Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về các Cư sĩ

AN 8.21 Cùng Ugga ở Vesālī Paṭhamauggasutta

Một thời Đức Phật trú gần Vesālī, tại Đại Lâm, trong giảng đường có mái nhọn. Tại đây, Đức Phật gọi các Tỳ kheo: “Này các Tỳ kheo, các con nên ghi nhớ gia chủ Ugga ở Vesālī là người có tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường.”

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Sau khi nói xong, Đấng Thiện Thệ đứng dậy từ chỗ ngồi và đi vào tịnh thất của Ngài.

Bấy giờ, một Tỳ kheo nọ vào buổi sáng đắp y, mang bát và y, đi đến nhà gia chủ Ugga ở Vesālī, rồi ngồi vào chỗ đã soạn sẵn. Sau đó, gia chủ Ugga ở Vesālī đến gần vị Tỳ kheo ấy, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên. Vị Tỳ kheo nói với ông:

“Thưa gia chủ, Đức Phật đã tuyên bố rằng ông có tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường. Tám phẩm chất mà Ngài nói đến là gì vậy?”

“Thưa ngài, tôi không biết Đức Phật muốn nói đến tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường nào. Nhưng tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường này có nơi tôi. Xin ngài lắng nghe và khéo tác ý, tôi sẽ nói.”

“Vâng, thưa gia chủ,” vị Tỳ kheo đáp. Gia chủ Ugga ở Vesālī nói như sau:

"Thưa ngài, khi lần đầu tiên tôi nhìn thấy Đức Phật từ xa, tâm tôi đã khởi tín ngay khi vừa thấy Ngài. Đây là phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ nhất có nơi tôi.

Với tâm tín thành, tôi đã đảnh lễ Đức Phật. Đức Phật đã dạy tôi tuần tự, với một bài pháp về bố thí (giving / sự cho đi, cúng dường), trì giới (ethical conduct / giữ gìn đạo đức), và các cõi trời (heaven / các cảnh giới an vui của chư thiên). Ngài giải thích sự nguy hiểm của các dục lạc (sensual pleasures / niềm vui ngũ dục), sự thấp kém và ô nhiễm của chúng, và lợi ích của sự xuất ly (renunciation / sự từ bỏ, thoát ly khỏi ràng buộc). Và khi Ngài biết tâm tôi đã sẵn sàng, nhu nhuyến, không còn chướng ngại (hindrances / những điều cản trở tâm), phấn khởi và tin tưởng, Ngài đã giải thích lời dạy đặc biệt của chư Phật: khổ (suffering / sự đau khổ, không hài lòng), nguồn gốc của khổ (its origin / nguyên nhân sinh ra khổ), sự diệt khổ (its cessation / sự chấm dứt khổ), và con đường đưa đến diệt khổ (the path / Bát Chánh Đạo). Giống như một tấm vải sạch không còn vết bẩn sẽ thấm thuốc nhuộm đúng cách, ngay tại chỗ ngồi đó, pháp nhãn không tỳ vết, trong sạch đối với Giáo Pháp (Dhamma / lời dạy của Đức Phật) đã sinh khởi trong tôi: ‘Phàm cái gì có sinh, cái đó có diệt.’ Tôi đã thấy, đã đạt được, đã hiểu, và đã thâm nhập Giáo Pháp. Tôi đã vượt qua nghi ngờ, thoát khỏi sự do dự, trở nên tự tin và không còn phụ thuộc vào người khác đối với lời dạy của Bậc Đạo Sư. Ngay tại đó, tôi đã quy y Phật, quy y Pháp, và quy y Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng các vị xuất gia). Và tôi đã thọ trì năm học giới (training rules / điều học, giới luật) với việc sống độc thân là điều thứ năm. Đây là phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ hai có nơi tôi.

Tôi có bốn người vợ trẻ. Và tôi đã đến gặp họ và nói: ‘Thưa các chị, tôi đã thọ trì năm học giới với việc sống độc thân là điều thứ năm. Nếu các chị muốn, các chị có thể ở lại đây, hưởng thụ tài sản của tôi, và làm các việc phước thiện. Hoặc các chị có thể trở về gia đình của mình. Hay các chị có muốn tôi gả các chị cho một người đàn ông khác không?’ Khi tôi nói điều này, người vợ cả của tôi nói với tôi: ‘Thưa chủ nhân, xin hãy gả tôi cho người đàn ông tên là như vậy.’ Sau đó, tôi gọi người đàn ông đó đến. Tay trái tôi nắm tay vợ, tay phải cầm bình nước nghi lễ, tôi đã trao cô ấy cho người đàn ông đó bằng nghi thức rót nước. Nhưng tôi không nhớ là mình có chút dao động tâm nào khi cho đi người vợ trẻ của mình. Đây là phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ ba có nơi tôi.

Và mặc dù gia đình tôi có của cải, nó được chia sẻ không dè sẻn với những người có đạo đức, phẩm hạnh tốt đẹp. Đây là phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ tư có nơi tôi.

Khi tôi đảnh lễ một Tỳ kheo, tôi làm điều đó một cách cẩn trọng, không phải một cách lơ là. Đây là phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ năm có nơi tôi.

Nếu vị Tôn giả đó dạy tôi Giáo Pháp, tôi lắng nghe cẩn trọng, không phải một cách lơ là. Nhưng nếu vị ấy không dạy tôi Giáo Pháp, tôi sẽ dạy lại vị ấy. Đây là phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ sáu có nơi tôi.

Không có gì lạ khi chư thiên (deities / các vị trời ở các cõi trời) đến gặp tôi và thông báo: ‘Thưa gia chủ, Giáo Pháp của Đức Phật được khéo giảng!’ Khi họ nói điều này, tôi nói với họ: ‘Giáo Pháp của Đức Phật được khéo giảng, dù chư thiên các vị có nói hay không!’ Nhưng tôi không nhớ là mình quá phấn khích vì việc chư thiên đến gặp tôi, và tôi có cuộc trò chuyện với họ. Đây là phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ bảy có nơi tôi.

Trong số năm hạ phần kiết sử (five lower fetters / năm sợi dây trói buộc ở cõi thấp: thân kiến, hoài nghi, sùng tín và giáo điều, dục tham, tức giận) mà Đức Phật đã dạy, tôi không thấy có cái nào mà tôi chưa từ bỏ. Đây là phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ tám có nơi tôi.

Tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường này có nơi tôi. Nhưng tôi không biết Đức Phật muốn nói đến tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường nào."

Sau đó, vị Tỳ kheo ấy, sau khi dùng vật thực khất thực tại nhà của gia chủ Ugga ở Vesālī, đã đứng dậy từ chỗ ngồi và rời đi. Rồi sau bữa ăn, trên đường từ nơi khất thực trở về, vị ấy đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên. Vị ấy trình bày với Đức Phật tất cả những gì đã thảo luận với gia chủ Ugga ở Vesālī. Đức Phật nói:

“Lành thay, lành thay, Tỳ kheo! Khi Ta tuyên bố gia chủ Ugga ở Vesālī là người có tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường, Ta muốn nói đến chính tám phẩm chất mà ông ấy đã giải thích đúng đắn cho con. Con nên ghi nhớ gia chủ Ugga ở Vesālī là người có tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường này.”

III. Phẩm Gia Chủ

(I) (21) Ugga Ở Vesali

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Ðại Lâm, ở ngôi nhà có nóc nhọn. Tại đấy, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:

− “Này các Tỷ-kheo! “. - “Bạch Thế Tôn “.

Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:

2. - Này các Tỷ-kheo, gia chủ Ugga, người Vesàli, thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có. Các Thầy hãy thọ trì như vậy.

Thế Tôn nói như vậy. Nói như vậy xong, bậc Thiện Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh xá.

3. Rồi một Tỷ-kheo đắp y vào buổi sáng, cầm bát y, đi đến trú xá của gia chủ Ugga người Vesàli; sau khi đến, liền ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi gia chủ Ugga người Vesàli, đi đến Tỷ-kheo ấy, sau khi đến, đảnh lễ Tỷ-kheo ấy rồi ngồi xuống một bên. Tỷ-kheo ấy nói với gia chủ Ugga, người Vesàli, đang ngồi xuống một bên:

4. - Này gia chủ, Thế Tôn có nói rằng: “Gia chủ Ugga người Vesàli này, thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có”. Này gia chủ, thế nào là tám pháp vi diệu chưa từng có ấy, mà Thế Tôn nói gia chủ là người được thành tựu?

− Thưa Tôn giả, tôi không biết Thế Tôn đã nói tôi thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có là gì. Nhưng thưa Tôn giả, tôi có tám pháp vi diệu chưa từng có này, hãy lắng nghe và khéo tác ý, tôi sẽ nói:

− Vâng, này gia chủ.

Tỷ-kheo ấy vâng đáp gia chủ Ugga người Vesàli. Gia chủ Ugga người Vesàli nói như sau: 5. - Thưa Tôn giả, khi tôi lần đầu tiên chỉ từ xa thấy Thế Tôn thôi, thưa Tôn giả, chỉ thấy Thế Tôn thôi, tâm tôi được tịnh tín. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu thứ nhất, được có ở nơi tôi. Rồi thưa Tôn giả, với tâm tịnh tín ấy, tôi hầu hạ Thế Tôn. Thế Tôn thuyết pháp thuận thứ cho tôi, như thuyết về bố thí, thuyết về giới, thuyết về cõi Trời, nói đến sự nguy hại, hạ liệt, nhiễm ô của các dục và sự lợi ích của viễn ly.

6. Khi Thế Tôn biết tôi tâm đã sẵn sàng, tâm đã nhu thuận, tâm không triền cái, tâm được phấn khởi, tâm được hoan hỷ, Thế Tôn mới thuyết những pháp được chư Phật tán dương đề cao: “Khổ, Tập, Diệt, Ðạo”. Cũng như một tấm vải thuần bạch, các chấm đen được gột rửa, rất dễ thấm màu nhuộm. Cũng vậy, chính tại chỗ ngồi ấy, pháp nhãn xa trần ly cấu khởi lên nơi tôi: “Phàm pháp gì được tập khởi, tất cả Pháp ấy đều bị đoạn diệt”. Rồi thưa Tôn giả, khi tôi thấy pháp, đạt pháp, biết pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ được vượt qua, do dự trù diệt, đạt được vô sở úy, không ý cứ người khác đối với pháp bậc Ðạo sư. Tại đấy, tôi quy y Phật, quy y Pháp và chúng Tăng, tôi thọ lãnh năm học pháp về Phạm hạnh. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ hai, được có ở nơi tôi.

7. Thưa Tôn giả, tôi có bốn vợ đều còn trẻ tuổi. Rồi tôi đi đến các người vợ ấy; sau khi đến, tôi nói với các người vợ ấy như sau: “Này các vị, tôi đã thọ lãnh năm học pháp về Phạm hạnh. Ai muốn, hãy hưởng thọ tài sản ở chỗ này, hay làm các công đức, hay đi đến gia đình bà con của mình, hay ai có ưng ý người đàn ông nào, tôi sẽ cho các vị”. Ðược nói như vậy, thưa Tôn giả, người vợ lớn của tôi nói với tôi: “Thưa gia chủ Ugga, hãy cho tôi người đàn ông tên này”. Rồi thưa Tôn giả, tôi cho mời người ấy lại, với tay trái tôi cầm người vợ, với tay phải tôi cầm bình nước, rồi tôi rửa sạch người ấy. Thưa Tôn giả, từ khi bỏ người vợ trẻ, tâm tôi không có một chút đổi khác. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ ba, được có ở nới tôi.

