Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm Lớn

AN 7.65 Xấu Hổ và Sợ Điều Ác Hirīottappasutta

"Này các Tỳ kheo, khi không có xấu hổ và sợ điều ác (conscience and prudence / xấu hổ tội lỗi và sợ hãi hậu quả của tội lỗi), người thiếu xấu hổ và sợ điều ác đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho sự thu thúc các căn (sense restraint / kiểm soát các giác quan). Khi không có sự thu thúc các căn, người thiếu sự thu thúc các căn đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho giới hạnh (ethical conduct / hành vi đạo đức). Khi không có giới hạnh, người thiếu giới hạnh đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho chánh định (right immersion / sự tập trung đúng đắn). Khi không có chánh định, người thiếu chánh định đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho chánh tri kiến (true knowledge and vision / thấy biết chân chánh). Khi không có chánh tri kiến, người thiếu chánh tri kiến đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho sự nhàm chán và ly tham (disillusionment and dispassion / sự chán ngán và không còn ham muốn). Khi không có sự nhàm chán và ly tham, người thiếu sự nhàm chán và ly tham đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho tri kiến giải thoát (knowledge and vision of freedom / thấy biết sự giải thoát).

Ví như có một cái cây thiếu cành và lá. Chồi, vỏ cây, giác cây và lõi cây của nó sẽ không phát triển đầy đủ.

Cũng vậy, khi không có xấu hổ và sợ điều ác, người thiếu xấu hổ và sợ điều ác đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho sự thu thúc các căn. Khi không có sự thu thúc các căn, người thiếu sự thu thúc các căn đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho giới hạnh. Khi không có giới hạnh, người thiếu giới hạnh đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho chánh định. Khi không có chánh định, người thiếu chánh định đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho chánh tri kiến. Khi không có chánh tri kiến, người thiếu chánh tri kiến đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho sự nhàm chán và ly tham. Khi không có sự nhàm chán và ly tham, người thiếu sự nhàm chán và ly tham đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho tri kiến giải thoát.

Khi có xấu hổ và sợ điều ác, người đã hoàn thiện xấu hổ và sợ điều ác đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho sự thu thúc các căn. Khi có sự thu thúc các căn, người đã hoàn thiện sự thu thúc các căn đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho giới hạnh. Khi có giới hạnh, người đã hoàn thiện giới hạnh đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho chánh định. Khi có chánh định, người đã hoàn thiện chánh định đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho chánh tri kiến. Khi có chánh tri kiến, người đã hoàn thiện chánh tri kiến đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho sự nhàm chán và ly tham. Khi có sự nhàm chán và ly tham, người đã hoàn thiện sự nhàm chán và ly tham đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho tri kiến giải thoát.

Ví như có một cái cây đầy đủ cành và lá. Chồi, vỏ cây, giác cây và lõi cây của nó sẽ phát triển đầy đủ.

Cũng vậy, khi có xấu hổ và sợ điều ác, người đã hoàn thiện xấu hổ và sợ điều ác đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho sự thu thúc các căn. … Người đã hoàn thiện sự nhàm chán và ly tham đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho tri kiến giải thoát."

VII. Ðại Phẩm

(I) (61) Xấu Hổ

1. - Khi tàm quý không có, này các Tỷ-kheo, với người thiếu tàm quý, chế ngự các căn đi đến hủy diệt. Khi chế ngự các căn không có, với người thiếu chế ngự các căn, giới đi đến hủy diệt. Khi giới không có, với người thiếu giới, chánh định đi đến hủy diệt. Khi chánh định không có, với người không có chánh định, tri kiến như thật đi đến hủy diệt. Khi tri kiến như thật không có, với người thiếu tri kiến như thật, nhàm chán ly tham đi đến hủy diệt. Khi nhàm chán ly tham không có, với người thiếu nhàm chán ly tham, giải thoát tri kiến đi đến hủy diệt. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây không có cành và lá, các mầm non của cây cấy không đi đến thành mãn; vỏ trong, giác cây, lõi cây không đi đến thành mãn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi tàm quý không có, với người không có tàm quý, chế ngự các căn đi đến hủy diệt… giải thoát tri kiến đi đến hủy diệt.

2. Khi tàm quý không có, này các Tỷ-kheo, với người đầy đủ tàm quý, chế ngự các căn đi đến đầy đủ. Khi chế ngự các căn có mặt, với người đầy đủ chế ngự các căn, giới đi đến đầy đủ. Khi giới có mặt, với người đầy đủ giới, chánh định đi đến đầy đủ. Khi chánh định có mặt, với người đầy đủ chánh định, tri kiến như thật đi đến đầy đủ. Khi tri kiến như thật có mặt, với người đầy đủ tri kiến như thật, nhàm chán ly tham đi đến đầy đủ. Khi nhàm chán ly tham có mặt, với người đầy đủ nhàm chán ly tham, giải thoát tri kiến đi đến đầy đủ. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây có cành và lá, các mầm non của cây ấy đi đến thành mãn; vỏ trong, giác cây, lõi cây đi đến thành mãn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi tàm quý có mặt, với người đầy đủ tàm quý … giải thoát tri kiến đi đến đầy đủ.

AN 7.66 Bảy Mặt Trời Sattasūriyasutta

TÔI NGHE NHƯ VẦY. Một thời Đức Phật trú gần Vesālī, trong Vườn Xoài của Ambapālī. Tại đó, Đức Phật gọi các Tỳ kheo: “Này các Tỳ kheo!”

“Bạch Thế Tôn,” họ đáp. Đức Phật nói điều này:

"Này các Tỳ kheo, các pháp hữu vi (conditions / các pháp do duyên sinh, có điều kiện) là vô thường (impermanent / không thường còn). Các pháp hữu vi là không bền vững (unstable / không ổn định). Các pháp hữu vi là không chắc chắn (unreliable / không đáng tin cậy). Điều này là quá đủ để các ông trở nên nhàm chán, ly tham và giải thoát đối với tất cả các pháp hữu vi.

Núi Tu-di (Sineru / tên một ngọn núi trong thần thoại Phật giáo), vua của các ngọn núi, dài 84.000 do tuần (leagues / đơn vị đo chiều dài cổ Ấn Độ, khoảng 10-15km) và rộng 84.000 do tuần. Nó chìm 84.000 do tuần dưới đại dương và cao 84.000 do tuần trên đại dương. Sẽ có lúc, sau một thời gian rất dài trôi qua—nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm—trời không mưa. Khi điều này xảy ra, các loài cây cỏ, hạt giống, thảo mộc, cỏ và cây lớn đều khô héo, tàn lụi và không còn nữa. Các pháp hữu vi là vô thường như vậy, không bền vững như vậy, không chắc chắn như vậy. Điều này là quá đủ để các ông trở nên nhàm chán, ly tham và giải thoát đối với tất cả các pháp hữu vi.

Sẽ có lúc, sau một thời gian rất dài trôi qua, mặt trời thứ hai xuất hiện. Khi điều này xảy ra, các dòng suối và ao hồ đều khô héo, cạn kiệt và không còn nữa. Các pháp hữu vi là vô thường như vậy …

Sẽ có lúc, sau một thời gian rất dài trôi qua, mặt trời thứ ba xuất hiện. Khi điều này xảy ra, các con sông lớn—sông Hằng, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, và Mahī—đều khô héo, cạn kiệt và không còn nữa. Các pháp hữu vi là vô thường như vậy …

Sẽ có lúc, sau một thời gian rất dài trôi qua, mặt trời thứ tư xuất hiện. Khi điều này xảy ra, các hồ lớn nơi các con sông bắt nguồn—Anotattā, Sīhapapātā, Rathakārā, Kaṇṇamuṇḍā, Kuṇālā, Chaddantā, và Mandākinī—đều khô héo, cạn kiệt và không còn nữa. Các pháp hữu vi là vô thường như vậy …

Sẽ có lúc, sau một thời gian rất dài trôi qua, mặt trời thứ năm xuất hiện. Khi điều này xảy ra, nước trong đại dương rút xuống một trăm do tuần. Nó rút xuống hai, ba, bốn, năm, sáu, hoặc thậm chí bảy trăm do tuần. Nước còn lại trong đại dương chỉ sâu bảy gang tay. Nó sâu sáu, năm, bốn, ba, hai, hoặc thậm chí một gang tay. Nước còn lại trong đại dương chỉ sâu bảy sải tay. Nó sâu sáu, năm, bốn, ba, hai, một hoặc thậm chí nửa sải tay. Nó cao đến thắt lưng, đến đầu gối, hoặc thậm chí đến mắt cá chân. Giống như vào mùa thu, khi trời mưa lớn và nước còn đọng lại đây đó trong dấu chân bò. Cũng vậy, nước trong đại dương còn lại đây đó trong các vũng nước như dấu chân bò. Khi mặt trời thứ năm xuất hiện, nước trong đại dương lớn không còn đủ để làm ướt đầu ngón chân. Các pháp hữu vi là vô thường như vậy …

Sẽ có lúc, sau một thời gian rất dài trôi qua, mặt trời thứ sáu xuất hiện. Khi điều này xảy ra, trái đất vĩ đại này và núi Tu-di, vua của các ngọn núi, bốc khói, âm ỉ cháy và tỏa ra khói mù. Giống như khi lò gốm mới được nhóm lửa, nó bốc khói, âm ỉ cháy và tỏa ra khói mù. Cũng vậy, trái đất vĩ đại này và núi Tu-di, vua của các ngọn núi, bốc khói, âm ỉ cháy và tỏa ra khói mù. Các pháp hữu vi là vô thường như vậy …

Sẽ có lúc, sau một thời gian rất dài trôi qua, mặt trời thứ bảy xuất hiện. Khi điều này xảy ra, trái đất vĩ đại này và núi Tu-di, vua của các ngọn núi, bùng lên thành một khối lửa cháy rực. Và khi chúng bùng cháy và thiêu đốt, ngọn lửa bị gió cuốn đi xa đến tận cõi Phạm thiên (realm of divinity / cõi trời của các vị Phạm thiên). Núi Tu-di, vua của các ngọn núi, bùng cháy và thiêu đốt, sụp đổ khi bị ngọn lửa lớn bao trùm. Và trong khi đó, các đỉnh núi cao hàng trăm do tuần, hoặc hai, ba, bốn, hoặc năm trăm do tuần tan rã khi chúng cháy. Và khi trái đất vĩ đại và núi Tu-di, vua của các ngọn núi, bùng cháy và thiêu đốt, không tìm thấy muội than hay tro bụi nào. Giống như khi bơ sữa hay dầu bùng cháy và thiêu đốt, và không tìm thấy tro bụi hay muội than nào. Cũng vậy, khi trái đất vĩ đại và núi Tu-di, vua của các ngọn núi, bùng cháy và thiêu đốt, không tìm thấy muội than hay tro bụi nào. Các pháp hữu vi là vô thường như vậy, các pháp hữu vi không bền vững như vậy, các pháp hữu vi không chắc chắn như vậy. Điều này là quá đủ để các ông trở nên nhàm chán, ly tham và giải thoát đối với tất cả các pháp hữu vi.

Này các Tỳ kheo, ai có thể nghĩ hoặc tin rằng trái đất này và núi Tu-di, vua của các ngọn núi, sẽ cháy rụi, sụp đổ và không còn nữa, ngoại trừ người đã thấy sự thật?

Ngày xưa, có một vị đạo sư tên là Sunetta. Ngài là người sáng lập giáo phái và đã ly tham dục. Ngài có nhiều trăm đệ tử. Ngài dạy họ con đường tái sinh vào cõi Phạm thiên. Những người hoàn toàn hiểu lời dạy của Sunetta—khi thân hoại mạng chung, sau khi chết—được tái sinh vào nơi tốt lành, cõi Phạm thiên. Trong số những người không hoàn toàn hiểu lời dạy của Sunetta, một số—khi thân hoại mạng chung, sau khi chết—được tái sinh vào cõi của Tha Hóa Tự Tại thiên (gods who control what is imagined by others / chư thiên ở cõi trời có khả năng kiểm soát những gì người khác tưởng tượng). Một số được tái sinh vào cõi của Hóa Lạc thiên (gods who love to imagine / chư thiên ở cõi trời thích thú với sự tưởng tượng), một số với Đâu Suất thiên (joyful gods / chư thiên ở cõi trời hoan hỷ), một số với Dạ Ma thiên (gods of Yama / chư thiên ở cõi trời của Dạ Ma), một số với Đao Lợi thiên (gods of the thirty-three / chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba), và một số với Tứ Đại Thiên Vương (gods of the four great kings / chư thiên ở cõi trời của bốn vị vua lớn). Một số được tái sinh vào gia đình của các quý tộc, Bà-la-môn hoặc gia chủ giàu có.

Rồi vị đạo sư Sunetta nghĩ: ‘Không thích hợp để ta tái sinh vào đời sau ở cùng một nơi với các đệ tử của mình. Tại sao ta không phát triển thêm tâm từ (love / lòng yêu thương, mong muốn chúng sinh được an vui)?’

Sau đó, Sunetta đã phát triển tâm từ trong bảy năm. Sau khi làm như vậy, ngài đã không trở lại thế giới này trong bảy kiếp thành hoại của vũ trụ (eons of cosmic expansion and contraction / các giai đoạn hình thành và hủy diệt của vũ trụ). Khi vũ trụ hoại diệt, ngài đến cõi Quang Âm thiên (realm of streaming radiance / cõi trời có ánh sáng rực rỡ). Khi vũ trụ thành hình, ngài tái sinh trong một cung điện trống không của cõi Phạm thiên. Ở đó, ngài là Phạm Vương, Đại Phạm Vương, đấng chiến thắng, đấng bất khả chiến bại, đấng toàn kiến, đấng nắm giữ quyền năng. Ngài là Đế Thích, vua của các vị trời, ba mươi sáu lần. Nhiều trăm lần ngài là một vị vua, một chuyển luân thánh vương (wheel-turning monarch / vị vua cai trị bằng Chánh pháp, bánh xe Pháp của vị ấy lăn đi khắp nơi), một vị vua công chính và có nguyên tắc. Quyền lực của ngài bao trùm khắp bốn phương, ngài đạt được sự ổn định trong đất nước, và ngài sở hữu thất bảo (seven treasures / bảy báu vật của chuyển luân thánh vương). Ngài có hơn một ngàn người con trai dũng mãnh và anh hùng, đè bẹp quân đội của kẻ thù. Sau khi chinh phục vùng đất này được bao bọc bởi biển cả, ngài trị vì bằng nguyên tắc, không cần đến roi vọt hay gươm đao. Tuy nhiên, dù Sunetta sống lâu như vậy, ngài vẫn không thoát khỏi tái sinh, già nua và cái chết. Ngài không thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não, Ta nói vậy.

Tại sao vậy? Vì không hiểu và không thâm nhập bốn điều. Bốn điều gì? Giới bậc Thánh, định bậc Thánh, tuệ bậc Thánh và giải thoát bậc Thánh. Giới bậc Thánh, định bậc Thánh, tuệ bậc Thánh và giải thoát bậc Thánh này đã được hiểu và thấu triệt. Hữu ái (craving for continued existence / sự khao khát được tiếp tục tồn tại) đã được đoạn trừ; con đường dẫn đến tái sinh đã chấm dứt; nay sẽ không còn đời sống tương lai nào nữa."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Sau đó, Đấng Thiện Thệ, Bậc Đạo Sư, nói tiếp:

"Giới, định, và trí tuệ,
và giải thoát tối thượng:
những điều này đã được thấu hiểu
bởi Đức Gotama danh tiếng.

Và vì vậy Đức Phật, bậc có tuệ giác,
đã giải thích giáo lý này cho các Tỳ kheo.
Bậc Đạo Sư đã chấm dứt khổ đau;
với tuệ nhãn, Ngài đã tịch diệt Niết-bàn (quenched / sự dập tắt hoàn toàn phiền não, đạt Niết-bàn)."

(II) (62) Mặt Trời

1. Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn ở Vesàlì, tại rừng Ambapàli. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

2. - Này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường. Này các Tỷ-kheo, các hành là không có kiên cố. Này các Tỷ-kheo, các hành là không an ổn. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả hành. Núi chúa Sineru, này các Tỷ-kheo, dài 84 ngàn do tuần, rộng 84 ngàn do tuần, chìm xuống biển lớn 84 ngàn do tuần, nổi lên trên biển lớn 84 ngàn do tuần. Này các Tỷ-kheo, rồi có thời, nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, trời không mưa. Khi không có mưa, các loài chủng tử, các loài thực vật, các rừng rậm dược thảo đều khô héo cằn cỗi không có tồn tại. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường. Này các Tỷ-kheo, các hành là không có kiên cố. Này các Tỷ-kheo, các hành là không an ổn. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các cành. Này các Tỷ-kheo, rồi có thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ hai hiện ra.

3. Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ hai có mặt, thời tất cả sông nhỏ, ao nhỏ khô cạn, khô kiệt, không có tồn tại, như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường… là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành. Này các Tỷ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ ba hiện ra.

4. Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ ba có mặt, thời các sông lớn như sông Hằng, sống Yamunà, Aciravatì, Sarabhù, Mahì, các con sông ấy bị khô cạn, bị khô kiệt, không có tồn tại. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường… là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành. Này các Tỷ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ tư hiện ra.

5. Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ tư hiện ra, thời các biển hồ lớn, từ đấy các sông lớn chảy ra, ví như Anotattà, Sìhapapàtà, Rathakàrà, Kannamunda, Kunàlà, Chaddantà, Mandàkinì, các biển hồ ấy bị khô cạn, bị khô kiệt, không có tồn tại. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường… là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành. Này các Tỷ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ năm hiện ra. 6. Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ năm hiện ra, thời nước các biển lớn rút lui một trăm do tuần, nước các biển lớn rút lui hai trăm do tuần, các nước biển lớn rút lui ba trăm do tuần… Nước các biển lớn rút lui bảy trăm do tuần; nước các biển lớn dừng lại sâu đến bảy cây sàla, sáu cây sàla, năm cây sàla, bốn cây sàla, ba cây sàla, hai cây sàla, chỉ một cây sàla. Nước các biển lớn dừng lại, sâu đến bảy đầu người, sâu đến sáu đầu người, năm đầu người, bốn đầu người, ba đầu người, hai đầu người, một đầu người, nửa đầu người. Nước các biển lớn dừng lại, sâu chỉ đến eo lưng của người, chỉ đến đầu gối của người, chỉ đến mắt cá của người. Ví như này các Tỷ-kheo, vào mùa thu khi trời mưa hạt lớn, chỗ này chỗ khác, trong các dấu chân của các con bò cái, có những vũng nước nhỏ đọng lại. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, chỉ còn những vũng nước nhỏ trong dấu chân các con bò cái là nước của biển lớn còn lại, chỗ này chỗ kia. Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ năm hiện ra, nước biển lớn chỉ bằng độ ngón tay. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường… là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành. Này các Tỷ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ sáu hiện ra.

7. Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ sáu hiện ra, thời đất lớn này và núi chứa Sineru, sanh khói lên, thổi khói lên, phun khói lên. Ví như, này các Tỷ-kheo, các lò của người thợ gốm mới đốt lửa lên, sanh khói lên, phun khói lên. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ sáu hiện ra, thời đất lớn này và núi chứa Sineru sanh khói lên, thổi khói lên, phun khói lên. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường… là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành. Này các Tỷ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ bảy hiện ra.

8. Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ bảy hiện ra, trái đất lớn này và núi chứa Sineru bốc cháy, rực cháy, trở thành một màn lửa. Và khi quả đất lớn này và núi chúa Sineru cháy đỏ lên, cháy rực lên ngọn lửa do gió thổi bốc cao đến Phạm thiên giới. Các chóp ngọn của núi Sineru, cao đến một, hai, ba, bốn, năm trăm do tuần, khi bị cháy đỏ lên, cháy rực lên, bị cả khối lửa to lớn phá hoại và chinh phục, liền sụp đổ xuống. Sau khi quả đất lớn và núi Sineru bị cháy đỏ lên, cháy rực lên, không tìm thấy tro và lọ đen. Ví như, này các Tỷ-kheo, khi bơ và dầu được cháy đỏ, được cháy rực lên, không tìm thấy tro và lọ đen. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi quả đất lớn này và núi chứa Sineru bị cháy đỏ lên, cháy rực lên, không tìm thấy tro và lọ đen. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường. Này các Tỷ-kheo, các hành là không kiên cố. Này các Tỷ-kheo, các hành là không an ổn. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả hành. Ở đây, này các Tỷ-kheo, ai là người có thể nghĩ rằng, ai là người có thể tin rằng: “Quả đất này và núi chứa Sineru sẽ bị đốt cháy, sẽ bị hủy hoại, sẽ không còn tồn tại nữa”, trừ những người đã được chứng kiến.

9. Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có Ðạo Sư Sunetta thuộc ngoại đạo, được ly tham trong các dục. Này các Tỷ-kheo, Ðạo Sư Sunetta có hàng trăm người đệ tử. Ðao Sư Sunetta thuyết pháp cho các đệ tử về cọng trú với chư Thiên ở Phạm thiên giới. Và tất cả những ai nắm hiểu một cách hoàn toàn trọn vẹn lời thuyết dạy của Sunetta, về cọng trú với chư Thiên ở Phạm thiên giới, khi thân hoại mạng chung, họ được sanh lên thiện thú Phạm thiên giới. Những ai không nắm hiểu một cách hoàn toàn trọn vẹn lời dạy của Sunetta, sau khi thân hoại mạng chung, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Tha hóa Tự tại, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Hóa Lạc thiên, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Ðâusuất thiên, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Dạ-ma thiên, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Thiên giới Ba mươi ba, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Bốn Thiên vương, một số được sanh cọng trú với các đại gia đình Sát-đế-lỵ, một số được sanh cọng trú với các đại gia đình Bà-lamôn, một số được sanh cọng trú với các đại gia đình gia chủ.

10. Rồi này các Tỷ-kheo, Ðạo Sư Sunetta suy nghĩ như sau: “Thật không xứng đáng cho ta trong đời sau lại có một sanh thú giống như sanh thú của các đệ tử. Vậy ta hãy tu tập tối thượng từ bi”. Rồi này các Tỷ-kheo, bậc Ðạo sư Sunetta trong bảy năm tu tập từ tâm. Sau khi tu tập từ tâm bảy năm, trong bảy năm thành kiếp hoại kiếp, vị ấy không trở lui lại thế giới này. Trong kiếp thành của thế giới, này các Tỷ-kheo, vị ấy đi đến thế giới của Abhassara (Quang Âm thiên). Trong kiếp hoại của thế giới, vị ấy được sanh trong Phạm cung trống không. Tại đấy này các Tỷ-kheo, vị ấy là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, bậc chiến thắng, bậc vô năng, bấc biến tri, bậc tự tại. Ba mươi sáu lần, này các Tỷ-kheo, vị ấy là Thiên chủ Sakka. Nhiều lần bảy lần, vị ấy là vị Chuyển luân Thánh vương theo Chánh pháp, là vị pháp vương, bậc chiến thắng bốn phương, đạt được sự thanh bình cho quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Vị ấy có hơn một ngàn người con trai, là những bậc anh hùng, dũng mãnh, đánh tan địch quân. Và vị ấy chiến thắng quả đất này xa cho đến hải biên, trị vì quả đất này không dùng trượng, không dùng dao, đúng với Chánh pháp. Này các Tỷ-kheo, Ðạo sư Sunetta ấy, dầu cho thọ mạng lâu dài như vậy, sống lâu dài như vậy, nhưng không được thoát khỏi sanh, già, chết, sầu bi, khổ, ưu não. Ta nói rằng vị ấy chưa giải thoát khỏi khổ. Vì cớ sao? Vì rằng vị ấy chưa giác ngộ, chưa thể nhập bốn pháp. Thế nào là bốn?

11. Này các Tỷ-kheo, vì không giác ngộ, không thể nhập Thánh giới; vì không giác ngộ, không thể nhập Thánh định; vì không giác ngộ, không thể chấp Thánh trí tuệ, vì không giác ngộ, không thể nhập Thánh giải thoát. Này các Tỷ-kheo, sự kiện là như sau: Khi Thánh giới được giác ngộ, được thể nhập; khi Thánh trí tuệ được giác ngộ, được thể nhập; khi Thánh giải thoát được giác ngộ, được thể nhập, cắt đứt là hữu ái; sợi dây đưa đến sanh hữu được đoạn tận, nay không có tái sanh.

Thế Tôn nói như vậy. Bậc Thiện Thệ nói xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

Vô thượng giới và định, Trí tuệ và giải thoát, Gotama danh tiếng, Giác ngộ những pháp này. Ðức Phật với thắng trí, Thuyết pháp cho Tỷ-kheo, Bậc Ðạo sư đoạn khổ, Bậc Pháp nhãn tịch tịnh.

AN 7.67 Thí Dụ Về Thành Trì Nagaropamasutta

"Này các Tỳ kheo, khi một thành trì biên ải của nhà vua được trang bị đầy đủ bảy yếu tố thiết yếu và nhận được bốn loại vật thực nuôi dưỡng khi cần, không gặp khó khăn hay trở ngại, thì nó được gọi là một thành trì biên ải của nhà vua không thể bị kẻ thù bên ngoài xâm chiếm.

Thành trì được trang bị đầy đủ bảy yếu tố thiết yếu nào?

Thứ nhất, một thành trì có một trụ cột với nền móng sâu, được cắm chắc chắn, không thể lay chuyển và không thể rung động. Đây là yếu tố thiết yếu đầu tiên mà một thành trì biên ải của nhà vua được trang bị đầy đủ, để bảo vệ những người bên trong và đẩy lùi những người bên ngoài.

Hơn nữa, một thành trì có một hào sâu và rộng. Đây là yếu tố thiết yếu thứ hai …

Hơn nữa, một thành trì có một con đường tuần tra cao và rộng. Đây là yếu tố thiết yếu thứ ba …

Hơn nữa, một thành trì có kho chứa nhiều vũ khí, cả loại phóng và loại cầm tay. Đây là yếu tố thiết yếu thứ tư …

Hơn nữa, nhiều loại lực lượng vũ trang cư trú trong một thành trì, chẳng hạn như kỵ tượng, kỵ binh, xa binh, cung thủ, người cầm cờ, sĩ quan phụ tá, người phục vụ thức ăn, thủ lĩnh chiến binh, hoàng tử, chiến binh xung kích, chiến binh vĩ đại, anh hùng, binh lính mặc áo da và con trai của những người hầu. Đây là yếu tố thiết yếu thứ năm …

Hơn nữa, một thành trì có một người gác cổng sáng suốt, có năng lực và thông minh. Người đó giữ người lạ ở ngoài và cho người quen vào. Đây là yếu tố thiết yếu thứ sáu …

Hơn nữa, một thành trì có một bức tường cao và rộng, được trát vữa. Đây là yếu tố thiết yếu thứ bảy mà một thành trì biên ải của nhà vua được trang bị đầy đủ, để bảo vệ những người bên trong và đẩy lùi những người bên ngoài.

Với bảy yếu tố thiết yếu này, một thành trì được trang bị đầy đủ.

Bốn loại vật thực nuôi dưỡng mà nó nhận được khi cần, không gặp khó khăn hay trở ngại là gì?

Thứ nhất, một thành trì biên ải của nhà vua có nhiều cỏ khô, gỗ và nước được dự trữ để những người bên trong hưởng thụ, nghỉ ngơi và thoải mái, và để đẩy lùi những người bên ngoài.

Hơn nữa, một thành trì biên ải của nhà vua có nhiều gạo và lúa mạch được dự trữ cho những người bên trong.

Hơn nữa, một thành trì biên ải của nhà vua có nhiều thực phẩm như vừng, đậu xanh và đậu đen được dự trữ cho những người bên trong.

Hơn nữa, một thành trì biên ải của nhà vua có nhiều thuốc men—bơ sữa, bơ, dầu, mật ong, mật mía và muối—được dự trữ để những người bên trong hưởng thụ, nghỉ ngơi và thoải mái, và để đẩy lùi những người bên ngoài.

Đây là bốn loại vật thực nuôi dưỡng mà nó nhận được khi cần, không gặp khó khăn hay trở ngại.

Khi một thành trì biên ải của nhà vua được trang bị đầy đủ bảy yếu tố thiết yếu và nhận được bốn loại vật thực nuôi dưỡng khi cần, không gặp khó khăn hay trở ngại, thì nó được gọi là một thành trì biên ải của nhà vua không thể bị kẻ thù bên ngoài xâm chiếm. Cũng vậy, khi một vị Thánh đệ tử có bảy phẩm chất tốt đẹp, và họ đạt được bốn tầng thiền (absorptions / các trạng thái tâm định sâu sắc)—những thiền định mang lại an lạc ngay trong đời này, thuộc về tâm cao thượng—khi họ muốn, không gặp khó khăn hay trở ngại, thì họ được gọi là một vị Thánh đệ tử không thể bị Ma vương (Māra / ác ma, biểu tượng của sự cám dỗ và trở ngại trên con đường tu tập) xâm chiếm, không thể bị Ác ma xâm chiếm. Bảy phẩm chất tốt đẹp mà họ có là gì?

Cũng như một thành trì biên ải của nhà vua có một trụ cột với nền móng sâu, được cắm chắc chắn, không thể lay chuyển và không thể rung động, để bảo vệ những người bên trong và đẩy lùi những người bên ngoài, cũng vậy một vị Thánh đệ tử có niềm tin vào sự giác ngộ của Như Lai (Realized One / bậc đã đến như vậy, danh hiệu của Đức Phật): ‘Đức Thế Tôn đó là bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’ Một vị Thánh đệ tử lấy niềm tin làm trụ cột của mình, từ bỏ điều bất thiện (unskillful / không tốt, gây hại) và phát triển điều thiện (skillful / tốt, lợi ích), họ từ bỏ điều đáng trách và phát triển điều không đáng trách, và họ giữ cho mình thanh tịnh. Đây là phẩm chất tốt đẹp đầu tiên họ có.

Cũng như một thành trì có một hào sâu và rộng, cũng vậy một vị Thánh đệ tử có sự xấu hổ. Họ xấu hổ về hành vi xấu ác qua thân, khẩu, ý, và xấu hổ về việc có bất kỳ phẩm chất xấu ác, bất thiện nào. Một vị Thánh đệ tử lấy sự xấu hổ làm hào của mình, từ bỏ điều bất thiện và phát triển điều thiện, họ từ bỏ điều đáng trách và phát triển điều không đáng trách, và họ giữ cho mình thanh tịnh. Đây là phẩm chất tốt đẹp thứ hai họ có.

Cũng như một thành trì có một con đường tuần tra cao và rộng, cũng vậy một vị Thánh đệ tử biết sợ điều ác. Họ sợ điều ác khi nói đến hành vi xấu ác qua thân, khẩu, ý, và sợ điều ác khi nói đến việc tiếp thu bất kỳ phẩm chất xấu ác, bất thiện nào. Một vị Thánh đệ tử lấy sự sợ điều ác làm con đường tuần tra của mình, từ bỏ điều bất thiện và phát triển điều thiện, họ từ bỏ điều đáng trách và phát triển điều không đáng trách, và họ giữ cho mình thanh tịnh. Đây là phẩm chất tốt đẹp thứ ba họ có.

Cũng như một thành trì có kho chứa nhiều vũ khí, cả loại phóng và loại cầm tay, cũng vậy một vị Thánh đệ tử là người đa văn (very learned / nghe nhiều, học rộng). Họ ghi nhớ và giữ gìn những gì đã học. Những lời dạy này tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và văn phong tốt, mô tả một thực hành tâm linh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Họ rất đa văn về những lời dạy như vậy, ghi nhớ chúng, tụng đọc chúng, suy xét chúng trong tâm và hiểu chúng về mặt lý thuyết. Một vị Thánh đệ tử lấy sự học hỏi làm vũ khí của mình, từ bỏ điều bất thiện và phát triển điều thiện, họ từ bỏ điều đáng trách và phát triển điều không đáng trách, và họ giữ cho mình thanh tịnh. Đây là phẩm chất tốt đẹp thứ tư họ có.

Cũng như nhiều loại lực lượng vũ trang cư trú trong một thành trì … cũng vậy một vị Thánh đệ tử là người siêng năng. Họ sống với năng lực được khơi dậy để từ bỏ các phẩm chất bất thiện và đón nhận các phẩm chất thiện. Họ mạnh mẽ, kiên trì, không lười biếng khi nói đến việc phát triển các phẩm chất thiện. Một vị Thánh đệ tử lấy sự siêng năng làm lực lượng vũ trang của mình, từ bỏ điều bất thiện và phát triển điều thiện, họ từ bỏ điều đáng trách và phát triển điều không đáng trách, và họ giữ cho mình thanh tịnh. Đây là phẩm chất tốt đẹp thứ năm họ có.

Cũng như một thành trì có một người gác cổng sáng suốt, có năng lực và thông minh, người giữ người lạ ở ngoài và cho người quen vào, cũng vậy một vị Thánh đệ tử là người tỉnh thức. Họ có chánh niệm và tỉnh giác (alertness / sự nhận biết rõ ràng những gì đang xảy ra) cao độ, và có thể nhớ lại những gì đã nói và làm từ lâu. Một vị Thánh đệ tử lấy sự tỉnh thức làm người gác cổng của mình, từ bỏ điều bất thiện và phát triển điều thiện, họ từ bỏ điều đáng trách và phát triển điều không đáng trách, và họ giữ cho mình thanh tịnh. Đây là phẩm chất tốt đẹp thứ sáu họ có.

Cũng như một thành trì có một bức tường cao và rộng, được trát vữa, để bảo vệ những người bên trong và đẩy lùi những người bên ngoài, cũng vậy một vị Thánh đệ tử là người có trí tuệ. Họ có trí tuệ về sự sinh diệt, đó là trí tuệ bậc Thánh, có tính thâm nhập và dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Một vị Thánh đệ tử lấy trí tuệ làm bức tường của mình, từ bỏ điều bất thiện và phát triển điều thiện, họ từ bỏ điều đáng trách và phát triển điều không đáng trách, và họ giữ cho mình thanh tịnh. Đây là phẩm chất tốt đẹp thứ bảy họ có. Đây là bảy phẩm chất tốt đẹp mà họ có.

Và bốn tầng thiền—những thiền định mang lại an lạc ngay trong đời này, thuộc về tâm cao thượng—mà họ đạt được khi muốn, không gặp khó khăn hay trở ngại là gì? Cũng như một thành trì biên ải của nhà vua có nhiều cỏ khô, gỗ và nước được dự trữ để những người bên trong hưởng thụ, nghỉ ngơi và thoải mái, và để đẩy lùi những người bên ngoài, cũng vậy một vị Thánh đệ tử, hoàn toàn ly dục, ly bất thiện pháp, nhập và trú sơ thiền, có hỷ lạc do ly dục sinh, trong khi nghĩ về đối tượng và khảo sát đối tượng. Điều này là để họ hưởng thụ, nghỉ ngơi và thoải mái, và để hướng đến Niết-bàn (extinguishment / sự dập tắt phiền não và khổ đau).

Cũng như một thành trì biên ải của nhà vua có nhiều gạo và lúa mạch được dự trữ, cũng vậy, khi sự nghĩ về đối tượng và khảo sát đối tượng lắng xuống, một vị Thánh đệ tử nhập và trú nhị thiền, có hỷ lạc do định sinh, với nội tĩnh nhất tâm, không còn nghĩ về đối tượng và khảo sát đối tượng. Điều này là để họ hưởng thụ, nghỉ ngơi và thoải mái, và để hướng đến Niết-bàn.

