Bảy điều đó là gì? Đó là khi một vị Tỷ-kheo có lòng nhiệt thành tha thiết để thực hành sự học tập… để thẩm xét giáo pháp… để loại bỏ các ham muốn (desires / lòng khao khát, dục vọng)… để ẩn cư (retreat / sự lui về nơi yên tĩnh để tu tập)… để khơi dậy năng lực (energy / sự tinh tấn, nghị lực)… để có tỉnh thức (mindfulness / sự chú tâm, ghi nhớ không quên) và sự tỉnh giác (alertness / sự nhận biết rõ ràng)… để thâm nhập về mặt lý thuyết. Và vị ấy không đánh mất những ước muốn này trong tương lai. Đây là bảy tiêu chuẩn để tốt nghiệp mà Ta tuyên bố sau khi đã tự mình chứng ngộ bằng tuệ giác. Một vị Tỷ-kheo có bảy tiêu chuẩn tốt nghiệp này thì đủ tiêu chuẩn để được gọi là một ‘Tỷ-kheo tốt nghiệp’. Điều này đúng cho dù vị ấy đã sống đời sống phạm hạnh trọn vẹn và thanh tịnh trong mười hai năm, hai mươi bốn năm, ba mươi sáu năm, hay bốn mươi tám năm."

(IX) (39) Sự Thù Diệu (1)

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthì, tại Jetavana, trong khu vườn ông Anathapindika. Bấy giờ Tôn giả Sàriputta vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthì để khất thực. Tôn giả Sàriputta suy nghĩ như sau: “Thật là quá sớm để đi khất thực ở Sàvatthì, vậy ta hãy đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo”. Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo, sau khi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo, sau khi đến, nói lên với các du sĩ ngoại đạo những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.

2. Lúc bấy giờ, các du sĩ ngoại đạo ấy đang ngồi tụ họp và câu chuyện sau đây được khởi lên: “Này chư Hiền, ai sống mười hai năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: “Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán”. Rồi Tôn giả Sàriputta không tùy hủy, không chỉ trích lời nói của các du sĩ ngoại đạo ấy; không tùy hỷ, không chỉ trích, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi với ý nghĩ: “Ta sẽ rõ biết ý nghĩa này từ Thế Tôn”.

3. Rồi Tôn giả Sàriputta, sau khi khất thực ở Sàvatthì xong, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:

− Ở đây, bạch Thế Tôn, vào buổi sáng, con đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthì để khất thực. Rồi bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Thật là quá sớm để đi khất thực ở Sàvatthì, vậy ta hãy đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo”. Rồi bạch Thế Tôn, con đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo; sau khi đến, nói lên với các du sĩ ngoại đạo ấy những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi, con ngồi xuống một bên. Lúc bấy giờ, bạch Thế Tôn, các du sĩ ngoại đạo ấy đang ngồi tụ họp và câu chuyện sau đây được khởi lên: “Này chư Hiền, ai sống mười hai năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: “Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán”. Rồi bạch Thế Tôn, con không tùy hỷ, không chỉ trích lời nói của các du sĩ ngoại đạo ấy; không tùy hỷ, không chỉ trích, con từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi với ý nghĩ: “Ta sẽ rõ biết ý nghĩa này từ Thế Tôn”. Bạch Thế Tôn, trong Pháp và Luật này, có thể nêu rõ một Tỷ-kheo đáng được tán thán, hoàn toàn do đếm số năm chăng?

− Này Sàriputta, trong Pháp, và Luật này, không có thể nêu rõ một Tỷ-kheo đáng được tán thán, hoàn toàn do đếm số năm. Bảy sự thù diệu này, này Sàriputta, sau khi với thắng trí, Ta tự chứng ngộ, chứng đạt, an trú, và tuyên thuyết. Thế nào là bảy?

4. Ở đây, này Sàriputta, Tỷ-kheo tha thiết hành trì học pháp và trong tương lai khát vọng hành trì học pháp; tha thiết quán pháp và trong tương lai khát vọng quán pháp; tha thiết nhiếp phục lòng dục; và trong tương lai khát vọng nhiếp phục lòng dục, tha thiết Thiền tịnh, trong tương lai khát vọng Thiền tịnh; tha thiết tinh cần tinh tấn và trong tương lai khát vọng tinh cần tinh tấn; tha thiết niệm tuệ và trong tương lai khát vọng niệm tuệ; tha thiết thể nhập tri kiến và trong tương lai khát vọng thể nhập tri kiến.

Này Sàriputta, bảy thù diệu sự này được Ta tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt, an trú và tuyên thuyết.