8. Thưa Tôn giả, có những tài sản ở trong gia đình tôi, chúng được phân chia giữa những người có giới và những người tốt lành. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ tư, được có ở với tôi.

9. Khi tôi hầu hạ một Tỷ-kheo, tôi hầu hạ rất cẩn thận, không phải không cẩn thận. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ năm, được có ở với tôi.

10. Thưa Tôn giả, nếu Tôn giả ấy thuyết pháp cho tôi, tôi nghe hết sức cẩn thận, không phải không cẩn thận. Nếu Tôn giả ấy không thuyết pháp cho tôi, thời tôi thuyết pháp cho vị ấy. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ sáu, được có ở nơi tôi.

11. Thật không phải là vi diệu, thưa Tôn giả, chư Thiên sau khi đến, bảo tôi: “Này gia chủ, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng! “. Khi được nói vậy, thưa Tôn giả, tôi nói với chư Thiên ấy như sau: “Dầu cho chư Thiên các người có nói như vậy hay không nói như vậy, pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng “. Thưa Tôn giả, tuy vậy tâm tôi không có tự hào về nhân duyên ấy, nghĩa là: “Chư Thiên đến với ta, ta cùng nói chuyện với chư Thiên”. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ bảy, được có ở nơi tôi.

12. Thưa Tôn giả, năm hạ phần kiết sử này được Thế Tôn thuyết giảng, tôi thấy rõ không có một pháp nào không được đoạn tận ở nơi tôi. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ tám, được có ở nơi tôi.

Thưa Tôn giả, tám pháp vi diệu chưa từng có này có mặt. Nhưng tôi không biết Thế Tôn đã nói tôi thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có nào?

13. Rồi Tỷ-kheo ấy, sau khi nhận đồ ăn khất thực tại trú xứ của gia chủ Ugga, người Vesàli, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi Tỷ-kheo ấy, sau khi ăn xong, trên con đường khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy đem tất cả câu chuyện nói với gia chủ Ugga người Vesàli thuật lại với Thế Tôn.

14. - Lành thay, lành thay! này Tỷ-kheo, gia chủ Ugga người Vesàli nếu có trả lời một cách chơn chánh, có thể trả lời như vậy. Này Tỷ-kheo, ta đã nói gia chủ Ugga người Vesàli thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có này. Này Tỷ-kheo, hãy thọ trì rằng gia chủ Ugga, người Vesàli, được thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có này.

AN 8.22 Cùng Ugga ở Làng Voi Dutiyauggasutta

Một thời Đức Phật trú tại xứ Vajji, ở Làng Voi. Tại đây, Đức Phật gọi các Tỳ kheo: “Này các Tỳ kheo, các con nên ghi nhớ gia chủ Ugga ở Làng Voi là người có tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường.”

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Sau khi nói xong, Đấng Thiện Thệ đứng dậy từ chỗ ngồi và đi vào tịnh thất của Ngài.

Bấy giờ, một Tỳ kheo nọ vào buổi sáng đắp y, mang bát và y, đi đến nhà gia chủ Ugga ở Làng Voi, rồi ngồi vào chỗ đã soạn sẵn. Sau đó, gia chủ Ugga ở Làng Voi đến gần vị Tỳ kheo ấy, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên. Vị Tỳ kheo nói với ông:

“Thưa gia chủ, Đức Phật đã tuyên bố rằng ông có tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường. Tám phẩm chất mà Ngài nói đến là gì vậy?”

“Thưa ngài, tôi không biết Đức Phật muốn nói đến tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường nào. Nhưng tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường này có nơi tôi. Xin ngài lắng nghe và khéo tác ý, tôi sẽ nói.”

“Vâng, thưa gia chủ,” vị Tỳ kheo đáp. Gia chủ Ugga ở Làng Voi nói như sau:

"Thưa ngài, khi lần đầu tiên tôi nhìn thấy Đức Phật từ xa, lúc đó tôi đang vui chơi tiệc tùng ở Vườn Rồng. Tâm tôi đã khởi tín ngay khi vừa thấy Ngài, và tôi tỉnh táo trở lại. Đây là phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ nhất có nơi tôi.

Với tâm tín thành, tôi đã đảnh lễ Đức Phật. Đức Phật đã dạy tôi tuần tự, với một bài pháp về bố thí, trì giới, và các cõi trời. Ngài giải thích sự nguy hiểm của các dục lạc, sự thấp kém và ô nhiễm của chúng, và lợi ích của sự xuất ly. Và khi Ngài biết tâm tôi đã sẵn sàng, nhu nhuyến, không còn chướng ngại, phấn khởi và tin tưởng, Ngài đã giải thích lời dạy đặc biệt của chư Phật: khổ, nguồn gốc của khổ, sự diệt khổ, và con đường đưa đến diệt khổ. Giống như một tấm vải sạch không còn vết bẩn sẽ thấm thuốc nhuộm đúng cách, ngay tại chỗ ngồi đó, pháp nhãn không tỳ vết, trong sạch đối với Giáo Pháp đã sinh khởi trong tôi: ‘Phàm cái gì có sinh, cái đó có diệt.’ Tôi đã thấy, đã đạt được, đã hiểu, và đã thâm nhập Giáo Pháp. Tôi đã vượt qua nghi ngờ, thoát khỏi sự do dự, trở nên tự tin và không còn phụ thuộc vào người khác đối với lời dạy của Bậc Đạo Sư. Ngay tại đó, tôi đã quy y Phật, quy y Pháp, và quy y Tăng đoàn. Và tôi đã thọ trì năm học giới với việc sống độc thân là điều thứ năm. Đây là phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ hai có nơi tôi.

Tôi có bốn người vợ trẻ. Và tôi đã đến gặp họ và nói: ‘Thưa các chị, tôi đã thọ trì năm học giới với việc sống độc thân là điều thứ năm. Nếu các chị muốn, các chị có thể ở lại đây, hưởng thụ tài sản của tôi, và làm các việc phước thiện. Hoặc các chị có thể trở về gia đình của mình. Hay các chị có muốn tôi gả các chị cho một người đàn ông khác không?’ Khi tôi nói điều này, người vợ cả của tôi nói với tôi: ‘Thưa chủ nhân, xin hãy gả tôi cho người đàn ông tên là như vậy.’ Sau đó, tôi gọi người đàn ông đó đến. Tay trái tôi nắm tay vợ, tay phải cầm bình nước nghi lễ, tôi đã trao cô ấy cho người đàn ông đó bằng nghi thức rót nước. Nhưng tôi không nhớ là mình có chút dao động tâm nào khi cho đi người vợ trẻ của mình. Đây là phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ ba có nơi tôi.

Và mặc dù gia đình tôi có của cải, nó được chia sẻ không dè sẻn với những người có đạo đức, phẩm hạnh tốt đẹp. Đây là phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ tư có nơi tôi.

Khi tôi đảnh lễ một Tỳ kheo, tôi làm điều đó một cách cẩn trọng, không phải một cách lơ là. Nếu vị Tôn giả đó dạy tôi Giáo Pháp, tôi lắng nghe cẩn trọng, không phải một cách lơ là. Nhưng nếu vị ấy không dạy tôi Giáo Pháp, tôi sẽ dạy lại vị ấy. Đây là phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ năm có nơi tôi.

Không có gì lạ khi chư thiên đến gặp tôi khi Tăng đoàn được mời đến và thông báo: ‘Thưa gia chủ, vị Tỳ kheo kia là bậc câu phần giải thoát (freed both ways / giải thoát nhờ cả trí tuệ và thiền định). Vị kia là bậc tuệ giải thoát (freed by wisdom / giải thoát nhờ trí tuệ). Vị kia là bậc thân chứng (direct witness / người đã tự mình chứng ngộ). Vị kia là bậc kiến đáo (attained to view / người đã đạt được chánh kiến). Vị kia là bậc tín giải thoát (freed by faith / giải thoát nhờ niềm tin). Vị kia là bậc tùy pháp hành (follower of teachings / người thực hành theo giáo pháp). Vị kia là bậc tùy tín hành (follower by faith / người thực hành theo niềm tin). Vị kia là người có đạo đức, phẩm hạnh tốt. Vị kia là người không có đạo đức, phẩm hạnh xấu.’ Nhưng khi tôi đang phục vụ Tăng đoàn, tôi không nhớ mình có suy nghĩ: ‘Hãy cúng dường vị này ít thôi, và vị kia nhiều một chút.’ Thay vào đó, tôi cúng dường một cách bình đẳng. Đây là phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ sáu có nơi tôi.

Không có gì lạ khi chư thiên đến gặp tôi và thông báo: ‘Thưa gia chủ, Giáo Pháp của Đức Phật được khéo giảng!’ Khi họ nói điều này, tôi nói với họ: ‘Giáo Pháp của Đức Phật được khéo giảng, dù chư thiên các vị có nói hay không!’ Nhưng tôi không nhớ là mình quá phấn khích vì việc chư thiên đến gặp tôi, và tôi có cuộc trò chuyện với họ. Đây là phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ bảy có nơi tôi.

Nếu tôi qua đời trước Đức Phật, sẽ không có gì lạ nếu Đức Phật tuyên bố về tôi: ‘Gia chủ Ugga ở Làng Voi không còn bị bất kỳ kiết sử (fetter / sợi dây trói buộc) nào có thể khiến ông ấy tái sinh trở lại thế giới này.’ Đây là phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ tám có nơi tôi.

Tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường này có nơi tôi. Nhưng tôi không biết Đức Phật muốn nói đến tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường nào."

Sau đó, vị Tỳ kheo ấy, sau khi dùng vật thực khất thực tại nhà của gia chủ Ugga ở Làng Voi, đã đứng dậy từ chỗ ngồi và rời đi. Rồi sau bữa ăn, trên đường từ nơi khất thực trở về, vị ấy đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên. Vị ấy trình bày với Đức Phật tất cả những gì đã thảo luận với gia chủ Ugga ở Làng Voi. Đức Phật nói:

“Lành thay, lành thay, Tỳ kheo! Khi Ta tuyên bố gia chủ Ugga ở Làng Voi là người có tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường, Ta muốn nói đến chính tám phẩm chất mà ông ấy đã giải thích đúng đắn cho con. Con nên ghi nhớ gia chủ Ugga ở Làng Voi là người có tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường này.”

(II) (22) Ugga Người Hatthigama

1. Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Vajji, tại làng Hatthi. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo … (như kinh 21.1) … Thế Tôn nói như sau:

2. - Này các Tỷ-kheo, gia chủ Ugga, người Hatthigama, thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có. Các Thầy hãy thọ trì như vậy.

Thế Tôn nói như vậy. Nói như vậy xong, bậc Thiện Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh xá.

3-4. … (như kinh 21.3-4 ở trên, với các sửa đổi cần thiết ) …

5. - Thưa Tôn giả, khi tôi còn vui chơi ở rừng Nàga, lần đầu tiên, tôi thấy Thế Tôn từ đằng xa. Chỉ thấy Thế Tôn thôi, thưa Tôn giả, tâm tôi được tịnh tín, và say rượu được đoạn tận. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ nhất, được có ở nơi tôi. Rồi thưa Tôn giả, với tâm tịnh tín ấy, tôi hầu hạ Thế Tôn. Rồi Thế Tôn thuyết pháp thuận thứ cho tôi như thuyết pháp về bố thí, thuyết về giới, thuyết về cõi trời, nói lên sự nguy hại, sự hạ liệt, nhiễm ô của các dục và sự lợi ích của viễn ly.