Cũng như một thành trì biên ải của nhà vua có nhiều thực phẩm như vừng, đậu xanh và đậu đen được dự trữ, cũng vậy với sự phai nhạt của hỷ, một vị Thánh đệ tử nhập và trú tam thiền, nơi họ thiền với xả (equanimity / trạng thái tâm quân bình, không dao động), tỉnh thức và nhận biết, tự mình trải nghiệm sự an vui mà các bậc Thánh tuyên bố, ‘Người có xả và tỉnh thức, thiền trong an vui.’ Điều này là để họ hưởng thụ, nghỉ ngơi và thoải mái, và để hướng đến Niết-bàn.

Cũng như một thành trì biên ải của nhà vua có nhiều thuốc men—bơ sữa, bơ, dầu, mật ong, mật mía và muối—được dự trữ để những người bên trong hưởng thụ, nghỉ ngơi và thoải mái, và để đẩy lùi những người bên ngoài, cũng vậy, từ bỏ vui và khổ, và chấm dứt hạnh phúc và buồn phiền trước đây, một vị Thánh đệ tử nhập và trú tứ thiền, không có vui hay khổ, với xả niệm thanh tịnh. Điều này là để họ hưởng thụ, nghỉ ngơi và thoải mái, và để hướng đến Niết-bàn. Đây là bốn tầng thiền—những thiền định mang lại an lạc ngay trong đời này, thuộc về tâm cao thượng—mà họ đạt được khi muốn, không gặp khó khăn hay trở ngại.

Khi một vị Thánh đệ tử có bảy phẩm chất tốt đẹp, và họ đạt được bốn tầng thiền—những thiền định mang lại an lạc ngay trong đời này, thuộc về tâm cao thượng—khi họ muốn, không gặp khó khăn hay trở ngại, thì họ được gọi là một vị Thánh đệ tử không thể bị Ma vương xâm chiếm, không thể bị Ác ma xâm chiếm."

(III) (63) Thành Trì

1. - Này các Tỷ-kheo, khi nào một thành trì biên địa của vua được khéo trang bị với bảy trang bị của một thành trì, và bốn loại đồ ăn có được không khó khăn, có được không mệt nhọc; có được không phí sức, thời này các Tỷ-kheo, thành trì biên địa ấy được gọi là không bị chinh phục bởi quân địch ở bên ngoài và kẻ đồng minh phản nghịch ở bên trong. Thế nào là được khéo trang bị với bảy trang bị của một thành trì?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có một cột trụ đâm sâu vào đất, khéo đào sâu, không bị dao động, không bị lay chuyển. Với trang bị thành trì thứ nhất này là thành trì biên địa của vua được khéo trang bị, để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài.

3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có một đường thông hào sâu và rộng. Với trang bị thành trì thứ hai này là thành trì biên địa của vua được khéo trang bị, để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài.

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có một đường chạy vòng xung quanh vừa cao và vừa rộng. Với trang bị thành trì thứ ba này của một thành trì, là thành trì biên địa của vua được khéo trang bị, để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài.

5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có nhiều vũ khí được cất chứa như Salàkam (cung tên) và Jevanìyam (cây lao) với trang bị thành trì thứ tư này là thành trì biên địa của vua được khéo trang bị, để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài. 6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có nhiều quân đội đồn trú, như những người cưỡi voi, những người cưỡi ngựa, những người cưỡi xe, những người cầm cung, những người cầm cờ, các quan lo chỗ ở, các lính lo vấn đề lương thực, những người con vua dõng mãnh, những bộ đội xung kích, đội voi lớn, các dũng sĩ, các binh sĩ mặc áo giáp, những người con của các nô tỳ. Với trang bị thành trì thứ năm này là thành trì biên địa của vua được khéo trang bị, để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài.

7. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua, có người giữ cửa thành là người hiền trí, thông minh, có trí, ngăn chặn những người lạ mặt, cho vào những người quen biết. Với sự trang bị thành trì thứ sáu này là thành trì biên địa của vua được khéo trang bị, để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài.

8. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có bức thành vừa cao vừa rộng, ngoài mặt có trét vôi hồ. Với sự trang bị thành trì thứ bảy này là thành trì biên địa của vua được khéo trang bị, để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài.

Với bảy loại trang bị thành trì này, thành trì được xem là được khéo trang bị. Thế nào là bốn loại đồ ăn có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức?

9. Ở đây, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có nhiều cỏ, củi, nước được tích trữ để những người ở trong thành được an vui, khỏi sự lo ngại, được lạc trú và để chống cự những người bên ngoài.

10. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có cất chứa nhiều lúa và lùa mì để những người ở trong thành được an vui, khỏi sự lo ngại, được lạc trú và để chống cự những người bên ngoài.

11. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có cất chứa nhiều mè, đậu, các loại giả đậu và ngũ cốc để những người ở trong thành… để chống cự những người bên ngoài.

12. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có cất chứa nhiều dược phẩm, như thục tô, sanh tô, dầu, mật, đường bánh, muối để những người ở trong thành… để chống cự những người bên ngoài.

Bốn loại đồ ăn này, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức.

Khi nào, này các Tỷ-kheo, một thành trì biên địa của vua, được khéo trang bị với bảy món trang bị này của một thành trì và bốn loại đồ ăn có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức, thời này các Tỷ-kheo, thành trì biên địa ấy được gọi là không bị chinh phục với quân địch ở bên ngoài và kẻ đồng minh phản nghịch ở bên trong. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi nào Thánh đệ tử thành tựu với bảy diệu pháp và bốn Thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức, thời này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử này được gọi là không bị Ma chinh phục, không bị ác chinh phục. Vị ấy thành tựu bảy pháp gì?

13. Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có một cột trụ đâm sâu vào đất, khéo đóng, không bị dao động, không bị lay chuyển để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử có lòng tin, tin tưởng ở sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn”. Với lòng tin làm cột trụ, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không có tội, gìn giữ tự thân thanh tịnh. Với diệu pháp thứ nhất này, vị ấy được thành tựu. 14. Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có một con đường thông hào, vừa sâu và rộng để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử có lòng xấu hổ. Vị ấy xấu hổ vì thân làm ác, vì miệng nói ác, vì ý nghĩ ác. Vị ấy xấu hổ vì bị rơi vào các ác, bất thiện pháp. Lấy xấu hổ làm con đường thông hào, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ tự thân thanh tịnh. Với diệu pháp thứ hai này, vị ấy được thành tựu.

15. Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có một con đường đi vòng chung quanh, vừa cao vừa rộng để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử có lòng sợ hãi, sợ hãi vì thân làm ác, vì miệng nói ác, vì ý nghĩ ác. Vị ấy sợ hãi vì bị rơi vào các ác, bất thiện pháp. Lấy sợ hãi làm con đường đi vòng xung quanh, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ tự thân thanh tịnh. Với diệu pháp thứ ba này, vị ấy được thành tựu.

16. Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có nhiều vũ khí được cất chứa, như cung tên và cây lao để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử là người nghe nhiều, thọ trì điều đã được nghe, cất chứa điều đã được nghe. Những pháp nào, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, nói lên Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Các pháp như vậy được nghe nhiều, được thọ trì, được đọc cho thành thục, được ý khéo tùy quán, được khéo thể nhập với tri kiến. Lấy nghe nhiều làm vũ khí, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ tự thân thanh tịnh. Với diệu pháp thứ tư này, vị ấy được thành tựu.

17. Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có nhiều quân đội đồn trú, như những người cưỡi voi, những người cưỡi ngựa, những người cưỡi xe, những người cầm cung, những người cầm cờ, những quan lo chỗ ở, các lính lo vấn đề lương thực, những người con vua dõng mãnh, những bộ đội xung kích, đội voi lớn, các dũng sĩ, các binh sĩ mặc áo giáp, những con của nô tỳ, để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử sống tinh cần tinh tấn để đoạn tận các pháp bất thiện, để đầy đủ các pháp thiện, nỗ lực, kiên trì, không từ bỏ gánh nặng trong các thiện pháp. Lấy tinh tấn làm quân đội, này các Tỷ-kheo, vị thiện nam tử từ bỏ bất thiên, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ tự thân thanh tịnh. Với diệu pháp thứ năm này, vị ấy được thành tựu.

18.Ví như, này các Tỷ kheo, trong thànbh trì biên địa của vua có người giữ cửa thành là người hiền trí, thông minh, có trí, ngăn chặn những nười lạ mặt, cho vaò những người quen biết để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử sống có chánh niệm thành tựu tối thắng niệm tuệ, nhớ đến và tùy niệm việc làm dã lâu ngày, lời nói đã lâu ngày. Với niệm làm người giữ cưả thành, này các Tỷ kheo, Thánh đệ tử từ bỏ bất thiện, tu tập thiện pháp từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ tự thân thanh tịnh. Với diệu pháp thứ sáu này, vị ấy được thành tựu.

19. Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có bức thành vừa cao vừa rộng, ngoài mặt trét vôi hồ để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử là người có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, với sự Thánh thể nhập vào con đường đưa đến đoạn tận khổ đau. Với trí tuệ làm lớp vôi hồ trét bên ngoài, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ tự thân thanh tịnh. Với diệu pháp thứ bảy này, vị ấy được thành tựu.

Với bảy diệu pháp này, vị ấy thành tựu. Thế nào là bốn Thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức? 20. Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có nhiều cỏ, củi, nước được tích trữ để những người ở trong thành được an vui, khỏi sự lo ngại, được lạc trú và để chống những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử ly dục, ly pháp bất thiện, chứng đạt và an trú sơ Thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ để tự mình được an vui, khỏi sự lo ngại, được lạc trú và để bước vào Niết-bàn.

21. Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có cất chứa nhiều lúa và lúa mì để những người ở trong thành được an vui, khỏi sự lo ngại, được lạc trú để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử, do tịnh chỉ tầm và tứ, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tỉnh nhất tâm để tự mình được an vui, không phải lo ngại, được lạc trú và để bước vào Niết-bàn.

22. Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có cất chứa nhiều mè, đậu, các loại giả đậu và ngũ cốc để những người trong thành được an vui, khỏi sự lo ngại, được lạc trú và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử, do ly hỷ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba để tự mình được an vui, không phải lo ngại, được lạc trú và để bước vào Niết-bàn.

23. Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có nhiều dược phẩm được cất chứa ví như thục tô, dầu, mật, đường bánh, muối để những người trong thành được an vui, khỏi sự lo ngại, được lạc trú và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử, do đoạn lạc, do đoạn khổ, chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh, để tự mình được an vui, khỏi sự lo ngại, được lạc trú và để bước vào Niết-bàn.

Bốn Thiền này thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức.

Này các Tỷ-kheo, khi nào Thánh đệ tử thành tựu bảy diệu pháp này và bốn Thiền này, thuộc tăng thương tâm, hiện tại lạc trú, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức, này các Tỷ-kheo, đây gọi là Thánh đệ tử không bị ma chinh phục, không bị ác chinh phục.

AN 7.68 Người Biết Giáo Pháp Dhammaññūsutta

"Một Tỳ kheo có bảy phẩm chất thì xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được tiếp đón, xứng đáng được bố thí, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời (supreme field of merit for the world / nơi gieo trồng công đức để gặt hái quả lành). Bảy phẩm chất nào? Đó là khi một Tỳ kheo biết Pháp, biết nghĩa, biết tự thân, biết tiết độ, biết thời, biết hội chúng, và biết người hơn kém.

Và làm thế nào một Tỳ kheo là người biết Pháp? Đó là khi một Tỳ kheo biết các giáo lý: kinh, ứng tụng, ký thuyết, kệ, cảm hứng ngữ, như thị ngữ, bổn sanh, vị tằng hữu pháp, và phương quảng. Nếu một Tỳ kheo không biết những giáo lý này, họ sẽ không được gọi là ‘người biết Pháp’. Nhưng vì họ biết những giáo lý này, họ được gọi là ‘người biết Pháp’. Như vậy là người biết Pháp.

Và làm thế nào họ là người biết nghĩa? Đó là khi một Tỳ kheo biết ý nghĩa của lời nói này hay lời nói kia: ‘Đây là ý nghĩa của lời nói đó; đó là ý nghĩa của lời nói này.’ Nếu một Tỳ kheo không biết ý nghĩa của lời nói này hay lời nói kia, họ sẽ không được gọi là ‘người biết nghĩa’. Nhưng vì họ biết ý nghĩa của lời nói này hay lời nói kia, họ được gọi là ‘người biết nghĩa’. Như vậy là người biết Pháp và người biết nghĩa.

Và làm thế nào họ là người biết tự thân? Đó là khi một Tỳ kheo biết tự thân: ‘Đây là mức độ niềm tin, giới hạnh, học vấn, rộng lượng, trí tuệ và biện tài của tôi.’ Nếu một Tỳ kheo không biết tự thân, họ sẽ không được gọi là ‘người biết tự thân’. Nhưng vì họ biết tự thân, họ được gọi là ‘người biết tự thân’. Như vậy là người biết Pháp, người biết nghĩa, và người biết tự thân.

Và làm thế nào họ là người biết tiết độ? Đó là khi một Tỳ kheo biết tiết độ khi nhận y, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men cùng vật dụng cho người bệnh. Nếu một Tỳ kheo không biết tiết độ, họ sẽ không được gọi là ‘người biết tiết độ’. Nhưng vì họ biết tiết độ, họ được gọi là ‘người biết tiết độ’. Như vậy là người biết Pháp, người biết nghĩa, người biết tự thân, và người biết tiết độ.

Và làm thế nào họ là người biết thời? Đó là khi một Tỳ kheo biết thời đúng: ‘Đây là thời gian để tụng đọc; đây là thời gian để hỏi han; đây là thời gian để thiền định; đây là thời gian để ẩn cư.’ Nếu một Tỳ kheo không biết thời đúng, họ sẽ không được gọi là ‘người biết thời’. Nhưng vì họ biết thời đúng, họ được gọi là ‘người biết thời’. Như vậy là người biết Pháp, người biết nghĩa, người biết tự thân, người biết tiết độ, và người biết thời.

Và làm thế nào họ là người biết hội chúng? Đó là khi một Tỳ kheo biết hội chúng: ‘Đây là hội chúng của quý tộc, của Bà-la-môn, của gia chủ, hoặc của các vị Sa-môn. Người này nên được tiếp cận theo cách này. Đây là cách đứng, cách hành động, cách ngồi, cách nói, hoặc cách im lặng khi ở đó.’ Nếu một Tỳ kheo không biết hội chúng, họ sẽ không được gọi là ‘người biết hội chúng’. Nhưng vì họ biết hội chúng, họ được gọi là ‘người biết hội chúng’. Như vậy là người biết Pháp, người biết nghĩa, người biết tự thân, người biết tiết độ, người biết thời, và người biết hội chúng.

Và làm thế nào họ là người biết người hơn kém? Đó là khi một Tỳ kheo hiểu người theo từng cặp. Hai người: một người thích gặp các bậc Thánh, một người không. Người không thích gặp các bậc Thánh thì đáng trách về mặt đó. Người thích gặp các bậc Thánh thì đáng khen về mặt đó.

Hai người thích gặp các bậc Thánh: một người thích nghe Chánh pháp, một người không. Người không thích nghe Chánh pháp thì đáng trách về mặt đó. Người thích nghe Chánh pháp thì đáng khen về mặt đó.

Hai người thích nghe Chánh pháp: một người lắng nghe chăm chú giáo pháp, một người không. Người không lắng nghe chăm chú giáo pháp thì đáng trách về mặt đó. Người lắng nghe chăm chú giáo pháp thì đáng khen về mặt đó.

Hai người lắng nghe chăm chú giáo pháp: một người ghi nhớ giáo pháp đã nghe, một người không. Người không ghi nhớ giáo pháp đã nghe thì đáng trách về mặt đó. Người ghi nhớ giáo pháp đã nghe thì đáng khen về mặt đó.

Hai người ghi nhớ giáo pháp đã nghe: một người suy ngẫm ý nghĩa của giáo pháp đã ghi nhớ, một người không. Người không suy ngẫm ý nghĩa của giáo pháp đã ghi nhớ thì đáng trách về mặt đó. Người suy ngẫm ý nghĩa của giáo pháp đã ghi nhớ thì đáng khen về mặt đó.

Hai người suy ngẫm ý nghĩa của giáo pháp đã ghi nhớ: một người hiểu ý nghĩa và giáo pháp và thực hành theo, một người hiểu ý nghĩa và giáo pháp nhưng không thực hành theo. Người hiểu ý nghĩa và giáo pháp nhưng không thực hành theo thì đáng trách về mặt đó. Người hiểu ý nghĩa và giáo pháp và thực hành theo thì đáng khen về mặt đó.

Hai người hiểu ý nghĩa và giáo pháp và thực hành theo: một người thực hành vì lợi ích bản thân mà không vì lợi ích người khác, và một người thực hành vì lợi ích của cả bản thân và người khác. Người thực hành vì lợi ích bản thân mà không vì lợi ích người khác thì đáng trách về mặt đó. Người thực hành vì lợi ích của cả bản thân và người khác thì đáng khen về mặt đó.

Đó là cách một Tỳ kheo hiểu người theo từng cặp.

Đó là cách một Tỳ kheo là người biết người hơn kém. Một Tỳ kheo có bảy phẩm chất này thì xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được tiếp đón, xứng đáng được bố thí, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời."

(VI) (64) Pháp Trí

1. - Thành tựu bảy pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng… là phước điền vô thượng ở đời. Thế nào là bảy?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là vị biết pháp, biết nghĩa, biết tự ngã, biết ước lượng, biết thời, biết hội chúng, biết người thắng kẻ liệt. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo biết pháp?

