Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm Về Đại Tế Lễ

AN 7.44 Các Cõi Thức Trú Sattaviññāṇaṭṭhitisutta

"Này các Tỳ kheo, có bảy thức trú (planes of consciousness / các cảnh giới mà tâm thức có thể trú ngụ hoặc tái sinh vào) này. Bảy là gì?

Có những chúng sanh thân thể khác nhau và nhận thức (perceptions / tưởng, nhận biết, phân biệt và gắn nhãn) khác nhau, như loài người, một số chư thiên, và một số chúng sanh trong cõi đọa xứ. Đây là thức trú thứ nhất.

Có những chúng sanh thân khác nhau và nhận thức giống nhau, như chư thiên tái sinh vào chúng Phạm thiên qua sơ thiền. Đây là thức trú thứ hai.

Có những chúng sanh thân giống nhau và nhận thức khác nhau, như chư thiên Quang Âm (gods of streaming radiance). Đây là thức trú thứ ba.

Có những chúng sanh thân giống nhau và nhận thức giống nhau, như chư thiên Biến Tịnh (gods of universal beauty). Đây là thức trú thứ tư.

Có những chúng sanh đã hoàn toàn vượt qua các nhận thức về hình sắc. Với sự chấm dứt các nhận thức về đối ngại, không chú tâm đến các nhận thức về sự đa dạng, nhận thức rằng ‘không gian là vô biên’, họ đã tái sinh vào cõi Không Vô Biên Xứ. Đây là thức trú thứ năm.

Có những chúng sanh đã hoàn toàn vượt qua cõi Không Vô Biên Xứ. Nhận thức rằng ‘thức là vô biên’, họ đã tái sinh vào cõi Thức Vô Biên Xứ. Đây là thức trú thứ sáu.

Có những chúng sanh đã hoàn toàn vượt qua cõi Thức Vô Biên Xứ. Nhận thức rằng ‘không có gì cả’, họ đã tái sinh vào cõi Vô Sở Hữu Xứ. Đây là thức trú thứ bảy.

Đó là bảy thức trú."

V. Phẩm Ðại Tế Ðàn

(I) (41) Thức Trú

1. - Này các Tỷ-kheo, có bảy thức trú này. Thế nào là bảy?

2. Có các loài hữu tình, này các Tỷ-kheo, thân khác, tưởng khác như loài Người, một số Thiên nhân, một số các loài ở trong đọa xứ. Ðây là thức trú thứ nhất.

3. Có các loài hữu tình, này các Tỷ-kheo, thân khác, tưởng là một Phạm chúng thiên được sanh nhờ chứng sơ Thiền. Ðây là thức trú thứ hai.

4. Có các loài hữu tình, này các Tỷ-kheo, thân là một, tưởng khác như chư Thiên Quang âm. Ðây là thức trú thứ ba.

5. Có các loài hữu tình, này các Tỷ-kheo, thân là một, tưởng là một như chư Thiên Biến Tịnh. Ðây là thức trú thứ tư.

6. Có các loài hữu tính, này các Tỷ-kheo, vượt hoàn toàn các sắc tưởng, chấm dứt các chướng ngại tưởng, không tác ý sai biệt tưởng, đạt đến Không vô biên xứ, biết rằng: “Hư không là vô biên”. Ðây là thức trú thứ năm.

7. Có các loài hữu tình, này các Tỷ-kheo, vượt hoàn toàn Không vô biên xứ, đạt đến Thức vô biên xứ, biết rằng: “Thức là vô biên”. Ðây là thức trú thứ sáu.

8. Có các loài hữu tình, này các Tỷ-kheo, vượt hoàn toàn Thức vô biên xứ, đạt đến Vô sở hữu xứ, biết rằng: “Không có vật gì”. Ðây là thức trú thứ bảy.

Này các Tỷ-kheo, có bảy thức trú này.

AN 7.45 Các Điều Kiện Tiên Quyết Cho Thiền Định Samādhiparikkhārasutta

“Này các Tỳ kheo, có bảy điều kiện tiên quyết cho thiền định (prerequisites for immersion / những yếu tố cần thiết để đạt được sự tập trung sâu) này. Bảy là gì? Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, và chánh niệm. Sự hợp nhất của tâm với bảy yếu tố này làm điều kiện tiên quyết được gọi là chánh định cao quý ‘cùng với các điều kiện thiết yếu của nó’ và cũng ‘cùng với các điều kiện tiên quyết của nó’.”

(II) (42) Tư Lương Cho Ðịnh

1. - Này các Tỷ-kheo, có bảy tư lương này của định. Thế nào là bảy?

2. Chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm. Nhất tâm, này các Tỷ-kheo, được bảy chi phần này làn tư lương; đây được gọi là Thánh chánh định, này các Tỷ-kheo, với các sở ý, với các tư lương.

AN 7.46 Các Ngọn Lửa (Thứ Nhất) Paṭhamaaggisutta

“Này các Tỳ kheo, có bảy ngọn lửa này. Bảy là gì? Ngọn lửa tham, ngọn lửa sân, ngọn lửa si. Ngọn lửa đáng được cúng dường (fire of those worthy of offerings dedicated to the gods / Āhuneyyaggi, ngọn lửa của những người đáng được tôn kính và cúng dường như cha mẹ). Ngọn lửa của người gia chủ (A householder’s fire / Gahapataggi, ngọn lửa của người tại gia, tượng trưng cho vợ con và người phục vụ). Ngọn lửa của những người đáng được cúng dường tôn giáo (The fire of those worthy of a religious donation / Dakkhiṇeyyaggi, ngọn lửa của những người tu hành chân chính, đáng được nhận sự cúng dường). Và ngọn lửa từ củi. Đó là bảy ngọn lửa.”

(III) (43) Lửa (1)

1. - Này các Tỷ-kheo, có bảy loại lửa này. Thế nào là bảy?

2. Lửa tham, lửa sân, lửa si, lửa những vị đáng cung kính, lửa gia chủ, lửa các vị đáng cúng dường, lửa củi.

Này các Tỷ-kheo, có bảy loại lửa này.

AN 7.47 Các Ngọn Lửa (Thứ Hai) Dutiyaaggisutta

Khi ấy, Bà la môn Uggatasarīra đã chuẩn bị một cuộc tế lễ lớn. Bò đực, bò tơ, bò cái tơ, dê đực và cừu đực—mỗi loại năm trăm con—đã được dẫn đến cột tế lễ.

Rồi Bà la môn Uggatasarīra đến gặp Đức Phật và chào hỏi với Ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự, ông ngồi xuống một bên và thưa với Đức Phật: “Thưa Ngài Gotama, con nghe nói rằng nhóm lên ngọn lửa tế lễ và dựng cột tế lễ thì rất có kết quả và lợi ích.”

“Ta cũng nghe nói vậy, này Bà la môn.”

Lần thứ hai… và lần thứ ba, Uggatasarīra thưa với Đức Phật: “Thưa Ngài Gotama, con nghe nói rằng nhóm lên ngọn lửa tế lễ và dựng cột tế lễ thì rất có kết quả và lợi ích.”

“Ta cũng nghe nói vậy, này Bà la môn.”

“Vậy thì thưa Ngài Gotama, con và Ngài hoàn toàn đồng ý về vấn đề này.”

Khi ông nói vậy, Tôn giả Ānanda thưa với Uggatasarīra: “Này Bà la môn, ông không nên hỏi Đức Phật theo cách này. Ông nên hỏi như sau: ‘Thưa Ngài, con muốn nhóm lên ngọn lửa tế lễ và dựng cột tế lễ. Xin Đức Phật hãy khuyên dạy và chỉ bảo cho con. Điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho con.’”

Rồi Uggatasarīra thưa với Đức Phật: “Thưa Ngài Gotama, con muốn nhóm lên ngọn lửa tế lễ và dựng cột tế lễ. Xin Ngài Gotama hãy khuyên dạy và chỉ bảo cho con. Điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho con.”

"Ngay cả trước khi nhóm lên ngọn lửa tế lễ và dựng cột tế lễ, người ta đã dựng lên ba con dao bất thiện, chúng sẽ chín muồi và mang lại đau khổ. Ba con dao nào? Những con dao của thân, khẩu, và ý. Ngay cả trước khi nhóm lên ngọn lửa tế lễ và dựng cột tế lễ, người ta đã khởi lên ý nghĩ: ‘Mong sao có ngần ấy bò đực, bò tơ, bò cái tơ, dê đực và cừu đực bị giết để tế lễ!’ Nghĩ rằng, ‘Mong ta làm điều thiện’, người đó lại làm điều ác. Nghĩ rằng, ‘Mong ta làm điều tốt’, người đó lại làm điều xấu. Nghĩ rằng, ‘Mong ta tìm con đường tái sinh tốt đẹp’, người đó lại tìm con đường tái sinh xấu ác. Ngay cả trước khi nhóm lên ngọn lửa tế lễ và dựng cột tế lễ, người ta đã dựng lên con dao bất thiện về ý thứ nhất này, nó sẽ chín muồi và mang lại đau khổ.

Hơn nữa, ngay cả trước khi nhóm lên ngọn lửa tế lễ và dựng cột tế lễ, người ta nói những lời như: ‘Mong sao có ngần ấy bò đực, bò tơ, bò cái tơ, dê đực và cừu đực bị giết để tế lễ!’ Nghĩ rằng, ‘Mong ta làm điều thiện’, người đó lại làm điều ác. Nghĩ rằng, ‘Mong ta làm điều tốt’, người đó lại làm điều xấu. Nghĩ rằng, ‘Mong ta tìm con đường tái sinh tốt đẹp’, người đó lại tìm con đường tái sinh xấu ác. Ngay cả trước khi nhóm lên ngọn lửa tế lễ và dựng cột tế lễ, người ta đã dựng lên con dao bất thiện về khẩu thứ hai này, nó sẽ chín muồi và mang lại đau khổ.

Hơn nữa, ngay cả trước khi nhóm lên ngọn lửa tế lễ và dựng cột tế lễ, người ta trước tiên đích thân chuẩn bị cho việc giết mổ tế lễ bò đực, bò tơ, bò cái tơ, dê đực và cừu đực. Nghĩ rằng, ‘Mong ta làm điều thiện’, người đó lại làm điều ác. Nghĩ rằng, ‘Mong ta làm điều tốt’, người đó lại làm điều xấu. Nghĩ rằng, ‘Mong ta tìm con đường tái sinh tốt đẹp’, người đó lại tìm con đường tái sinh xấu ác. Ngay cả trước khi nhóm lên ngọn lửa tế lễ và dựng cột tế lễ, người ta đã dựng lên con dao bất thiện về thân thứ ba này, nó sẽ chín muồi và mang lại đau khổ. Ngay cả trước khi nhóm lên ngọn lửa tế lễ và dựng cột tế lễ, người ta đã dựng lên ba con dao bất thiện này, chúng sẽ chín muồi và mang lại đau khổ.

Này Bà la môn, ba ngọn lửa này nên từ bỏ và loại trừ, không nên vun trồng. Ba ngọn lửa nào? Ngọn lửa tham, ngọn lửa tức giận, và ngọn lửa si.