6 - 8. (Pháp vi diệu thứ hai, thứ ba, thứ tư giống như kinh 21.6-8 với những thay đổi cần thiết) … chưa từng có thứ tư, được có ở nơi tôi.

9. Khi tôi hầu hạ một Tỷ-kheo, tôi hầu hạ rất cản thận, không phải không cản thận. Thưa Tôn giả, nếu Tôn giả ấy thuyết pháp cho tôi, tôi nghe hết sức cẩn thận, không phải không cẩn thận. Nếu Tôn giả ấy không thuyết pháp cho tôi, thời tôi thuyết pháp cho vị ấy. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ năm, được có ở tôi.

10. Thật không phải là vi diệu, thưa Tôn giả, khi tôi mời chúng Tăng, chư Thiên đến và bảo tôi: “Này gia chủ, Tỷ-kheo này là vị câu phần giải thoát; Tỷ-kheo này là vị Tuệ giải thoát; Tỷ-kheo này là vị Thân chứng; Tỷ-kheo này là vị Kiến chí; Tỷ-kheo này là vị Tín giải thoát; Tỷ-kheo này là vị Tùy pháp hành; Tỷ-kheo này là vị Tùy tín hành; vị này giữ giới, theo thiện pháp; vị này phá giới, theo ác pháp “. Nhưng khi tôi cúng dường chúng Tăng, tôi không cảm thấy có tâm như vậy khởi lên: “Vị này tôi cúng ít” hay “Vị này tôi cúng nhiều”. Nhưng thưa Tôn giả, tôi cúng với tâm bình đẳng. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ sáu, được có ở tôi.

11. Thật không phải là vi diệu, thưa Tôn giả, chư Thiên sau khi đến, bảo tôi: “Này gia chủ, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng!”. Khi được nói vậy, thưa Tôn giả, tôi nói với chư Thiên ấy như sau: “Dầu cho chư Thiên các người có nói như vậy hay không nói như vậy, pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng “. Thưa Tôn giả, tuy vậy tâm tôi không có tự hào về nhân duyên ấy, nghĩa là: “Chư Thiên đến với ta, ta cùng nói chuyện với chư Thiên”. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ bảy, được có ở nơi tôi.

12. Thưa Tôn giả, nếu tôi mệnh chung trước Thế Tôn, đây không có gì là vi diệu, nếu Thế Tôn nói về tôi như sau: “Không có một kiết sử nào, do kiết sử ấy, gia chủ Ugga người làng Hatthigàma có thể trở lui lại đời này”. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ tám được có ở nơi tôi.

Thưa Tôn giả, tám pháp vi diệu chưa từng có này có mặt. Và tôi không biết Thế Tôn đã nói tôi thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có nào.

13. Rồi Tỷ-kheo ấy, sau khi nhận đồ ăn khất thực tại trú xứ của gia chủ Ugga, người làng Hatthigàma, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi Tỷ-kheo ấy, sau khi ăn xong, trên con đường khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy đem tất cả câu chuyện nói với gia chủ Ugga người Hatthigàma thuật lại với Thế Tôn.

14. - Lành thay, lành thay! này Tỷ-kheo, gia chủ Ugga người Hatthigàma nếu có trả lời một cách chơn chánh, có thể trả lời như vậy. Này Tỷ-kheo, gia chủ Ugga người Hatthigàma thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có này. Như ta đã nói, Này Tỷ-kheo, hãy thọ trì rằng gia chủ Ugga, người Hatthigàma, được thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có này.

AN 8.23 Cùng Hatthaka (Thứ nhất) Paṭhamahatthakasutta

Một thời Đức Phật trú gần Āḷavī, tại điện thờ cây Aggāḷava. Tại đây, Đức Phật gọi các Tỳ kheo:

“Này các Tỳ kheo, các con nên ghi nhớ gia chủ Hatthaka ở Āḷavī là người có bảy phẩm chất kỳ diệu và phi thường. Bảy phẩm chất đó là gì? Ông ấy có niềm tin (faithful / sự tin tưởng vững chắc vào Tam Bảo), có đạo đức, biết xấu hổ (conscientious / hổ thẹn với tội lỗi), biết sợ điều ác (prudent / ghê sợ hậu quả của việc ác), học rộng, rộng rãi, và có trí tuệ (wise / sự hiểu biết đúng đắn). Các con nên ghi nhớ gia chủ Hatthaka ở Āḷavī là người có bảy phẩm chất kỳ diệu và phi thường này.”

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Sau khi nói xong, Đấng Thiện Thệ đứng dậy từ chỗ ngồi và đi vào tịnh thất của Ngài.

Bấy giờ, một Tỳ kheo nọ vào buổi sáng đắp y, mang bát và y, đi đến nhà gia chủ Hatthaka ở Āḷavī, rồi ngồi vào chỗ đã soạn sẵn. Sau đó, Hatthaka đến gần vị Tỳ kheo ấy, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên. Vị Tỳ kheo nói với Hatthaka:

“Thưa gia chủ, Đức Phật đã tuyên bố rằng ông có bảy phẩm chất kỳ diệu và phi thường. Bảy phẩm chất đó là gì? Ngài nói rằng ông có niềm tin, có đạo đức, biết xấu hổ, biết sợ điều ác, học rộng, rộng rãi, và có trí tuệ. Đức Phật đã tuyên bố rằng ông có bảy phẩm chất kỳ diệu và phi thường này.”

“Nhưng thưa ngài, tôi tin rằng không có cư sĩ áo trắng nào có mặt lúc đó chứ?”

“Không, không có cư sĩ áo trắng nào có mặt lúc đó.”

“Thật tốt quá, thưa ngài.”

Sau đó, vị Tỳ kheo ấy, sau khi dùng vật thực khất thực tại nhà của Hatthaka ở Āḷavī, đã đứng dậy từ chỗ ngồi và rời đi. Rồi sau bữa ăn, trên đường từ nơi khất thực trở về, vị ấy đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và kể lại cho Ngài nghe những gì đã thảo luận với gia chủ Hatthaka. Đức Phật nói:

“Lành thay, lành thay, Tỳ kheo! Vị thiện nam tử đó ít mong muốn. Ông ấy không muốn những phẩm chất tốt đẹp của mình được người khác biết đến. Vậy thì, Tỳ kheo, con nên ghi nhớ gia chủ Hatthaka ở Āḷavī là người có thêm phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ tám này, đó là, sự ít mong muốn.”

(III) (23) Hatthaka, Người Alavì (1)

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Alavì, tại điện Phật Aggàlava. Tại đấy, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:

2. - Này các Tỷ-kheo, Hatthaka, người xứ Alavì thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có. Hãy thọ trì như vậy. Thế nào là bảy?

3. Có lòng tin, này các Tỷ kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có giới, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có lòng xấu hổ, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có lòng sợ hãi, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; nghe nhiều, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có bố thí, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có trí tuệ, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì.

Thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có này, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì. Hãy thọ trì như vậy. Thế Tôn nói như vậy. Nói như vậy xong, bậc Thiên Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh xá.

4. Rồi một Tỷ-kheo đắp y vào buổi sáng, cầm bát y, đi đến trú xá của gia chủ Hatthaka người Alavì; sau khi đến, liền ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi gia chủ Hatthaka người Alavì, đi đến Tỷ-kheo ấy, sau khi đến, đảnh lễ Tỷ-kheo ấy rồi ngồi xuống một bên. Tỷ-kheo ấy nói với Hatthaka, người xứ Alavì, đang ngồi xuống một bên:

− Thưa Hiền giả, Thế Tôn đã nói Hiền giả thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có. Thế nào là bảy? “Có lòng tin, này các Tỷ-kheo là Hatthaka, người xứ Alavì … có giữ giới … có lòng xấu hổ … có lòng sợ hãi … nghe nhiều … có bố thí … có trí tuệ, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka, người xứ Alavì “. Thưa Hiền giả, Hiền giả thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có này như Thế Tôn đã nói.

− Thưa Tôn giả, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng?

− Thưa Hiền giả, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng.

− Lành thay, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng.

5. Rồi Tỷ-kheo ấy, sau khi nhận đồ ăn khất thực tại trú xứ của Hatthaka, người xứ Alavì, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi Tỷ-kheo ấy, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Ở đây, bạch Thế Tôn, con vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của Hatthaka, người Alavì; sau khi đến, con ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn, Bạch Thế Tôn, rồi con nói với Hatthaka, người xứ Alavì đang ngồi một bên: - “- Thưa Hiền giả, Thế Tôn đã nói Hiền giả thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có này. Thế nào là bảy? “Có lòng tin, này các Tỷ-kheo là Hatthaka, người xứ Alavì … có giữ giới … có lòng xấu hổ … có lòng sợ hãi … nghe nhiều … có bố thí … có trí tuệ, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka, người xứ Alavì “. Hiền giả thành tựu bảy pháp này, thưa Hiền giả, như Thế Tôn đã nói! “. Khi nghe nói như vậy, bạch Thế Tôn, Hatthaka người xứ Alavì nói với con:

− “Thưa Tôn giả, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng? “

− Thưa Hiền giả, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng.

− Lành thay, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng.

6. - Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Này Tỷ-kheo, thiện nam tử này là ít dục. Vị ấy không muốn các thiện pháp của mình được người khác biết đến. Do vậy, này Tỷ-kheo, hãy thọ trì rằng, Hatthaka người xứ Alavì, có thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có này, tức là ít dục.

AN 8.24 Cùng Hatthaka (Thứ hai) Dutiyahatthakasutta

Một thời Đức Phật trú gần Āḷavī, tại điện thờ cây Aggāḷava. Bấy giờ, gia chủ Hatthaka ở Āḷavī, cùng với khoảng năm trăm vị cư sĩ tại gia, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với Hatthaka:

“Này Hatthaka, ông có một hội chúng đông đảo. Làm thế nào ông quy tụ được một hội chúng đông đảo như vậy?”

“Thưa Thế Tôn, con quy tụ được một hội chúng đông đảo như vậy bằng cách sử dụng bốn pháp nhiếp phục (four ways of being inclusive / bốn cách thu phục lòng người: bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự) mà Đức Phật đã dạy. Khi con biết một người có thể được thu phục bằng sự cho đi, con thu phục họ bằng cách cho đi. Khi con biết một người có thể được thu phục bằng lời nói ái ngữ, con thu phục họ bằng lời nói ái ngữ. Khi con biết một người có thể được thu phục bằng cách quan tâm giúp đỡ họ, con thu phục họ bằng cách quan tâm giúp đỡ họ. Khi con biết một người có thể được thu phục bằng sự đối xử bình đẳng, con thu phục họ bằng cách đối xử bình đẳng với họ. Nhưng cũng thưa Thế Tôn, gia đình con giàu có. Họ sẽ không nghĩ rằng một người nghèo đáng được lắng nghe như vậy.”

“Lành thay, lành thay, Hatthaka! Đây là cách đúng đắn để quy tụ một hội chúng đông đảo. Dù trong quá khứ, tương lai, hay hiện tại, tất cả những ai đã quy tụ được một hội chúng đông đảo đều đã làm như vậy bằng cách sử dụng bốn pháp nhiếp phục này.”