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết pháp: Khế Kinh, ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Không hỏi tự thuyết, Như thị thuyết, Bổn sanh, Pháp chưa từng có, Phương quảng. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không biết pháp: Khế kinh, ứng tụng… Phương quảng, vị ấy ở đây không được gọi là vị biết pháp. Và này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo biết pháp: Khế kinh, ứng tụng… Pháp chưa từng có, Phương quảng; do vậy, vị ấy được gọi là vị biết pháp. Như vậy là biết pháp. Thế nào là biết nghĩa?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết ý nghĩa của lời thuyết này, của lời thuyết kia: “Ðây là ý nghĩa của lời nói này, đây là ý nghĩa của lời nói này”. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không biết ý nghĩa của lời thuyết này, của lời thuyết kia: “Ðây là ý nghĩa của lời nói này, đây là ý nghĩa của lời nói này”, thời ở đây, vị ấy không được gọi là vị biết nghĩa. Và này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo biết ý nghĩa của lời thuyết này, của lời thuyết kia: “Ðây là ý nghĩa của lời nói này, đây là ý nghĩa của lời nói này”.; do vậy, vị ấy được gọi là vị biết nghĩa. Ðây là biết pháp, biết nghĩa. Thế nào là tự biết?

5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tự biết; “Cho đến như vậy, tôi có lòng tin, giữ giới, nghe nhiều, bố thí, trí tuệ, biện tài”. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không biết tự ngã như vầy: “Cho đến như vậy, tôi có lòng tin, giữ giới, nghe nhiều, bố thí, trí tuệ, biện tài”, ở thời đây, vị ấy không được gọi là vị biết tự ngã. Nếu Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, biết tự ngã: “Cho đến như vậy, tôi có lòng tin, giữ giới, nghe nhiều, bố thí, trí tuệ, biện tài”; do vậy, vị ấy được gọi là vị biết tự ngã. Ðây là biết pháp, biết nghĩa, tự biết. Và thế nào là biết ước lượng?

6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết ước lượng (vừa đủ) trong khi nhận các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không biết ước lượng vừa đủ khi nhận các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, thời vị ấy ở đây không được gọi là vị biết ước lượng vừa đủ. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo biết ước lưỡng vừa đủ khi nhận các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh; do vậy vị ấy được gọi là vị biết ước lượng vừa đủ. Ðây là biết pháp, biết nghĩa, tự biết, biết ước lượng. Và thế nào là biết thời?

7. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết thời: “Ðây là thời để tuyên thuyết, đây là thời chất vấn, đây là thời tu tập, đây là thời Thiền tịnh”. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không biết thời: “Ðây là thời tuyên thuyết, đây là thời chất vấn, đây là hời tu tập, đây là thời Thiền tịnh”, thời ở đây, vị ấy được gọi là không biết thời. Và này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo biết thời: Ðây là thời tuyên thuyết, đây là thời chất vấn, đây là thời tu tập, đây là thời Thiền tịnh”; do vậy, vị ấy được gọi là vị biết thời. Ðây là biết pháp, biết nghĩa, tự biết, biết vừa đủ, biết thời. Và thế nào là biết hội chứng?

8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết hội chúng: “Ðây là hội chúng Sát-đế-lỵ, đây là hội chúng Bàla-môn, đây là hội chúng Gia chủ, đây là hội chúng Sa-môn. Ở đây, nên đi đến như vậy, nên đứng như vậy, nên ngồi như vậy, nên nói như vậy, nên im lặng như vậy”. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không biết hội chúng: “Ðây là hội chúng Sát-đế-lỵ, đây là hội chúng Bà-la-môn, đây là hội chúng Gia chủ, đây là hội chúng Sa-môn. Ở đây, nên đi đến như vậy, nên đứng như vậy, nên ngồi như vậy, nên nói như vậy, nên im lặng như vậy”, thời ở đây, vị ấy không được gọi là “Vị biết hội chúng”. Và này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo biết hội chúng: “Ðây là hội chúng Sát-đế-lỵ, đây là hội chúng Bà-la-môn, đây là hội chúng Gia chủ, đây là hội chúng Sa-môn. Ở đây, nên đi đến như vậy, nên đứng như vậy, nên ngồi như vậy, nên nói như vậy, nên im lặng như vậy”; do vậy, được gọi là “Vị biết hội chúng”. Ðây là biết pháp, biết nghĩa, tự biết, biết vừa đủ, biết thời, biết hội chúng. Và thế nào là biết người thắng liệt?

9. Ở đây, này các Tỷ-kheo, với vị Tỷ-kheo, loài Người được biết theo hai hạng: một hạng ưa thấy các bậc Thánh, một hạng không ưa thấy các bậc Thánh. Người này không ưa thấy các bậc Thánh, do có việc ấy, đáng bị quở trách. Còn người này ưa thấy các bậc Thánh, do việc ấy, đáng được tán thán. Có hai hạng người nghe diệu pháp: một hạng người ưa nghe diệu pháp, một hạng người không ưa nghe diệu pháp. Hạng người này không ưa nghe diệu pháp, do sự việc ấy, đáng bị quở trách. Hạng người này ưa nghe diệu pháp, do sự việc ấy, đáng được tán thán. Có hai hạng người nghe diệu pháp: một hạng người lắng tai nghe diệu pháp, một hạng người không lắng tai nghe diệu pháp. Hạng người này không lắng tai nghe diệu pháp, do sự việc ấy, đáng bị quở trách. Hạng người này lắng tai nghe diệu pháp, do sự việc ấy, đáng được tán thán. Có hai hạng người lắng tai nghe pháp: một hạng người nghe xong, thọ trì pháp; một hạng người nghe xong, không thọ trì pháp. Người này nghe xong không thọ trì pháp, do sự việc ấy, đáng bị quở trách. Người này nghe xong thọ trì pháp, do sự việc ấy, đáng được tán thán. Có hai hạng người nghe xong thọ trì pháp: một hạng người quán sát ý nghĩa các pháp được thọ trì, một hạng người không quán sát ý nghĩa các pháp được thọ trì. Hạng người này không quán sát ý nghĩa các pháp được thọ trì, do sự việc ấy, đáng được quở trách. Hạng người này quán sát ý nghĩa các pháp được thọ trì, do sự việc ấy, đáng được tán thán. Có hai hạng người quán sát ý nghĩa các pháp được thọ trì: một hạng người sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp, đã thực hành pháp; tùy pháp; một hạng người sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp, không thực hành pháp, tùy pháp. Hạng người này sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp, không thực hành pháp, tùy pháp, do sự việc ấy, đáng bị quở trách. Hạng người này sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp, thực hành pháp, tùy pháp, do sự việc ấy, đáng được tán thán. Có hai hạng người sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp đã thực hành pháp; tùy pháp: một hạng người thực hành với mục đích tự lợi, không có lợi tha; một hạng người thực hành với mục đích tự lợi và lợi tha. Hai hạng người này thực hành với mục đích tự lợi, không có lợi tha, do sự việc ấy, đáng bị quở trách. Hạng người này thực hành với mục đích tư lợi và lợi tha, do sự việc ấy, đáng được tán thán. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo, loài Người được biết theo hai dạng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo biết hạng người thắng liệt.

Do thành tựu bảy pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính… là phước điền vô thượng ở đời.

AN 7.69 Cây San Hô Pāricchattakasutta

"Này các Tỳ kheo, khi lá trên cây San Hô của chư thiên cõi Ba Mươi Ba chuyển sang màu nâu, các vị trời vui mừng. Họ nghĩ: ‘Bây giờ lá trên cây San Hô đã chuyển sang màu nâu! Chẳng bao lâu nữa chúng sẽ rụng.’

Khi lá đã rụng, các vị trời vui mừng. Họ nghĩ: ‘Bây giờ lá trên cây San Hô đã rụng. Chẳng bao lâu nữa tán lá của nó sẽ bắt đầu mọc lại.’

Khi tán lá bắt đầu mọc lại, các vị trời vui mừng. Họ nghĩ: ‘Bây giờ tán lá của cây San Hô đã bắt đầu mọc lại. Chẳng bao lâu nữa nó sẽ sẵn sàng để ra hoa và lá riêng biệt.’

Khi nó sẵn sàng để ra hoa và lá riêng biệt, các vị trời vui mừng. Họ nghĩ: ‘Bây giờ cây San Hô đã sẵn sàng để ra hoa và lá riêng biệt. Chẳng bao lâu nữa nụ sẽ bắt đầu hình thành.’

Khi nụ bắt đầu hình thành, các vị trời vui mừng. Họ nghĩ: ‘Bây giờ nụ của cây San Hô đã bắt đầu hình thành. Chẳng bao lâu nữa nụ sẽ bung nở.’

Khi nụ đã bung nở, các vị trời vui mừng. Họ nghĩ: ‘Bây giờ nụ của cây San Hô đã bung nở. Chẳng bao lâu nữa nó sẽ nở rộ hoàn toàn.’

Khi cây San Hô của chư thiên cõi Ba Mươi Ba đã nở rộ hoàn toàn, các vị trời vui mừng. Trong bốn tháng trời, họ vui chơi dưới gốc cây, được cung cấp và trang bị đầy đủ năm loại dục lạc. Khi cây San Hô đã nở rộ hoàn toàn, ánh sáng của nó lan tỏa năm mươi do tuần, trong khi hương thơm của nó bay xa một trăm do tuần. Uy lực của cây San Hô là như vậy.

Cũng vậy, khi một vị Thánh đệ tử dự định xuất gia từ bỏ đời sống thế tục, họ giống như cây San Hô khi lá của nó chuyển sang màu nâu.

Khi một vị Thánh đệ tử cạo bỏ râu tóc, mặc y vàng, và xuất gia từ bỏ đời sống thế tục, họ giống như cây San Hô khi lá của nó rụng.

Khi một vị Thánh đệ tử, hoàn toàn ly dục, ly bất thiện pháp, nhập và trú sơ thiền, có hỷ lạc do ly dục sinh, trong khi nghĩ về đối tượng và khảo sát đối tượng, họ giống như cây San Hô khi tán lá của nó bắt đầu mọc lại.

Khi, khi sự nghĩ về đối tượng và khảo sát đối tượng lắng xuống, một vị Thánh đệ tử nhập và trú nhị thiền, có hỷ lạc do định sinh, với nội tĩnh nhất tâm, không còn nghĩ về đối tượng và khảo sát đối tượng, họ giống như cây San Hô khi nó sẵn sàng để ra hoa và lá riêng biệt.

Khi, với sự phai nhạt của hỷ, một vị Thánh đệ tử nhập và trú tam thiền, nơi họ thiền với xả, tỉnh thức và nhận biết, tự mình trải nghiệm sự an vui mà các bậc Thánh tuyên bố, ‘Người có xả và tỉnh thức, thiền trong an vui’, họ giống như cây San Hô khi nụ của nó bắt đầu hình thành.

Khi, từ bỏ vui và khổ, và chấm dứt hạnh phúc và buồn phiền trước đây, một vị Thánh đệ tử nhập và trú tứ thiền, không có vui hay khổ, với xả niệm thanh tịnh, họ giống như cây San Hô khi nụ của nó bung nở.

Khi một vị Thánh đệ tử chứng ngộ tâm giải thoát và tuệ giải thoát vô lậu ngay trong đời này, và họ sống sau khi đã chứng ngộ điều đó bằng tuệ giác của chính mình do sự chấm dứt các phiền não (defilements / những trạng thái tâm tiêu cực làm ô nhiễm tâm trí), họ giống như cây San Hô khi nó nở rộ hoàn toàn.

Lúc đó, chư thiên trên mặt đất cất tiếng hô: ‘Vị tôn giả tên là như vậy, từ làng hoặc thị trấn như vậy, đệ tử của vị tôn giả tên là như vậy, đã xuất gia từ bỏ đời sống thế tục. Họ đã chứng ngộ tâm giải thoát và tuệ giải thoát vô lậu ngay trong đời này. Và họ sống sau khi đã chứng ngộ điều đó bằng tuệ giác của chính mình do sự chấm dứt các phiền não.’

Nghe tiếng hô của chư thiên trên mặt đất, chư thiên Tứ Đại Thiên Vương … chư thiên cõi Ba Mươi Ba … chư thiên Dạ Ma … chư thiên Đâu Suất … chư thiên Hóa Lạc … chư thiên Tha Hóa Tự Tại … chư thiên thuộc chúng của Phạm thiên cất tiếng hô: ‘Vị tôn giả tên là như vậy, từ làng hoặc thị trấn như vậy, đệ tử của vị tôn giả tên là như vậy, đã xuất gia từ bỏ đời sống thế tục. Họ đã chứng ngộ tâm giải thoát và tuệ giải thoát vô lậu ngay trong đời này. Và họ sống sau khi đã chứng ngộ điều đó bằng tuệ giác của chính mình do sự chấm dứt các phiền não.’ Và như vậy vào khoảnh khắc đó, giờ đó, tiếng hô vang lên đến cõi Phạm thiên. Uy lực của một Tỳ kheo đã chấm dứt các phiền não là như vậy."

(V) (65) Cây Kovilàra Pàricchattaka

1. - Này các Tỷ-kheo, khi nào cây Kovilàra Pàricchattaka của chư Thiên Tàvatimsa bắt đầu khô héo lá, thời khi ấy, này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở cõi Tàvatimsa hoan hỷ nghĩ rằng: “Nay lá của cây Kovilàra Pàricchattaka đã khô héo, không bao lâu lá sẽ rụng”. Này các Tỷ-kheo, trong khi Kovilàra Pàricchattaka của chư Thiên Tàvatimsa rụng lá, thời khuấy, này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở cõi Tàvatimsa hoan hỷ nghĩ rằng: “Nay cây Kovilàra Pàricchattaka đã rụng lá, không bao lâu, mầm non cánh hoa sẽ mọc ra”. Này các Tỷ-kheo, trong khi cây Kovilàra Pàricchattaka của chư Thiên Tàvatimsa mọc ra mầm non cánh hoa, trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, chư Thiên Tàvatimsa hoan hỷ nghĩ rằng: “Nay cây Kovilàra Pàricchattaka mọc ra mầm non cánh hoa, không bao lâu, đọt non cánh hoa sẽ mọc ra”. Này các Tỷ-kheo, trong khi cây Kovilàra Pàricchattaka mọc ra đọt non cánh hoa, này các Tỷ-kheo, trong khi ấy, chư Thiên Tàvatimsa hoan hỷ nghĩ rằng: “Nay cây Kovilàra Pàricchattaka mọc ra đọt non cánh hoa, không bao lâu các nụ hoa… sẽ được sanh ra”. Này các Tỷ-kheo, trong khi cây Kovilàra Pàricchattaka của chư Thiên Tàvatimsa sanh ra nụ hoa, này các Tỷ-kheo, trong khi ấy, chư Thiên Tàvatimsa hoan hỷ nghĩ rằng: “Nay cây Kovilàra Pàricchattaka sanh ra nụ hoa, không bao lâu, các bông hoa sẽ được sanh ra”. Này các Tỷ-kheo, trong khi cây Kovilàra sanh ra các bông hoa, này các Tỷ-kheo, trong khi ấy, chư Thiên Tàvatimsa hoan hỷ nghĩ rằng: “Nay cây Kovilàra Pàricchattaka sanh ra các bông hoa, không bao lâu, các bông hoa sẽ được nở toàn diện”. Này các Tỷ-kheo, trong khi cây Kovilàra có bông hoa được nở toàn diện, này các Tỷ-kheo, chư Thiên Tàvatimsa hoan hỷ, chơi đùa trong bốn tháng chư Thiên, dưới gốc cây Kovilàra Pàricchattaka, vui chơi thọ hưởng, tận hưởng năm dục công đức. Này các Tỷ-kheo, khi cây Kovilàra Pàricchattaka nở toàn diện các bông hoa, mùi hương bay tràn xung quanh đến năm mươi do tuần; thuận gió, mùi hương bay đến một trăm do tuần. Ðây là uy lực của cây Kovilàra Pàricchattaka.

2. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi Thánh đệ tử nghĩ đến xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử như lá héo cây Kovilàra Pàricchattaka của chư Thiên Tàvatimsa. Này các Tỷ-kheo, trong khi ấy Thánh đệ tử cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, này các Tỷ-kheo, trong khi ấy, Thánh đệ tử như cây Kovilàra Pàricchattaka của chư Thiên Tàvatimsa bị lá rụng. Này các Tỷ-kheo, trong khi vị Thánh đệ tử ly dục… chứng đạt và an trú sơ Thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Này các Tỷ-kheo, trong khi ấy, Thánh đệ tử như mầm non cánh hoa được sanh của cây Kovilàra Pàricchattaka của chư Thiên Tàvatimsa. Này các Tỷ-kheo, trong khi Thánh đệ tử làm cho tịnh chỉ tầm và tứ… chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử như đọt non cánh hoa được sanh của cây Kovilàra Pàricchattaka của chư Thiền Tàvatimsa. của chư Thiên Tàvatimsa. Này các Tỷ-kheo, trong khi Thánh đệ tử ly hỷ, trú xả… chứng đạt và an trú Thiền thứ ba, này các Tỷ-kheo, trong khi ấy, Thánh đệ tử như nụ hoa được sanh của cây Kovilàra Pàricchattaka của chư Thiên Tàvatimsa. Này các Tỷ-kheo, trong khi vị Thánh đệ tử đoạn lạc… chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, này các Tỷ-kheo, trong khi ấy, Thánh đệ tử như các bông hoa được sanh của cây Kovilàra Pàricchattaka của chư Thiên Tàvatimsa. Này các Tỷ-kheo, trong khi vị Thánh đệ tử do đoạn diệt các lậu hoặc… chứng ngộ, chứng đạt và an trú, này các Tỷ-kheo, trong khi ấy, Thánh đệ tử như các bông hoa được nở toàn diện của cây Kovilàra Pàricchattaka của chư Thiên Tàvatimsa. Này các Tỷ-kheo, trong khi ấy, chư Ðịa thần tuyên bố lớn tiếng: “Vị Tôn giả với tên họ thế này, đồng trú cùng một lòng tin với Tôn giả với họ tên thế này đã xuất gia từ làng như vậy, từ thị trấn như vậy, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sau khi đoạn diệt các lậu hoặc… chứng ngộ, chứng đạt và an trú…”. Sau khi nghe tiếng của chưa Ðịa thần, chư Thiên Bốn Thiên vương thiên… chư Thiên Tàvatimsa… chư Thiên Yàma… chư Thiên Tusità… chư Thiên Hóa lạc thiên… chư Thiên Tha hóa Tự tại… chư Thiên Phạm chúng tuyên bố lớn tiếng: “Vị Tôn giả với tên họ thế này, đồng trú cùng một lòng tin với Tôn giả với họ tên như thế này đã xuất gia từ làng như vậy, từ thị trấn như vậy, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sau khi đoạn diệt các lậu hoặc ngay trong hiện tại, tự mình thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”.