Và tại sao ngọn lửa tham nên từ bỏ và loại trừ, không nên vun trồng? Người tham lam làm những điều xấu ác qua thân, khẩu, và ý. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ tái sinh vào nơi mất mát, nơi xấu ác, cõi đọa xứ, địa ngục. Đó là lý do tại sao ngọn lửa tham nên từ bỏ và loại trừ, không nên vun trồng.

Và tại sao ngọn lửa tức giận nên từ bỏ và loại trừ, không nên vun trồng? Người tức giận làm những điều xấu ác qua thân, khẩu, và ý. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ tái sinh vào nơi mất mát, nơi xấu ác, cõi đọa xứ, địa ngục. Đó là lý do tại sao ngọn lửa tức giận nên từ bỏ và loại trừ, không nên vun trồng.

Và tại sao ngọn lửa si nên từ bỏ và loại trừ, không nên vun trồng? Người si mê làm những điều xấu ác qua thân, khẩu, và ý. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ tái sinh vào nơi mất mát, nơi xấu ác, cõi đọa xứ, địa ngục. Đó là lý do tại sao ngọn lửa si nên từ bỏ và loại trừ, không nên vun trồng. Ba ngọn lửa này nên từ bỏ và loại trừ, không nên vun trồng.

Này Bà la môn, ông nên chăm sóc ba ngọn lửa một cách đúng đắn và vui vẻ, tôn kính, quý trọng, đề cao và sùng kính chúng. Ba ngọn lửa nào? Ngọn lửa đáng được cúng dường. Ngọn lửa của người gia chủ. Và ngọn lửa của những người đáng được cúng dường tôn giáo.

Và ngọn lửa đáng được cúng dường là gì? Cha mẹ của ông được gọi là ngọn lửa của những người đáng được cúng dường. Tại sao vậy? Vì chính từ họ mà ông đã được nuôi dưỡng và sinh thành. Vì vậy, ông nên chăm sóc ngọn lửa này một cách đúng đắn và vui vẻ, tôn kính, quý trọng, đề cao và sùng kính nó.

Và ngọn lửa của người gia chủ là gì? Con cái, vợ chồng, người hầu kẻ hạ, và người làm công của ông được gọi là ngọn lửa của người gia chủ. Vì vậy, ông nên chăm sóc ngọn lửa này một cách đúng đắn và vui vẻ, tôn kính, quý trọng, đề cao và sùng kính nó.

Và ngọn lửa của những người đáng được cúng dường tôn giáo là gì? Các vị Sa môn và Bà la môn tránh xa sự say sưa và sao nhãng, an trú trong sự kiên nhẫn và dịu dàng, và những người tự điều phục, tự làm lắng dịu, và tự mình đạt đến Niết bàn được gọi là ngọn lửa của những người đáng được cúng dường tôn giáo. Vì vậy, ông nên chăm sóc ngọn lửa này một cách đúng đắn và vui vẻ, tôn kính, quý trọng, đề cao và sùng kính nó. Ông nên chăm sóc ba ngọn lửa này một cách đúng đắn và vui vẻ, tôn kính, quý trọng, đề cao và sùng kính chúng.

Còn ngọn lửa từ củi, này Bà la môn, thỉnh thoảng nên được quạt lên, giữ tâm quân bình mà trông coi, dập tắt, hoặc để qua một bên."

Khi Ngài nói vậy, Bà la môn Uggatasarīra thưa với Đức Phật: “Thật tuyệt vời, thưa Ngài Gotama! Thật tuyệt vời! … Kể từ hôm nay, xin Ngài Gotama ghi nhớ con là một người cư sĩ đã quy y trọn đời. Thưa Ngài Gotama, nay con xin phóng thích năm trăm con bò đực này, năm trăm con bò tơ, năm trăm con bò cái tơ, năm trăm con dê đực, và năm trăm con cừu đực. Con cho chúng sự sống! Mong chúng được ăn cỏ, uống nước mát và tận hưởng làn gió mát!”

(IV) (44) Lửa (2)

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthì, tại Jetavana, khu vườn của ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, một tế đàn lớn đang được thiết lập cho Bà-la-môn Uggatasarìra, năm trăm con bò đực được dắt đến trụ tế đàn, năm trăm con nghé đực được dắt đến trụ tế đàn, năm trăm con nghé cái được dắt đến trụ tế đàn, năm trăm con dê được dắt đến trụ tế đàn, và năm trăm con cừu được dắt đến trụ tế đàn. Rồi Bà-la-môn Uggatasarìra đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Uggatasarìra thưa với Thế Tôn:

− Tôi được nghe như sau, thưa Tôn giả Gotama: “Nhen nhúm ngọn lửa và dựng lên trụ tế đàn có quả lớn, có lợi ích lớn”.

− Này Bà-la-môn, Ta cũng có nghe: “Nhen nhúm ngọn lửa và dựng lên trụ tế đàn có quả lớn, có lợi ích lớn”.

Lần thứ hai… Lần thứ ba, Bà-la-môn Uggatasarìra thưa với Thế Tôn:

− Tôi được nghe như sau, thưa Tôn giả Gotama: “Nhen nhúm ngọn lửa và dựng lên trụ tế đàn có quả lớn, có lợi ích lớn”.

− Này Bà-la-môn, Ta cũng có nghe: “Nhen nhúm ngọn lửa và dựng lên trụ tế đàn có quả lớn, có lợi ích lớn”.

− Như vậy, thưa Tôn giả Gotama, chúng ta đồng một mục đích, Tôn giả Gotama và chúng tôi; thật vậy, chúng ta hoàn toàn đồng nhau.

2. Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Ananda nói với Bà-la-môn Uggatasarìra:

− Này Bà-la-môn, không nên hỏi Như Lai rằng: “Tôi được nghe như sau, thưa Tôn giả Gotama: “Nhen nhúm ngọn lửa và dựng lên trụ tế đàn có quả lớn, có lợi ích lớn”. Này Bà-la-môn, cần hỏi Như Lai như sau: “Bạch Thế Tôn, con muốn nhen nhúm ngọn lửa, con muốn dựng lên trụ tế đàn. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy giáo giới cho con! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hay thuyết dạy cho con, để con được hạnh phúc an lạc lâu dài!”

3. Rồi Bà-la-môn Uggatasarìra bạch Thế Tôn:

− Thưa Tôn giả Gotama, con muốn nhen nhúm ngọn lửa, con muốn dựng trụ tế đàn. Thưa Tôn giả Gotama, Tôn giả Gotama hãy giáo giới cho con; Tôn giả Gotama hãy thuyết dạy cho con, để con được hạnh phúc, an lạc lâu dài.

− Này Bà-la-môn, người nhen nhúm ngọn lửa, dựng lên trụ tế đàn, trước khi tế lễ đàn, dựng lên ba cây kiếm bất thiện đưa đến khổ sanh khổ dị thục. Thế nào là ba?

4. Thân kiếm, ngữ kiếm, ý kiếm. Này Bà-la-môn, người nhen nhúm ngọn lửa, dựng lên trụ tế đàn, trước khi lễ tế đàn, khởi lên ý nghĩ: “Chừng ấy con bò đực cần phải giết cho lễ tế đàn, chừng ấy con nghé đực cần phải giết cho lễ tế đàn, chừng ấy con nghé cái cần phải giết cho lễ tế đàn, chừng ấy con dê cần phải giết cho lễ tế đàn, chừng ấy con cừu cần phải giết cho lễ tế đàn”. Vị ấy nghĩ rằng: “Tôi làm công đức”, lại làm bất thiện; nghĩ rằng: “Tôi tìm con đường đưa đến cõi lành”, lại tìm con đường đưa đến cõi dữ. Này Bà-la-môn, người nhen nhúm ngọn lửa, dựng lên trụ tế đàn, trước khi lễ tế đàn, dựng lên ý kiếm thứ nhất, bất thiện đưa đến khổ sanh, khổ dị thục.

5. Lại nữa, này Bà-la-môn, người nhen nhúm ngọn lửa, dựng lên trụ tế đàn, trước khi lễ tế đàn, nói như sau: “Hãy giết chừng ấy con bò đực cho lễ tế đàn. Hãy giết chừng ấy con nghé đực cho lễ tế đàn. Hãy giết chừng ấy con nghé cái cho lễ tế đàn. Hãy giết chừng ấy con dê cho lễ tế đàn. Hãy giết chừng ấy con cừu cho lễ tế đàn.”. Vị ấy nghĩ rằng: “Tôi làm công đức”, lại làm phi công đức; nghĩ rằng: “Tôi làm thiện”, lại làm bất thiện; nghĩ rằng: “Tôi tìm con đường đưa đến cõi lành”, lại tìm con đường đưa đến cõi dữ. Này Bà-la-môn, người nhen nhúm ngọn lửa, dựng lên trụ tế đàn, trước khi lễ tế đàn, dựng lên ngữ kiếm thứ hai, bất thiện đưa đến khổ sanh, khổ dị thục.

6. Lại nữa, này Bà-la-môn, người nhen nhúm ngọn lửa, dựng lên trụ tế đàn, trước khi lễ tế đàn, tự mình bắt đầu khởi sự công việc: “Hãy giết các con bò đực cho lễ tế đàn”; tự mình bắt đầu khởi sự công việc: “Hãy giết các con nghé đực cho lễ tế đàn”; tự mình bắt đầu khởi sự công việc: “Hãy giết các con nghé cái cho lễ tế đàn”; tự mình bắt đầu khởi sự công việc: “Hãy giết các con dê cho lễ tế đàn”; tự mình bắt đầu khởi sự công việc: “Hãy giết các con cừu cho lễ tế đàn”. Vị ấy nghĩ rằng: “Tôi làm công đức”, lại làm phi công đức; nghĩ rằng: “Tôi làm thiện”, lại làm bất thiện; nghĩ rằng: “Tôi tìm con đường đưa đến cõi lành”, lại tìm con đường đưa đến cõi dữ. Này Bà-la-môn, người nhen nhúm ngọn lửa, dựng lên trụ tế đàn, trước khi lễ tế đàn, dựng lên thân kiếm thứ ba, bất thiện đưa đến khổ sanh, khổ dị thục.

Này Bà-la-môn, người nhen nhúm ngọn lửa, dựng lên trụ tế đàn, trước khi lễ tế đàn, dựng lên ba cây kiếm này, đưa đến khổ sanh, khổ dị thục.

7. Này Bà-la-môn, ba ngọn lửa này cần phải đoạn tận, cần phải tránh xa. Thế nào là ba?

8. Lửa tham, lửa sân, lửa si. Vì sao, này Bà-la-môn, lửa tham cần phải đoạn diệt, cần phải tránh xa, không nên thân cận?

9. Người bị tham làm cho ái nhiễm, chinh phục, tâm bị xâm chiếm, này Bà-la-môn, làm ác hạnh với thân, làm ác hạnh với lời nói, làm ác hạnh với ý. Người ấy sau khi làm ác hạnh với thân, làm ác hạnh với lời nói, làm ác hạnh với ý, khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Do vậy, lửa tham này cần phải đoạn tận, cần phải tránh xa, không nên thân cận. Và này Bà-la-môn, vì sao lửa sân cần phải đoạn tận, cần phải tránh xa, không nên thân cận?