5. Thành tựu bảy thù diệu sự này, này Sàriputta, Tỷ-kheo, nếu trong mười hai năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: “Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!”. Nếu trong hai mười bốn năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: “Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!” Nếu trong ba mươi sáu năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: “Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!”. Nếu trong bốn mươi tám năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: “Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!”

AN 7.43 Tốt Nghiệp (Thứ Hai) Dutiyaniddasasutta

TÔI NGHE NHƯ VẦY. Một thời Đức Phật trú gần Kosambī, tại Tu viện Ghosita.

Khi ấy, Tôn giả A Nan vào buổi sáng đắp y, mang bát và y, vào thành Kosambī để khất thực. Rồi ngài nghĩ: “Còn quá sớm để đi khất thực ở Kosambī. Sao mình không đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo?”

Rồi ngài đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo và chào hỏi với các du sĩ ở đó. Sau khi chào hỏi và chuyện trò lịch sự xong, ngài ngồi sang một bên.

Lúc bấy giờ, khi các du sĩ ngoại đạo ấy đang ngồi lại với nhau, cuộc thảo luận này đã nảy sinh giữa họ: “Thưa các đạo hữu, bất kỳ ai sống đời sống phạm hạnh trọn vẹn và thanh tịnh trong mười hai năm thì đủ tiêu chuẩn để được gọi là một ‘Tỷ-kheo tốt nghiệp’.”

Tôn giả A Nan không tán thành cũng không bác bỏ lời tuyên bố đó của các du sĩ ngoại đạo. Ngài đứng dậy khỏi chỗ ngồi, nghĩ rằng: “Ta sẽ tìm hiểu ý nghĩa của lời tuyên bố này từ chính Đức Phật.”

Rồi Tôn giả A Nan đi khất thực ở Kosambī. Sau bữa ăn, khi đi khất thực về, ngài đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi sang một bên, và kể lại những gì đã xảy ra, rồi thưa thêm:

“Bạch Thế Tôn, trong giáo pháp và giới luật này, chúng ta có thể mô tả một vị Tỷ-kheo là ‘tốt nghiệp’ chỉ vì vị ấy đã hoàn thành một số năm nhất định không?”

"Không, A Nan, chúng ta không thể. Đây là bảy tiêu chuẩn để tốt nghiệp mà Ta tuyên bố sau khi đã tự mình chứng ngộ bằng tuệ giác.

Bảy điều đó là gì? Đó là khi một người có niềm tin (faithful / lòng tin tưởng vững chắc), có lòng xấu hổ, có lòng sợ điều ác, học rộng, siêng năng (energetic / có nghị lực, tinh tấn), tỉnh thức, và có trí tuệ. Đây là bảy tiêu chuẩn để tốt nghiệp mà Ta tuyên bố sau khi đã tự mình chứng ngộ bằng tuệ giác. Một vị Tỷ-kheo có bảy tiêu chuẩn tốt nghiệp này thì đủ tiêu chuẩn để được gọi là một ‘Tỷ-kheo tốt nghiệp’. Điều này đúng cho dù vị ấy đã sống đời sống phạm hạnh trọn vẹn và thanh tịnh trong mười hai năm, hai mươi bốn năm, ba mươi sáu năm, hay bốn mươi tám năm."

(X) (40) Sự Thù Diệu (2)

1. Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Kosambì, tại khu vườn Ghosita. Rồi Tôn giả Ananda vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Kosambì để khất thực. Tôn giả Ananda suy nghĩ: “Thật là quá sớm để đi khất thực ở Kosambì, vậy ta hãy đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo”. Rồi Tôn giả Ananda đi đến khi vườn của các du sĩ ngoại đạo, sau khi đến, nói lên với các du sĩ ngoại đạo ấy những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.

2-3. … (Giống như 2-3 của kinh trên, chỉ khác Tôn giả Ananda thế cho Tôn giả Sàriputta)… Thế nào là bảy?

4. Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo có lòng tin, có lòng xấu hổ, có lòng sợ hãi, có nghe nhiều, có tinh cần tinh tấn, có chánh niệm, có trí tuệ.

Bảy thù diệu sự này, này Ananda, được Ta tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt, an trú và tuyên thuyết.

5. Thành tựu bảy thù diệu sự này, này Ananda, Tỷ-kheo nếu trong mười hai năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói” Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!”. Nếu trong hai mười bốn năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: “Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!” Nếu trong ba mươi sáu năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: “Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!”. Nếu trong bốn mươi tám năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: “Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!”.