Sau đó, Đức Phật đã giáo huấn, khuyến khích, làm phấn khởi và truyền cảm hứng cho Hatthaka ở Āḷavī bằng một bài Pháp thoại, sau đó ông đứng dậy từ chỗ ngồi, đảnh lễ, và đi nhiễu quanh Đức Phật một cách kính cẩn trước khi rời đi. Rồi, không lâu sau khi Hatthaka rời đi, Đức Phật gọi các Tỳ kheo: “Này các Tỳ kheo, các con nên ghi nhớ gia chủ Hatthaka ở Āḷavī là người có tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường. Tám phẩm chất đó là gì? Ông ấy có niềm tin, có đạo đức, biết xấu hổ, biết sợ điều ác, học rộng, rộng rãi, có trí tuệ, và ít mong muốn. Các con nên ghi nhớ gia chủ Hatthaka ở Āḷavī là người có tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường này.”

(IV) (24) Hatthaka, Người Xứ ALavì (2)

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Alavì, tại điện Phật Aggàlava. Rồi Hatthaka, người xứ Alavì cùng với năm trăm nam cư sĩ đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Hatthaka, người xứ Alavì, đang ngồi xuống một bên:

2. - Này Hatthaka, hội chúng này thật lớn. Làm sao, này Hatthaka, Ông thâu nhiếp được hội chúng này?

− Bạch Thế Tôn, có bốn nhiếp pháp này được Thế Tôn thuyết giảng. Con thâu nhiếp hội chúng này với những nhiếp pháp ấy. Bạch Thế Tôn, khi con biết rằng: “Người này cần phải thâu nhiếp nhờ bố thí”, thời con thâu nhiếp người ấy với bố thí. Khi con biết rằng: “Người này cần phải thâu nhiếp nhờ ái ngữ”, thời con thâu nhiếp người ấy với ái ngữ. Khi con biết rằng: “Người này cần phải thâu nhiếp nhờ lợi hành”, thời con thâu nhiếp người ấy với lợi hành. Khi con biết rằng: “Người này cần phải thâu nhiếp nhờ đồng sự”, thời con thâu nhiếp người ấy với đồng sự. Vả lại, bạch Thế Tôn, trong gia đình con có tài sản, họ nghĩ rằng như vậy không thể được nghe như là một người bần cùng.

3. - Lành thay, lành thay, này Hatthaka! Ðây là nguyên lý đế thân nhiếp đại chúng! Này Hatthaka, những ai trong quá khứ đã thâu nhiếp đại chúng, tất cả đều thâu nhiếp đại chúng với bốn nhiếp pháp này. Này Hatthaka, những ai trong tương lai sẽ thâu nhiếp đại chúng, tất cả sẽ thâu nhiếp đại chúng với bốn nhiếp pháp này. Này Hatthaka, những ai trong hiện tại thâu nhiếp đại chúng, tất cả họ đều thâu nhiếp đại chúng với bốn nhiếp pháp này.

4. Rồi Hatthaka, người xứ Alavì, được Thế Tôn với pháp thoại, giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, rồi ra đi. Thế Tôn, sau khi Hatthaka, người xứ Alavì ra đi không bao lâu, bèn gọi các Tỷ-kheo:

5. - Này các Tỷ-kheo, hãy thọ trì rằng Hatthaka, người xứ Alavì thành tựu được tám pháp vi diệu chưa từng có này. Thế nào là tám pháp?

6. Có lòng tin, này các Tỷ kheo, là Hatthaka người xứ Alavì, có giữ giới; này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có lòng xấu hổ, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có lòng sợ hãi, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; nghe nhiều, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có bố thí, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có trí tuệ, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; ít dục, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì!

Này các Tỷ-kheo, hãy thọ trì rằng Hatthaka, người xứ Alavì thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có này.

AN 8.25 Cùng Mahānāma Mahānāmasutta

Một thời Đức Phật trú tại xứ của dòng họ Thích Ca, gần Ca-tỳ-la-vệ trong tu viện Cây Bàng. Bấy giờ Mahānāma dòng Thích Ca đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và nói với Ngài:

“Thưa Thế Tôn, một cư sĩ tại gia được định nghĩa như thế nào?”

“Này Mahānāma, khi con đã quy y Phật, Pháp, và Tăng đoàn, con được xem là một cư sĩ tại gia.”

“Nhưng một cư sĩ tại gia có đạo đức được định nghĩa như thế nào?”

“Khi một cư sĩ tại gia không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, và không uống rượu bia và các chất gây say, họ được xem là một cư sĩ tại gia có đạo đức.”

“Nhưng làm thế nào chúng ta định nghĩa một cư sĩ tại gia đang thực hành vì lợi ích của bản thân, không vì lợi ích của người khác?”

“Một cư sĩ tại gia thành tựu niềm tin, nhưng không khuyến khích người khác làm như vậy. Họ thành tựu giới hạnh, nhưng không khuyến khích người khác làm như vậy. Họ thành tựu sự rộng rãi, nhưng không khuyến khích người khác làm như vậy. Họ thích gặp gỡ các Tỳ kheo, nhưng không khuyến khích người khác làm như vậy. Họ thích nghe Chánh Pháp (true teaching / Giáo Pháp chân chính), nhưng không khuyến khích người khác làm như vậy. Họ dễ dàng ghi nhớ những lời dạy đã nghe, nhưng không khuyến khích người khác làm như vậy. Họ suy xét ý nghĩa của những lời dạy đã ghi nhớ, nhưng không khuyến khích người khác làm như vậy. Hiểu rõ ý nghĩa và lời dạy, họ thực hành theo đó, nhưng họ không khuyến khích người khác làm như vậy. Đó là cách chúng ta định nghĩa một cư sĩ tại gia đang thực hành vì lợi ích của bản thân, không vì lợi ích của người khác.”

“Nhưng làm thế nào chúng ta định nghĩa một cư sĩ tại gia đang thực hành vì lợi ích của cả bản thân và người khác?”

“Một cư sĩ tại gia thành tựu niềm tin và khuyến khích người khác làm như vậy. Họ thành tựu giới hạnh và khuyến khích người khác làm như vậy. Họ thành tựu sự rộng rãi và khuyến khích người khác làm như vậy. Họ thích gặp gỡ các Tỳ kheo và khuyến khích người khác làm như vậy. Họ thích nghe Chánh Pháp và khuyến khích người khác làm như vậy. Họ dễ dàng ghi nhớ những lời dạy đã nghe và khuyến khích người khác làm như vậy. Họ suy xét ý nghĩa của những lời dạy đã ghi nhớ và khuyến khích người khác làm như vậy. Hiểu rõ ý nghĩa và lời dạy, họ thực hành theo đó và họ khuyến khích người khác làm như vậy. Đó là cách chúng ta định nghĩa một cư sĩ tại gia đang thực hành vì lợi ích của cả bản thân và người khác.”

(V) (25) Thích Tử Mahanama

1. Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, ở khu vườn Nigrodha. Rồi Thích tử Mahànàma đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Thích tử Mahànàma bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, cho đến như thế nào là người nam cư sĩ?

− Này Mahànàma, khi nào quy y Phật, quy y Pháp, quy y chúng Tăng, cho đến như vậy, này Mahànàma, là người nam cư sĩ.

2. - Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là người nam cư sĩ giữ giới?

− Này, Mahànàma, khi nào người nam cư sĩ từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu, cho đến như vậy, là người nam cư sĩ giữ giới.

3. - Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là người nam cư sĩ thực hành, vì tư lợi chứ không vì lợi tha?

− Này Mahànàma, khi nào nam cư sĩ thành tựu lòng tin cho mình, không có khích lệ người khác thành tựu lòng tin; thành tựu giữ giới cho mình, không có khích lệ người khác thành tựu giữ giới, thành tựu bố thí cho mình, không khích lệ người khác thành tựu bố thí; muốn tự mình đi đến yết kiến các Tỷ-kheo, không có khích lệ người khác đi đến yết kiến các Tỷ kheo; chỉ tự mình muốn nghe diệu pháp, không khích lệ người khác nghe diệu pháp; tự mình thọ trì những pháp đã được nghe, không khích lệ người khác thọ trì những pháp đã được nghe; tự mình suy nghĩ đến ý nghĩa các pháp đã thọ trì, không khích lệ người khác suy nghĩ đến ý nghĩa các pháp đã thọ trì; sau khi tự mình biết nghĩa, biết pháp, thực hiện tùy pháp, đúng Chánh pháp, không khích lệ người khác thực hiện tùy pháp, đúng Chánh pháp. Cho đến như vậy, này Mahànàma, là nam cư sĩ thực hành vì tự lợi, không phải vì lợi tha.

4. - Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là nam cư sĩ thực hành vừa tự lợi, vừa lợi tha?

− Này Mahànàma, khi nào nam cư sĩ tự mình thành tựu lòng tin và khích lệ người khác thành tựu lòng tin; khi nào tự mình giữ giới và khích lệ người khác giữ giới; khi nào tự mình bố thí và khích lệ người khác bố thí; khi nào tự mình muốn đi đến yết kiến các Tỷ-kheo và khích lệ người khác đi đến yết kiến các Tỷ-kheo; khi nào tự mình muốn nghe diệu pháp và khích lệ người khác nghe diệu pháp; khi nào tự mình thọ trì những pháp đã được nghe và khích lệ người khác thọ trì những pháp đã được nghe; khi nào tự mình suy nghĩ đến ý nghĩa các pháp đã thọ trì và khích lệ người khác suy nghĩ đế ý nghĩa các pháp đã thọ trì; sau khi tự mình biết nghĩa, biết pháp, thực hiện pháp đúng Chánh pháp, khích lệ người khác sau khi biết nghĩa biết pháp, thực hiện pháp đúng Chánh pháp. Cho đến như vậy, này Mahànàma, là nam cư sĩ thực hành vì tự lợi và lợi tha.

AN 8.26 Cùng Jīvaka Jīvakasutta

Một thời Đức Phật trú gần Vương Xá trong Vườn Xoài của Jīvaka. Bấy giờ Jīvaka Komārabhacca đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và nói với Ngài: “Thưa Thế Tôn, một cư sĩ tại gia được định nghĩa như thế nào?”

“Này Jīvaka, khi con đã quy y Phật, Pháp, và Tăng đoàn, con được xem là một cư sĩ tại gia.”

“Nhưng một cư sĩ tại gia có đạo đức được định nghĩa như thế nào?”

“Khi một cư sĩ tại gia không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, và không uống rượu bia và các chất gây say, họ được xem là một cư sĩ tại gia có đạo đức.”

“Nhưng làm thế nào chúng ta định nghĩa một cư sĩ tại gia đang thực hành vì lợi ích của bản thân, không vì lợi ích của người khác?”

“Một cư sĩ tại gia thành tựu niềm tin, nhưng không khuyến khích người khác làm như vậy. Họ thành tựu giới hạnh… họ thành tựu sự rộng rãi… họ thích gặp gỡ các Tỳ kheo… họ thích nghe Chánh Pháp… họ ghi nhớ những lời dạy… họ suy xét ý nghĩa… Hiểu rõ ý nghĩa và lời dạy, họ thực hành theo đó, nhưng họ không khuyến khích người khác làm như vậy. Đó là cách chúng ta định nghĩa một cư sĩ tại gia đang thực hành vì lợi ích của bản thân, không vì lợi ích của người khác.”

“Nhưng làm thế nào chúng ta định nghĩa một cư sĩ tại gia đang thực hành vì lợi ích của cả bản thân và người khác?”

“Một cư sĩ tại gia thành tựu niềm tin và khuyến khích người khác làm như vậy. Họ thành tựu giới hạnh và khuyến khích người khác làm như vậy. Họ thành tựu sự rộng rãi và khuyến khích người khác làm như vậy. Họ thích gặp gỡ các Tỳ kheo và khuyến khích người khác làm như vậy. Họ thích nghe Chánh Pháp và khuyến khích người khác làm như vậy. Họ dễ dàng ghi nhớ những lời dạy đã nghe và khuyến khích người khác làm như vậy. Họ suy xét ý nghĩa của những lời dạy đã ghi nhớ và khuyến khích người khác làm như vậy. Hiểu rõ ý nghĩa và lời dạy, họ thực hành theo đó và họ khuyến khích người khác làm như vậy. Đó là cách chúng ta định nghĩa một cư sĩ tại gia đang thực hành vì lợi ích của cả bản thân và người khác.”

(VI) (26) Jìvaka Komàrabhacca

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương xá), tại rừng xoài Jìvaka. Rồi Jìvaka Komàrabhacca đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Jìvaka Komàrabhacca bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, cho đến như thế nào là người nam cư sĩ?

− … (giống như kinh trước 25, chỉ khác là Thích tử Mahànàma, nay là Jìvaka Komàrabhacca) .

AN 8.27 Các loại sức mạnh (Thứ nhất) Paṭhamabalasutta

“Này các Tỳ kheo, có tám loại sức mạnh này. Tám loại đó là gì? Tiếng khóc là sức mạnh của trẻ con. Sự tức giận là sức mạnh của phụ nữ. Vũ khí là sức mạnh của kẻ cướp. Quyền lực là sức mạnh của vua chúa. Than phiền là sức mạnh của kẻ ngu. Lý lẽ là sức mạnh của người khôn ngoan. Sự suy ngẫm là sức mạnh của người học rộng. Nhẫn nại (Patience / sự chịu đựng, kiên trì) là sức mạnh của sa môn (ascetics / người tu khổ hạnh) và bà la môn (brahmins / người thuộc giai cấp tu sĩ Bà la môn giáo). Đây là tám loại sức mạnh.”

(VII) (27) Sức Mạnh (1)

1.- Này các Tỷ-kheo, có tám sức mạnh này. Thế nào là tám?

2. Này các Tỷ-kheo, sức mạnh của con nít là khóc; sức mạnh của đàn bà là phẫn nộ; sức mạnh của người ăn trộm là vũ khí; sức mạnh của các vua chúa là uy quyền; sức mạnh của kẻ ngu là áp đảo; sức mạnh của bậc Hiền trí là cảm hóa; sức mạnh của vị nghe nhiều là thẩm sát; sức mạnh của Sa-môn, Bà-la-môn là nhẫn nhục.

Này các Tỷ-kheo, đây là tám sức mạnh.

AN 8.28 Các loại sức mạnh (Thứ hai) Dutiyabalasutta

Bấy giờ Tôn giả Xá Lợi Phất đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với Tôn giả:

“Này Xá Lợi Phất, một Tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc (defilements / những ô nhiễm làm rỉ chảy trong tâm, như dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu) có bao nhiêu sức mạnh để có thể tuyên bố: ‘Các lậu hoặc của tôi đã đoạn tận’?”

"Thưa Thế Tôn, một Tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc có tám sức mạnh để có thể tuyên bố: ‘Các lậu hoặc của tôi đã đoạn tận.’

Tám loại đó là gì? Thứ nhất, một Tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc đã thấy rõ bằng chánh trí tuệ rằng mọi pháp hữu vi (conditions / các pháp do duyên sinh, có điều kiện) là thực sự vô thường. Đây là một sức mạnh mà một Tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc dựa vào để tuyên bố: ‘Các lậu hoặc của tôi đã đoạn tận.’

Hơn nữa, một Tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc đã thấy rõ bằng chánh trí tuệ rằng các dục lạc thực sự giống như hầm than hừng. Đây là một sức mạnh mà một Tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc dựa vào để tuyên bố: ‘Các lậu hoặc của tôi đã đoạn tận.’

Hơn nữa, tâm của một Tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc hướng về, xuôi về, nghiêng về sự viễn ly (seclusion / sự xa lánh, sống một mình). Họ ẩn dật, yêu thích sự xuất ly, và đã hoàn toàn loại trừ các ảnh hưởng ô nhiễm. Đây là một sức mạnh mà một Tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc dựa vào để tuyên bố: ‘Các lậu hoặc của tôi đã đoạn tận.’

Hơn nữa, một Tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc đã phát triển tốt bốn pháp quán niệm xứ (four kinds of mindfulness meditation / bốn lĩnh vực quán chiếu: thân, thọ, tâm, pháp). Đây là một sức mạnh mà một Tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc dựa vào để tuyên bố: ‘Các lậu hoặc của tôi đã đoạn tận.’

Hơn nữa, một Tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc đã phát triển tốt bốn thần túc (four bases of psychic power / bốn nền tảng của năng lực siêu nhiên: dục, tinh tấn, tâm, thẩm)… năm căn (five faculties / năm năng lực tinh thần: tín, tấn, niệm, định, tuệ)… bảy giác chi (seven awakening factors / bảy yếu tố của sự giác ngộ: niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả)… Bát Chánh Đạo (noble eightfold path / con đường tám nhánh cao thượng: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định). Đây là một sức mạnh mà một Tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc dựa vào để tuyên bố: ‘Các lậu hoặc của tôi đã đoạn tận.’

Một Tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc có tám sức mạnh này để có thể tuyên bố: ‘Các lậu hoặc của tôi đã đoạn tận.’"

(VIII) (28) Sức Mạnh (2)

1. Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Sàriputta đang ngồi xuống một bên:

− Này Sàriputta, có bao nhiêu sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc? Thành tựu với những sức mạnh gì, Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: “Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận “?

2. - Bạch Thế Tôn, có tám sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc. Thành tựu với những sức mạnh gì, Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: “Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận “. Thế nào là tám?

3. Ở đây, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc khéo thấy như thật với chánh trí tuệ rằng tất cả các hành là vô thường. Vì rằng, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, khéo thấy như thật với chánh trí tuệ rằng tất cả các hành là vô thường. Bạch Thế Tôn, đây là sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc. Do sức mạnh này, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: “Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận “.

4. Lại nữa, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc khéo thấy như thật với chánh trí tuệ rằng các dục ví như hố than hừng. Vì rằng, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc khéo thấy như thật với chánh trí tuệ rằng các dục ví như hố than hừng. Bạch Thế Tôn, đây là sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc. Do sức mạnh này, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: “Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận “.

5. Lại nữa, Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, với tâm thuận xuôi về viễn ly, hướng về viễn ly, thiên về viễn ly, trú ở viễn ly, hoan hỷ về xuất ly, đoạn tận hoàn toàn tất cả pháp có thể làm trú xứ cho lậu hoặc. Bạch Thế Tôn, đây là sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc. Do sức mạnh này, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: “Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận “. 6. Lại nữa, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, Bốn niệm xứ được tu tập, được khéo tu tập. Bạch Thế Tôn, vì rằng Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, Bốn niệm xứ được tu tập, được khéo tu tập. Bạch Thế Tôn, đây là sức mạnh của vị Tỷ-kheo … “Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận “.

7. Lại nữa, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, Bốn như ý túc được tu tập, được khéo tu tập… Năm căn được tu tập, được khéo tu tập … Năm lực được tu tập, được khéo tu tập … Bảy giác chi được tu tập, được khéo tu tập …Thánh đạo tám ngành được tu tập, được khéo tu tập … Ðây là sức mạnh của vị Tỷ-kheo … “Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận “.

Bạch Thế Tôn, đây là tám sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, thành tựu với tám sức mạnh này, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc. Do sức mạnh này, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: “Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận “.

AN 8.29 Những cơ hội bị bỏ lỡ Akkhaṇasutta

"‘Bây giờ là lúc! Bây giờ là lúc!’ Một người phàm phu ít học nói như vậy. Nhưng họ không biết đó có phải là lúc hay không. Này các Tỳ kheo, có tám cơ hội bị bỏ lỡ để tu tập tâm linh (tám phi thời, không phải cơ hội để tu tập phạm hạnh). Tám cơ hội đó là gì?

Thứ nhất, một Đấng Như Lai đã xuất hiện trên thế gian—bậc A La Hán (perfected / người đã hoàn thiện, diệt tận phiền não), Chánh Đẳng Chánh Giác (a fully awakened Buddha / bậc giác ngộ hoàn toàn và chân chính), Minh Hạnh Túc (accomplished in knowledge and conduct / đầy đủ trí tuệ và đức hạnh), Thiện Thệ (holy / đấng đã đi qua một cách tốt đẹp), Thế Gian Giải (knower of the world / người hiểu biết thế gian), Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu (supreme guide for those who wish to train / bậc thầy tối cao huấn luyện những người cần được huấn luyện), Thiên Nhân Sư (teacher of gods and humans / thầy của trời và người), Phật (awakened / bậc giác ngộ), Thế Tôn (blessed / đấng được tôn kính). Ngài dạy Giáo Pháp đưa đến sự an tịnh, Niết Bàn (extinguishment / sự kết thúc hoàn toàn khổ đau), giác ngộ, như được Đấng Thiện Thệ tuyên thuyết. Nhưng một người đã tái sinh vào địa ngục (hell / cõi khổ đau cùng cực). Đây là cơ hội bị bỏ lỡ thứ nhất để tu tập tâm linh.

Hơn nữa, một Đấng Như Lai đã xuất hiện trên thế gian. Nhưng một người đã tái sinh vào cõi súc sinh (animal realm / cõi của các loài vật). Đây là cơ hội bị bỏ lỡ thứ hai.

Hơn nữa, một Đấng Như Lai đã xuất hiện trên thế gian. Nhưng một người đã tái sinh vào cõi ngạ quỷ (ghost realm / cõi của những chúng sinh đói khổ). Đây là cơ hội bị bỏ lỡ thứ ba.

Hơn nữa, một Đấng Như Lai đã xuất hiện trên thế gian. Nhưng một người đã tái sinh vào một trong các cõi trời trường thọ (long-lived / sống lâu). Đây là cơ hội bị bỏ lỡ thứ tư.

Hơn nữa, một Đấng Như Lai đã xuất hiện trên thế gian. Nhưng một người đã tái sinh ở vùng biên địa, giữa những người ngoại quốc không có học thức, nơi các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ không đến. Đây là cơ hội bị bỏ lỡ thứ năm…

Hơn nữa, một Đấng Như Lai đã xuất hiện trên thế gian. Và một người được tái sinh ở trung tâm quốc. Nhưng họ có tà kiến (wrong view / cái thấy sai lầm) và nhận thức sai lệch: ‘Không có ý nghĩa gì trong việc cho đi, cúng dường, hay lễ vật. Không có quả báo của việc làm tốt và xấu. Không có đời sau. Không có cái gọi là cha mẹ, hay chúng sinh được tái sinh tự nhiên. Và không có sa môn hay bà la môn nào hành xử đúng đắn và thực hành đúng đắn, và mô tả đời sau sau khi tự mình chứng ngộ bằng tuệ giác của mình.’ Đây là cơ hội bị bỏ lỡ thứ sáu…

Hơn nữa, một Đấng Như Lai đã xuất hiện trên thế gian. Và một người được tái sinh ở trung tâm quốc. Nhưng họ ngu si, đần độn, khờ khạo, và không có khả năng phân biệt điều gì được nói hay, điều gì được nói dở. Đây là cơ hội bị bỏ lỡ thứ bảy…

Hơn nữa, một Đấng Như Lai chưa xuất hiện trên thế gian… Vì vậy, Ngài không dạy Giáo Pháp đưa đến sự an tịnh, Niết Bàn, giác ngộ, như được Đấng Thiện Thệ tuyên thuyết. Và một người được tái sinh ở trung tâm quốc. Và họ có trí tuệ, sáng dạ, thông minh, và có khả năng phân biệt điều gì được nói hay, điều gì được nói dở. Đây là cơ hội bị bỏ lỡ thứ tám…

Có tám cơ hội bị bỏ lỡ này để tu tập tâm linh.