10. Người bị sân làm cho tức giận, chinh phục, tâm bị xâm chiếm, này Bà-la-môn, làm ác hạnh với thân, làm ác hạnh với lời nói, làm ác hạnh với ý. Người ấy sau khi làm ác hạnh với thân, làm ác hạnh với lời nói, làm ác hạnh với ý, khi thân hoại mạng chung sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Do vậy lửa sân này cần phải đoạn tận, cần phải tránh xa, không nên thân cận. Và này Bà-la-môn, vì sao lửa si cần phải đoạn tận, cần phải tránh xa, không nên thân cận?

11. Người bị si làm cho mê mờ, chinh phục, tâm bị xâm chiếm, này Bà-la-môn, làm ác hạnh với thân, làm ác hạnh với lời nói, làm ác hạnh với ý. Người ấy sau khi làm ác hạnh với thân, làm ác hạnh với lời nói, làm ác hạnh với ý, khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Do vậy lửa si này cần phải đoạn tận, cần phải tránh xa, không nên thân cận.

Ba lửa này, này Bà-la-môn, cần phải đoạn tận, cần phải tránh xa, không nên thân cận.

12. Ba lửa này, này Bà-la-môn, được cung kính, được tôn trọng, được cúng dường, phải đem lại chánh lạc. Thế nào là ba?

13. Lửa đáng cung kính, lửa gia chủ, lửa đáng cùng dường. Và này Bà-la-môn, thế nào là lửa đáng cung kính?

14. Ở đây, này Bà-la-môn, những người mẹ, những người cha của người ấy, này Bà-la-môn, đây gọi là lửa đáng cung kính. Vì sao? Vì từ đó lửa đáng cung kính này khiến cho mang lại, khiến cho sanh ra. Do vậy, này Bà-la-môn, lửa đáng cung kính này được cung kính, được tôn trọng, được cúng dường, phải đem lại chánh lạc. Và này Bà-la-môn, thế nào là lửa gia chủ?

15. Ở đây, này Bà-la-môn, những người con, những người vợ, những người phục dịch, những người đưa tin, hoặc những người làm công cho người ấy, này Bà-la-môn, đây gọi là lửa gia chủ. Do vậy lửa gia chủ này được cung kính, được tôn trọng, được cúng dường, phải đem lại chánh lạc. Và này Bà-la-môn, thế nào là lửa đáng được cúng dường?

16. Ở đây, này Bà-la-môn, những Sa-môn, Bà-la-môn nào từ bỏ kiêu mạn, phóng dật, sóng kham nhẫn nhu hòa; mỗi người điều phục tự ngã; mỗi người an chỉ tự ngã; mỗi người lắng dịu tự ngã. Này Bà-lamôn, đây gọi là ngọn lửa đáng được cúng dường. Do vậy lửa đáng được cúng dường này được cung kính, được tôn trọng, đáng được cúng dường, phải đem lại chánh lạc.

Này Bà-la-môn, ba ngọn lửa này được cung kính, được tôn trọng, đáng được cúng dường, phải đem lại chánh lạc.

Còn lửa củi này, này Bà-la-môn, cần phải thường thường nhen đốt nó lên, cần phải thường thường chăm sóc duy trì, cần phải thường thường dập tắt, cần phải thường thường để một bên.

17. Ðược nói như vậy, Bà-la-môn Uggatasarìra bạch Thế Tôn:

− Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama hãy nhận còn làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng. Và thưa Tôn giả Gotama, con sẽ thả năm trăm con bò đực và cho chúng sống; con sẽ thả năm trăm con nghé đực và cho chúng sống; con sẽ thả năm trăm con nghé cái và cho chúng sống; con sẽ thả năm trăm con dê và cho chúng sống; con sẽ thả năm trăm con cừu và cho chúng sống. Hãy để chúng ăn cỏ xanh; hãy để chúng uống nước mát; hãy để gió thổi chúng mát.

AN 7.48 Các nhận thức Tóm Tắt Paṭhamasaññāsutta

"Này các Tỳ kheo, bảy nhận thức này, khi được phát triển và tu tập, thì rất có kết quả và lợi ích. Chúng đạt đến sự bất tử và kết thúc bằng sự bất tử.

Bảy là gì? nhận thức về sự bất tịnh, nhận thức về sự chết, nhận thức về sự ghê tởm trong thức ăn, nhận thức về sự không hài lòng với toàn thế giới, nhận thức về sự vô thường, nhận thức về sự khổ trong vô thường, và nhận thức về vô ngã trong khổ. Bảy nhận thức này, khi được phát triển và tu tập, thì rất có kết quả và lợi ích. Chúng đạt đến sự bất tử và kết thúc bằng sự bất tử."

(V) (45) Tưởng (1)

1. - Có bảy tưởng này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh. Thế nào là bảy?

2. Tưởng bất tịnh, tưởng chết, tưởng nhàm chán đối với các món ăn, tưởng không hoan hỷ đối với tất cả thế giới, tưởng vô thường, tưởng khổ trong vô thường, tưởng vô ngã trong khổ.

Bảy tưởng này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh.

AN 7.49 Các nhận thức Chi Tiết Dutiyasaññāsutta

"Này các Tỳ kheo, bảy nhận thức này, khi được phát triển và tu tập, thì rất có kết quả và lợi ích. Chúng đạt đến sự bất tử và kết thúc bằng sự bất tử. Bảy là gì? nhận thức về sự bất tịnh, nhận thức về sự chết, nhận thức về sự ghê tởm trong thức ăn, nhận thức về sự không hài lòng với toàn thế giới, nhận thức về sự vô thường, nhận thức về sự khổ trong vô thường, và nhận thức về vô ngã trong khổ. Bảy nhận thức này, khi được phát triển và tu tập, thì rất có kết quả và lợi ích. Chúng đạt đến sự bất tử và kết thúc bằng sự bất tử.

‘Khi nhận thức về sự bất tịnh được phát triển và tu tập thì rất có kết quả và lợi ích. Nó đạt đến sự bất tử và kết thúc bằng sự bất tử.’ Đó là điều Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Khi một vị Tỳ kheo thường xuyên thiền quán với tâm được củng cố bởi nhận thức về sự bất tịnh, tâm của vị ấy rút lui khỏi sự giao hợp. Vị ấy co lại, quay đi, và không bị lôi cuốn vào đó. Và hoặc là tâm xả hoặc là sự nhàm chán trở nên vững chắc. Giống như một chiếc lông gà hay một mảnh gân ném vào lửa. Nó co rúm lại, teo lại, cuộn lại, và không duỗi ra. Tương tự như vậy, khi một vị Tỳ kheo thường xuyên thiền quán với tâm được củng cố bởi nhận thức về sự bất tịnh, tâm của vị ấy rút lui khỏi sự giao hợp. …

Nếu một vị Tỳ kheo thường xuyên thiền quán với tâm được củng cố bởi nhận thức về sự bất tịnh, nhưng tâm của vị ấy lại bị lôi cuốn vào sự giao hợp, và không nhàm chán, vị ấy nên biết: ‘nhận thức về sự bất tịnh của ta chưa được phát triển. Ta không có sự tiến bộ nào cao hơn trước. Ta chưa đạt được kết quả của sự phát triển.’ Theo cách này, vị ấy nhận thức rõ tình trạng. Nhưng nếu một vị Tỳ kheo thường xuyên thiền quán với tâm được củng cố bởi nhận thức về sự bất tịnh, tâm của vị ấy rút lui khỏi sự giao hợp … vị ấy nên biết: ‘nhận thức về sự bất tịnh của ta đã được phát triển tốt. Ta đã nhận ra sự tiến bộ cao hơn trước. Ta đã đạt được kết quả của sự phát triển.’ Theo cách này, vị ấy nhận thức rõ tình trạng. ‘Khi nhận thức về sự bất tịnh được phát triển và tu tập thì rất có kết quả và lợi ích. Nó đạt đến sự bất tử và kết thúc bằng sự bất tử.’ Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

‘Khi nhận thức về sự chết được phát triển và tu tập thì rất có kết quả và lợi ích. Nó đạt đến sự bất tử và kết thúc bằng sự bất tử.’ Đó là điều Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Khi một vị Tỳ kheo thường xuyên thiền quán với tâm được củng cố bởi nhận thức về sự chết, tâm của vị ấy rút lui khỏi ham muốn tái sinh. … Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

‘Khi nhận thức về sự ghê tởm trong thức ăn được phát triển và tu tập thì rất có kết quả và lợi ích. Nó đạt đến sự bất tử và kết thúc bằng sự bất tử.’ Đó là điều Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Khi một vị Tỳ kheo thường xuyên thiền quán với tâm được củng cố bởi nhận thức về sự ghê tởm trong thức ăn, tâm của vị ấy rút lui khỏi tham ái đối với các vị. … Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

‘Khi nhận thức về sự không hài lòng với toàn thế giới được phát triển và tu tập thì rất có kết quả và lợi ích. Nó đạt đến sự bất tử và kết thúc bằng sự bất tử.’ Đó là điều Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Khi một vị Tỳ kheo thường xuyên thiền quán với tâm được củng cố bởi nhận thức về sự không hài lòng với toàn thế giới, tâm của vị ấy rút lui khỏi những thứ hào nhoáng của thế gian. … Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

‘Khi nhận thức về sự vô thường được phát triển và tu tập thì rất có kết quả và lợi ích. Nó đạt đến sự bất tử và kết thúc bằng sự bất tử.’ Đó là điều Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Khi một vị Tỳ kheo thường xuyên thiền quán với tâm được củng cố bởi nhận thức về sự vô thường, tâm của vị ấy rút lui khỏi những thứ vật chất, danh dự, và tiếng tăm. … Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

‘Khi nhận thức về sự khổ trong vô thường được phát triển và tu tập thì rất có kết quả và lợi ích. Nó đạt đến sự bất tử và kết thúc bằng sự bất tử.’ Đó là điều Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Khi một vị Tỳ kheo thường xuyên thiền quán với tâm được củng cố bởi nhận thức về sự khổ trong vô thường, vị ấy thiết lập một nhận thức sắc bén về sự nguy hiểm của lười biếng, biếng nhác, uể oải, sao nhãng, thiếu sự tận tâm, và không xem xét lại, giống như một kẻ sát nhân với thanh gươm đã rút. … Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

‘Khi nhận thức về vô ngã trong khổ được phát triển và tu tập thì rất có kết quả và lợi ích. Nó đạt đến sự bất tử và kết thúc bằng sự bất tử.’ Đó là điều Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Khi một vị Tỳ kheo thường xuyên thiền quán với tâm được củng cố bởi nhận thức về vô ngã trong khổ, tâm của vị ấy thoát khỏi sự tạo tác ‘cái tôi’, ‘cái của tôi’, và ngã mạn đối với thân có thức này và tất cả các kích thích bên ngoài. Nó đã vượt qua sự phân biệt, và được an tịnh và giải thoát tốt đẹp.