Như vậy trong sát-ma ấy, trong giây phút ấy, tiếng ấy truyền đến Phạm thiên giới. Ðây là uy lực của Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc.

AN 7.70 Sự Tôn Kính Sakkaccasutta

Khi ấy, trong lúc Tôn giả Xá Lợi Phất đang độc cư thiền định, ý nghĩ này khởi lên trong tâm ngài: “Một Tỳ kheo nên tôn kính, quý trọng và nương tựa vào điều gì để từ bỏ điều bất thiện và phát triển điều thiện?”

Rồi ngài nghĩ: “Một Tỳ kheo nên tôn kính, quý trọng và nương tựa vào Bậc Đạo Sư … Giáo Pháp … Tăng đoàn … sự học tập … định … sự không sao nhãng … Một Tỳ kheo nên tôn kính, quý trọng và nương tựa vào sự hiếu khách, để từ bỏ điều bất thiện và phát triển điều thiện.”

Rồi ngài nghĩ: “Những phẩm chất này trong ta thật thanh tịnh và sáng tỏ. Tại sao ta không đến trình bày với Đức Phật? Khi đó, những phẩm chất này không chỉ được thanh lọc trong ta, mà còn được biết đến rõ hơn là đã được thanh lọc. Ví như một người có được một thỏi vàng, tinh khiết và sáng tỏ. Họ sẽ nghĩ: ‘Thỏi vàng của ta thật tinh khiết và sáng tỏ. Tại sao ta không mang nó đến cho các thợ kim hoàn xem? Khi đó, nó không chỉ được thanh lọc, mà còn được biết đến rõ hơn là đã được thanh lọc.’ Cũng vậy, những phẩm chất này trong ta thật thanh tịnh và sáng tỏ. Tại sao ta không đến trình bày với Đức Phật? Khi đó, những phẩm chất này không chỉ được thanh lọc trong ta, mà còn được biết đến rõ hơn là đã được thanh lọc.”

Rồi vào cuối buổi chiều, Tôn giả Xá Lợi Phất ra khỏi nơi độc cư và đến gặp Đức Phật. Ngài đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và trình bày với Đức Phật những suy nghĩ của mình trong lúc độc cư.

“Lành thay, lành thay, Xá Lợi Phất! Một Tỳ kheo nên tôn kính, quý trọng và nương tựa vào Bậc Đạo Sư, để từ bỏ điều bất thiện và phát triển điều thiện. Một Tỳ kheo nên tôn kính, quý trọng và nương tựa vào Giáo Pháp … Tăng đoàn … sự học tập … định … sự không sao nhãng … Một Tỳ kheo nên tôn kính, quý trọng và nương tựa vào sự hiếu khách, để từ bỏ điều bất thiện và phát triển điều thiện.”

Khi ngài nói điều này, Tôn giả Xá Lợi Phất thưa với Đức Phật:

"Bạch Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa chi tiết của lời dạy ngắn gọn của Đức Phật như sau. Hoàn toàn không thể có chuyện một Tỳ kheo không tôn kính Bậc Đạo Sư lại tôn kính Giáo Pháp. Một Tỳ kheo không tôn kính Bậc Đạo Sư thì không tôn kính Giáo Pháp.

Hoàn toàn không thể có chuyện một Tỳ kheo không tôn kính Bậc Đạo Sư và Giáo Pháp lại tôn kính Tăng đoàn. Một Tỳ kheo không tôn kính Bậc Đạo Sư và Giáo Pháp thì không tôn kính Tăng đoàn.

Hoàn toàn không thể có chuyện một Tỳ kheo không tôn kính Bậc Đạo Sư, Giáo Pháp và Tăng đoàn lại tôn kính sự học tập. Một Tỳ kheo không tôn kính Bậc Đạo Sư, Giáo Pháp và Tăng đoàn thì không tôn kính sự học tập.

Hoàn toàn không thể có chuyện một Tỳ kheo không tôn kính Bậc Đạo Sư, Giáo Pháp, Tăng đoàn và sự học tập lại tôn kính định. Một Tỳ kheo không tôn kính Bậc Đạo Sư, Giáo Pháp, Tăng đoàn và sự học tập thì không tôn kính định.

Hoàn toàn không thể có chuyện một Tỳ kheo không tôn kính Bậc Đạo Sư, Giáo Pháp, Tăng đoàn, sự học tập và định lại tôn kính sự không sao nhãng. Một Tỳ kheo không tôn kính Bậc Đạo Sư, Giáo Pháp, Tăng đoàn, sự học tập và định thì không tôn kính sự không sao nhãng.

Hoàn toàn không thể có chuyện một Tỳ kheo không tôn kính Bậc Đạo Sư, Giáo Pháp, Tăng đoàn, sự học tập, định và sự không sao nhãng lại tôn kính sự hiếu khách. Một Tỳ kheo không tôn kính Bậc Đạo Sư, Giáo Pháp, Tăng đoàn, sự học tập, định và sự không sao nhãng thì không tôn kính sự hiếu khách.

Hoàn toàn không thể có chuyện một Tỳ kheo tôn kính Bậc Đạo Sư lại không tôn kính Giáo Pháp. …

Một Tỳ kheo tôn kính Bậc Đạo Sư, Giáo Pháp, Tăng đoàn, sự học tập, định và sự không sao nhãng thì tôn kính sự hiếu khách.

Hoàn toàn có thể có chuyện một Tỳ kheo tôn kính Bậc Đạo Sư thì tôn kính Giáo Pháp. …

Một Tỳ kheo tôn kính Bậc Đạo Sư, Giáo Pháp, Tăng đoàn, sự học tập, định và sự không sao nhãng thì tôn kính sự hiếu khách.

Đó là cách con hiểu ý nghĩa chi tiết của lời dạy ngắn gọn của Đức Phật."

"Lành thay, lành thay, Xá Lợi Phất! Thật tốt khi con hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Ta đã nói ngắn gọn như vậy.

Hoàn toàn không thể có chuyện một Tỳ kheo không tôn kính Bậc Đạo Sư lại tôn kính Giáo Pháp. …

Một Tỳ kheo không tôn kính Bậc Đạo Sư, Giáo Pháp, Tăng đoàn, sự học tập, định và sự không sao nhãng thì không tôn kính sự hiếu khách.

Hoàn toàn không thể có chuyện một Tỳ kheo tôn kính Bậc Đạo Sư lại không tôn kính Giáo Pháp. …

Một Tỳ kheo tôn kính Bậc Đạo Sư, Giáo Pháp, Tăng đoàn, sự học tập, định và sự không sao nhãng thì tôn kính sự hiếu khách.

Hoàn toàn có thể có chuyện một Tỳ kheo tôn kính Bậc Đạo Sư thì tôn kính Giáo Pháp. …

Một Tỳ kheo tôn kính Bậc Đạo Sư, Giáo Pháp, Tăng đoàn, sự học tập, định và sự không sao nhãng thì tôn kính sự hiếu khách.

Đây là cách hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Ta đã nói ngắn gọn."

(VI) (66) Vị Tỷ Kheo Phải Kính Trọng Ai?

1. Rồi Tôn giả Sàriputta, trong khi sống một mình, Thiền tịnh, tâm tư suy nghĩ như sau khởi lên: “Vị Tỷ-kheo cung kính tôn trọng, sống nương tựa ai để có thể từ bỏ bất thiện, tu tập thiện?” Rồi Tôn giả Sàriputta suy nghĩ như sau: “Tỷ-kheo cung kính tôn trọng, sống nương tựa Ðạo Sư để có thể từ bỏ bất thiện, tu tập thiện. Tỷ-kheo cung kính tôn trọng, sống nương tựa Pháp… chúng Tăng… Học pháp… Ðịnh… không phóng dật… Tỷ-kheo cung kính, tôn trọng, sống nương tựa tiếp đón thân tình để có thể từ bỏ bất thiện, tu tập thiện”. Rồi Tôn giả Sàriputta lại suy nghĩ như sau: “Những pháp này trong ta đã được thanh tịnh trong sáng. Vậy ta hãy đi đến Thế Tôn và báo cho Thế Tôn rõ những pháp này, như vậy các pháp này sẽ được thanh tịnh trong ta và được xem là trong sạch hơn nữa. Ví như một người tìm được một đồng tiền vàng lớn, thanh tịnh trong sáng. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta hãy đi đến người thợ vàng và đưa xem đồng tiền vàng này. Ðồng tiền vàng này được ta đưa cho người thợ vàng như vậy sẽ được thanh tịnh và trong sáng hơn nữa”. Cũng vậy, các pháp này ở nơi ta được thanh tịnh, trong sáng. Ta hãy đi đến Thế Tôn và báo cho Thế Tôn rõ những pháp này. Như vậy các pháp này sẽ được thanh tịnh trong ta và được xem là trong sạch hơn nữa”. Rồi Tôn giả Sàriputta, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:

2. - Ở đây, bạch Thế Tôn, trong khi con sống một mình Thiền tịnh, tâm tư suy nghĩ như sau khởi lên nơi con: “Tỷ-kheo cung kính tôn trọng, sống nương tựa ai để có thể từ bỏ bất thiện, tu tập thiện?” Rồi bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Tỷ-kheo cung kính tôn trọng, sống nương tựa Ðạo Sư để có thể từ bỏ bất thiện, tu tập thiện. Tỷ-kheo cung kính tôn trọng, sống nương tựa Pháp… chúng Tăng… Học pháp… Ðịnh… không phóng dật… tiếp đón thân tình để có thể từ bỏ bất thiện, tu tập thiện”… Rồi bạch Thế Tôn, con lại suy nghĩ như sau: “Những pháp này trong ta đã được thanh tịnh trong sáng. Vậy ta hãy đi đến Thế Tôn và báo cho Thế Tôn rõ những pháp này, như vậy các pháp này sẽ được thanh tịnh trong ta và được xem là trong sạch hơn nữa. Ví như một người tìm được một đồng tiền vàng lớn, thanh tịnh trong sáng. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta hãy đi đến người thợ vàng và đưa xem đồng tiền vàng này. Ðồng tiền vàng này được ta đưa cho người thợ vàng như vậy sẽ được thanh tịnh và trong sáng hơn nữa”. Cũng vậy, các pháp này ở nơi ta được thanh tịnh, trong sáng. Ta hãy đi đến Thế Tôn và báo cho Thế Tôn rõ những pháp này. Như vậy các pháp này sẽ được thanh tịnh trong ta và được xem là trong sạch hơn nữa”.

− Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Này Sàriputta, Tỷ-kheo cung kính tôn trọng, sống nương tựa Ðạo Sư, có thể từ bỏ bất thiện, tu tập thiện. Này Sàriputta, Tỷ-kheo cung kính, tôn trọng, sống nương tựa Pháp… chúng Tăng… Học pháp… Ðịnh… không phóng dật…Này Sariputta, Tỷ-kheo cung kính, tôn trọng, sống nương tựa tiếp đón thân tình để có thể từ bỏ bất thiện, tu tập thiện.

Khi được nói vậy, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn: 3. - Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như sau: Bạch Thế Tôn, chắc chắn Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, sẽ cung kính Pháp sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, vị ấy cũng không cung kính Pháp. Bạch Thế Tôn, chắc chắn Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, không cung kính Pháp sẽ cung kính chúng Tăng, sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, không cung kính Pháp, vị ấy cũng không cung kính chúng Tăng. Bạch Thế Tôn, chắc chắn Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, không cung kính Pháp, không cung kính chúng Tăng, sẽ cung kính Học pháp, sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, không cung kính Pháp, không cung kính chúng Tăng, vị ấy cũng không cung kính học pháp. Bạch Thế Tôn, chắc chắn Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, không cung kính Pháp, không cung kính chúng Tăng, không cung kính Học pháp, sẽ cung kính Thiền định. Sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, không cung kính Pháp, không cung kính chúng Tăng, không cung kính Học pháp, vị ấy cũng không cung kính Thiền định. Bạch Thế Tôn, chắc chắn Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, không cung kính Pháp, không cung kính chúng Tăng, không cung kính Học pháp, không cung kính Thiền định, sẽ cung kính không phóng dật, sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, không cung kính Pháp, không cung kính chúng Tăng, không cung kính Học pháp, không cung kính Thiền định, vị ấy cũng không cung kính không phóng dật. Bạch Thế Tôn, chắc chắn Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, không cung kính Pháp, không cung kính chúng Tăng, không cung kính Học pháp, không cung kính Thiền định, không cung kính không phóng dật, sẽ cung kính tiếp đón thân tình, sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, không cung kính Pháp, không cung kính chúng Tăng, không cung kính Học pháp, không cung kính Thiền định, không cung kính không phóng dật, vị ấy cũng không cung kính tiếp đón thân tình.

Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, sẽ không cung kính Pháp, sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, vị ấy cũng cung kính Pháp. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp sẽ không cung kính chúng Tăng, sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, vị Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp, vị ấy cũng cung kính chúng Tăng. Bạch Thế Tôn, chắc chắn vị Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp, cung kính chúng Tăng, sẽ không cung kính Học pháp, sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp, cung kính chúng Tăng, vị ấy cũng cung kính học pháp. Bạch Thế Tôn, chắc chắn Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp, cung kính chúng Tăng, cung kính Học pháp, sẽ không cung kính Thiền định, sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp, cung kính chúng Tăng, cung kính Học pháp, vị ấy cũng cung kính Thiền định. Bạch Thế Tôn, chắc chắn Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp, cung kính chúng Tăng, cung kính Học pháp, cung kính Thiền định, sẽ không cung kính không phóng dật, sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp, cung kính chúng Tăng, cung kính Học pháp, cung kính Thiền định, vị ấy cũng cung kính không phóng dật. Bạch Thế Tôn, chắc chắn Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp, cung kính chúng Tăng, cung kính Học pháp, cung kính Thiền định, cung kính không phóng dật, sẽ không cung kính tiếp đón thân tình, sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp, cung kính chúng Tăng, cung kính Học pháp, cung kính Thiền định, cung kính không phóng dật, vị ấy cũng cung kính tiếp đón thân tình. Bạch Thế Tôn, với lời vắn tắt này của Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

4. - Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Lành thay, này Sàriputta, với lời nói vắn tắt này của Ta, Thầy đã hiểu một cách rộng rãi như vậy. Này Sàriputta, thật vậy, Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, sẽ cung kính Pháp, sự kiện này không xảy ra. Này Sàriputta, Tỷ-kheo nào không cung kính bậc Ðạo Sư, vị ấy cũng không cung kính Pháp… Này Sàriputta, vị Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư… không cung kính Pháp… không cung kính chúng Tăng… không cung kính Học pháp… không cung kính Thiền định… . không cung kính không phóng dật, sẽ cung kính tiếp đón thân tình, sự kiện này không xảy ra. Này Sàriputta, Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, không cung kính Pháp, không cung kính chúng Tăng, không cung kính Học pháp, không cung kính Thiền định, không cung kính, không cung kính không phóng dật, vị ấy cũng không cung kính tiếp đón thân tình.

Này Sàriputta, chắc chắn Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo sư, sẽ không cung kính Pháp, sự kiện này không xảy ra. Này Sàriputta, Tỷ-kheo nào không cung kính bậc Ðạo Sư, vị ấy cũng cung kính Pháp… Này Sàriputta, vị Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư… cung kính Pháp… cung kính chúng Tăng… cung kính Học pháp… cung kính Thiền định… cung kính không phóng dật, sẽ không cung kính tiếp đón thân tình, sự kiện này không xảy ra. Này Sàriputta, Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp, cung kính chúng Tăng, cung kính Học pháp, cung kính Thiền định, cung kính không phóng dật, vị ấy cũng cung kính tiếp đón thân tình. Này Sàriputta, lời nói vắn tắt này của Ta, ý nghĩa cần phải được thấy một cách rộng rãi như vậy.

AN 7.71 Chuyên Tâm Tu Tập Phát Triển Bhāvanāsutta

"Này các Tỳ kheo, khi một Tỳ kheo không chuyên tâm tu tập phát triển (development / sự thực hành để tiến bộ tâm linh), họ có thể mong muốn: ‘Ước gì tâm ta được giải thoát khỏi các phiền não do không còn chấp thủ (grasping / sự bám víu, dính mắc)!’ Dù vậy, tâm họ không được giải thoát khỏi các phiền não do không còn chấp thủ. Tại sao vậy? Các ông nên nói: ‘Đó là vì họ chưa phát triển.’ Chưa phát triển về điều gì? Bốn loại thiền bốn niệm xứ (four kinds of mindfulness meditation), bốn nỗ lực chân chánh (Tứ Chánh Cần), bốn nền tảng thần thông (Tứ Thần Túc), năm căn (Ngũ Căn), năm lực (Ngũ Lực), bảy yếu tố giác ngộ (Thất Giác Chi), và con đường tám nhánh cao quý (Bát Chánh Đạo).

Ví như có một con gà mái có tám, mười hoặc mười hai quả trứng. Nhưng nó đã không ấp trứng đúng cách để giữ ấm và ấp nở. Ngay cả khi con gà mái đó có thể mong muốn: ‘Ước gì gà con của ta có thể dùng móng vuốt và mỏ phá vỡ vỏ trứng và nở ra an toàn!’ Chúng vẫn không thể phá vỡ và nở ra an toàn. Tại sao vậy? Bởi vì nó đã không ấp trứng đúng cách để giữ ấm và ấp nở.

Cũng vậy, khi một Tỳ kheo không chuyên tâm tu tập phát triển, họ có thể mong muốn: ‘Ước gì tâm ta được giải thoát khỏi các phiền não do không còn chấp thủ!’ Dù vậy, tâm họ không được giải thoát khỏi các phiền não do không còn chấp thủ. Tại sao vậy? Các ông nên nói: ‘Đó là vì họ chưa phát triển.’ Chưa phát triển về điều gì? Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Thần Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Giác Chi, và Bát Chánh Đạo.

Khi một Tỳ kheo chuyên tâm tu tập phát triển, họ có thể không mong muốn: ‘Ước gì tâm ta được giải thoát khỏi các phiền não do không còn chấp thủ!’ Dù vậy, tâm họ được giải thoát khỏi các phiền não do không còn chấp thủ. Tại sao vậy? Các ông nên nói: ‘Đó là vì họ đã phát triển.’ Phát triển về điều gì? Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Thần Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Giác Chi, và Bát Chánh Đạo.

Ví như có một con gà mái có tám, mười hoặc mười hai quả trứng. Và nó đã ấp trứng đúng cách để giữ ấm và ấp nở. Ngay cả khi con gà mái đó không mong muốn: ‘Ước gì gà con của ta có thể dùng móng vuốt và mỏ phá vỡ vỏ trứng và nở ra an toàn!’ Chúng vẫn có thể phá vỡ và nở ra an toàn. Tại sao vậy? Bởi vì nó đã ấp trứng đúng cách để giữ ấm và ấp nở.

Cũng vậy, khi một Tỳ kheo chuyên tâm tu tập phát triển, họ có thể không mong muốn: ‘Ước gì tâm ta được giải thoát khỏi các phiền não do không còn chấp thủ!’ Dù vậy, tâm họ được giải thoát khỏi các phiền não do không còn chấp thủ. Tại sao vậy? Các ông nên nói: ‘Đó là vì họ đã phát triển.’ Phát triển về điều gì? Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Thần Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Giác Chi, và Bát Chánh Đạo.

Ví như một người thợ mộc hoặc người học việc của họ nhìn thấy dấu ngón tay và ngón cái của mình trên cán rìu. Họ không biết cán rìu đã bị mòn đi bao nhiêu hôm nay, bao nhiêu hôm qua, và bao nhiêu trước đó. Họ chỉ biết những gì đã bị mòn đi. Cũng vậy, khi một Tỳ kheo chuyên tâm tu tập phát triển, họ không biết các phiền não đã bị mòn đi bao nhiêu hôm nay, bao nhiêu hôm qua, và bao nhiêu trước đó. Họ chỉ biết những gì đã bị mòn đi.

Ví như có một chiếc tàu đi biển được buộc bằng dây thừng. Trong sáu tháng, chúng bị hư hỏng trong nước. Sau đó, vào mùa lạnh, nó được kéo lên bờ khô, nơi dây thừng bị thời tiết bào mòn bởi gió và nắng. Khi mây làm ướt nó bằng mưa, dây thừng sẽ dễ dàng sụp đổ và mục nát. Cũng vậy, khi một Tỳ kheo chuyên tâm tu tập phát triển, các kiết sử (fetters / những trói buộc tâm linh ngăn cản sự giải thoát) của họ dễ dàng sụp đổ và mục nát."

(VII) (67) Sự Tu Tập

1. - Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không chí tâm trong sự tu tập khởi lên ước muốn như sau: “Mong rằng tâm ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ!” Tuy vậy, tâm vị ấy cũng không giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

Vì cớ sao? Phải nói rằng vì vị ấy không có tu tập. Không có tu tập cái gì? Không có tu tập Bốn niệm xứ, không có tu tập Bốn chánh cần, không có tu tập Bốn như ý túc, không có tu tập Năm căn, không có tu tập Năm lực, không có tu tập Bảy Bồ-đề phần, không có tu tập Thánh đạo tám ngành.

Ví như, này các Tỷ-kheo, có tám, mười hay mười hai trứng gà, không được con gà mái ấp nằm đúng cách, không được ấp nóng đúng cách, không được ấp dưỡng đúng cách.

Dầu cho con gà mái ấy khởi lên ý muốn: “Mong rằng những con gà con của ta, với chân móng và đỉnh đầu, hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được sanh ra một cách an toàn, tuy vậy, các con gà con ấy không có thể, với chân, móng, đỉnh đầu hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được sanh ra một cách an toàn!

Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, tám, mười hay mười hai trứng gà mái ấy không được con gà mái nằm ấp một cách đúng đắn, ấp nóng một cách đúng đắn, ấp dưỡng một cách đúng đắn.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không chú tâm trong sự tu tập, dầu cho có khởi lên ý muốn: “Mong rằng tâm ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc không có chấp thủ”; tuy vậy, tâm vị ấy cũng không giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

Vì cớ sao? Phải nói rằng vì vị ấy không có tu tập. Không có tu tập cái gì? Không có tu tập Bốn niệm xứ… không có tu tập Thánh đạo tám ngành.

2. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống chú tâm trong sự tu tập, dầu cho không khởi lên ước muốn: “Mong rằng tâm ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”; tuy vậy, tâm vị ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc không có chấp thủ.

Vì cớ sao? Phải nói rằng vì vị ấy có tu tập. Có tu tập cái gì? Có tu tập Bốn niệm xứ, có tu tập Bốn chánh cần, có tu tập Bốn như ý túc, có tu tập Năm căn, có tu tập Năm lực, có tu tập Bảy giác chi, có tu tập Thánh đạo tám ngành.

Ví như, này các Tỷ-kheo, có tám, mười hay mười hai trứng gà. Các trứng ấy được con gà mái ấp nằm đúng cách, ấp nóng một cách đúng đắn, ấp dưỡng một cách đúng đắn. Dầu cho con gà mái ấy không khởi lên ý muốn: “Mong rằng những con gà con của ta, với chân móng và đỉnh đầu, hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được sanh ra một cách an toàn!”, tuy vậy, các con gà con ấy có thể với chân, móng, đỉnh đầu hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được sanh ra một cách an toàn.

Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, tám, mười hay mười hai trứng gà được con gà mái ấy ấp nằm một cách đúng đắn, ấp nóng một cách đúng đắn, ấp dưỡng một cách đúng đắn.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống chú tâm tu tập, dầu cho vị ấy không khởi lên ý muốn: “Mong rằng tâm ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc không có chấp thủ”; tuy vậy, tâm vị ấy vẫn được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

Vì cớ sao? Phải nói rằng vì vị ấy có tu tập. Tu tập cái gì? Có tu tập Bốn niệm xứ… có tu tập Thánh đạo tám ngành.

Ví như, này các Tỷ-kheo, một người thợ nề hay đệ tử người thợ nề, khi nhìn vào cán búa, thấy dấu các ngón tay và dấu ngón tay cái. Người ấy không có thể biết được như sau: “Hôm nay từng ấy cán búa của ta bị hao mòn, hôm qua từng ấy, các ngày khác từng ấy”. Nhưng người ấy biết được cán búa bị hao mòn trên sự hao mòn của cán búa.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chú tâm trong sự tu tập không có biết như sau: “Hôm nay từng ấy lậu hoặc của ta được đoạn tận, hôm qua từng ấy, các ngày khác từng ấy”. Nhưng vị ấy biết được các lậu hoặc được đoạn tận trên sự đoạn tận các lậu hoặc.

Ví như, này các Tỷ-kheo, một chiếc thuyền đi biển, có đầy đủ cột buồm và dây buồm bị mắc cạn sáu tháng do thiếu nước trong mùa đông, các cột buồm và dây buồm bị gió và mặt trời làm hư hỏng. Rồi bị nước mưa đổ xuống trong mùa mưa, chúng bị hư dần và mục nát một cách dễ dàng.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống chú tâm trong sự tu tập, các kiết sử rất dễ bị yếu dần và mục nát.

AN 7.72 Thí Dụ Về Khối Lửa Lớn Aggikkhandhopamasutta

TÔI NGHE NHƯ VẦY. Một thời Đức Phật đang du hành trong xứ Kosala cùng với một Tăng đoàn lớn các Tỳ kheo.

Trong khi đi dọc đường, tại một nơi nào đó, ngài nhìn thấy một khối lửa lớn đang cháy, bùng lên và rực sáng. Thấy vậy, ngài rời khỏi con đường, ngồi dưới gốc cây trên một chỗ ngồi đã được trải sẵn, và nói với các Tỳ kheo: “Này các Tỳ kheo, các ông có thấy khối lửa lớn đang cháy, bùng lên và rực sáng đó không?”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

“Các ông nghĩ sao, này các Tỳ kheo? Điều gì tốt hơn—ngồi hay nằm ôm khối lửa lớn đó? Hay ngồi hay nằm ôm một cô gái thuộc dòng dõi quý tộc, Bà-la-môn hoặc gia chủ có bàn tay và bàn chân mềm mại và dịu dàng?”

“Bạch Thế Tôn, tốt hơn nhiều là ngồi hay nằm ôm một cô gái thuộc dòng dõi quý tộc, Bà-la-môn hoặc gia chủ có bàn tay và bàn chân mềm mại và dịu dàng. Vì sẽ đau đớn khi ngồi hay nằm ôm khối lửa lớn đó.”

"Ta tuyên bố điều này với các ông, này các Tỳ kheo, Ta thông báo điều này với các ông! Tốt hơn cho người không có giới đức đó—có phẩm chất xấu xa, ô uế, hành vi đáng ngờ, lén lút, không phải là Sa-môn (ascetic / người tu khổ hạnh, từ bỏ thế gian) hay người tu Phạm hạnh (spiritual practitioner / người thực hành đời sống thanh tịnh) chân chính, dù tự nhận như vậy, bên trong thối rữa, mưng mủ và hư hỏng—là ngồi hay nằm ôm khối lửa lớn đó. Tại sao vậy? Bởi vì điều đó có thể dẫn đến cái chết hoặc đau đớn chết người. Nhưng khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, điều đó sẽ không khiến người ấy tái sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Nhưng khi một người không có giới đức như vậy ngồi hay nằm ôm một cô gái thuộc dòng dõi quý tộc, Bà-la-môn hoặc gia chủ có bàn tay và bàn chân mềm mại và dịu dàng, điều đó mang lại cho người ấy sự tổn hại và đau khổ lâu dài. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, người ấy tái sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Các ông nghĩ sao, này các Tỳ kheo? Điều gì tốt hơn—bị một người đàn ông mạnh mẽ dùng một sợi dây lông ngựa cứng xoắn quanh cả hai ống chân và siết chặt đến nỗi nó cắt qua lớp da ngoài, lớp da trong, thịt, gân và xương, cho đến khi chạm đến tủy và tiếp tục ấn vào? Hay đồng ý để các quý tộc, Bà-la-môn hoặc gia chủ giàu có cúi lạy các ông?"

“Bạch Thế Tôn, tốt hơn nhiều là đồng ý để các quý tộc, Bà-la-môn hoặc gia chủ giàu có cúi lạy. Vì sẽ đau đớn khi bị một người đàn ông mạnh mẽ dùng một sợi dây lông ngựa cứng xoắn quanh ống chân và siết chặt đến nỗi nó cắt qua lớp da ngoài cho đến khi chạm đến tủy và tiếp tục ấn vào.”

"Ta tuyên bố điều này với các ông, này các Tỳ kheo, Ta thông báo điều này với các ông! Tốt hơn cho người không có giới đức đó là bị một người đàn ông mạnh mẽ dùng một sợi dây lông ngựa cứng xoắn quanh cả hai ống chân và siết chặt cho đến khi chạm đến tủy và tiếp tục ấn vào. Tại sao vậy? Bởi vì điều đó có thể dẫn đến cái chết hoặc đau đớn chết người. Nhưng khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, điều đó sẽ không khiến người ấy tái sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nhưng khi một người không có giới đức như vậy đồng ý để các quý tộc, Bà-la-môn hoặc gia chủ giàu có cúi lạy, điều đó mang lại cho người ấy sự tổn hại và đau khổ lâu dài. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, người ấy tái sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Các ông nghĩ sao, này các Tỳ kheo? Điều gì tốt hơn—bị một người đàn ông mạnh mẽ đâm vào ngực bằng một thanh kiếm sắc, đã được tra dầu? Hay đồng ý để các quý tộc, Bà-la-môn hoặc gia chủ giàu có kính lễ các ông bằng cách chắp tay?"

“Bạch Thế Tôn, tốt hơn nhiều là đồng ý để các quý tộc, Bà-la-môn hoặc gia chủ giàu có kính lễ các ông bằng cách chắp tay. Vì sẽ đau đớn khi bị một người đàn ông mạnh mẽ đâm vào ngực bằng một thanh kiếm sắc, đã được tra dầu.”

"Ta tuyên bố điều này với các ông, này các Tỳ kheo, Ta thông báo điều này với các ông! Tốt hơn cho người không có giới đức đó là bị một người đàn ông mạnh mẽ đâm vào ngực bằng một thanh kiếm sắc, đã được tra dầu. Tại sao vậy? Bởi vì điều đó có thể dẫn đến cái chết hoặc đau đớn chết người. Nhưng khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, điều đó sẽ không khiến người ấy tái sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nhưng khi một người không có giới đức như vậy đồng ý để các quý tộc, Bà-la-môn hoặc gia chủ giàu có kính lễ mình bằng cách chắp tay, điều đó mang lại cho người ấy sự tổn hại và đau khổ lâu dài. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, người ấy tái sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Các ông nghĩ sao, này các Tỳ kheo? Điều gì tốt hơn—bị một người đàn ông mạnh mẽ quấn quanh người bằng một tấm sắt nóng đỏ, đang cháy, bùng lên và rực sáng? Hay hưởng thụ việc sử dụng y phục do niềm tin cúng dường của các quý tộc, Bà-la-môn hoặc gia chủ giàu có?"

“Bạch Thế Tôn, tốt hơn nhiều là hưởng thụ việc sử dụng y phục do niềm tin cúng dường của các quý tộc, Bà-la-môn hoặc gia chủ giàu có. Vì sẽ đau đớn khi bị một người đàn ông mạnh mẽ quấn quanh người bằng một tấm sắt nóng đỏ, đang cháy, bùng lên và rực sáng.”

"Ta tuyên bố điều này với các ông, này các Tỳ kheo, Ta thông báo điều này với các ông! Tốt hơn cho người không có giới đức đó là bị một người đàn ông mạnh mẽ quấn quanh người bằng một tấm sắt nóng đỏ, đang cháy, bùng lên và rực sáng. Tại sao vậy? Bởi vì điều đó có thể dẫn đến cái chết hoặc đau đớn chết người. Nhưng khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, điều đó sẽ không khiến người ấy tái sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nhưng khi một người không có giới đức như vậy hưởng thụ việc sử dụng y phục do niềm tin cúng dường của các quý tộc, Bà-la-môn hoặc gia chủ giàu có, điều đó mang lại cho người ấy sự tổn hại và đau khổ lâu dài. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, người ấy tái sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Các ông nghĩ sao, này các Tỳ kheo? Điều gì tốt hơn—bị một người đàn ông mạnh mẽ dùng một cái xiên sắt nóng cạy miệng và nhét vào một viên đồng nóng đỏ, đang cháy, bùng lên và rực sáng, làm bỏng môi, miệng, lưỡi, cổ họng và dạ dày trước khi chui ra ngoài kéo theo ruột gan? Hay hưởng thụ vật thực khất thực do niềm tin cúng dường của các quý tộc, Bà-la-môn hoặc gia chủ giàu có?"

“Bạch Thế Tôn, tốt hơn nhiều là hưởng thụ vật thực khất thực do niềm tin cúng dường của các quý tộc, Bà-la-môn hoặc gia chủ giàu có. Vì sẽ đau đớn khi bị một người đàn ông mạnh mẽ dùng một cái xiên sắt nóng cạy miệng và nhét vào một viên đồng nóng đỏ, đang cháy, bùng lên và rực sáng, làm bỏng môi, miệng, lưỡi, cổ họng và dạ dày trước khi chui ra ngoài kéo theo ruột gan.”

"Ta tuyên bố điều này với các ông, này các Tỳ kheo, Ta thông báo điều này với các ông! Tốt hơn cho người không có giới đức đó là bị một người đàn ông mạnh mẽ dùng một cái xiên sắt nóng cạy miệng và nhét vào một viên đồng nóng đỏ, đang cháy, bùng lên và rực sáng, làm bỏng môi, miệng, lưỡi, cổ họng và dạ dày trước khi chui ra ngoài kéo theo ruột gan. Tại sao vậy? Bởi vì điều đó có thể dẫn đến cái chết hoặc đau đớn chết người. Nhưng khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, điều đó sẽ không khiến người ấy tái sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nhưng khi một người không có giới đức như vậy hưởng thụ vật thực khất thực do niềm tin cúng dường của các quý tộc, Bà-la-môn hoặc gia chủ giàu có, điều đó mang lại cho người ấy sự tổn hại và đau khổ lâu dài. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, người ấy tái sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Các ông nghĩ sao, này các Tỳ kheo? Điều gì tốt hơn—bị một người đàn ông mạnh mẽ nắm đầu hoặc vai và bắt ngồi hoặc nằm trên giường hoặc ghế sắt nóng đỏ? Hay hưởng thụ việc sử dụng giường ghế do niềm tin cúng dường của các quý tộc, Bà-la-môn hoặc gia chủ giàu có?"

“Bạch Thế Tôn, tốt hơn nhiều là hưởng thụ việc sử dụng giường ghế do niềm tin cúng dường của các quý tộc, Bà-la-môn hoặc gia chủ giàu có. Vì sẽ đau đớn khi bị một người đàn ông mạnh mẽ nắm đầu hoặc vai và bắt ngồi hoặc nằm trên giường hoặc ghế sắt nóng đỏ.”

"Ta tuyên bố điều này với các ông, này các Tỳ kheo, Ta thông báo điều này với các ông! Tốt hơn cho người không có giới đức đó là bị một người đàn ông mạnh mẽ nắm đầu hoặc vai và bắt ngồi hoặc nằm trên giường hoặc ghế sắt nóng đỏ. Tại sao vậy? Bởi vì điều đó có thể dẫn đến cái chết hoặc đau đớn chết người. Nhưng khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, điều đó sẽ không khiến người ấy tái sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nhưng khi một người không có giới đức như vậy hưởng thụ việc sử dụng giường ghế do niềm tin cúng dường của các quý tộc, Bà-la-môn hoặc gia chủ giàu có, điều đó mang lại cho người ấy sự tổn hại và đau khổ lâu dài. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, người ấy tái sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Các ông nghĩ sao, này các Tỳ kheo? Điều gì tốt hơn—bị một người đàn ông mạnh mẽ nắm lấy, lật ngược và nhét vào một cái nồi đồng nóng đỏ, đang cháy, bùng lên và rực sáng, nơi các ông bị thiêu đốt trong váng sôi, và bị cuốn lên xuống, qua lại? Hay hưởng thụ việc sử dụng chỗ ở do niềm tin cúng dường của các quý tộc, Bà-la-môn hoặc gia chủ giàu có?"

“Bạch Thế Tôn, tốt hơn nhiều là hưởng thụ việc sử dụng chỗ ở do niềm tin cúng dường của các quý tộc, Bà-la-môn hoặc gia chủ giàu có. Vì sẽ đau đớn khi bị một người đàn ông mạnh mẽ nắm lấy, lật ngược và nhét vào một cái nồi đồng nóng đỏ, đang cháy, bùng lên và rực sáng, nơi các ông bị thiêu đốt trong váng sôi, và bị cuốn lên xuống, qua lại.”

"Ta tuyên bố điều này với các ông, này các Tỳ kheo, Ta thông báo điều này với các ông! Tốt hơn cho người không có giới đức đó là bị một người đàn ông mạnh mẽ nắm lấy, lật ngược và nhét vào một cái nồi đồng nóng đỏ, đang cháy, bùng lên và rực sáng, nơi người ấy bị thiêu đốt trong váng sôi, và bị cuốn lên xuống, qua lại. Tại sao vậy? Bởi vì điều đó có thể dẫn đến cái chết hoặc đau đớn chết người. Nhưng khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, điều đó sẽ không khiến người ấy tái sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nhưng khi một người không có giới đức như vậy hưởng thụ việc sử dụng chỗ ở do niềm tin cúng dường của các quý tộc, Bà-la-môn hoặc gia chủ giàu có, điều đó mang lại cho người ấy sự tổn hại và đau khổ lâu dài. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, người ấy tái sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Vì vậy, các ông nên tu tập như thế này: ‘Việc chúng ta sử dụng y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men cùng vật dụng cho người bệnh sẽ mang lại quả lớn và lợi ích lớn cho những người đã cúng dường. Và sự xuất gia của chúng ta sẽ không uổng phí, mà sẽ có kết quả và thành tựu.’ Đó là cách các ông nên tu tập. Này các Tỳ kheo, xem xét điều gì tốt cho bản thân là quá đủ để các ông kiên trì với sự không sao nhãng. Xem xét điều gì tốt cho người khác là quá đủ để các ông kiên trì với sự không sao nhãng. Xem xét điều gì tốt cho cả hai là quá đủ để các ông kiên trì với sự không sao nhãng."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Và trong khi bài giảng này đang được nói, sáu mươi vị Tỳ kheo đã nôn ra máu nóng từ miệng. Sáu mươi vị Tỳ kheo từ bỏ sự học tập và trở lại đời sống thấp kém, nói rằng:

“Quá khó, bạch Thế Tôn! Thật quá khó!” Và sáu mươi vị Tỳ kheo đã được giải thoát khỏi các phiền não do không còn chấp thủ.

(VIII) (68) Lửa

1. Như vầy tôi nghe:

Một thời, Thế Tôn đang bộ hành giữa dân chúng Kosala, cùng với đại chúng Tỷ-kheo. Trong khi đang đi trên con đường, Thế Tôn thấy tại một địa điểm, một nhóm lửa lớn đang cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ lửa ngọn. Thấy vậy, Ngài bước xuống đường và ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, dưới một gốc cây. Ngồi xuống, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, các Thầy có thấy nhóm lửa lớn ấy đang cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ lửa ngọn không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, việc nào là tốt hơn: ôm ấp, ngồi gần hay nằm gần nhóm lửa lớn ấy đang cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ lửa ngọn, hay ôm ấp, ngồi gần, nằm gần tay chân mềm mại non trẻ của người con gái Sát-đế-lỵ, hay người con gái Bà-la-môn, hay người con gái gia chủ?

− Bạch Thế Tôn, việc này là tốt hơn: Ôm ấp, ngồi gần, hay nằm gần tay chân mềm mại non trẻ của người con gái Sát-đế-lỵ, hay người con gái Bà-la-môn, hay người con gái gia chủ. Khổ đau, bạch Thế Tôn, là ôm ấp, ngồi gần hay nằm gần nhóm lửa lớn ấy đang cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ lửa ngọn! − Ta tuyên bố cho các Thầy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rõ cho các Thầy, này các Tỷ-kheo, với một người ác giới, theo ác pháp, sở hành bất tịnh, đáng nghi ngờ những hành vi che đậy, không phải Sa-môn, nhưng tự nhận là Sa-môn, không sống Phạm hạnh, nhưng tự nhận sống Phạm hạnh, nội tâm hôi hám, ứ đầy tham dục, tánh tình bất tịnh. Thật là tốt hơn cho người ấy ôm ấp, ngồi gần hay nằm gần nhóm lửa lớn ấy đang cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ lửa ngọn. Vì cớ sao? Vì do nguyên nhân ấy, này các Tỷ-kheo, người ấy có thể đi đến chết, hay đi đến gần như chết, nhưng không vì nhân duyên ấy, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nhưng này các Tỷ-kheo, khi một người ác giới theo ác pháp… tánh tình bất tịnh, ôm ấp, ngồi gần, hay nằm gần tay chân mềm mại non trẻ của người con gái Sát-đế-lỵ, hay người con gái Bà-la-môn, hay người con gái gia chủ; như vậy, này các Tỷ-kheo, khiến cho vị ấy bất hạnh đau khổ lâu dài, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

2. Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, việc gì là tốt hơn: Một người lực sĩ, với sợi dây đuôi ngựa chắc chắn, cuốn vào hai ống chân rồi siết mạnh, sợi dây ấy cắt đứt da ngoài, sau khi cắt đứt da ngoài, lại cắt đứt da trong, sau khi cắt đứt da trong, lại cắt đứt thịt, sau khi cắt đứt thịt, lại cắt đứt dây gân, sau khi cắt đứt dây gân, lại cắt đứt xương, sau khi cắt đứt xương và chạm tủy và dừng lại; hay là nhận sự đảnh lễ của các Sát-đế-lỵ đại phú hay các Bà-la-môn đại phú, hay các giả chủ đại phú?

− Bạch Thế Tôn, việc này là tốt hơn: Nhận sự vái chào của các Sát-đế-lỵ đại phú, hay các Bà-la-môn đại phú, hay các gia chủ đại phú. Khổ đau, bạch Thế Tôn, là người lực sĩ, với sợi dây đuôi ngựa chắc chắn… va chạm tủy và dừng lại.

− Ta tuyên bố cho các Thầy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rõ cho các Thầy, này các Tỷ-kheo, với một người ác giới, theo ác pháp,… ứ đầy tham dục, tánh tình bất tịnh, thật là tốt hơn bị một người lực sĩ, với sợi dây đuôi ngựa chắc chắn… va chạm tủy và dừng lại. VÌ cớ sao? Vì do nguyên nhân ấy, này các Tỷ-kheo, người ấy đi đến chết, hay đi đến khổ gần như chết, nhưng không vì nhân duyên ấy, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nhưng này các Tỷ-kheo, khi một người ác giới, theo ác pháp, tánh tình bất tịnh, nhận sự đảnh lễ của các Sát-đế-lỵ đại phú, hay các Bà-la-môn đại phú, hay các đại gia chủ đại phú; như vậy khiến cho vị ấy bất hạnh đau khổ lâu dài, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

3. Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, việc nào là tốt hơn: Bị một người lực sĩ, với cây kiếm sắc bén, được dầu rửa sạch, đập vào giữa ngực; hay là thọ nhận chấp tay vái chào của các Sát-đế-lỵ đại phú, hay các Bà-la-môn đại phú, hay gia chủ đại phú?

− Bạch Thế Tôn, việc này là tốt hơn, (tức là) thọ nhận chấp tay vái chào của các Sát-đế-lỵ, đại phú, hay các Bà-la-môn đại phú, hay các gia chủ đại phú. Khổ đau, bạch Thế Tôn, là bị người lực sĩ, với cây kiếm sắc bén, được dầu mỡ rửa sạch, đập vào giữa ngực.

− Ta tuyên bố cho các Thầy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rõ cho các Thầy, này các Tỷ-kheo, với một người ác giới, theo ác pháp… tánh tình bất tịnh, thật là tốt hơn bị một người lực sĩ với cây gươm sắc bén, được dầu rửa sạch, đập vào giữa ngực. Vì cớ sao? Vì do nguyên nhân ấy, này các Tỷ-kheo, người ấy đi đến chết hay đi đến khổ gần như chết. Nhưng không vì nhân duyên ấy, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nhưng này các Tỷ-kheo, khi một người ác giới, theo ác pháp… tánh tình bất tịnh, thọ nhận chắp tay vái chào của các Sát-đế-lỵ đại phú, hay các Bà-la-môn đại phú, hay các gia chủ đại phú; như vậy khiến cho vị ấy bất hạnh, đau khổ lâu dài, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

4. Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, việc nào là tốt hơn: Bị một người lực sĩ với các tấm sắt nóng đang cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ lửa ngọn áp cuốn vào thân; hay là hưởng thọ y áo do các Sát-đế-lỵ đại phú, hay Bà-la-môn đại phú, hay các gia chủ đại phú vì lòng tin cúng dường?

− Bạch Thế Tôn, việc này là tốt hơn (tức là) hưởng thọ y áo do các Sát-đế-lỵ đại phú, hay các Bà-la-môn đại phú, hay các gia chủ đại phú vì lòng tin cùng dường. Khổ đau, bạch Thế Tôn, là bị người lực sĩ với các tấm sắt nóng đang cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ lửa ngọn áp cuốn vào thân.

− Ta tuyên bố cho các Thầy, này các Tỷ-kheo, Ta nêu rõ cho các Thầy, này các Tỷ-kheo, với một người ác giới, theo ác pháp, tánh tình bất tịnh, thật là tốt hơn bị một người lực sĩ với các tấm sắt nóng đang cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ lửa ngọn áp cuốn vào thân. Vì cớ sao? Vì do nguyên nhân ấy, này các Tỷ-kheo, người ấy đi đến chết hay đi đến khổ gần như chết, nhưng không vì nhân duyên ấy, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nhưng này các Tỷ-kheo, khi một người ác giới, theo ác pháp, sở hành bất tịnh… tánh tình bất tịnh, hưởng thọ các y áo, do các Sát-đế-lỵ đại phú, các Bà-la-môn đại phú, hay các gia chủ đại phú, vì lòng tin cúng dường; như vậy, này các Tỷ-kheo, khiến cho vị ấy bất hạnh, đau khổ lâu dài, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

5. Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, việc nào tốt hơn: Bị một người lực sĩ với cái kềm sắt nóng, cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ lửa ngọn, mở miệng và nhét miệng một hòn sắt nóng đang cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ lửa ngọn, hòn sắt ấy đốt cháy môi của người ấy, đốt cháy miệng, đốt cháy lưỡi, đốt cháy cổ họng, đốt cháy bụng đem theo ruột non, ruột già và thoát ra ngoài từ phần ở dưới; hay là thọ hưởng đồ ăn khất thực do các Sát-đế-lỵ đại phú, các Bà-la-môn đại phú, các gia chủ đại phú, vì lòng tin cúng dường?

− Bạch Thế Tôn, việc này là tốt hơn: Hưởng thọ các đồ ăn khất thực do các Sát-đế-lỵ đại phú, các Bà-lamôn đại phú hay các gia chủ đại phú vì lòng tin cúng dường. Khổ đau, bạch Thế Tôn, là người bị lực sĩ với cái kềm sắt nóng đang cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ lửa ngọn, mở miệng và nhét vào miệng một hòn sắt nóng đang cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ lửa ngọn. Hòn sắt ấy đốt cháy môi của người ấy, đốt cháy miệng, đốt cháy lưỡi, đốt cháy cổ họng, đốt cháy bụng đem theo ruột non, ruột già và thoát ra ngoài từ phần ở dưới.

− Ta tuyên bố cho các Thầy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rõ cho các Thầy, này các Tỷ-kheo, với một người ác giới, theo ác pháp… tánh tình bất tịnh, thật là tốt hơn bị một người lực sĩ với các kềm sắt nóng đang cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ lửa ngọn, mở miệng và nhét vào miệng một hòn sắt nóng đang cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ lửa ngọn. Hòn sắt ấy đốt cháy môi của người ấy, đốt cháy miệng, đốt cháy lưỡi, đốt cháy cổ họng, đốt cháy bụng đem theo ruột non, ruột già và thoát ra ngoài từ phần ở dưới. Vì cớ sao? Vì do nguyên nhân ấy, này các Tỷ-kheo, người ấy đi đến chết hay đi đến khổ gần như chết, nhưng không vì nhân duyên ấy, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nhưng này các Tỷ-kheo, khi một người ác giới, theo ác pháp, sở hành bất tịnh… tánh tình bất tịnh, hưởng thọ các đồ ăn khất thực do các Sát-đế-lỵ đại phú, các Bà-la-môn đại phú, do các gia chủ đại phú, vì lòng tin cúng dường; như vậy, này các Tỷ-kheo, khiến cho vị ấy bất hạnh, đau khổ lâu dài, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

6. Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, việc nào là tốt hơn: Bị một người lực sĩ nắm lấy đầy hay nắm lấy vai, ép ngồi hay ép nằm trên một giường sắt hay một ghế sắt nóng đang cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ lửa ngọn; hay là hưởng thọ giường ghế do các Sát-đế-lỵ đại phú, các Bà-la-môn đại phú, hay các gia chủ đại phú vì lòng tin cúng dường?

− Bạch Thế Tôn, việc này là tốt hơn: Hưởng thọ giường và ghế do các nhà Sát-đế-lỵ đại phú… do các gia chủ đại phú vì lòng tin cúng dường. Khổ đau, bạch Thế Tôn, là bị người lực sĩ nắm lấy đầu hay nắm lấy vai, ép ngồi hay ép nằm trên một giường sắt hay một ghế nóng đang cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ lửa ngọn!

− Ta tuyên bố cho các Thầy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rõ cho các Thầy, này các Tỷ-kheo, với một người ác giới, theo ác pháp… tánh tình bất tịnh, thật là tốt hơn bị một người lực sĩ nắm lấy đầu hay nắm lấy vai, ép ngồi hay ép nằm trên một giường sắt hay một ghế sắt nóng đang cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ lửa ngọn. Vì cớ sao? Vì do nguyên nhân ấy, này các Tỷ-kheo, người ấy đi đến chết hay đi đến khổ gần như chết, nhưng không vì nhân duyên ấy, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nhưng này các Tỷ-kheo, khi một người ác giới, theo ác pháp, sở hành bất tịnh… tánh tình bất tịnh, hưởng thọ các giường ghế do các Sát-đế-lỵ đại phú, các Bà-la-môn đại phú, hay do các gia chủ đại phú, vì lòng tin cúng dường; như vậy, này các Tỷ-kheo, khiến cho vị ấy bất hạnh, đau khổ lâu dài, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

7. Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, việc nào là tốt hơn: Bị một người lực sĩ nắm chân phía trên, đầu phía dưới và quăng vào một ghè sắt nóng đang cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ lửa ngọn, tại đấy, người ấy bị nấu sôi lên như bọt nước tự mình nổi lên, tự mình chìm xuống, tự mình đi ngang; hay là hưởng thọ tinh xá do các Sát-đế-lỵ đại phú, các Bà-la-môn đại phú hay do các gia chủ đại phú vì lòng tin cúng dường?

− Bạch Thế Tôn, việc này là tốt hơn, hưởng thọ tinh xá do các Sát-đế-lỵ đại phú, các Bà-la-môn đại phú, hay các gia chủ đại phú vì lòng tin cúng dường. Khổ đau, bạch Thế Tôn, là bị người lực sĩ nắm chân phía trên, đầu phía dưới, và quăng người ấy vào trong một cái ghè sắt nóng đang cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ lửa ngọn. Tại đấy bị nấu sôi… tự mình đi ngang.

− Ta tuyên bố cho các Thầy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rõ cho các Thầy, này các Tỷ-kheo, với một người ác giới, theo ác pháp… tánh tình bất tịnh, thật là tốt hơn bị người lực sĩ nắm chân phía trên, đầu phía dưới… tự mình đi ngang. Vì cớ sao? Vì do nguyên nhân ấy, này các Tỷ-kheo, người ấy đi đến chết hay đi đến khổ gần như chết, nhưng không vì nhân duyên ấy, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh vào cõi dữ, ác thú đọa xứ, địa ngục. Nhưng này các Tỷ-kheo, khi một người ác giới, theo ác pháp… tánh tình bất tịnh, hưởng thọ tinh xá, do các Sát-đế-lỵ đại phú… hay các gia chủ đại phú, vì lòng tin cúng dường, như vậy, này các Tỷ-kheo, khiến cho người ấy bất hạnh, đau khổ lâu dài, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập như sau: “Chúng ta hưởng thọ các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh của những ai, đối với những người ấy, sở hành như vậy sẽ có quả lớn, có lợi ích hơn. Và sự xuất gia của chúng ta sẽ không có trống không, có kết quả, có thành tích”.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.

8. Này các Tỷ-kheo, với ai thấy được lợi ích của mình, thật là vừa đủ để tinh cần, không phóng dật. Này các Tỷ-kheo, với ai thấy được lợi ích của người, thật là vừa đủ để tinh cần, không phóng dật. Này các Tỷ-kheo, với ai thấy được lợi ích cả hai, thật là vừa đủ để tinh cần, không phóng dật.

Thế Tôn thuyết như vậy. Trong khi lời nói này được nói lên, có khoảng sáu mươi vị Tỷ-kheo hộc máu nóng từ miệng, có khoảng sáu mươi Tỷ-kheo từ bỏ học pháp và hoàn tục, nghĩ rằng: “Khó làm thay, Thế Tôn! Thật khó làm thay, Thế Tôn!”. Có khoảng sáu mươi Tỷ-kheo, với tâm được giải thoát, không chấp thủ các lậu hoặc.

AN 7.73 Về Sunetta Sunettasutta

"Ngày xưa, này các Tỳ kheo, có một vị Đạo Sư tên là Sunetta. Ngài là người sáng lập giáo phái và đã ly tham dục. Ngài có nhiều trăm đệ tử. Ngài dạy họ con đường tái sinh vào cõi Phạm thiên. Những người thiếu niềm tin vào Sunetta—khi thân hoại mạng chung, sau khi chết—tái sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Những người tràn đầy niềm tin vào Sunetta—khi thân hoại mạng chung, sau khi chết—tái sinh vào nơi tốt lành, cõi trời.

Ngày xưa có một vị đạo sư tên là Mūgapakkha … Aranemi … Kuddālaka … Hatthipāla … Jotipāla … Araka. Ngài là người sáng lập giáo phái và đã ly tham dục. Ngài có nhiều trăm đệ tử. Ngài dạy họ con đường tái sinh vào cõi Phạm thiên. Những người thiếu niềm tin vào Araka—khi thân hoại mạng chung, sau khi chết—tái sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Những người tràn đầy niềm tin vào Araka—khi thân hoại mạng chung, sau khi chết—tái sinh vào nơi tốt lành, cõi trời.

Các ông nghĩ sao, này các Tỳ kheo? Nếu ai đó với ác ý lăng mạ và xúc phạm bảy vị đạo sư này cùng với hàng trăm tín đồ của họ, liệu họ có tạo ra nhiều điều xấu ác không?"

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

"Họ quả thực sẽ tạo ra nhiều. Nhưng người nào lăng mạ và xúc phạm một người duy nhất thành tựu chánh kiến (view / thấy biết đúng đắn, một chi phần của Bát Chánh Đạo) với ác ý thì tạo ra điều xấu ác còn nhiều hơn nữa. Tại sao vậy? Ta nói rằng bất kỳ sự tổn hại nào do những người ngoài cộng đồng Phật giáo gây ra cũng không thể sánh bằng những gì gây ra cho chính những người bạn đồng tu của mình.

Vì vậy, các ông nên tu tập như thế này: ‘Chúng ta sẽ không có ác ý đối với các bạn đồng tu của mình.’ Đó là cách các ông nên tu tập."

(IX) (69) Sunetta

1. - Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có Ðạo Sư tên là Sunetta, thuộc ngoại đạo, đã ly tham đối với các dục. Ðạo sư Sunetta, này các Tỷ-kheo, có hàng trăm đệ tử. Ðạo sư Sunetta thuyết pháp cho các đệ tử để cọng trú với thế giới Phạm thiên. Này các Tỷ-kheo, những ai tâm không hoan hỷ với cuộc thuyết pháp của Ðạo sư Sunetta để cọng trú với thế giới Phạm thiên, khi thân hoại mạng chung, họ phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Tỷ-kheo, còn những ai tâm hoan hỷ với cuộc thuyết pháp của Ðạo sư Sunetta để cọng trú với thế giới Phạm thiên, khi thân hoại mạng chung, họ được sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này.

2. Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có Ðạo sư tên là Mùgapakkha… có Ðạo sư tên là Aranemi… có Ðạo sư tên là Kuddàla… có Ðạo sư tên là Hatthipàla… có Ðạo sư tên là Jotipàla… có Ðạo sư tên là Araka. Ðạo sư Araka thuộc ngoại đạo đã ly tham đối với các dục. Ðạo sư Araka, này các Tỷ-kheo, có hàng trăm đệ tử. Ðạo sư Araka thuyết pháp cho các đệ tử cọng trú với thế giới Phạm thiên. Này các Tỷ-kheo, những ai tâm không hoan hỷ với cuộc thuyết pháp của Ðạo sư Araka để cọng trú với thế giới Phạm thiên, khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Tỷ-kheo, còn những ai tâm hoan hỷ với cuộc thuyết pháp của Ðạo sư Araka để cọng trú với thế giới Phạm thiên, khi thân hoại mạng chung, họ sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này.

3. Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, ai với tâm ác quở trách, phỉ báng, bảy bậc Ðạo sư này thuộc ngoại đạo đã ly tham đối với các dục, được hàng trăm chúng đệ tử đoanh vây, người ấy có tạo ra nhiều điều vô phước không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Này các Tỷ-kheo, ai với tâm quở trách, phỉ báng bảy Ðạo sư này, thuộc ngoại đạo, đã ly tham đối với các dục, được hàng trăm chúng đệ tử đoanh vây, người ấy tạo ra nhiều điều vô phước; còn ai với ác tâm, quở trách phỉ báng một bậc đầy đủ chánh kiến, do vậy, người này tạo ra nhiều điều vô phước hơn nữa. Vì cớ sao? Ta tuyên bố không kham nhẫn một người như vậy, từ trong ra ngoài, đối với các vị đồng Phạm hạnh. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập như sau: “Chúng ta sẽ không có tâm ác độc đối với các vị đồng Phạm hạnh”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập như vậy.

AN 7.74 Về Araka Arakasutta

"Ngày xưa, này các Tỳ kheo, có một vị Đạo Sư tên là Araka. Ngài là người sáng lập giáo phái và đã ly tham dục. Ngài có nhiều trăm đệ tử, và ngài dạy họ như thế này: 'Này các Bà-la-môn, cuộc sống của con người ngắn ngủi, vắn tắt và thoáng qua, đầy khổ đau và phiền muộn. Hãy suy tư và tỉnh ngộ! Hãy làm điều thiện và sống đời phạm hạnh, vì không ai sinh ra mà thoát khỏi cái chết.

Nó giống như một giọt sương trên ngọn cỏ. Khi mặt trời mọc, nó nhanh chóng bay hơi và không tồn tại lâu. Cũng vậy, cuộc sống của con người giống như một giọt sương. Nó ngắn ngủi và thoáng qua, đầy khổ đau và phiền muộn. Hãy suy tư và tỉnh ngộ! Hãy làm điều thiện và sống đời phạm hạnh, vì không ai sinh ra mà thoát khỏi cái chết.

Nó giống như khi trời mưa lớn. Những bong bóng nhanh chóng tan biến và không tồn tại lâu. Cũng vậy, cuộc sống của con người giống như một bong bóng. …

Nó giống như một đường kẻ trên mặt nước. Nó tan biến nhanh chóng và không tồn tại lâu. Cũng vậy, cuộc sống của con người giống như một đường kẻ trên mặt nước. …

Nó giống như một dòng sông trên núi chảy xa, chảy nhanh, cuốn trôi mọi thứ. Nó không quay trở lại—không một khoảnh khắc, một giây, một giờ—mà cứ chảy, cuộn trào và trôi đi. Cũng vậy, cuộc sống của con người giống như một dòng sông trên núi. …

Nó giống như một người đàn ông mạnh mẽ đã tạo ra một cục nước bọt trên đầu lưỡi. Anh ta có thể dễ dàng nhổ nó ra. Cũng vậy, cuộc sống của con người giống như một cục nước bọt. …

Ví như có một cái vạc sắt đã được đun nóng cả ngày. Nếu bạn ném một miếng thịt vào, nó sẽ nhanh chóng tan biến và không tồn tại lâu. Cũng vậy, cuộc sống của con người giống như một miếng thịt. …

Nó giống như một con bò bị dẫn đến lò mổ. Với mỗi bước đi, nó càng đến gần lò mổ, gần cái chết hơn. Cũng vậy, cuộc sống của con người giống như một con bò bị giết thịt. Nó ngắn ngủi và thoáng qua, đầy khổ đau và phiền muộn. Hãy suy tư và tỉnh ngộ! Hãy làm điều thiện và sống đời phạm hạnh, vì không ai sinh ra mà thoát khỏi cái chết.’

Này các Tỳ kheo, vào thời đó, con người có tuổi thọ 60.000 năm. Các cô gái có thể kết hôn ở tuổi 500. Và con người chỉ có sáu nỗi khổ: lạnh, nóng, đói, khát, và nhu cầu đại tiện và tiểu tiện. Nhưng dù con người sống lâu như vậy với rất ít nỗi khổ, Araka vẫn dạy theo cách này: ‘Cuộc sống của con người ngắn ngủi, vắn tắt và thoáng qua, đầy khổ đau và phiền muộn. Hãy suy tư và tỉnh ngộ! Hãy làm điều thiện và sống đời phạm hạnh, vì không ai sinh ra mà thoát khỏi cái chết.’

Ngày nay, thật đúng khi nói: ‘Cuộc sống của con người ngắn ngủi, vắn tắt và thoáng qua, đầy khổ đau và phiền muộn. Hãy suy tư và tỉnh ngộ! Hãy làm điều thiện và sống đời phạm hạnh, vì không ai sinh ra mà thoát khỏi cái chết.’ Vì ngày nay, một cuộc đời dài là một trăm năm hoặc hơn một chút. Sống một trăm năm, chỉ có ba trăm mùa, mỗi mùa đông, hè và mưa là một trăm. Sống ba trăm mùa, chỉ có một nghìn hai trăm tháng, mỗi mùa đông, hè và mưa là bốn trăm. Sống một nghìn hai trăm tháng, chỉ có hai nghìn bốn trăm nửa tháng, mỗi mùa đông, hè và mưa là tám trăm. Sống 2.400 nửa tháng, chỉ có 36.000 ngày, mỗi mùa hè, đông và mưa là 12.000. Sống 36.000 ngày, bạn chỉ ăn 72.000 bữa, mỗi mùa hè, đông và mưa là 24.000, bao gồm cả khi bạn bú sữa mẹ, và khi bạn bị ngăn cản không được ăn.

Những điều ngăn cản bạn ăn bao gồm tức giận, đau đớn, bệnh tật, ngày trai giới, hoặc không thể kiếm được thức ăn. Vì vậy, này các Tỳ kheo, đối với một con người có tuổi thọ một trăm năm, Ta đã tính toán tuổi thọ, giới hạn của tuổi thọ, các mùa, các năm, các tháng, các nửa tháng, các đêm, các ngày, các bữa ăn, và những điều ngăn cản họ ăn. Vì lòng trắc ẩn, Ta đã làm những gì một vị thầy nên làm, người muốn điều tốt nhất cho các đệ tử của mình. Đây là những gốc cây, và đây là những căn lều trống. Hãy hành thiền, này các Tỳ kheo! Đừng sao nhãng! Đừng hối tiếc sau này! Đây là lời chỉ dạy của Ta cho các ông."

(X) (70) Araka

1. - Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có Ðạo sư tên là Araka thuộc ngoại đạo đã ly tham đối với các dục. Này các Tỷ-kheo, Ðạo sư Araka có đến hàng trăm đệ tử. Ðạo sư Araka thuyết pháp cho các đệ tử như sau:

2. “Này Bà-la-môn, ít oi là đời sống của loài Người, nhỏ bé, không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Với bùa chú, hãy giác ngộ! Hãy làm điều lành, sống đời Phạm hạnh! Với người đã sanh, không có bất tử. Ví như, này Bà-la-môn, giọt sương trên đầu ngọn cỏ, khi mặt trời mọc, mau chóng biến mất, không tồn tại lâu dài. Cũng vậy, này Bà-la-môn, như giọt sương là đời sống loài Người, nhỏ bé, không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Với bùa chú, hãy giác ngộ! Hãy làm điều lành, sống đời Phạm hạnh! Với người đã sanh, không có bất tử. Ví như, này Bà-la-môn, khi trời mưa nặng hạt, bong bóng nước trên nước mau chóng biến mất, không tồn tại lâu dài. Cũng vậy, này Bà-la-môn, như bong bóng nước là đời sống của loài Người, nhỏ bé, không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Với bùa chú, hãy giác ngộ! Hãy làm điều lành, sống đời Phạm hạnh! Với người đã sanh, không có bất tử. Ví như, này Bàla-môn, con sông trên núi chảy xa, dòng nước chảy nhanh, lôi cuốn theo vật này vật khác, không có sátna nào, không có giây phút nào, không có thời khắc nào có dừng nghỉ, nó phải chảy tới, cuồn cuộn chảy, thúc đẩy chảy tới. Cũng vậy, này Bà-la-môn, ví như con sông ấy là đời sống của loài Người, nhỏ bé, không đáng kể… với người đã sanh, không có bất tử. Ví như, này Bà-la-môn, người lực sĩ tụ lại một cục nước miếng trên đầu lưỡi và nhổ đi không có phí sức. Cũng vậy, này Bà-la-môn, ví dụ với cục nước miếng là đời sống loài Người, nhỏ bé, không đáng kể… Với người đã sanh, không có bất tử. Ví như, này Bà-la-môn, một miếng thịt được quăng vào một nồi sắt được hâm nóng cả ngày, mau chóng biến mất, không tồn tại lâu dài. Cũng vậy, này Bà-la-môn, ví như miếng thịt là đời sống con người, nhỏ bé, không đáng kể… Với người đã sanh, không có bất tử. Ví như, này Bà-la-môn, con bò cái sắp bị giết, được dắt đến lò thịt, mỗi bước chân giơ lên là bước gần đến bị giết, gần đến chết. Cũng vậy, này Bà-la-môn, ví dụ với con bò cái sắp bị giết là đời sống con người, nhỏ bé, không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Với bùa chú, hãy giác ngộ, hay làm điều lành, hãy sống Phạm hạnh. Với người đã sanh, không có bất tử”.

3. Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, tuổi thọ của loài Người lên đến 60.000 năm. Người con gái 500 tuổi có thể đến tuổi lấy chồng. Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, loài Người có sáu loại bệnh: lạnh, nóng, đói, khát, đại tiện, tiểu tiện. Này các Tỷ-kheo, bậc Ðạo sư Araka ấy, với loài Người thọ mạng dài như vậy, sống lâu như vậy, ít bệnh như vậy, lại thuyết pháp cho các đệ tử như vậy: “Ít oi, này Bà-la-môn, là đời sống loài Người, nhỏ bé không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Với bùa chú, hãy giác ngộ! Hãy làm điều lành, sống đời Phạm hạnh! Với người đã sanh, không có bất từ”. Nay, này các Tỷ-kheo, ai nói một cách chơn chánh, phải nói như sau: “Ít oi, là đời sống loài Người, nhỏ bé, không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Với trí tuệ, hãy giác ngộ! Hãy làm điều lành, hãy sống Phạm hạnh! Với người đã sanh, không có bất tử”. Nay, này các Tỷ-kheo, ai sống lâu, vị ấy sống một trăm tuổi, ít hơn hay nhiều hơn. Mạng sống 100 tuổi, này các Tỷ-kheo, được chia thành 300 mùa: một trăm mùa đông, một trăm mùa hạ, một trăm mùa mưa. Này các Tỷ-kheo, dầu cho sống ba trăm mùa, người ấy sống 12 lần 100 tháng: 400 tháng lạnh, 400 tháng nóng, 400 tháng mưa. Này các Tỷ-kheo, dầu cho sống 12 lần 100 tháng, người ấy sống 24 lần một trăm nửa tháng: 800 nửa tháng lạnh, 800 nửa tháng nóng, 800 nửa tháng mưa. Này các Tỷ-kheo, dầu cho sống 24 lần một trăm nửa tháng, người ấy sống 36 lần 1000 đêm: 12.000 đêm lạnh, 12.000 đêm nóng, 12.000 đêm mưa. Này các Tỷ-kheo, dầu cho sống 36 lần 1000 đêm, người ấy ăn chỉ có 72 ngàn bữa cơm: 24 ngàn bữa cơm vào mùa lạnh, 24 ngàn bữa cơm vào mùa nóng, 24 ngàn bữa cơm vào mùa mưa. Ðây gồm có với sữa mẹ và thời gian không có đồ ăn. Ở đây, có những khi không có bữa ăn này, nghĩa là tức giận không ăn cơm, khổ đau không ăn cơm, bịnh hoạn không ăn cơm, trai giới không ăn cơm, không thâu hoạch được, không ăn cơm.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, tuổi thọ một trăm năm của loài Người được Ta gọi là tuổi thọ, được gọi là lượng của tuổi thọ, được gọi là thời tiết, được gọi là năm, được gọi là tháng, được gọi là nửa tháng, được gọi là đêm, được gọi là đêm ngày, được gọi là bữa ăn, được gọi là giữa bữa ăn.

4. Này các Tỷ-kheo, những gì bậc Ðạo sư phải làm, vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng đệ tử, những việc ấy Ta đã làm, vì lòng thương tưởng các Thầy. Này các Tỷ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những căn nhà không tịnh. Này các Tỷ-kheo, hãy Thiền định, chớ có phóng dật, chớ hối tiếc về sau. Ðó là lời giáo huấn của Ta cho các Thầy.