Này các Tỳ kheo, chỉ có một cơ hội duy nhất để tu tập tâm linh. Cơ hội đó là gì? Đó là khi một Đấng Như Lai đã xuất hiện trên thế gian, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài dạy Giáo Pháp đưa đến sự an tịnh, Niết Bàn, giác ngộ, như được Đấng Thiện Thệ tuyên thuyết. Và một người được tái sinh ở trung tâm quốc. Và họ có trí tuệ, sáng dạ, thông minh, và có khả năng phân biệt điều gì được nói hay, điều gì được nói dở. Đây là cơ hội duy nhất để tu tập tâm linh.

Khi đã được thân người,
Và Chánh Pháp đã được tuyên thuyết thật hay,
Những ai không nắm bắt cơ hội
Là đang lãng phí thời gian của mình.

Vì nhiều phi thời được nói đến,
Cản trở con đường tu tập.
Chỉ trong những dịp hiếm hoi
Các Đấng Như Lai mới xuất hiện.

Nếu con gặp được các Ngài,
Vốn rất khó gặp trên đời,
Và nếu con đã được thân người,
Và được nghe lời dạy của Giáo Pháp;
Điều đó đủ để nỗ lực,
Đối với người quan tâm đến lợi ích của chính mình.

Làm sao để hiểu được Chánh Pháp
Để cơ hội không trôi qua mất?
Vì nếu con bỏ lỡ cơ hội của mình
Con sẽ đau buồn khi bị đọa địa ngục.

Nếu con không đạt được
Sự vững chắc đối với Chánh Pháp
Con sẽ hối tiếc trong một thời gian dài,
Như người lái buôn trong câu chuyện quá khứ.

Một người bị vô minh che lấp,
Thất bại trong Chánh Pháp,
Sẽ phải trải qua lâu dài
Sự luân hồi sinh tử.

Những ai đã được thân người
Khi Chánh Pháp đã được tuyên thuyết thật hay,
Và đã hoàn thành những gì Bậc Đạo Sư đã dạy—
Hoặc sẽ làm, hoặc đang làm bây giờ—

Đã nhận ra đúng thời điểm trên thế gian
Cho đời sống phạm hạnh tối thượng.
Con nên sống phòng hộ, luôn tỉnh thức,
Không bị lậu hoặc làm ung nhọt,

Giữa những người có sự chế ngự
Đã thực hành con đường
Do Đấng Như Lai, Đấng Mắt Sáng tuyên thuyết,
Và được dạy bởi người bà con của mặt trời.

Sau khi cắt đứt mọi ngủ ngầm (underlying tendencies / những khuynh hướng tiềm ẩn trong tâm, như tham, sân, si)
Theo sau những kẻ trôi dạt trong lãnh địa của Ma vương (Māra’s dominion / quyền lực của Ác ma),
Họ là những người trên thế gian này
>Đã thực sự vượt qua,
Đã đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc."

(IX) (29) Không Phải Thời

1. - “Làm việc đúng thời là thế giới, làm việc đúng thời là thế giới “, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu nói như vậy, nhưng vị ấy không biết đúng thời và phi thời. Này các Tỷ-kheo, có tám phi thời, phi thời tiết cho đời sống Phạm hạnh. Thế nào là tám?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân sư, Phật, Thế Tôn. Và pháp được giảng đưa đến an tịnh, đưa đến tịch tịnh, đưa đến giác ngộ, được bậc Thiện Thệ tuyên bố. Và người này lại bị sanh vào địa ngục. Này các Tỷ-kheo, đây là phi thời, phi thời tiết thứ nhất cho đời sống Phạm hạnh.

3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác … Phật, Thế Tôn và pháp được giảng đưa đến an tịnh, đưa đến tịch tịnh, đưa đến giác ngộ, được bậc Thiện Thệ tuyên bố. Và người này lại bị sanh vào loại bàng sanh … người này lại bị sanh vào cõi ngạ quỷ … người này lại bị sanh vào giữa chư Thiên giới có thọ mạng lâu dài … người này lại bị sanh vào các biên địa, giữa những kẻ vô trí mọi rợ, tại đây, không có hướng đi cho các Tỷ-kheo, cho các Tỷ-kheo -Ni, cho nam cư sĩ, nữ cư sĩ … và người này được sanh vào chánh địa, nhưng lại có tà kiến, có tri kiến đảo ngược: “Không có bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị thục, các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có mẹ, không có cha, không có loại hóa sanh, ở đời không có những Sa-môn, những Bà-la-môn chánh hướng chánh hạnh, đã tự mình chứng tri giác ngộ ở đời này, đời khác và truyền dạy lại … “và người này được sanh vào đây chánh địa, nhưng người ấy lại ác tuệ, si mê, câm điếc, không có thể hiểu rõ ý nghĩa của một lời nói khéo, nói hay, nói dở. Này các Tỷ-kheo, đây là phi thời, phi thời tiết thứ tám cho đời sống Phạm hạnh.

4. Này các Tỷ-kheo, có tám phi thời, phi thời tiết này cho đời sống Phạm hạnh.

5. Này các Tỷ-kheo, chỉ có một chánh thời, một chánh thời tiết này cho đời sống Phạm hạnh. Thế nào là một?

6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thế Tôn xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân sư, Phật, Thế Tôn. Và pháp được giảng đưa đến an tịnh, đưa đến tịch tịnh, đưa đến giác ngộ, được bậc Thiện Thệ tuyên bố. Và người này được sanh vào chánh địa, vị ấy có trí tuệ, không si mê, không câm điếc, có thể hiểu rõ ý nghĩa của một lời nói khéo, nói hay, nói dở. Này các Tỷ-kheo, đây là chánh thời, chánh thời tiết độc nhất cho đời sống Phạm hạnh. Ai được sanh làm người
Khi diệu pháp được giảng
Lại không nắm được thời
Họ vượt qua khỏi thời
Nhiều phi thời được nói
Làm chướng ngại con người
Chỉ năm khi mười họa
Như Lai hiện ở đời
Ðược giáp mặt với Ngài
Rất khó được ở đời
Ðược sanh ra làm người
Và diệu pháp được giảng
Vừa đủ để tinh tấn
Với ai muốn lợi ích
So biết rõ diệu pháp
Lại để thời vượt qua!
Kẻ để thời gian qua
Sầu muộn tại địa ngục
Ở đây ai bỏ rơi
Quyết định tánh diệu pháp
Như kẻ buôn mất của
Sẽ sầu não lâu ngày
Người vô minh bao phủ
Vi phạm đến diệu pháp
Phải chịu đựng lâu ngày
Lưu chuyển trong sanh tử
Ai được sanh làm người
Trong thời pháp khéo giảng
Quá khứ, hiện, vị lai
Làm theo lời Ðạo sư
Nắm được thời ở đời
Cho vô thượng Phạm hạnh
Ai đã bước con đường
Do Như Lai thuyết giảng
Những ai sống chế ngự
Do bậc pháp nhãn dạy
Như đã được thuyết giảng
Bậc Bà con mặt trời
Hãy sống thường chánh niệm
Hộ trì không tham dục
Chặt đứt mọi tùy miên
Không chạy theo ma giới
Các vị ấy ở đời
Ðến được bờ bên kia
Và họ cũng đạt được
Các lậu hoặc đoạn tận.

AN 8.30 A-nu-lâu-đà và những Suy Tư Lớn Anuruddhamahāvitakkasutta

Một thời Đức Phật trú tại xứ Bhaggas ở Đồi Cá Sấu, trong vườn nai ở Rừng Bhesakaḷā. Và vào lúc đó, Tôn giả A-nu-lâu-đà đang trú tại xứ Cetīs trong Công viên Trúc Lâm phía Đông. Bấy giờ, khi Tôn giả A-nu-lâu-đà đang độc cư thiền định, ý nghĩ này khởi lên trong tâm ngài:

“Giáo Pháp này dành cho những người ít mong muốn, không phải cho những người nhiều mong muốn. Nó dành cho người biết đủ, không phải cho những người không biết đủ. Nó dành cho người sống độc cư, không phải cho những người thích sống quần tụ. Nó dành cho người siêng năng, không phải cho người lười biếng. Nó dành cho người có tỉnh thức, không phải cho người thất niệm. Nó dành cho người có thiền định (immersion / sự tập trung sâu của tâm, định tâm), không phải cho người không có thiền định. Nó dành cho người có trí tuệ, không phải cho người vô trí.”

Bấy giờ, Đức Phật biết được Tôn giả A-nu-lâu-đà đang suy nghĩ gì. Nhanh như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại hay co cánh tay đang duỗi ra, Ngài biến mất khỏi vườn nai ở Rừng Bhesakaḷā xứ Bhaggas và xuất hiện trước mặt Tôn giả A-nu-lâu-đà tại Công viên Trúc Lâm phía Đông xứ Cetīs, rồi ngồi vào chỗ đã soạn sẵn. Tôn giả A-nu-lâu-đà đảnh lễ Đức Phật rồi ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ngài:

"Lành thay, lành thay, A-nu-lâu-đà! Thật tốt khi con suy ngẫm về những suy tư này của bậc đại nhân: ‘Giáo Pháp này dành cho những người ít mong muốn, không phải cho những người nhiều mong muốn. Nó dành cho người biết đủ, không phải cho những người không biết đủ. Nó dành cho người sống độc cư, không phải cho những người thích sống quần tụ. Nó dành cho người siêng năng, không phải cho người lười biếng. Nó dành cho người có tỉnh thức, không phải cho người thất niệm. Nó dành cho người có thiền định, không phải cho người không có thiền định. Nó dành cho người có trí tuệ, không phải cho người vô trí.’ Vậy thì, A-nu-lâu-đà, con cũng nên suy ngẫm về suy tư thứ tám sau đây của bậc đại nhân: ‘Giáo Pháp này dành cho những người không thích sự hý luận (proliferating / sự suy diễn, nói nhiều, làm phức tạp vấn đề) và không ưa thích sự hý luận, không phải cho những người thích sự hý luận và ưa thích sự hý luận.’

Trước tiên con sẽ suy ngẫm về tám suy tư này của bậc đại nhân. Sau đó, bất cứ khi nào con muốn, hoàn toàn ly dục, ly bất thiện pháp, con sẽ nhập và an trú sơ thiền (first absorption / tầng thiền thứ nhất), một trạng thái vui vẻ và an vui do ly dục sinh, có tầm (placing the mind / sự hướng tâm đến đối tượng) và tứ (keeping it connected / sự duy trì tâm trên đối tượng).

Con sẽ nhập và an trú nhị thiền (second absorption / tầng thiền thứ hai), một trạng thái vui vẻ và an vui do định sinh, nội tĩnh nhất tâm, không tầm không tứ.

Con sẽ nhập và an trú tam thiền (third absorption / tầng thiền thứ ba), nơi con sẽ thiền với tâm xả (equanimity / sự bình thản, không thiên vị), tỉnh thức và nhận biết, tự thân cảm nhận sự an vui mà các bậc Thánh tuyên bố: ‘Xả niệm trú lạc, người ấy thiền trong an vui.’

Từ bỏ lạc và khổ, chấm dứt hỷ và ưu trước đó, con sẽ nhập và an trú tứ thiền (fourth absorption / tầng thiền thứ tư), không khổ không lạc, với xả niệm thanh tịnh.

Trước tiên con sẽ suy ngẫm về tám suy tư này của bậc đại nhân, và con sẽ đạt được bốn tầng thiền—những pháp thiền định mang lại an vui trong đời này, thuộc về tăng thượng tâm (higher mind / tâm cao thượng, tâm đã được phát triển)—bất cứ khi nào con muốn, không khó khăn hay trở ngại. Sau đó, khi con sống biết đủ, chiếc y phấn tảo của con sẽ giống như một rương đầy y phục nhiều màu sắc đối với một gia chủ hay con của gia chủ. Nó sẽ mang lại cho con sự thích thú, nhẹ nhõm, thoải mái, và để hướng đến Niết Bàn.

Khi con sống biết đủ, những miếng vật thực khất thực của con sẽ giống như cơm nấu từ gạo ngon đã loại bỏ hạt đen, dùng với nhiều loại canh và thức chấm đối với một gia chủ hay con của gia chủ. Nó sẽ mang lại cho con sự thích thú, nhẹ nhõm, thoải mái, và để hướng đến Niết Bàn.

Khi con sống biết đủ, chỗ ở dưới gốc cây của con sẽ giống như một ngôi nhà một tầng, trát vữa trong ngoài, kín gió, cửa đóng then cài, cửa sổ đóng kín đối với một gia chủ hay con của gia chủ. Nó sẽ mang lại cho con sự thích thú, nhẹ nhõm, thoải mái, và để hướng đến Niết Bàn.

Khi con sống biết đủ, chỗ ở dưới gốc cây của con sẽ giống như chiếc giường dài phủ khăn len – có lông xù, màu trắng tinh, hoặc thêu hoa – và trải một tấm da nai tốt, có mái che ở trên và gối đỏ ở hai đầu đối với một gia chủ hay con của gia chủ. Nó sẽ mang lại cho con sự thích thú, nhẹ nhõm, thoải mái, và để hướng đến Niết Bàn.

Khi con sống biết đủ, nước tiểu mục làm thuốc của con sẽ giống như các loại thuốc khác nhau—bơ lỏng, bơ đặc, dầu, mật ong, và mật đường—đối với một gia chủ hay con của gia chủ. Nó sẽ mang lại cho con sự thích thú, nhẹ nhõm, thoải mái, và để hướng đến Niết Bàn. Vậy thì, A-nu-lâu-đà, trong mùa an cư mưa tới, con nên ở lại ngay tại đây, tại xứ Cetīs trong Công viên Trúc Lâm phía Đông."

“Vâng, thưa Thế Tôn,” Tôn giả A-nu-lâu-đà đáp.

Sau khi khuyên dạy Tôn giả A-nu-lâu-đà như vậy, Đức Phật—nhanh như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại hay co cánh tay đang duỗi ra—biến mất khỏi Công viên Trúc Lâm phía Đông xứ Cetīs và xuất hiện trở lại tại vườn nai ở Rừng Bhesakaḷā xứ Bhaggas. Ngài ngồi vào chỗ đã soạn sẵn và gọi các Tỳ kheo: "Này các Tỳ kheo, Ta sẽ dạy các con tám suy tư của bậc đại nhân. Hãy lắng nghe…

Và tám suy tư của bậc đại nhân là gì? Giáo Pháp này dành cho những người ít mong muốn, không phải cho những người nhiều mong muốn. Nó dành cho người biết đủ, không phải cho những người không biết đủ. Nó dành cho người sống độc cư, không phải cho những người thích sống quần tụ. Nó dành cho người siêng năng, không phải cho người lười biếng. Nó dành cho người có tỉnh thức, không phải cho người thất niệm. Nó dành cho người có thiền định, không phải cho người không có thiền định. Nó dành cho người có trí tuệ, không phải cho người vô trí. Nó dành cho những người không thích sự hý luận và không ưa thích sự hý luận, không phải cho những người thích sự hý luận và ưa thích sự hý luận.

‘Giáo Pháp này dành cho những người ít mong muốn, không phải cho những người nhiều mong muốn.’ Đó là những gì Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Một Tỳ kheo ít mong muốn không mong muốn: ‘Mong sao họ biết ta là người ít mong muốn!’ Khi biết đủ, họ không mong muốn: ‘Mong sao họ biết ta là người biết đủ!’ Khi sống độc cư, họ không mong muốn: ‘Mong sao họ biết ta là người sống độc cư!’ Khi siêng năng, họ không mong muốn: ‘Mong sao họ biết ta là người siêng năng!’ Khi có tỉnh thức, họ không mong muốn: ‘Mong sao họ biết ta là người có tỉnh thức!’ Khi có thiền định, họ không mong muốn: ‘Mong sao họ biết ta là người có thiền định!’ Khi có trí tuệ, họ không mong muốn: ‘Mong sao họ biết ta là người có trí tuệ!’ Khi không thích sự hý luận, họ không mong muốn: ‘Mong sao họ biết ta là người không thích sự hý luận!’ ‘Giáo Pháp này dành cho những người ít mong muốn, không phải cho những người nhiều mong muốn.’ Đó là những gì Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

‘Giáo Pháp này dành cho người biết đủ, không phải cho những người không biết đủ.’ Đó là những gì Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Nó dành cho một Tỳ kheo biết đủ với bất kỳ loại y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men cùng vật dụng cho người bệnh nào. ‘Giáo Pháp này dành cho người biết đủ, không phải cho những người không biết đủ.’ Đó là những gì Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

‘Giáo Pháp này dành cho người sống độc cư, không phải cho những người thích sống quần tụ.’ Đó là những gì Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Nó dành cho một Tỳ kheo sống độc cư. Nhưng các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, vua chúa và các vị đại thần của họ, các tu sĩ của các tôn giáo khác và đệ tử của họ đến thăm vị ấy. Với tâm hướng về, xuôi về, nghiêng về sự viễn ly, ẩn dật, và yêu thích sự xuất ly, vị Tỳ kheo đó luôn luôn nói chuyện với mỗi người trong số họ, nhấn mạnh chủ đề về sự từ bỏ. ‘Giáo Pháp này dành cho người sống độc cư, không phải cho những người thích sống quần tụ.’ Đó là những gì Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

‘Giáo Pháp này dành cho người siêng năng, không phải cho người lười biếng.’ Đó là những gì Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Nó dành cho một Tỳ kheo sống với năng lực được khơi dậy để từ bỏ các bất thiện pháp và đón nhận các thiện pháp. Họ mạnh mẽ, kiên trì, không lơi lỏng trong việc phát triển các thiện pháp. ‘Giáo Pháp này dành cho người siêng năng, không phải cho người lười biếng.’ Đó là những gì Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

‘Giáo Pháp này dành cho người có tỉnh thức, không phải cho người thất niệm.’ Đó là những gì Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Nó dành cho một Tỳ kheo có tỉnh thức. Họ có sự tỉnh thức và nhận biết ở mức độ cao nhất, và có thể nhớ và gợi lại những gì đã nói và làm từ lâu. ‘Giáo Pháp này dành cho người có tỉnh thức, không phải cho người thất niệm.’ Đó là những gì Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

‘Giáo Pháp này dành cho người có thiền định, không phải cho người không có thiền định.’ Đó là những gì Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Nó dành cho một Tỳ kheo, hoàn toàn ly dục, ly bất thiện pháp, nhập và an trú sơ thiền… nhị thiền… tam thiền… tứ thiền. ‘Giáo Pháp này dành cho người có thiền định, không phải cho người không có thiền định.’ Đó là những gì Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

‘Giáo Pháp này dành cho người có trí tuệ, không phải cho người vô trí.’ Đó là những gì Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Nó dành cho một Tỳ kheo có trí tuệ. Họ có trí tuệ về sự sinh diệt, một trí tuệ cao thượng, có khả năng thâm nhập, và dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau. ‘Giáo Pháp này dành cho người có trí tuệ, không phải cho người vô trí.’ Đó là những gì Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

‘Giáo Pháp này dành cho những người không thích sự hý luận và không ưa thích sự hý luận, không phải cho những người thích sự hý luận và ưa thích sự hý luận.’ Đó là những gì Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Nó dành cho một Tỳ kheo có tâm hân hoan, vững tin, lắng dịu, và quyết định đối với sự chấm dứt hý luận. ‘Giáo Pháp này dành cho những người không thích sự hý luận và không ưa thích sự hý luận, không phải cho những người thích sự hý luận và ưa thích sự hý luận.’ Đó là những gì Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy."

Sau đó, Tôn giả A-nu-lâu-đà đã an cư mùa mưa tiếp theo ngay tại xứ Cetīs trong Công viên Trúc Lâm phía Đông. Và Tôn giả A-nu-lâu-đà, sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và quyết chí, chẳng bao lâu đã chứng ngộ mục tiêu tối thượng của đời sống phạm hạnh ngay trong đời này. Ngài đã sống, tự mình chứng ngộ bằng tuệ giác mục đích mà vì đó các thiện nam tử chân chính xuất gia từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình.

Ngài hiểu rõ: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.” Và Tôn giả A-nu-lâu-đà trở thành một trong những bậc A La Hán. Và nhân dịp chứng đắc A La Hán quả, ngài đã đọc những câu kệ này:

"Biết được ý nghĩ của tôi,
Bậc Đạo Sư tối thượng trên đời
Đã đến với tôi bằng thân do ý tạo,
Sử dụng thần lực của Ngài.

Ngài dạy tôi nhiều hơn
Những gì tôi đã nghĩ đến.
Đức Phật, người yêu thích sự không hý luận
Đã dạy tôi về sự không hý luận.

Hiểu được lời dạy đó,
Tôi vui vẻ làm theo lời Ngài.
Tôi đã đạt được tam minh (three knowledges / ba loại tuệ giác: túc mạng minh, thiên nhãn minh, lậu tận minh),
Và đã hoàn thành lời dạy của Đức Phật."

(X) (30) Tôn Giả Anuruddha

1. Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Bhagga, tại núi Sumsumàra, rừng Bhesakala, vườn Lộc Uyển. Lúc bấy giờ, Tôn giả Anuruddha (A-nậu-lâu-đà) sống giữa dân chúng Celì, tại Pàcìnavamsadàya, Rồi Tôn giả Anuruddha, trong khi sống độc cư … Thiền tịnh, tâm tư khởi lên như sau: “Pháp này để cho người ít dục, pháp này không phải để cho người nhiều dục; Pháp này để cho người biết đủ, pháp này không phải để cho người không biết đủ; Pháp này để cho người sống thanh vắng, pháp này không phải để cho người ưa hội chúng; Pháp này để cho người tinh cần tinh tấn, pháp này không phải để cho người biếng nhác; Pháp này để cho người trú niệm, pháp này không phải để cho người thất niệm; Pháp này để cho người Thiền định, pháp này không phải để cho người không Thiền định; Pháp này để cho người có trí tuệ, pháp này không phải để cho người ác tuệ”.

2. Rồi Thế Tôn với tâm của mình rõ biết tâm tư của Tôn giả Anuruddha, ví như người lực sĩ duỗi bàn tay đang co lại; hay co lại bàn tay đang duỗi ra; cũng vậy, Thế Tôn biến mất ở giữa dân chúng Bhagga, tại núi Sumsumàra, rừng Bhesakalà, vườn Lộc Uyển, và hiện ra giữa dân chúng Celì, tại Pàcìnavamsadàya, trước mặt Tôn giả Anuruddha. Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Anuruddha đang ngồi một bên:

3. - Lành thay, lành thay, này Anuruddha! Lành thay, này Anuruddha, Thầy đã suy nghĩ đến bảy niệm của bậc Ðại nhân: “Pháp này để cho người ít dục, pháp này không phải để cho người nhiều dục; Pháp này để cho người biết đủ, pháp này không phải để cho người không biết đủ; Pháp này để cho người sống thanh vắng, pháp này không phải để cho người ưa hội chúng; Pháp này để cho người tinh cần tinh tấn, pháp này không phải để cho người biếng nhác; Pháp này để cho người trú niệm, pháp này không phải để cho người thất niệm; Pháp này để cho người Thiền định, pháp này không phải để cho người không Thiền định; Pháp này để cho người có trí tuệ, pháp này không phải để cho người ác tuệ”.

Do vậy, này Anuruddha, hãy suy nghĩ đến niệm thứ tám này của bậc Ðại nhân: “Pháp này để cho người không ưa hý luận, không thích hý luận, Pháp này không phải để cho người ưa hý luận, thích hý luận “.

4. Khi nào, này Anuruddha, Thầy sẽ suy nghĩ đến tám tư niệm này của bậc Ðại nhân, thời nếu Thầy muốn, Thầy sẽ chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ.

5. Khi nào, này Anuruddha, Thầy sẽ suy nghĩ đến tám tư niệm này của bậc Ðại nhân, thời nếu Thầy muốn, diệt tầm diệt tứ, Thầy sẽ chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm.

6. Khi nào, này Anuruddha, khi nào Thầy sẽ suy nghĩ đến tám tư niệm này của bậc Ðại nhân, thời nếu Thầy muốn, Thầy sẽ ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là “xả niệm lạc trú”, chứng và an trú Thiền thứ ba.

7. Khi nào, này Anuruddha, Thầy sẽ suy nghĩ đến tám tư niệm này của bậc Ðại nhân, thời nếu Thầy muốn, Thầy sẽ xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và an trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.

8. Khi nào, này Anuruddha, Thầy sẽ suy nghĩ đến tám tư niệm này của bậc Ðại nhân, khi nào bốn Thiền này thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức, thời này Anuruddha, tấm y lượm từ đống rác lên của Thầy sẽ giống như tủ áo đầy những vả có nhiều màu sắc của người gia chủ hay con người gia chủ, để được sống biết đủ, ưa thích, không có lo âu, được lạc trú, được bước vào Niết-bàn.

9. Khi nào, này Anuruddha, Thầy sẽ suy nghĩ đến tám tư niệm này của bậc Ðại nhân, thời nếu Thầy muốn, khi nào bốn Thiền này thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức, thời này Anuruddha, các món ăn từng miếng Thầy khất thực được sẽ giống như món cơm bằng gạo trắng, các hạt đen đã được lượm sạch, với nhiều loại súp, với nhiều loại đồ ăn của người gia chủ, hay của con người gia chủ, để được sống biết đủ, ưa thích, không có lo âu, được lạc trú, được bước vào Niết-bàn.

10. Khi nào, này Anuruddha, Thầy sẽ suy nghĩ đến tám tư niệm này của bậc Ðại nhân, khi nào bốn Thiền này thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức, thời này Anuruddha, chỗ nằm dưới gốc cây thầy sẽ giống như nhà có nóc nhọn, có trét hồ trong ngoài, cửa được cài then, cửa sổ được đóng lại ngăn chặn gió của người gia chủ, hay của con người gia chủ, để được sống biết đủ, ưa thích, không có lo âu, được lạc trú, được bước vào Niết-bàn.

11. Khi nào, này Anuruddha, Thầy sẽ suy nghĩ đến tám tư niệm này của bậc Ðại nhân, khi nào bốn Thiền này thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức, thời này Anuruddha, giường nằm và chỗ ngồi trải với đệm cỏ của Thầy sẽ giống như ghế dài, nệm trải giường nằm bằng len, chăn len trắng, chăn len thêu bông, nệm bằng da con sơn dương gọi là kadali, tấm thảm với đầu che phía trên, ghế dài có đầu gối chân màu đỏ của các người gia chủ, hay của con người gia chủ, để được sống biết đủ, ưa thích, không có lo âu, được lạc trú, được bước vào Niết-bàn.

12. Khi nào, này Anuruddha, Thầy sẽ suy nghĩ đến tám tư niệm này của bậc Ðại nhân, khi nào bốn Thiền này thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức, thời này Anuruddha, dược phẩm nước tiểu hôi của Thầy sẽ giống như các loại dược phẩm của các người gia chủ, hay của con người gia chủ, như thục tô, sanh tô, dầu, mật, đường bánh, để được sống biết đủ, ưa thích, không có lo âu, được lạc trú, được bước vào Niết-bàn.

13. Vậy này Anuruddha, nhân kỳ an cư mùa mưa sắp đến, hãy trú giữa dân chúng Cetì ở Pàcìnavamsadàya.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Anuruddha vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn sau khi khuyến giáo Tôn giả Anuruddha với lời khuyến giáo này, như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, Ngài biến mất giữa dân chúng Cetì ở Pàcìnavamsadàya và hiện ra giữa dân chúng Bhagga, trên núi Sumsumàra trong rừng Bhesakalà, vườn Lộc Uyển. Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn, sau khi ngồi xuống, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:

14. - Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết tám tư niệm của bậc Ðại nhân co các Thầy. Hãy lắng nghe và khéo tư niệm, Ta sẽ giảng:

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:

− Này các Tỷ-kheo, thế nào là tám tư niệm của bậc Ðại nhân?

15. Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người ít dục, Pháp này không phải để cho người nhiều dục; Này các Tỷ kheo,Pháp này để cho người biết đủ, pháp này không phải để cho người không biết đủ; Này các Tỷ kheo, Pháp này để cho người sống thanh vắng, pháp này không phải để cho người ưa hội chúng; Này các Tỷ kheo,Pháp này để cho người tinh cần tinh tấn, pháp này không phải để cho người biếng nhác; Này các Tỷ kheo, Pháp này để cho người trú niệm, pháp này không phải để cho người nhất niệm; Này các Tỷ kheo,Pháp này để cho người Thiền định, pháp này không phải để cho người không Thiền định; Này các Tỷ kheo, Pháp này để cho người có trí tuệ, Pháp này không phải để cho người ác tuệ; Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người không ưa lý luận, không thích luận hý, Pháp này không phải để cho người ưa lý luận, thích luận hý.

16. Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người ít dục, Pháp này không để cho người có dục lớn”, như vậy đã được nói đến. Do duyên gì được nói như vậy?

17. Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo ít dục không muốn: “Mong người ta biết tôi là ít dục”; biết đủ, không muốn: “Mong người ta biết tôi là biết đủ”; sống viễn ly, không muốn: “Mong người ta biết tôi sống viễn ly”;, tinh cần tinh tấn, không muốn: “Mong người ta biết tôi sống tinh cần tinh tấn”; trú niệm, không muốn: “ Mong người ta biết tôi trú niệm”; có định, không muốn: “Mong người ta biết tôi có định”; có tuệ, không muốn: “Mong người ta biết tôilà người có tuệ “; không thích hý luận, không muốn: “Mong người ta biết tôi không thích hý luận”. Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người ít dục, Pháp này không để cho người có dục lớn”, đã được nói đến như vậy. Do duyên này được nói như vậy.

18. Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người biết đủ, Pháp này không để cho người không biết đủ “, như vậy đã được nói đến. Do duyên gì được nói như vậy?

19. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết đủ với bất cứ vật dụng gì như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người biết đủ, Pháp này không phải để cho người không biết đủ “, đã được nói đến như vậy. Do duyên này được nói như vậy.

20, Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người sống viễn ly, Pháp này không phải để cho người ưa thích hội chúng”, như vậy đã được nói đến. Do duyên gì được nói như vậy?

21. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Với Tỷ-kheo sống viễn ly, có nhiều người đến thăm như Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-Ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, vua chúa, đại thần, các ngoại đạo sư, đệ tử của các ngoại đạo sư. Ở đây, Tỷ-kheo với tâm thuận về viễn ly, hướng về viễn ly, nhập vào viễn ly, trú vào viễn ly, thích thú xuất ly, nói lời hoàn toàn liên hệ đến lánh xa. Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người viễn ly, Pháp này không phải để cho người không ưa hội chúng”, đã được nói đến như vậy. Do duyên này được nói như vậy.

22. Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người tinh cần tinh tấn, Pháp này không phải để cho người biếng nhác”, như vậy đã được nói đến. Do duyên gì được nói như vậy?

23. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống tinh cần tinh tấn, đoạn tận các pháp bất thiện, thành tựu các Pháp thiện, nỗ lực kiên trì, không từ bỏ gánh nặng đối với các thiện pháp. Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người tinh cần tinh tấn, Pháp này không phải để cho người biếng nhác”, đã được nói đến như vậy. Do duyên này được nói như vậy.

24. Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người trú niệm, Pháp này không phải để cho người thất niệm”, như vậy đã được nói đến. Do duyên gì được nói như vậy?

25. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ niệm, thành tựu niệm tuệ tối thắng, ức nhớ tùy niệm những điều đã làm, nói đã lâu. Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người trú niệm, Pháp này không phải để cho người thất niệm”, đã được nói đến như vậy. Do duyên này được nói như vậy.

26. Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người thiền định, Pháp này không phải để cho người không thiền định”, như vậy đã được nói đến. Do duyên gì được nói như vậy?

27. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly ác pháp … chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người thiền định, Pháp này không phải để cho người không thiền định”, đã được nói đến như vậy. Do duyên này được nói như vậy.

28. Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người có trí tuệ, Pháp này không phải để cho người không trí tuệ”, như vậy đã được nói đến. Do duyên gì được nói như vậy?

29. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có trí tuệ, có trí tuệ về sanh diệt, thành tựu Thánh thể nhập (quyết trạch), đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau. Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người có trí tuệ, Pháp này không phải để cho người không trí tuệ”, đã được nói đến như vậy. Do duyên này được nói như vậy

30. Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người không ưa hý luận, không thích hý luận, Pháp này không phải để cho người ưa hý luận, thích hý luận”, như vậy đã được nói đến. Do duyên gì được nói như vậy?

31. Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo đối với đoạn diệt hý luận, tâm được phấn chấn, tịnh tín, an trú, hướng đến. Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người không ưa hý luận, không thích hý luận, Pháp này không phải để cho người ưa hý luận, thích hý luận”, đã được nói đến như vậy. Do duyên này được nói như vậy.

32. Rồi Tôn giả Anuruddha, mùa mưa an cư đến, đến trú ở giữa dân chúng Cetì, tại Pacìnavamsadàya. Rồi Tôn giả Anuruddha sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu, do mục đích gì, các Thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, tức là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh ngay trong hiện tại, vị ấy tự mình nói thắng trí, chứng ngộ, chứng nhập và an trú. Vị ấy chứng rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không có trở lui lại trạng thái này nữa” và Tôn giả Anuruddha trở thành một vị A-la-hán nữa. Rồi Tôn Giả Anuruđha chứng được A-la-hán ngay trong thời gian ấy, nói lên những bài kệ này:

Thế gian vô thượng sư
Rõ biết tư tưởng ta
Với thân do ý tạo
Thần thông đến với ta
Tùy theo ta nghĩ gì
Ngài thuyết rõ tất cả
Phật không ưa hý luận
Ngài thuyết, không hý luận
Ngộ pháp, ta hoan hỷ
Trú trong giáo pháp ngài
Ba minh đã đạt được
Giáo pháp Phật làm xong.