Nếu một vị Tỳ kheo thường xuyên thiền quán với tâm được củng cố bởi nhận thức về vô ngã trong khổ, nhưng tâm của vị ấy không thoát khỏi sự tạo tác ‘cái tôi’, ‘cái của tôi’, và ngã mạn đối với thân có thức này và tất cả các kích thích bên ngoài; cũng không vượt qua sự phân biệt, và không được an tịnh hay giải thoát tốt đẹp, vị ấy nên biết: ‘nhận thức về vô ngã trong khổ của ta chưa được phát triển. Ta không có sự tiến bộ nào cao hơn trước. Ta chưa đạt được kết quả của sự phát triển.’ Theo cách này, vị ấy nhận thức rõ tình trạng.

Nhưng nếu một vị Tỳ kheo thường xuyên thiền quán với tâm được củng cố bởi nhận thức về vô ngã trong khổ, và tâm của vị ấy thoát khỏi sự tạo tác ‘cái tôi’, ‘cái của tôi’, và ngã mạn đối với thân có thức này và tất cả các kích thích bên ngoài; và nó đã vượt qua sự phân biệt, và được an tịnh và giải thoát tốt đẹp, vị ấy nên biết: ‘nhận thức về vô ngã trong khổ của ta đã được phát triển tốt. Ta đã nhận ra sự tiến bộ cao hơn trước. Ta đã đạt được kết quả của sự phát triển.’ Theo cách này, vị ấy nhận thức rõ tình trạng. ‘Khi nhận thức về vô ngã trong khổ được phát triển và tu tập thì rất có kết quả và lợi ích. Nó đạt đến sự bất tử và kết thúc bằng sự bất tử.’ Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

Bảy nhận thức này, khi được phát triển và tu tập, thì rất có kết quả và lợi ích. Chúng đạt đến sự bất tử và kết thúc bằng sự bất tử."

(VI) (46) Tướng (2)

1. - Có bảy tưởng này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh. Thế nào là bảy?

2. Tưởng bất tịnh, tưởng chết, tưởng nhàm chán đối với các món ăn, tưởng không hoan hỷ đối với tất cả thế giới, tưởng vô thường, tưởng khổ trong vô thường, tưởng vô ngã trong khổ. 3. Tưởng bất tịnh, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh, được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?

4. Này các Tỷ-kheo, khi một Tỷ-kheo sống nhiều với các tưởng bất tịnh, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng để không đắm vào các dâm dục; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán. Ví như, này các Tỷ-kheo, lông gà hay là dây gân quăng vào lửa thời thối lui, trở lưng, quay lưng, và không căng thẳng; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi một Tỷ-kheo sống nhiều với các tưởng bất tịnh, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng để không đắm vào các dâm dục; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán.

Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống nhiều với các tưởng bất tịnh, nhưng tâm lại chảy theo, đắm vào dâm dục, không khởi lên nhàm chán, thời Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: “Tưởng bất tịnh không được ta tu tập; ở nơi ta không có sự sai khác trước và sau. Ta không đạt được quả tu tập”. Ở đấy, vị ấy tỉnh giác như vậy. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống nhiều với các tưởng bất tịnh, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng để không đắm vào các dâm dục; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán, thời Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: “Tưởng bất tịnh không được ta tu tập; ở nơi ta không có sự sai khác trước và sau. Ta không đạt được quả tu tập”. Ở đấy, vị ấy tỉnh giác như vậy. Tưởng bất tịnh, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh, được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy.

5. Tưởng chết, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?

6. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống nhiều với tưởng chết, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng không thích thú sự sống, do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán, thời… (như số 4 ở trên, chỉ khác trước là tưởng bất tịnh, đây là tưởng chết, với sự thay đổi cần thiết)… Do duyên gì được nói đến như vậy.

7. Tưởng nhàm chán đối với món ăn, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?

8. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống nhiều với các tưởng đối với các món ăn, thời tâm thối lui… không tham ái các vị; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán, thời… (như số 4 ở trên, chỉ khác đây là tưởng nhàm chán đối với các món ăn)… Do duyên gì được nói đến như vậy.

9. Tưởng không hoan hỷ đối với các thế giới, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?

10. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống nhiều với tâm không hoan hỷ đối với các thế giới, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng với các lòe loẹt của thế giới; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán, thời… (như số 4 ở trên, chỉ khác đây là tâm không hoan hỷ đối với các thế giới và những thay đổi cần thiết)… Do duyên gì được nói đến như vậy.

11. Tưởng vô thường, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?

12. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống nhiều với tưởng vô thường, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng với các lợi dưỡng, cung kính danh vọng; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán, thời… (như số 4 ở trên, chỉ khác đây là tưởng vô thường với những thay đổi cần thiết)… 13. Tưởng khổ trên vô thường, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh, được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?

14. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống nhiều với các tưởng khổ trên vô thường, thời các tưởng sợ hãi sắc bén được an lập trên thụ động, biếng nhác, thả lỏng, phóng dật, không chú tâm, không quán sát; ví như một kẻ giết người giơ đao lên. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống nhiều với các tưởng khổ trên vô thường, nhưng các tưởng sợ hãi sắc bén không được an lập trên thụ động, biếng nhác, thả lỏng, phóng dật, không chú tâm, không quán sát; thời giống như một kẻ giết người giơ đao lên. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: “Tưởng khổ trên vô thường không được ta tu tập; ở nơi ta không có sự sai khác trước và sau. Ta không đạt được quả của sự tu tập.” Ở đây, vị ấy tỉnh giác như vậy. Nhưng này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống nhiều với các tưởng khổ trên vô thường, thời các tưởng sợ hãi sắc bén an lập trên thụ động, biếng nhác, thả lỏng, phóng dật, không chú tâm, không quán sát, ví như một kẻ giết người giơ đao lên. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cần phải hiểu rằng: “Tưởng khổ trên vô thường không được ta tu tập; ở nơi ta không có sự sai khác trước và sau. Ta đạt được quả của sự tu tập.” Ở đây, vị ấy tỉnh giác như vậy. Tưởng khổ trên vô thường, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy.

15. Tưởng vô ngã trên khổ, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?

16. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống nhiều với các tưởng vô ngã trên khổ, này các Tỷ-kheo, ý của vị ấy thoát khỏi các tư tưởng ngã, ngã sở, ngã mạn, đối với cái thân có thức nầy và đối với tất cả tướng ở ngoài, khéo giải thoát, được an tịnh, vượt qua các thiên kiến. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống nhiều với tâm chất chứa tưởng vô ngã trên khổ, này các Tỷ-kheo, ý của vị ấy không thoát khỏi các tư tưởng ngã, ngã sở, ngã mạn, đối với cái thân có thức nầy và đối với tất cả tướng ở ngoài, không khéo giải thoát, không được an tịnh, không vượt qua các thiên kiến. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: “Tưởng vô ngã trên khổ không được ta tu tập; ở nơi ta không có sự sai khác trước và sau. Ta không đạt được quả của sự tu tập.” Ở đây, vị ấy tỉnh giác như vậy. Nhưng này Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống nhiều với các tưởng vô ngã trên khổ, này các Tỷ-kheo, ý của vị ấy thoát khỏi các tư tưởng ngã, ngã sở, ngã mạn đối với cái thân có thức và đối với tất cả tướng ở ngoài, khéo giải thoát, được an tịnh, vượt qua các thiên kiến. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: “Tưởng vô ngã trên khổ được ta tu tập; ở nơi ta có sự sai khác trước và sau. Ta đạt được quả của sự tu tập.” Ở đây, vị ấy tỉnh giác như vậy. Tưởng vô ngã trên khổ, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh, được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy.

Bảy tưởng này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho viên mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh.

AN 7.50 Tình Dục Methunasutta

Khi ấy, Bà la môn Jānussoṇi đến gặp Đức Phật và chào hỏi với Ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự, ông ngồi xuống một bên và thưa với Đức Phật: “Thưa Ngài Gotama có tự nhận là sống đời sống phạm hạnh (celibate life / brahmacariya, đời sống thanh tịnh, không dâm dục) không?”

“Này Bà la môn, nếu có ai đáng được gọi là sống đời sống phạm hạnh một cách trọn vẹn, không tỳ vết, không nhơ bẩn, không bị tổn hại, đầy đủ và thanh tịnh, thì đó chính là Ta.”

“Nhưng thưa Ngài Gotama, điều gì là sự phá vỡ, vết nhơ, vết bẩn, hay sự tổn hại trong đời sống phạm hạnh?”

"Thứ nhất, một vị Sa môn hay Bà la môn tự nhận là sống đời sống phạm hạnh hoàn hảo không cùng người nữ giao hợp. Tuy nhiên, họ chấp nhận để người nữ xoa bóp, tắm rửa, và chà xát. Họ thích thú, ưa thích và cảm thấy thỏa mãn. Đây là sự phá vỡ, vết nhơ, vết bẩn, hay sự tổn hại trong đời sống phạm hạnh. Đây được gọi là người sống đời sống phạm hạnh không thanh tịnh, bị trói buộc bởi ách của tình dục (yoked by the yoke of sex / methunasaṁyoga, bị ràng buộc bởi sự giao hợp hoặc các hành vi liên quan đến tình dục). Họ không được giải thoát khỏi tái sinh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, họ không được giải thoát khỏi đau khổ.

Hơn nữa, một vị Sa môn hay Bà la môn tự nhận là sống đời sống phạm hạnh hoàn hảo không cùng người nữ giao hợp. Cũng không chấp nhận để người nữ xoa bóp và tắm rửa. Tuy nhiên, họ cười đùa, vui chơi và giải trí với người nữ. …

họ nhìn chằm chằm vào mắt người nữ. …

họ nghe qua tường hoặc thành lũy tiếng người nữ cười, nói chuyện, hát hoặc khóc. …

họ nhớ lại khi họ từng cười, nói chuyện, và vui chơi với người nữ …

họ thấy một người gia chủ hoặc con cái của họ đang vui chơi, được cung cấp và trang bị đầy đủ năm loại kích thích giác quan (five kinds of sensual stimulation / pañcakāmaguṇa, năm đối tượng của dục lạc: sắc, thanh, hương, vị, xúc). …

Họ không thấy một người gia chủ hoặc con cái của họ đang vui chơi, được cung cấp và trang bị đầy đủ năm loại kích thích giác quan. Tuy nhiên, họ sống đời sống phạm hạnh với mong muốn được tái sinh vào một trong các cõi trời. Họ nghĩ: ‘Nhờ giới luật này, sự tuân thủ này, sự khổ hạnh nhiệt thành này, hay đời sống tâm linh này, mong rằng ta sẽ trở thành một vị trời!’ Họ thích thú, ưa thích và cảm thấy thỏa mãn. Đây là sự phá vỡ, vết nhơ, vết bẩn, hay sự tổn hại trong đời sống phạm hạnh. Đây được gọi là người sống đời sống phạm hạnh không thanh tịnh, bị trói buộc bởi ách của tình dục. Họ không được giải thoát khỏi tái sinh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, họ không được giải thoát khỏi đau khổ.

Chừng nào Ta còn thấy rằng bảy ách tình dục này—hoặc thậm chí một trong số chúng—chưa được từ bỏ trong Ta, Ta đã không tuyên bố sự giác ngộ hoàn hảo tối thượng (supreme perfect awakening / anuttaraṁ sammāsambodhiṁ, sự chứng ngộ Phật quả) của mình trong thế giới này với các vị trời, Ma vương, và Phạm thiên, trong chúng sanh này với các vị Sa môn và Bà la môn, các vị trời và loài người.

Nhưng khi Ta thấy rằng bảy ách tình dục này—tất cả chúng—đã được từ bỏ trong Ta, Ta đã tuyên bố sự giác ngộ hoàn hảo tối thượng của mình trong thế giới này với các vị trời, Ma vương, và Phạm thiên, trong chúng sanh này với các vị Sa môn và Bà la môn, các vị trời và loài người. Tri kiến phát sinh trong Ta: ‘Sự giải thoát của Ta là không thể lay chuyển; đây là lần tái sinh cuối cùng của Ta; bây giờ sẽ không còn đời sống tương lai nào nữa.’"

Khi Ngài nói vậy, Bà la môn Jānussoṇi thưa với Đức Phật: “Thật tuyệt vời, thưa Ngài Gotama! Thật tuyệt vời! … Kể từ hôm nay, xin Ngài Gotama ghi nhớ con là một người cư sĩ đã quy y trọn đời.”

(VII) (47) Dâm Dục

1. Bấy giờ có Bà-la-môn Jànussoni đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm… Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Jànussoni bạch Thế Tôn:

− Thưa Tôn giả Gotama, Tôn giả có tự xem mình là sống Phạm hạnh không?

− Này Bà-la-môn, ai nói một cách chơn chánh phải nói như sau: “Vị ấy sống Phạm hạnh, không có bể vụn, không có khuyết phạm, không có nhiễm ô, không bị điểm chấm, viên mãn, thanh tịnh”. Này Bà-lamôn, nếu nói về Ta một cách chơn chánh, thời phải nói như vậy: “Ta sống Phạm hạnh, không có bể vụn, không có khuyết phạm, không có nhiễm ô, không bị điểm chấm, viên mãn, thanh tịnh”.

− Thưa Tôn giả Gotama, Phạm hạnh như thế nào, thưa Tôn giả Gotama, là bị bể vụn, bị khuyết phạm, bị ô nhiễm, bị điểm chấm?

2. - Ở đây, này Bà-la-môn, có Sa-môn hay Bà-la-môn, tự xem mình sống Phạm hạnh một cách chơn chánh, tuy không có hành dâm với nữ nhân, nhưng hưởng thụ được nữ nhân thoa, bóp, tắm, xức dầu. Vị ấy thích thú, ước muốn, bị kích thích bởi nữ nhân. Này Bà-la-môn, đây gọi là Phạm hạnh bị bể vụn, bị khuyết phạm, bị nhiễm ô, bị điểm chấm. Này Bà-la-môn, đây gọi là hành Phạm hạnh không thanh tịnh, bị liên hệ, bị hệ lụy với dâm dục, không giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng không thoát khỏi khổ.

3. Lại nữa, này Bà-la-môn, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn, tự xem mình sống Phạm hạnh một cách chơn chánh, tuy không có hành dâm với nữ nhân, không có hưởng thụ được nữ nhân thoa, bóp, tắm, xức dầu, nhưng cười giỡn, chơi đùa, vui chơi với nữ nhân… tuy không cười giỡn, chơi đùa, vui chơi với nữ nhân, nhưng lấy mắt nhìn mắt, trừng mắt nhìn theo nữ nhân… tuy không lấy mắt nhìn mắt, trừng mắt nhìn theo nữ nhân, nhưng nghe tiếng của nữ nhân, tiếng cười, tiếng nói, tiếng hát, tiếng khóc ngang qua vách, ngang qua hàng rào… tuy không nghe tiếng của nữ nhân, tiếng cười, tiếng nói, tiếng hát, tiếng khóc ngang qua vách, ngang qua hàng rào, nhưng nhớ đến tiếng cười, tiếng nói, tiếng đùa giỡn trước kia đã có với nữ nhân… tuy không nhớ đến tiếng cười, tiếng nói, tiếng đùa giỡn trước kia đã có với nữ nhân, nhưng xem gia chủ hay con gia chủ thọ hưởng, thưởng thức thích thú trong năm dục công đức… tuy không xem gia chủ hay con gia chủ thọ hưởng, thưởng thức thích thú trong năm dục công đức, nhưng sống Phạm hạnh với tâm nguyện hướng đến một thân chư Thiên, nguyện rằng: “Với giới này hay với giới cấm này, hay với khổ hạnh này, hay với Phạm hạnh này, ta sẽ thành một Thiên nhân này hay một Thiên nhân khác”. Vị ấy thích thú, ước muốn, bị kích thích bởi nữ nhân. Này Bà-la-môn, đấy gọi là Phạm hạnh bị bể vụn, bị khuyết phạm, bị nhiễm ô, bị điểm chấm. Này Bà-la-môn, đấy gọi là hành Phạm hạnh không thanh tịnh, bị liên hệ, bị hệ lụy với dâm dục, không giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng không giải thoát khỏi khổ.

Cho đến khi nào, này Bà-la-môn, Ta còn tiếp tục thấy một hay một trong bảy hệ lụy đến dâm dục này chưa được đoạn tận ở nơi Ta, cho đến khi ấy, này Bà-la-môn, Ta không có xác chứng rằng, Ta đã chứng ngộ Vô thượng Chánh Ðẳng Giác trong thế giới chư Thiên với Ma giới, Phạm thiên giới, trong quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Và cho đến khi nào, này Bà-la-môn, Ta tiếp tục không còn thấy một hay một trong bảy hệ lụy đến dâm dục này đã được đoạn tận ở nơi Ta, cho đến khi ấy, này Bà-la-môn, Ta không có xác chứng rằng, Ta đã chứng ngộ Vô thượng Chánh Ðẳng Giác trong thế giới chư Thiên với Ma giới, Phạm thiên giới, trong quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Tri và kiến được khởi lên nơi Ta: “Bất động là tâm giải thoát của Ta. Ðây là đời sống cuối cùng. Nay không còn tái sanh nữa”.

Ðược nói như vậy, Bà-la-môn Jànussoni bạch Thế Tôn:

− Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn!.. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ này cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

AN 7.51 Trói Buộc và Cởi Trói Saṁyogasutta

"Này các Tỳ kheo, Ta sẽ giảng cho các ngươi một bài giảng về sự trói buộc và cởi trói (yoking and unyoking / saṁyoga và visaṁyoga, sự ràng buộc và sự giải thoát khỏi ràng buộc). Hãy lắng nghe và tác ý kỹ, Ta sẽ nói. … Và bài giảng về sự trói buộc và cởi trói là gì?

Một người nữ chú tâm vào nữ tính của chính mình: những cử chỉ nữ tính, vẻ ngoài nữ tính, cách thức nữ tính, ham muốn nữ tính, giọng nói nữ tính, và trang sức nữ tính. Cô ấy bị kích thích bởi điều này và thích thú với nó. Vì vậy, cô ấy chú tâm vào nam tính của người khác: những cử chỉ nam tính, vẻ ngoài nam tính, cách thức nam tính, ham muốn nam tính, giọng nói nam tính, và trang sức nam tính. Cô ấy bị kích thích bởi điều này và thích thú với nó. Vì vậy, cô ấy mong muốn trói buộc mình với người khác. Và cô ấy mong muốn sự an vui và hạnh phúc đến từ sự trói buộc đó. Những chúng sanh thích thú với nữ tính của mình thì bị trói buộc với đàn ông. Đây là cách một người nữ không vượt qua được nữ tính của mình.

Một người nam chú tâm vào nam tính của chính mình: những cử chỉ nam tính, vẻ ngoài nam tính, cách thức nam tính, ham muốn nam tính, giọng nói nam tính, và trang sức nam tính. Anh ấy bị kích thích bởi điều này và thích thú với nó. Vì vậy, anh ấy chú tâm vào nữ tính của người khác: những cử chỉ nữ tính, vẻ ngoài nữ tính, cách thức nữ tính, ham muốn nữ tính, giọng nói nữ tính, và trang sức nữ tính. Anh ấy bị kích thích bởi điều này và thích thú với nó. Vì vậy, anh ấy mong muốn trói buộc mình với người khác. Và anh ấy mong muốn sự an vui và hạnh phúc đến từ sự trói buộc đó. Những chúng sanh thích thú với nam tính của mình thì bị trói buộc với phụ nữ. Đây là cách một người nam không vượt qua được nam tính của mình. Đây là cách sự trói buộc phát sinh.

Và làm thế nào sự cởi trói phát sinh? Một người nữ không chú tâm vào nữ tính của chính mình: những cử chỉ nữ tính, vẻ ngoài nữ tính, cách thức nữ tính, ham muốn nữ tính, giọng nói nữ tính, và trang sức nữ tính. Cô ấy không bị kích thích bởi điều này và không thích thú với nó. Vì vậy, cô ấy không chú tâm vào nam tính của người khác: những cử chỉ nam tính, vẻ ngoài nam tính, cách thức nam tính, ham muốn nam tính, giọng nói nam tính, và trang sức nam tính. Cô ấy không bị kích thích bởi điều này và không thích thú với nó. Vì vậy, cô ấy không mong muốn trói buộc mình với người khác. Cũng không mong muốn sự an vui và hạnh phúc đến từ sự trói buộc đó. Những chúng sanh không thích thú với nữ tính của mình thì không bị trói buộc với đàn ông. Đây là cách một người nữ vượt qua được nữ tính của mình.

Một người nam không chú tâm vào nam tính của chính mình: những cử chỉ nam tính, vẻ ngoài nam tính, cách thức nam tính, ham muốn nam tính, giọng nói nam tính, và trang sức nam tính. Anh ấy không bị kích thích bởi điều này và không thích thú với nó. Vì vậy, anh ấy không chú tâm vào nữ tính của người khác: những cử chỉ nữ tính, vẻ ngoài nữ tính, cách thức nữ tính, ham muốn nữ tính, giọng nói nữ tính, và trang sức nữ tính. Anh ấy không bị kích thích bởi điều này và không thích thú với nó. Vì vậy, anh ấy không mong muốn trói buộc mình với người khác. Cũng không mong muốn sự an vui và hạnh phúc đến từ sự trói buộc đó. Những chúng sanh không thích thú với nam tính của mình thì không bị trói buộc với phụ nữ. Đây là cách một người nam vượt qua được nam tính của mình. Đây là cách sự cởi trói phát sinh. Đây là bài giảng về sự trói buộc và cởi trói."

(VIII) (48) Hệ Lụy

1. - Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Thầy pháp môn về hệ lụy, và ly hệ lụy, hãy lắng nghe… Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp môn về hệ lụy và ly hệ lụy? 2. Một nữ nhân, này các Tỷ-kheo, tác ý nội nữ căn, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức, thời nữ nhân ấy tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy. Do tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy nên tác ý đến nam căn ở ngoài, nam hành, nam y phục, nam loại, nam dục, nam thanh, nam trang sức mà nữ nhân ấy tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy. Do tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy nên nữ nhân ấy ước muốn có sự hệ lụy ở ngoài. Do duyên với hệ lụy ấy, khởi lên lạc, hỷ nên nữ nhân ấy ước muốn lạc hỷ ấy. Này các Tỷ-kheo, do thích thú trong nữ tánh của mình, các loài hữu tình đi đến hệ lụy với những người đàn ông. Như vậy, này các Tỷ-kheo, nữ nhân không có thoát được nữ tánh của mình.

3. Một nam nhân, này các Tỷ-kheo, tác ý nội nam căn, nam hành, nam y phục, nam loại, nam dục, nam thanh, nam trang sức mà nữ nhân ấy tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy. Do tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy nên tác ý đến nữ căn ở ngoài, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức mà nam nhân ấy tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy. Do tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy nên nam nhân ấy ước muốn có sự hệ lụy ở ngoài. Do duyên với hệ lụy ấy, khởi lên lạc hỷ nên nam nhân ấy ước muốn lạc hỷ ấy. Này các Tỷ-kheo, do thích thú trong nam tánh của mình, các loài hữu tình đi đến hệ lụy với những người đàn bà. Như vậy, này các Tỷ-kheo, nam nhân không thoát khỏi nam tánh của mình. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hệ lụy. Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là không hệ lụy?

4. Một nữ nhân, này các Tỷ-kheo, không tác ý nội nữ căn, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức thời nữ nhân ấy không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy. Do không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy nên không tác ý đến nam căn ở ngoài, nam hành, nam y phục, nam loại, nam dục, nam thanh, nam trang sức mà nữ nhân ấy không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy. Do không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy nữ nhân ấy không muốn có sự hệ lụy ở ngoài. Do duyên hệ lụy ấy, khởi lên lạc, hỷ, nữ nhân ấy không ước muốn lạc, hỷ ấy. Này các Tỷ-kheo, do không thích thú trong nữ tánh của mình, các loài hữu tình không đi đến hệ lụy với những người đàn ông. Như vậy, này các Tỷ-kheo, nữ nhân thoát được nữ tánh của mình.

5. Một nam nhân, này các Tỷ-kheo, không tác ý đến nội nam căn, nam hành, nam y phục, nam loại, nam dục, nam thanh, nam trang sức thời nam nhân ấy không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy. Do không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy nên không tác ý đến nữ căn ở ngoài, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức mà nam nhân ấy không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy. Do không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy nên nam nhân ấy không ước muốn có sự hệ lụy ở ngoài. Do duyên với hệ lụy ấy, khởi lên lạc, hỷ nên nam nhân ấy ước muốn lạc, hỷ ấy. Này các Tỷ-kheo, do không thích thú trong nam tánh của mình, các loài hữu tình không đi đến hệ lụy với những nữ nhân. Như vậy, này các Tỷ-kheo, nam nhân thoát được nam tánh của mình. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không hệ lụy.

Này các Tỷ-kheo, đây là pháp môn hệ lụy và ly hệ lụy.

AN 7.52 Món Quà Có Kết Quả Lớn Dānamahapphalasutta

Một thời Đức Phật trú gần Campā, bên bờ hồ sen Gaggarā.

Khi ấy, một số nam nữ cư sĩ ở Campā đến gặp Tôn giả Sāriputta, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và thưa với Ngài: “Thưa Tôn giả, đã lâu rồi chúng con không được nghe một bài Pháp thoại từ Đức Phật. Sẽ thật tốt nếu chúng con được nghe một bài Pháp thoại từ Đức Phật.”

“Vậy thì, thưa quý vị, hãy đến vào ngày Bố-tát tới. Hy vọng quý vị sẽ được nghe một bài Pháp thoại từ Đức Phật.”

“Vâng, thưa Tôn giả,” họ đáp. Rồi họ đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ Tôn giả Sāriputta, và đi nhiễu quanh Ngài một cách tôn kính trước khi rời đi.

Rồi vào ngày Bố-tát sau đó, các nam nữ cư sĩ ở Campā đến gặp Tôn giả Sāriputta, đảnh lễ, rồi đứng sang một bên. Sau đó, họ cùng Tôn giả Sāriputta đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Sāriputta thưa với Đức Phật:

“Thưa Ngài, có thể nào một người bố thí một món quà mà không có nhiều kết quả hay lợi ích, trong khi một người khác cũng bố thí đúng món quà đó lại có nhiều kết quả và lợi ích không?”

“Quả thật có thể, này Sāriputta.”

“Thưa Ngài, nguyên nhân là gì, lý do là gì cho điều này?”

“Này Sāriputta, hãy xét trường hợp một người bố thí một món quà như một sự đầu tư, tâm họ bị trói buộc vào đó, mong đợi giữ lại nó, nghĩ rằng ‘Ta sẽ hưởng thụ điều này trong đời sau’. Họ bố thí cho các vị Sa môn hay Bà la môn những thứ như thức ăn, đồ uống, y phục, xe cộ; vòng hoa, hương liệu, và đồ trang điểm; giường, nhà, và đèn đuốc. Ông nghĩ sao, Sāriputta, có phải một số người bố thí theo cách này không?”

“Vâng, thưa Ngài.”

"Này Sāriputta, một người bố thí một món quà như một sự đầu tư, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, được tái sinh vào đoàn tùy tùng của chư thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương. Khi nghiệp đó, sự thành công, vinh quang, và quyền lực đó đã hết, họ trở lại nơi này.

Tiếp theo, hãy xét trường hợp một người bố thí một món quà không như một sự đầu tư, tâm họ không bị trói buộc vào đó, không mong đợi giữ lại nó, và không nghĩ rằng, ‘Ta sẽ hưởng thụ điều này trong đời sau’. Nhưng họ bố thí với suy nghĩ, ‘Bố thí là điều tốt’ …

Họ bố thí với suy nghĩ, ‘Việc bố thí đã được cha ta và ông nội ta thực hành. Sẽ không đúng nếu ta từ bỏ truyền thống gia đình này.’ …

Họ bố thí với suy nghĩ, ‘Ta nấu ăn, họ thì không. Sẽ không đúng nếu ta không bố thí cho họ.’ …

Họ bố thí với suy nghĩ, ‘Các vị tiên tri Bà la môn thời xưa là Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamadaggi, Aṅgīrasa, Bhāradvāja, Vāseṭṭha, Kassapa, và Bhagu. Giống như họ đã thực hiện các cuộc tế lễ lớn, ta sẽ chia sẻ một món quà.’ …

Họ bố thí với suy nghĩ, ‘Khi bố thí món quà này, tâm ta trở nên trong sáng, và ta trở nên vui vẻ và hân hoan.’ …

Họ không bố thí với suy nghĩ, ‘Khi bố thí món quà này, tâm ta trở nên trong sáng, và ta trở nên vui vẻ và hân hoan.’ Nhưng họ bố thí với suy nghĩ, ‘Đây là sự trang nghiêm và là điều kiện cần thiết cho tâm (adornment and requisite for the mind / cittālaṅkāra cittaparikkhāra, những phẩm chất làm đẹp và hỗ trợ cho sự phát triển của tâm).’ Họ bố thí cho các vị Sa môn hay Bà la môn những thứ như thức ăn, đồ uống, y phục, xe cộ; vòng hoa, hương liệu, và đồ trang điểm; giường, nhà, và đèn đuốc. Ông nghĩ sao, Sāriputta, có phải một số người bố thí theo cách này không?"

“Vâng, thưa Ngài.”

"Này Sāriputta, một người bố thí, không vì bất kỳ lý do nào khác, mà nghĩ rằng, ‘Đây là sự trang nghiêm và là điều kiện cần thiết cho tâm’, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, được tái sinh vào cõi chư thiên Phạm Chúng. Khi nghiệp đó, sự thành công, vinh quang, và quyền lực đó đã hết, họ là một bậc Bất Lai (non-returner / Anāgāmī, người không còn trở lại cõi dục); họ không trở lại nơi này.

Đây là nguyên nhân, đây là lý do tại sao một người bố thí một món quà mà không có nhiều kết quả hay lợi ích, trong khi một người khác cũng bố thí đúng món quà đó lại có nhiều kết quả và lợi ích."

(IX) (49) Bố Thí

1. Một thời, Thế Tôn ở Campà, trên bờ hồ Gaggara. Bấy giờ có nhiều cư sĩ ở Campà đi đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Sàriputta rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các nam cư sĩ ấy thưa với Tôn giả Sàriputta:

− Thưa Tôn giả, đã lâu lắm, chúng con không được nghe pháp thoại từ miệng Thế Tôn. Lành thay, thưa Tôn giả, nếu nay chúng con được nghe pháp thoại từ miệng Thế Tôn!

− Vậy này chư Hiền, hãy đến trong ngày lễ Trai giới (uposatha), các Thầy sẽ được nghe pháp thoại từ miệng Thế Tôn. − Thưa vâng, thưa Tôn giả!

Các nam cư sĩ ở Campà ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Tôn giả Sàriputta, thân bên hữu hướng về Tôn giả rồi ra đi. Rồi các nam cư sĩ ở Campà, đến ngày lễ Trai giới, đi đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Sàriputta rồi đứng một bên. Rồi Tôn giả Sàriputta cùng với các nam cư sĩ ở Campà đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:

2. - Có thể, bạch Thế Tôn, ở đây có hạng người bố thí như vậy, không được quả lớn, không được lợi ích lớn. Nhưng bạch Thế Tôn, có thể ở đây có hạng người bố thí như vậy, được quả lớn, được lợi ích lớn.

− Này Sàriputta, có thể ở đây có hạng người bố thí như vậy, không được quả lớn, không được lợi ích lớn. Có thể, này Sàriputta, ở đây có hạng người bố thí như vậy, được quả lớn, được lợi ích lớn.

3. - Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây có hạng người bố thí như vậy, không được quả lớn, không được lợi ích lớn? Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây có hạng người bố thí như vậy, được quả lớn, được lợi ích lớn?

− Ở đây, này Sàriputta, có người bố thí với tâm mong cầu, bố thí với tâm trói buộc (về kết quả), bố thí với tâm mong cầu được chất chứa, bố thí với ý nghĩ: “Tôi sẽ hưởng thọ cái này trong đời sau”. Vị ấy bố thí như vậy cho các Sa-môn, Bà-la-môn, bố thí đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương thơm, hương liệu, giường nằm, những trú xứ, đèn đuốc. Thầy nghĩ thế nào, này Sàriputta, ở đây có thể có hạng người bố thí như vậy không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Ở đây, này Sàriputta, có hạng người bố thí với tâm mong cầu, bố thí với tâm trói buộc, bố thí với tâm mong cầu được chất chứa, bố thí với ý nghĩ: “Ta sẽ hưởng thọ cái này trong đời sau”. Vị ấy bố thí như vậy, khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiện ở Bốn thiên vương. Và vị ấy, khi nghiệp được đoạn tận, thần lực ấy, danh tiếng ấy, uy quyền ấy được đoạn tận, vị ấy trở thành “vị trở lui lại”, trở lui trạng thái này.

4. Ở đây, này Sàriputta, có người bố thí với tâm không mong cầu, bố thí với tâm trói buộc, bố thí với tâm mong cầu được chất chứa, bố thí với ý nghĩ: “Ta sẽ hưởng thọ cái này trong đời sau”, nhưng bố thí với ý nghĩ: “Lành thay, sự bố thí”… bố thí không với ý nghĩ: “Lành thay, sự bố thí”, nhưng bố thí với không ý nghĩ: “Cái này đã được cho trong quá khứ, đã được tổ tiên làm trong quá khứ, ta không nên để truyền thống gia đình này bị bỏ quên”… Hay là người bố thí không với ý nghĩ: “Cái này đã được cho trong quá khứ, đã được tổ tiên làm trong quá khứ, ta không nên để truyền thống gia đình này bị bỏ quên”, nhưng bố thí với ý nghĩ: “Ta nấu ăn, các người này không nấu ăn. Ta không nên là người nấu ăn, lại không bố thí cho người không nấu ăn…”, bố thí không với ý nghĩ: “Ta nấu ăn, các người này không nấu ăn. Ta không nên là người nấu ăn, lại không bố thí cho người không nấu ăn”, nhưng bố thí với ý nghĩ: “Như các vị ẩn sĩ thời xưa có những tế đàn lớn như Atthaka, Vàmaka, Vàmadeva, Vessàmitta, Yamataggi, Angìrasa, Bhàradvàja, Vàsettha, Kassapa, Bhagu; cũng vậy, ta sẽ là người san sẻ các vật bố thí”… Vị ấy bố thí không với ý nghĩ: “Như các vị ẩn sĩ thời xưa có những tế đàn lớn như Atthaka, Vàmaka, Vàmadeva, Vessàmitta, Yamataggi, Angìrasa, Bhàradvàja, Vàsettha, Kassapa, Bhagu; cũng vậy, ta sẽ là người san sẻ các vật bố thí này”, nhưng bố thí với ý nghĩ: “Do ta bố thí vật bố thí này, tâm được tịnh tín, hỷ duyệt khởi lên”… Vị ấy bố thí, không với ý nghĩ: “Do ta bố thí vật bố thí này, tâm được tịnh tín, hỷ duyệt khởi lên”. nhưng vị ấy bố thí với ý nghĩ để trang nghiêm tâm, để trang bị tâm. Và đối với Sa-môn hay Bà-la-môn, vị ấy bố thí đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương thơm, hương liệu, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Thầy nghĩ thế nào, này Sàriputta, ở đây, có hạng người có thể bố thí như vậy không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Này Sàriputta, ở đây, ai bố thí không với tâm cầu mong, bố thí không với tâm trói buộc, bố thí không với mong cầu được chất chứa, bố thí không với ý nghĩ: “Ta sẽ hưởng thọ cái này trong đời sau”, bố thí không với ý nghĩ: “Lành thay, sự bố thí”, bố thí không với ý nghĩ: “Cái này đã được cho trong đời quá khứ, đã được tổ tiên làm trong quá khứ, ta không nên để truyền thống gia đình này bị bỏ quên”, bố thí không với ý nghĩ: “Ta nấu ăn, các người này không nấu ăn. Ta không là người nấu ăn, lại không bố thí cho người không nấu ăn”, … bố thí không với ý nghĩ: “Như các vị ẩn sĩ thời xưa có những tế đàn lớn như Atthaka, Vàmaka, Vàmadeva, Vessàmitta, Yamataggi, Angìrasa, Bhàradvàja, Vàsettha, Kassapa, Bhagu; cũng vậy, ta sẽ là người san sẻ các vật bố thí…”, bố thí không với ý nghĩ: “Do ta bố thí vật bố thí này, tâm được tịnh tín, hỷ duyệt khởi lên”. Nhưng vị ấy bố thí với ý nghĩ để trang nghiêm tâm, để trang bị tâm… Do vị ấy bố thí như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên ở Phạm chúng thiên. Và khi vị ấy, nghiệp được đoạn tận, thần lực ấy, danh tiếng ấy, uy quyền ấy được đoạn tận, vị ấy trở thành vị Bất lai, không trở lui trạng thái này.

Này Sàriputta, đây là nhân, đây là duyên, khiến cho ở đây, một hạng người bố thí như vậy, không được quả lớn, không được lợi ích lớn. Này Sàriputta, nhưng đây cũng là nhân, là duyên khiến cho ở đây, có hạng người bố thí như vậy, được quả lớn, được lợi ích lớn.

AN 7.53 Mẹ Của Nanda Nandamātāsutta

TÔI NGHE NHƯ VẦY. Một thời, Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahāmoggallāna đang du hành ở vùng Đồi Phía Nam cùng với một Tăng đoàn lớn gồm các Tỳ kheo. Khi ấy, nữ cư sĩ Veḷukaṇṭakī, mẹ của Nanda, thức dậy lúc rạng đông và tụng đọc các câu kệ của Con đường đưa đến bờ bên kia/Kinh Bỉ Ngạn Đạo (The Way to the Far Shore / Pārāyana, một phần của Kinh Tập Sutta Nipāta).

Và lúc đó, Đại vương Vessavaṇa đang trên đường từ bắc xuống nam vì một công việc nào đó. Ngài nghe mẹ Nanda tụng kinh, và đứng đợi bà tụng xong.

Rồi khi bà tụng xong, bà im lặng. Khi đó, biết bà đã tụng xong, Đại vương Vessavaṇa tán thán, nói rằng: “Lành thay, này chị! Lành thay, này chị!”

“Nhưng thưa ngài, ngài là ai vậy?”

“Này chị, ta là anh của chị, Đại vương Vessavaṇa.”

“Lành thay, thưa ngài! Vậy xin cho bài Pháp con vừa tụng là món quà con dâng lên ngài như một vị khách.”

'Lành thay, này chị! Và hãy để điều này cũng là món quà chị dâng lên ta như một vị khách. Ngày mai, Tăng đoàn Tỳ kheo do Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Moggallāna dẫn đầu sẽ đến Veḷukaṇṭa trước bữa ăn sáng. Khi chị đã cúng dường Tăng đoàn, xin hãy hồi hướng phần phước cúng dường đó cho ta. Khi đó, điều ấy cũng sẽ là món quà chị dâng lên ta như một vị khách."

Và khi đêm đã qua, nữ cư sĩ mẹ Nanda đã cho chuẩn bị các món ăn ngon tươi và đã nấu chín tại nhà của bà. Rồi Tăng đoàn Tỳ kheo do Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Moggallāna dẫn đầu đã đến Veḷukaṇṭa. Khi đó, mẹ Nanda nói với một người đàn ông: “Này ông, xin hãy đến tu viện và báo giờ cho Tăng đoàn, nói rằng: ‘Thưa quý Ngài, đã đến giờ. Bữa ăn đã sẵn sàng tại nhà của bà mẹ Nanda.’”

“Vâng, thưa bà,” người đàn ông đó đáp, và ông đã làm theo lời bà.

Và rồi Tăng đoàn Tỳ kheo do Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Moggallāna dẫn đầu, vào buổi sáng, đắp y, mang bát và y, đến nhà của mẹ Nanda, nơi họ ngồi vào những chỗ đã được trải sẵn. Rồi mẹ Nanda tự tay phục vụ và làm cho họ hài lòng với các món ăn ngon tươi và đã nấu chín.

Khi Tôn giả Sāriputta đã dùng bữa xong và rửa tay và bát, mẹ Nanda ngồi xuống một bên. Tôn giả Sāriputta thưa với bà: “Thưa mẹ Nanda, ai đã báo cho bà biết rằng Tăng đoàn Tỳ kheo sắp đến?”

"Thưa Tôn giả, đêm qua con thức dậy lúc rạng đông và tụng đọc các câu kệ của ‘Kinh Bỉ Ngạn Đạo’, rồi con im lặng. Khi đó, Đại vương Vessavaṇa, biết con đã tụng xong, đã tán thán con: ‘Lành thay, này chị! Lành thay, này chị!’

Con hỏi: ‘Nhưng thưa ngài, ngài là ai vậy?’

‘Này chị, ta là anh của chị, Đại vương Vessavaṇa.’

‘Lành thay, thưa ngài! Vậy xin cho bài Pháp con vừa tụng là món quà con dâng lên ngài như một vị khách.’

‘Lành thay, này chị! Và hãy để điều này cũng là món quà chị dâng lên ta như một vị khách. Ngày mai, Tăng đoàn Tỳ kheo do Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Moggallāna dẫn đầu sẽ đến Veḷukaṇṭa trước bữa ăn sáng. Khi chị đã cúng dường Tăng đoàn, xin hãy hồi hướng phần phước cúng dường đó cho ta. Khi đó, điều ấy cũng sẽ là món quà chị dâng lên ta như một vị khách.’

Và vì vậy, thưa Tôn giả, nguyện cho công đức và sự tăng trưởng công đức của món quà này mang lại hạnh phúc cho Đại vương Vessavaṇa."

“Thật không thể tin được, thưa mẹ Nanda, thật kỳ diệu khi bà có thể đối thoại trực tiếp với một vị trời hùng mạnh và lừng lẫy như Đại vương Vessavaṇa.”

“Thưa Tôn giả, đây không phải là phẩm chất đáng kinh ngạc và kỳ diệu duy nhất của con; còn có một phẩm chất khác nữa. Con có một người con trai duy nhất tên là Nanda mà con hết mực yêu thương. Giới cầm quyền đã dùng một lý do nào đó bắt cóc nó và xử tử. Nhưng con không nhớ mình đã buồn phiền khi con trai con bị bắt giữ hay đang bị bắt giữ, bị giam cầm hay đang bị giam cầm, bị giết hay đang bị giết.”

“Thật không thể tin được, thưa mẹ Nanda, thật kỳ diệu khi bà có thể thanh lọc ngay cả sự khởi lên của một ý nghĩ.”

“Thưa Tôn giả, đây không phải là phẩm chất đáng kinh ngạc và kỳ diệu duy nhất của con; còn có một phẩm chất khác nữa. Khi chồng con qua đời, ông ấy tái sinh vào một trong các cõi ngạ quỷ. Ông ấy đã hiện về cho con biết tiền kiếp của mình. Nhưng con không nhớ mình đã buồn phiền vì chuyện đó.”

“Thật không thể tin được, thưa mẹ Nanda, thật kỳ diệu khi bà có thể thanh lọc ngay cả sự khởi lên của một ý nghĩ.”

“Thưa Tôn giả, đây không phải là phẩm chất đáng kinh ngạc và kỳ diệu duy nhất của con; còn có một phẩm chất khác nữa. Kể từ khi cả hai chúng con còn trẻ, và con được gả cho chồng con, con không nhớ mình đã phản bội ông ấy dù chỉ trong ý nghĩ, huống chi là hành động.”

“Thật không thể tin được, thưa mẹ Nanda, thật kỳ diệu khi bà có thể thanh lọc ngay cả sự khởi lên của một ý nghĩ.”

“Thưa Tôn giả, đây không phải là phẩm chất đáng kinh ngạc và kỳ diệu duy nhất của con; còn có một phẩm chất khác nữa. Kể từ khi con tự nhận mình là một nữ cư sĩ, con không nhớ mình đã cố ý vi phạm bất kỳ giới luật nào.”

“Thật không thể tin được, thưa mẹ Nanda, thật kỳ diệu!”

“Thưa Tôn giả, đây không phải là phẩm chất đáng kinh ngạc và kỳ diệu duy nhất của con; còn có một phẩm chất khác nữa. Bất cứ khi nào con muốn, hoàn toàn ly dục, ly các pháp bất thiện, con nhập và trú trong sơ thiền, có sự vui vẻ và an vui do ly dục sinh, trong khi vẫn còn sự đặt tâm và giữ tâm kết nối (placing the mind and keeping it connected / vitakka-vicāra, tầm và tứ, hai yếu tố của thiền định). Khi sự đặt tâm và giữ tâm kết nối lắng dịu, con nhập và trú trong nhị thiền, có sự vui vẻ và an vui do định sinh, với sự trong sáng nội tâm và tâm hợp nhất, không còn sự đặt tâm và giữ tâm kết nối. Và với sự phai nhạt của vui vẻ, con nhập và trú trong tam thiền, nơi con thiền với tâm xả, tỉnh thức và nhận thức, tự mình trải nghiệm sự an vui mà các bậc Thánh tuyên bố: ‘Xả và tỉnh thức, người ấy thiền trong an vui.’ Với sự từ bỏ vui và khổ, và sự chấm dứt của hạnh phúc và buồn khổ trước đây, con nhập và trú trong tứ thiền, không khổ không vui, với tâm xả và tỉnh thức thanh tịnh.”

“Thật không thể tin được, thưa mẹ Nanda, thật kỳ diệu!”

“Thưa Tôn giả, đây không phải là phẩm chất đáng kinh ngạc và kỳ diệu duy nhất của con; còn có một phẩm chất khác nữa. Trong năm hạ phần kiết sử (five lower fetters / pañcorambhāgiyāni saṁyojanāni, năm sợi dây trói buộc chúng sanh vào các cõi thấp) do Đức Phật giảng dạy, con không thấy có kiết sử nào mà con chưa từ bỏ.”

“Thật không thể tin được, thưa mẹ Nanda, thật kỳ diệu!”

Rồi Tôn giả Sāriputta đã giáo huấn, khuyến khích, làm phấn khởi, và truyền cảm hứng cho mẹ Nanda bằng một bài Pháp thoại, sau đó Ngài đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi.

(X) (50) Mẹ Của Nanda

1. Như vầy tôi nghe:

Một thời, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahàmoggallàna đang du hành ở Dakkhinàgiri, cùng với đại chúng Tỷ-kheo. Lúc bấy giờ, nữ cư sĩ Velukantakì, mẹ của Nanda thức dậy trước khi mặt trời mọc, và đọc lớn tiếng bài “Pàràyana” (Con đường đưa đến bờ bên kia). Lúc bấy giờ, Ðại vương Vessavana (Tỳsa-môn) đang đi từ phương Bắc đến phương Nam vì một vài công việc. Ðại vương Vessavana nghe nữ cư sĩ Velukantakì, mẹ của Nanda, sau khi lớn tiếng đọc xong bài Pàràyana, liền đứng lại, chờ đợi cho bài được đọc xong. Và nữ cư sĩ, mẹ của Nanda, sau khi lớn tiếng đọc xong bài Pàràyana, liền im lặng. Rồi Ðại vương Vessavana biết được nữ cư sĩ, mẹ của Nanda đã đọc xong bài kệ, liền hết sức hoan hỷ và nói:

− Lành thay, này Chị! Lành thay, này Chị!

− Ngài là ai, hỏi vị có bộ mặt hiền?

− Này Chị, ta là anh của Chị, Ðại vương Vessavana!

− Lành thay, hỏi vị có bộ mặt hiền! Hãy lấy pháp môn được tôi nói đến hôm qua, làm quà tặng đón khách cho Ngài.

− Lành thay, này Chị! Phải, pháp môn này hãy là quà tặng đón khách của tôi! Ngày mai, chúng Tỷ-kheo, với Sàriputta và Moggallàna là các vị cầm đầu, sẽ đến Velukantaka, nhưng chưa ăn sáng. Sau khi Chị mời chúng Tỷ-kheo dùng xong, hãy tuyên bố chính ta đã cúng dường.

2. Rồi cư sĩ, mẹ của Nanda, sau khi đêm ấy đã mãn, liền cho sửa soạn tại nhà của mình các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm. Rồi chúng Tăng, với Sàriputta và Moggallàna là vị cầm đầu đi đến Velukantaka nhưng chưa ăn sáng. Rồi nữ cư sĩ, mẹ của Nanda bảo một người đi, nói rằng: − Này Bạn, hãy đi đến khu vườn và báo thời giờ cho chúng Tỷ-kheo: “Ðã đến giờ, thưa các Tôn giả! Tại nhà của mẹ Nanda, các món ăn đã được sửa soạn”.

− Thưa vâng, thưa nữ cư sĩ.

Người ấy vâng đáp nữ cư sĩ, mẹ của Nanda, đi đến khu vườn và báo thời giờ cho chúng Tỷ-kheo:

− Ðã đến giờ, thưa các Tôn giả! Tại nhà của mẹ Nanda, các món ăn đã được sửa soạn.

Rồi chúng Tỷ-kheo, với Sàriputta mà Mahàmoggallàna là vị cầm đầu, vào buổi sáng đắp y, cầm bát, đi đến trú xứ của nữ cư sĩ, mẹ của Nanda, sau khi đến, ngồi xuống trên các chỗ đã soạn sẵn. Rồi nữ cư sĩ, mẹ của Nanda, mời chúng Tỷ-kheo với Sàriputta và Moggallàna là vị cầm đầu, với các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm, và làm chúng Tỷ-kheo được thỏa mãn. Rồi nữ cư sĩ, mẹ của Nanda thấy Tôn giả Sàriputta ăn đã xong, tay đã rút lui khỏi bình bát, liền ngồi xuống một bên. Tôn giả Sàriputta nói với cư sĩ, mẹ của Nanda đang ngồi một bên:

− Này Mẹ của Nanda, ai bảo cho Bà biết chúng Tỷ-kheo sẽ đi tới nhà?

− Ở đây, thưa Tôn giả, con thức dậy trước khi trời sáng, đọc lớn tiếng bài kệ Pàràyana rồi im lặng. Rồi thưa Tôn giả, Ðại vương Vessavana sau khi biết được con đã đọc xong, liền hết sức hoan hỷ và nói:

− “Lành thay, này Chị! Lành thay, này Chị!”

− “Ngài là ai, hởi vị có bộ mặt hiền?”

− “Này Chị, ta là anh của Chị, Ðại vương Vessavana!”

− “Lành thay, hởi vị có bộ mặt hiền! Hãy lấy pháp môn được tôi nói đến hôm qua, làm quà tặng đón khách cho Ngài.”

− “Lành thay, này Chị! Phải, pháp môn này hãy là quà tặng đón khách của tôi! Ngày mai, chúng Tỷ-kheo, với Sàriputta và Moggallàna là các vị cầm đầu, sẽ đến Velukantaka, nhưng chưa ăn sáng. Sau khi Chị mời chúng Tỷ-kheo dùng xong, hãy tuyên bố chính ta đã cúng dường.”

Thưa Tôn giả, mong rằng mọi công đức của buổi cúng dường này sẽ đem lại an lạc cho đại vương Vessavana!

3. - Thật vi diệu thay, Mẹ của Nanda! Thật hy hữu thay, Mẹ của Nanda! Bà có thể nói chuyện, mặt tận mặt với một Thiên tử có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy.

− Thưa Tôn giả, không phải chỉ có sự vi diệu như vậy, sự hy hữu như vậy đối với con. Con còn có một sự kiện vi diệu, hy hữu khác! Ở đây, thưa Tôn giả, Nanda, đứa con độc nhất của con, khả ái, khả ý, vì một lý do gì đó, bị các vua dùng sức mạnh bắt giữ và đoạn mạng sống. Thưa Tôn giả, trong khi đứa trẻ bị bắt giữ hay đang bị bắt giữ, khi bị trói hay đang bị trói, khi bị giết hay đang bị giết, con rõ biết tâm của con không có đổi khác.

4. - Thật vi diệu thay, Mẹ của Nanda! Thật hy hữu thay, Mẹ của Nanda! Bà đã có thể làm cho tâm khởi thanh tịnh như vậy.

− Thưa Tôn giả, không phải chỉ có sự vi diệu như vậy, sự hy hữu như vậy đối với con. Con còn có một sự kiện vi diệu, hy hữu khác! Ở đây, thưa Tôn giả, người chồng của con, khi mạng chung, sanh vào sanh loại Dạ-xoa, và vị ấy hiện lên trước mặt con, với một tự ngã như lúc trước. Nhưng thưa Tôn giả, con rõ biết, không vì nhân duyên ấy, tâm của con có đổi khác.

5. - Thật vi diệu thay, Mẹ của Nanda! Thật hy hữu thay, Mẹ của Nanda! Người dã có thể làm cho tâm khởi thanh tịnh như vậy.

− Thưa Tôn giả, không phải chỉ có sự vi diệu như vậy, sự hy hữu như vậy đối với con. Con còn có một sự kiện vi diệu, hy hữu khác. Thưa Tôn giả, khi còn là thiếu nữ, được đưa đến cho chồng con, con rõ biết con không có một tâm vi phạm đối với chồng con, huống nữa là về thân!

6. - Thật vi diệu thay, Mẹ của Nanda! Thật hy hữu thay, Mẹ của Nanda! Bà đã có thể làm cho tâm khởi thanh tịnh như vậy.

− Thưa Tôn giả, không phải chỉ có sự vi diệu như vậy, sự hy hữu như vậy đối với con. Con còn có một sự kiện vi diệu, hy hữu khác! Thưa Tôn giả, khi con tự chấp nhận là một nữ cư sĩ, con rõ biết con chưa từng vi phạm một học pháp nào.

7. - Thật vi diệu thay, Mẹ của Nanda! Thật hy hữu thay, Mẹ của Nanda! Thưa Tôn giả, không phải chỉ có sự vi diệu như vậy, sự hy hữu như vậy đối với con. Con còn có một sự kiện vi diệu, hy hữu khác! Ở đây, thưa Tôn giả, nếu con muốn, con có thể ly dục, ly pháp bất thiện, chứng đạt và an trú sơ Thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, không tầm không tứ; làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, con chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tỉnh nhất tâm; ly hỷ, con trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, con chứng đạt và an trú Thiền thứ ba; đoạn lạc và đoạn khổ, chấm dứt các hỷ ưu đã cảm thọ trước, con chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tĩnh.

8. - Thật vi diệu thay, Mẹ của Nanda! Thật hy hữu thay, Mẹ của Nanda!

− Thưa Tôn giả, không phải chỉ có sự vi diệu như vậy, sự hy hữu như vậy đối với con. Con còn có một sự kiện vi diệu, hy hữu khác! Ở đây, thưa Tôn giả, năm hạ phần kiết sử được Thế Tôn thuyết giảng, con thấy rõ không còn pháp nào ở nơi con chưa được đoạn tận.

9. - Thật vi diệu thay, Mẹ của Nanda! Thật hy hữu thay, Mẹ của Nanda!

Rồi Tôn giả Sàriputta, sau khi với một pháp thoại, nói lên cho nữ cư sĩ mẹ của Nanda, khích lệ làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi.