Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về Bố Thí

AN 8.31 Bố Thí (1) Paṭhamadānasutta

“Này các Tỷ kheo, có tám cách bố thí này. Tám cách nào? Một người có thể bố thí sau khi xúc phạm người nhận. Hoặc họ bố thí vì sợ hãi. Hoặc họ bố thí với suy nghĩ, ‘Họ đã cho mình.’ Hoặc họ bố thí với suy nghĩ, ‘Họ sẽ cho mình.’ Hoặc họ bố thí với suy nghĩ, ‘Bố thí là tốt.’ Hoặc họ bố thí với suy nghĩ, ‘Ta nấu ăn, họ thì không. Sẽ không phải nếu ta không cho họ.’ Hoặc họ bố thí với suy nghĩ, ‘Khi bố thí món này, ta sẽ có tiếng tốt.’ Hoặc họ bố thí với suy nghĩ, ‘Đây là sự trang nghiêm và vật trợ cho tâm (adornment and requisite for the mind / vật trang điểm và vật dụng cần thiết cho tâm).’ Đây là tám cách bố thí.”

IV. Phẩm Bố Thí

(I) (31) Bố Thí (1)

1. - Này các Tỷ-kheo, có tám bố thí này. Thế nào là tám?

2. Vì có người đến, nên bố thí; Vì sợ hãi, nên bố thí; Vì nghĩ rằng: “Người ấy đã cho ta, nên bố thí; Vì nghĩ rằng: “Người ấy sẽ cho ta, nên bố thí; Vì nghĩ rằng: “Bố thí là tốt”, nên bố thí; Vì nghĩ rằng: “Ta nấu, những người này không nấu. Thật Ta không xứng đáng là người nấu lại không cho người không nấu” nên bố thí; Vì nghĩ rằng: “Do ta cho bố thí này, nên tiếng tốt được truyền đi” nên bố thí; Vì trang nghiêm tâm, trang bị tâm, nên bố thí. Này các Tỷ-kheo, có tám bố thí này.

AN 8.32 Bố Thí (2) Dutiyadānasutta

“Niềm tin, xấu hổ và sợ điều ác, và bố thí thiện xảo
là những phẩm chất người chân chánh noi theo.
Vì đây, họ nói, là con đường của chư thiên,
dẫn đến cõi trời.”

(II) (32) Bố Thí (2)

Tín, tàm và thiện thí Những pháp thiện sĩ cầu Ðường này gọi Thiện đạo Ðường này đi Thiên giới

AN 8.33 Lý Do Bố Thí Dānavatthusutta

“Này các Tỷ kheo, có tám lý do để bố thí này. Tám lý do nào? Một người có thể bố thí vì thiên vị, hoặc thù địch, hoặc ngu si, hoặc nhút nhát. Hoặc họ bố thí với suy nghĩ, ‘Việc bố thí đã được cha và ông nội ta thực hành. Sẽ không phải nếu ta từ bỏ truyền thống gia đình này.’ Hoặc họ bố thí với suy nghĩ, ‘Sau khi ta bố thí món này, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, ta sẽ được tái sinh ở một nơi tốt đẹp, một cõi trời.’ Hoặc họ bố thí với suy nghĩ, ‘Khi bố thí món này, tâm ta trở nên trong sáng, và ta trở nên vui vẻ và hân hoan.’ Hoặc họ bố thí với suy nghĩ, ‘Đây là sự trang nghiêm và vật trợ cho tâm.’ Đây là tám lý do để bố thí.”

(III) (33) Căn Bản Ðể Bố Thí

1. - Này các Tỷ-kheo, có tám căn bản để bố thí. Thế nào là tám?

2. Vì lòng dục nên bố thí; vì sân hận nên bố thí; vì ngu si nên bố thí; vì sợ hãi nên bố thí; vì nghĩ rằng: “Trước tổ tiên đã bố thí, trước đã làm. Ta không xứng đáng là người để truyền thống này bị bỏ phế” nên bố thí; vì nghĩ rằng: “Sau khi cho bố thí này, khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh lên thiện phú, Thiên giới, cõi đời này “nên bố thí. Vì nghĩ rằng: “Khi ta bố thí này, tâm được tịnh tín, do hân hoan, hỷ được sanh” nên bố thí. Ðể trang nghiêm tâm, trang bị tâm, nên bố thí.

Này các Tỷ-kheo, có tám căn bản để bố thí này.

AN 8.34 Mảnh Ruộng Khettasutta

“Này các Tỷ kheo, khi một mảnh ruộng có tám yếu tố, hạt giống gieo vào đó không mang lại nhiều kết quả, nhiều lợi ích, hay nhiều năng suất. Tám yếu tố đó là gì? Đó là khi một mảnh ruộng có gò và rãnh. Nó có đá và sỏi. Nó bị nhiễm mặn. Nó không có luống cày sâu. Và nó không được trang bị cửa dẫn nước vào, cửa thoát nước ra, kênh mương thủy lợi, và bờ bao. Khi một mảnh ruộng có tám yếu tố này, hạt giống gieo vào đó không mang lại nhiều kết quả, nhiều lợi ích, hay nhiều năng suất.”

“Cũng vậy, khi một Sa môn hay Bà la môn có tám yếu tố, vật cúng dường cho họ không mang lại nhiều kết quả, nhiều lợi ích, nhiều phước báu, hay nhiều sự dồi dào. Tám yếu tố đó là gì? Đó là khi một Sa môn hay Bà la môn có tà kiến (wrong view / thấy biết sai lầm), tà tư duy (wrong thought / suy nghĩ sai lầm), tà ngữ (wrong speech / lời nói sai lầm), tà nghiệp (wrong action / hành động sai lầm), tà mạng (wrong livelihood / nuôi mạng sai lầm), tà tinh tấn (wrong effort / cố gắng sai lầm), tà niệm (wrong mindfulness / sự tỉnh thức sai lầm), và tà định (wrong immersion / sự tập trung sai lầm). Khi một Sa môn hay Bà la môn có tám yếu tố này, vật cúng dường cho họ không mang lại nhiều kết quả, nhiều lợi ích, nhiều phước báu, hay nhiều sự dồi dào.”

“Khi một mảnh ruộng có tám yếu tố, hạt giống gieo vào đó mang lại rất nhiều kết quả, nhiều lợi ích, và nhiều năng suất. Tám yếu tố đó là gì? Đó là khi một mảnh ruộng không có gò và rãnh. Nó không có đá và sỏi. Nó không bị nhiễm mặn. Nó có luống cày sâu. Và nó được trang bị cửa dẫn nước vào, cửa thoát nước ra, kênh mương thủy lợi, và bờ bao. Khi một mảnh ruộng có tám yếu tố này, hạt giống gieo vào đó mang lại rất nhiều kết quả, nhiều lợi ích, và nhiều năng suất.”

“Cũng vậy, khi một Sa môn hay Bà la môn có tám yếu tố, vật cúng dường cho họ mang lại rất nhiều kết quả, nhiều lợi ích, nhiều phước báu, và nhiều sự dồi dào. Tám yếu tố đó là gì? Đó là khi một Sa môn hay Bà la môn có chánh kiến (right view / thấy biết đúng đắn), chánh tư duy (right thought / suy nghĩ đúng đắn), chánh ngữ (right speech / lời nói đúng đắn), chánh nghiệp (right action / hành động đúng đắn), chánh mạng (right livelihood / nuôi mạng đúng đắn), chánh tinh tấn (right effort / cố gắng đúng đắn), chánh niệm (right mindfulness / sự tỉnh thức đúng đắn), và chánh định (right immersion / sự tập trung đúng đắn). Khi một Sa môn hay Bà la môn có tám yếu tố này, vật cúng dường cho họ mang lại rất nhiều kết quả, nhiều lợi ích, nhiều phước báu, và nhiều sự dồi dào.”

Khi ruộng đất tuyệt hảo,
và hạt giống gieo vào cũng tuyệt hảo,
và mưa thuận gió hòa cũng tuyệt hảo,
mùa màng ngũ cốc sẽ tuyệt hảo.

Không thất thoát mùa màng là tuyệt hảo,
sự tăng trưởng của nó tuyệt hảo,
sự chín muồi của nó tuyệt hảo,
và quả của nó cũng tuyệt hảo.

Cũng vậy, khi bạn cúng dường thực phẩm tuyệt hảo
đến những người có giới hạnh tuyệt hảo,
điều đó dẫn đến nhiều sự tuyệt hảo,
vì những gì bạn đã làm là tuyệt hảo.

Vậy nếu một người muốn sự tuyệt hảo,
hãy để họ vượt trội trong việc này.
Bạn nên thường xuyên gần gũi những người có trí tuệ tuyệt hảo,
để sự tuyệt hảo của chính bạn sẽ phát triển.

Vượt trội trong minh và hạnh,
và có tâm tuyệt hảo,
bạn thực hiện những hành động tuyệt hảo,
và gặt hái những lợi ích tuyệt hảo.

Thực sự biết rõ thế gian,
và đã đạt được thấy biết tuyệt hảo,
người có tâm vượt trội tiến bước,
nương tựa vào sự tuyệt hảo của con đường.

Rũ bỏ mọi cấu uế,
và đạt được sự tịch diệt tuyệt hảo,
bạn được giải thoát khỏi mọi khổ đau:
đây là sự tuyệt hảo hoàn toàn."

(IV) (34) Thửa Ruộng

1.- Này các Tỷ-kheo, hột giống được gieo vào thửa ruộng thành tựu tám chi phần được xem là không quả lớn, không vị ngọt lớn, không phải địa điểm tăng thịnh. Thế nào là thành tựu tám chi phần?

2. Này các Tỷ-kheo, ở đây thửa ruộng lồi lên lõm xuống, đầy đá và sạn, đất mặn, không có bề sâu, không có chỗ nước chảy ra, không có chỗ nước chảy vào, không có nước chảy, không có bờ đê. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hột giống được gieo vào thửa ruộng thành tựu được tám chi phần được xem là không quả lớn, không vị ngọt lớn, không phải địa điểm tăng thịnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, bố thí giữa những Sa-môn, Bà-la-môn thành tựu tám chi phần, không có quả lớn, không lợi ích lớn, không có rung cảm lớn. Thế nào là thành tựu tám chi phần?

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Sa-môn, các Bà-la-môn có tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định. Như vậy, này các Tỷ-kheo, bố thí giữa những Sa-môn, Bà-la-môn thành tựu tám chi phần, không có quả lớn, không lợi ích lớn, không có rung cảm lớn.

4. Này các Tỷ-kheo, hột giống được gieo vào thửa ruộng thành tựu tám chi phần được xem là có quả lớn, có vị ngọt lớn, là địa điểm tăng thịnh. Thế nào là thành tựu tám chi phần?

5. Này các Tỷ-kheo, ở đây thửa ruộng không lồi lên lõm xuống, không có đầy đá và sạn, không có đất mặn, có bề sâu, có chỗ nước chảy ra, có chỗ nước chảy vào, có nước chảy, có bờ đê. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hột giống được gieo vào thửa ruộng thành tựu tám chi phần được xem là có quả lớn, có vị ngọt lớn, là địa điểm tăng thịnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, bố thí giữa những Sa-môn, Bà-la-môn thành tựu tám chi phần, có quả lớn, lợi ích lớn, có rực rỡ lớn, có rung cảm lớn. Thế nào là thành tựu tám chi phần?

6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Sa-môn, các Bà-la-môn có chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Như vậy, này các Tỷ-kheo, bố thí giữa những Sa-môn, Bà-la-môn thành tựu tám chi phần, có quả lớn, lợi ích lớn, có rực rỡ lớn, có rung cảm lớn. Khi ruộng được đầy đủ
Hột giống gieo đầy đủ
Khi mưa xuống đầy đủ
Lúa gặt được đầy đủ
Tai họa không có mặt
Tăng trưởng được đầy đủ
Rộng lớn được đầy đủ
Kết quả được đầy đủ
Cũng vậy, sự bố thí
Giữa những người đủ giới
Và vật liệu bố thí
Cũng được sắm đầy đủ
Ðưa đến sự đầy đủ
Vì sở hành đầy đủ
Vậy ai muốn đầy đủ
Phải tự mình đầy đủ
Phục vụ người đủ tuệ
Như vậy thành công đủ
Ðầy đủ trí và đức
Với tâm được đầy đủ
Làm nghiệp được đầy đủ
Lợi ích được đầy đủ
Như thật biết cuộc đời
Ðạt được kiến đầy đủ
Ðường đầy đủ đi đến
Tiến đến ý đầy đủ
Vất bỏ mọi cấu uế
Ðạt Niết-bàn cụ túc
Giải thoát mọi khổ đau
Tức đầy đủ vẹn toàn.

AN 8.35 Tái Sinh Do Bố Thí Dānūpapattisutta

“Này các Tỷ kheo, có tám sự tái sinh do bố thí này. Tám sự nào?”

“Thứ nhất, có người cúng dường cho các Sa môn hay Bà la môn những thứ như đồ ăn, thức uống, y phục, xe cộ; tràng hoa, hương liệu, và vật trang điểm; và giường, nhà cửa, và đèn đuốc. Bất cứ thứ gì họ cho đi, họ đều mong cầu được đền đáp. Họ thấy một vị Sát đế lỵ, Bà la môn, hay gia chủ giàu có đang vui hưởng, được cung phụng và thỏa mãn với năm loại dục lạc (sensual stimulation / sự kích thích giác quan, niềm vui giác quan). Họ khởi lên ý nghĩ: ‘Mong sao, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, ta được tái sinh cùng với các vị Sát đế lỵ, Bà la môn, hay gia chủ giàu có!’ Họ an trú vào ý nghĩ đó, làm cho nó vững chắc, và phát triển nó. Vì họ đã an trú vào điều thấp kém và không phát triển thêm, ý nghĩ đó dẫn đến tái sinh ở đó. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sinh cùng với các vị Sát đế lỵ, Bà la môn, hay gia chủ giàu có. Nhưng Ta nói rằng điều này chỉ dành cho những người có giới hạnh, không phải cho người không có giới hạnh. Ước nguyện trong tâm của một người có giới hạnh thành tựu là nhờ sự trong sạch của họ.”

“Tiếp theo, có người cúng dường cho các Sa môn hay Bà la môn… Bất cứ thứ gì họ cho đi, họ đều mong cầu được đền đáp. Và họ đã nghe: ‘Chư thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương sống lâu, xinh đẹp, và rất an vui.’ Họ khởi lên ý nghĩ: ‘Mong sao, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, ta được tái sinh cùng với chư thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương!’ … Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sinh cùng với chư thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương. Nhưng Ta nói rằng điều này chỉ dành cho những người có giới hạnh, không phải cho người không có giới hạnh. Ước nguyện trong tâm của một người có giới hạnh thành tựu là nhờ sự trong sạch của họ.”

“Tiếp theo, có người cúng dường cho các Sa môn hay Bà la môn… Bất cứ thứ gì họ cho đi, họ đều mong cầu được đền đáp. Và họ đã nghe: ‘Chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba (Đao Lợi)…’”

“‘Chư thiên ở cõi Dạ Ma…’”

“‘Chư thiên ở cõi Đâu Suất (Hoan Hỷ)…’”

“‘Chư thiên ở cõi Hóa Lạc…’”

“‘Chư thiên ở cõi Tha Hóa Tự Tại sống lâu, xinh đẹp, và rất an vui.’ Họ khởi lên ý nghĩ: ‘Mong sao, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, ta được tái sinh cùng với chư thiên ở cõi Tha Hóa Tự Tại!’ Họ an trú vào ý nghĩ đó, làm cho nó vững chắc, và phát triển nó. Vì họ đã an trú vào điều thấp kém và không phát triển thêm, ý nghĩ đó dẫn đến tái sinh ở đó. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sinh cùng với chư thiên ở cõi Tha Hóa Tự Tại. Nhưng Ta nói rằng điều này chỉ dành cho những người có giới hạnh, không phải cho người không có giới hạnh. Ước nguyện trong tâm của một người có giới hạnh thành tựu là nhờ sự trong sạch của họ.”

“Tiếp theo, có người cúng dường cho các Sa môn hay Bà la môn những thứ như đồ ăn, thức uống, y phục, xe cộ; tràng hoa, hương liệu, và vật trang điểm; và giường, nhà cửa, và đèn đuốc. Bất cứ thứ gì họ cho đi, họ đều mong cầu được đền đáp. Và họ đã nghe: ‘Chư thiên ở cõi Phạm Chúng Thiên sống lâu, xinh đẹp, và rất an vui.’ Họ khởi lên ý nghĩ: ‘Mong sao, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, ta được tái sinh cùng với chư thiên ở cõi Phạm Chúng Thiên!’ Họ an trú vào ý nghĩ đó, làm cho nó vững chắc, và phát triển nó. Vì họ đã an trú vào điều thấp kém và không phát triển thêm, ý nghĩ đó dẫn đến tái sinh ở đó. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sinh cùng với chư thiên ở cõi Phạm Chúng Thiên. Nhưng Ta nói rằng điều này chỉ dành cho những người có giới hạnh, không phải cho người không có giới hạnh. Và cho những người không còn tham ái, không phải cho những người còn tham ái. Ước nguyện trong tâm của một người có giới hạnh thành tựu là nhờ sự không còn tham ái của họ.”

“Đây là tám sự tái sinh do bố thí.”

(V) (35) Thọ Sanh Do Bố Thí

1. - Này các Tỷ-kheo, có tám thọ sanh do bố thí. Thế nào là tám?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn với đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, dầu thoa, đồ nằm, trú xứ, đèn đuốc. Người ấy bố thí và mong hưởng quả. Thấy các Sát-đế-lỵ đại phú hay các Bà-la-môn đại phú, hay các gia chủ đại phú, sung túc, đầy đủ, thọ hưởng năm dục trưởng dưỡng, người ấy suy nghĩ như sau: “Mong rằng, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với Sát-đế-lỵ đại phú, hay với Bà-la-môn đại phú, hay với gia chủ đại phú “. Người ấy móng tâm như vậy, trú tâm như vậy, tu tâm như vậy, tâm người ấy hướng đến hạ liệt, không tu tập hướng thượng, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với Sát-đế-lỵ đại phú, hay với Bà-la-môn đại phú, hay với gia chủ đại phú. Ta nói rằng: “Người ấy là người giữ giới, không phải là người ác giới”. Này các Tỷ-kheo, người giữ giới thành công, vì tâm hướng đến thanh tịnh.

3-4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn với đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, dầu thoa, đồ nằm, trú xứ, đèn đuốc. Người ấy bố thí và mong hưởng qua. Nghe rằng: “Bốn Thiên vương thiên sống lâu, có dung sắc, được nhiều an lạc”, người ấy suy nghĩ như sau: “Mong rằng khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên ở Bốn Thiên vương … với chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba … với chư Thiên ở cõi Trời Dạ-ma … với chư Thiên ở cõi Trời Ðâu-xuất … với chư Thiên ở cõi Trời Hóa lạc thiên… với chư Thiên ở cõi Trời Tha hóa Tự tại thiên … “Người ấy móng tâm như vậy, trú tâm như vậy, tu tâm như vậy, tâm người ấy hướng đến hạ liệt, không tu tập hướng thượng, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên ở cõi Bốn thiên vương … ở cõi Tha hóa Tự tại thiên, hay với Bà-la-môn đại phú, hay với gia chủ đại phú. Ta nói rằng: “Người ấy là người giữ giới, không phải là người ác giới”. Này các Tỷ-kheo, người giữ giới thành công, vì tâm hướng đến thanh tịnh.

5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người bố thí cho Sa-môn, Bà-la-môn với đồ ăn, đồ uống… Nghe rằng: “: “Chư Thiên ở Phạm chúng thiên sống lâu, có dung sắc, được nhiều an lạc”, người ấy suy nghĩ như sau: “Mong rằng…” …hay với gia chủ đại phú. Ta nói rằng: “Người ấy là người không giữ giới, không phải là người ác giới, là người ly tham, không phải là người có tham”. Này các Tỷ-kheo, người giữ giới thành công, vì tâm hướng đến thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, người giữ giới thành công, vì tâm hướng đến ly tham. Này các Tỷ-kheo, tám pháp này là tám pháp thọ sanh do bố thí.

AN 8.36 Nền Tảng Tạo Phước Puññakiriyavatthusutta

“Này các Tỷ kheo, có ba nền tảng tạo phước (grounds for making merit / cơ sở để làm việc phước thiện) này. Ba nền tảng nào? Bố thí, giới đức(ethical conduct / hành vi đạo đức), và thiền định (meditation / sự phát triển tâm) đều là nền tảng tạo phước.”

“Thứ nhất, có người đã thực hành một ít việc bố thí và giới đức làm nền tảng tạo phước, nhưng họ chưa đạt đến thiền định làm nền tảng tạo phước. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sinh giữa loài người kém may mắn.”

“Tiếp theo, có người đã thực hành một mức độ vừa phải việc bố thí và giới đức làm nền tảng tạo phước, nhưng họ chưa đạt đến thiền định làm nền tảng tạo phước. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sinh giữa loài người sung túc.”

“Tiếp theo, có người đã thực hành nhiều việc bố thí và giới đức làm nền tảng tạo phước, nhưng họ chưa đạt đến thiền định làm nền tảng tạo phước. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sinh cùng với chư thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương. Ở đó, chính Tứ Đại Thiên Vương đã thực hành việc bố thí và giới đức làm nền tảng tạo phước ở mức độ lớn hơn các vị thiên khác. Vì vậy, họ vượt trội hơn các vị ấy về mười phương diện: tuổi thọ ở cõi trời, sắc đẹp, an vui, danh tiếng, quyền lực, cảnh sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, và xúc chạm.”

“Tiếp theo, có người đã thực hành nhiều việc bố thí và giới đức làm nền tảng tạo phước, nhưng họ chưa đạt đến thiền định làm nền tảng tạo phước. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sinh cùng với chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba. Ở đó, Đế Thích, vua của chư thiên, đã thực hành việc bố thí và giới đức làm nền tảng tạo phước ở mức độ lớn hơn các vị thiên khác. Vì vậy, ngài vượt trội hơn các vị ấy về mười phương diện…”

“Tiếp theo, có người đã thực hành nhiều việc bố thí và giới đức làm nền tảng tạo phước, nhưng họ chưa đạt đến thiền định làm nền tảng tạo phước. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sinh cùng với chư thiên ở cõi Dạ Ma. Ở đó, vị thiên Suyāma (Dạ Ma Thiên Vương) đã thực hành việc bố thí và giới đức làm nền tảng tạo phước ở mức độ lớn hơn các vị thiên khác. Vì vậy, ngài vượt trội hơn các vị ấy về mười phương diện…”

“Tiếp theo, có người đã thực hành nhiều việc bố thí và giới đức làm nền tảng tạo phước, nhưng họ chưa đạt đến thiền định làm nền tảng tạo phước. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sinh cùng với chư thiên ở cõi Đâu Suất (Hoan Hỷ). Ở đó, vị thiên Santusita (Đâu Suất Đà Thiên Vương) đã thực hành việc bố thí và giới đức làm nền tảng tạo phước ở mức độ lớn hơn các vị thiên khác. Vì vậy, ngài vượt trội hơn các vị ấy về mười phương diện…”

“Tiếp theo, có người đã thực hành nhiều việc bố thí và giới đức làm nền tảng tạo phước, nhưng họ chưa đạt đến thiền định làm nền tảng tạo phước. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sinh cùng với chư thiên ở cõi Hóa Lạc. Ở đó, vị thiên Sunimmita (Hóa Lạc Thiên Vương) đã thực hành việc bố thí và giới đức làm nền tảng tạo phước ở mức độ lớn hơn các vị thiên khác. Vì vậy, ngài vượt trội hơn các vị ấy về mười phương diện…”

“Tiếp theo, có người đã thực hành nhiều việc bố thí và giới đức làm nền tảng tạo phước, nhưng họ chưa đạt đến thiền định làm nền tảng tạo phước. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sinh cùng với chư thiên ở cõi Tha Hóa Tự Tại. Ở đó, vị thiên Vasavattī (Tha Hóa Tự Tại Thiên Vương) đã thực hành việc bố thí và giới đức làm nền tảng tạo phước ở mức độ lớn hơn các vị thiên khác. Vì vậy, ngài vượt trội hơn các vị ấy về mười phương diện: tuổi thọ ở cõi trời, sắc đẹp, an vui, danh tiếng, quyền lực, cảnh sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, và xúc chạm.”

“Đây là ba nền tảng tạo phước.”

(VI) (36) Phước Nghiệp Sự

1.- Này các Tỷ-kheo, có ba căn bản làm phước. Thế nào là ba?

2. Căn bản làm phước do bố thí, căn bản làm phước do giới đức, căn bản làm phước do tu tập.

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người căn bản làm phước do bố thí trên một quy mô nhỏ, căn bản làm phước do giới đức trên một quy mô nhỏ, căn bản làm phước do tu tập trên một quy mô nhỏ. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm người không may mắn.

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người căn bản làm phước do bố thí trên một quy mô vừa, căn bản làm phước do giới đức trên một quy vừa, không đạt được căn bản làm phước do tu tập. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh làm người có may mắn.

5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người căn bản làm phước do bố thí trên một quy mô to lớn, căn bản làm phước do giới đức trên một quy mô to lớn, nhưng không đạt được căn bản làm phước do tu tập. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên ở Tam thập Tam thiên. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do bố thí, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do giới đức, vượt qua Bốn thiên vương trên mười điểm: tuổi thọ chư Thiên, dung sắc chư Thiên, an lạc chư Thiên, danh tiếng chư Thiên, Tăng thượng lực chư Thiên, thiên sắc, thiên hương, thiên vị, thiên xúc.

6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người căn bản làm phước do bố thí trên một quy mô to lớn, căn bản làm phước do giới đức trên một quy mô to lớn, nhưng không đạt được căn bản làm phước do tu tập. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên ở Tam thập Tam thiên. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do bố thí, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do giới đức, vượt qua chư Thiên ở Tàvatimsa trên mười điểm: tuổi thọ chư Thiên, dung sắc chư Thiên, an lạc chư Thiên, danh tiếng chư Thiên, Tăng thượng lực chư Thiên, thiên sắc, thiên hương, thiên vị, thiên xúc.

7. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người căn bản làm phước do bố thí trên một quy mô to lớn, căn bản làm phước do giới đức trên một quy mô to lớn, nhưng không đạt được căn bản làm phước do tu tập. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên ở Yàma thiên. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Thiên tử Suyàma sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do bố thí, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do giới đức, vượt qua chư Thiên ở Yàma trên mười điểm: tuổi thọ chư Thiên, … thiên vị, thiên xúc. 8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người căn bản làm phước do bố thí trên một quy mô to lớn, căn bản làm phước do giới đức trên một quy mô to lớn, nhưng không đạt được căn bản làm phước do tu tập. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên ở Tusità thiên. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Thiên tử Santusità, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do bố thí, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do giới đức, vượt qua chư Thiên ở Tusità trên mười điểm: tuổi thọ chư Thiên, … thiên vị, thiên xúc.

9. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người căn bản làm phước do bố thí trên một quy mô to lớn, căn bản làm phước do giới đức trên một quy mô to lớn, nhưng không đạt được căn bản làm phước do tu tập. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên ở Hóa lạc thiên. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Thiên tử Sunimmita, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do bố thí, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do giới đức, vượt qua chư Thiên ở Hóa lạc thiên trên mười điểm: tuổi thọ chư Thiên, … thiên vị, thiên xúc.

10. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người căn bản làm phước do bố thí trên một quy mô to lớn, căn bản làm phước do giới đức trên một quy mô to lớn, nhưng không đạt được căn bản làm phước do tu tập. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên ở Tha hóa tự tại thiên. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Thiên tử Vasavattì, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do bố thí, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do giới đức, vượt qua chư Thiên ở Tha hóa Tự tại thiên trên mười điểm: tuổi thọ chư Thiên, … thiên vị, thiên xúc.

Này các Tỷ-kheo, có ba căn bản phước nghiệp này.

AN 8.37 Bố Thí Của Bậc Chân Nhân Sappurisadānasutta

“Này các Tỷ kheo, có tám cách bố thí của bậc chân nhân này. Tám cách nào? Vật bố thí của họ trong sạch, chất lượng tốt, đúng thời, thích hợp, có trí tuệ, và thường xuyên. Khi bố thí, tâm họ tín thành, và sau đó họ hân hoan. Đây là tám cách bố thí của bậc chân nhân.”

Họ bố thí những vật trong sạch, chất lượng tốt, và đúng thời
gồm đồ ăn thức uống thích hợp
thường xuyên đến những người tu hành
là những ruộng phước màu mỡ.

Họ không bao giờ hối tiếc
khi cho đi nhiều những thứ vật chất.
Người có trí tán thán
việc bố thí như vậy.

Người có trí tuệ cúng dường như thế,
có niềm tin, với tâm xả ly.
Một người khôn ngoan như vậy được tái sinh
trong một thế giới an vui, đẹp đẽ."

(VII) (37) Người Chân Nhân (1)

1. - Này các Tỷ-kheo, có tám bố thí này của bậc chân nhân. Thế nào là tám?

2. Cho vật trong sạch; cho vật thù diệu; cho đúng thời; cho vật thích ứng; cho với sự cẩn thận; cho luôn luôn; tâm cho được tịnh tín; sau khi cho được hoan hỷ.

Này các Tỷ-kheo, có tám bố thí này của bậc chân nhân:

Trong sạch và thù diệu
Ðúng thời và thích ứng
Ðồ uống và đồ ăn
Luôn luôn làm bố thí
Trong các ruộng tốt lành
Sống theo đời Phạm hạnh
Không có gì hối tiếc
Bố thí nhiều tài vật
Những bố thí như vậy
Ðược bậc trí tán thán
Bậc Trí thí như vậy
Với tâm tín, giải thoát
Không hại, tâm an lạc
Bậc trí sanh ở đời.

AN 8.38 Bậc Chân Nhân Sappurisasutta

“Này các Tỷ kheo, một bậc chân nhân sinh ra trong một gia đình vì lợi ích, phúc lợi, và an vui của nhiều người. Vì lợi ích, phúc lợi, và an vui của cha mẹ; con cái và vợ chồng; người hầu kẻ hạ, công nhân, và nhân viên; bạn bè và đồng nghiệp; tổ tiên đã khuất; nhà vua; chư thiên; và các Sa môn cùng Bà la môn.”

“Ví như một đám mây mưa lớn, nuôi dưỡng tất cả mùa màng vì lợi ích, phúc lợi, và an vui của nhiều người. Cũng vậy, một bậc chân nhân sinh ra trong một gia đình vì lợi ích, phúc lợi, và an vui của nhiều người. …”

Người trí sống tại gia
mang lại lợi ích cho nhiều người.
Dù ngày hay đêm, họ không lơ là
cha mẹ và tổ tiên của mình.
Họ tôn kính các vị ấy theo đúng Chánh pháp,
tưởng nhớ những gì các vị đã làm.

Người có niềm tin vững chắc và bản tánh tốt
tôn kính những người xuất gia không nhà,
những người tu hành khất thực,
biết rõ những phẩm chất thiện tâm của họ.

Tốt cho vua, tốt cho chư thiên,
và tốt cho bà con bạn bè.

Thực vậy, họ tốt cho tất cả mọi người,
vững vàng trong Chánh pháp.
Thoát khỏi vết nhơ của sự keo kiệt,
họ sẽ hưởng một thế giới ân phước."

(VIII) (38) Người Chân Nhân (2)

1. - Này các Tỷ-kheo, bậc chân nhân sinh ra trong gia đình nào, đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho nhiều người; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho cha mẹ; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho vợ con; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho người phục vụ, người làm công; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho bạn bè thân hữu; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho các hương linh đã mất; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho vua chúa; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho Sa-môn, Bà-la-môn.

2. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cơn mưa lớn làm cho các loại mùa màng đều thành tựu đầy đủ, đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho nhiều người. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Chân nhân sinh ra trong gia đình nào, đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho nhiều người; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho cha mẹ; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho vợ con; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho người phục vụ, người làm công; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho bạn bè thân hữu; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho các hương linh đã mất; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho vua chúa; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho Sa-môn, Bà-la-môn.

Vì lợi ích nhiều người
Bậc trí sống gia đình
Không mệt mỏi ngày đêm
Cúng dường thật đúng pháp
Mẹ cha và tổ tiên
Nhớ ngày trước đã làm
Ðối xuất gia, không nhà
Kính lễ bậc Phạm hạnh
Tin vững trú, cúng dường
Biến pháp, khéo xử sự
Là người đem lợi ích
Cho vua, cho chư Thiên
Là người đem lợi ích
Cho bà con, bè bạn
Là người đem lợi ích
Cho tất cả mọi người
Khéo an trú diệu pháp
Nhiếp xan tham cấu uế
Hưởng cuộc đời hạnh phúc.

AN 8.39 Phước Báu Tràn Đầy Abhisandasutta

“Này các Tỷ kheo, có tám loại phước báu tràn đầy, thiện lành tràn đầy (overflowing merit, overflowing goodness / công đức dồi dào, điều tốt lành dồi dào) này. Chúng nuôi dưỡng an vui và đưa đến cõi trời, chín muồi trong an vui và dẫn đến cõi trời. Chúng dẫn đến điều đáng ưa thích, đáng mong muốn, đáng hài lòng, đến phúc lợi và an vui. Tám loại nào?”

“Thứ nhất, một thánh đệ tử (noble disciple / người học trò cao quý của Phật) đã quy y Phật. Đây là loại phước báu tràn đầy thứ nhất…”

“Hơn nữa, một thánh đệ tử đã quy y Pháp. Đây là loại phước báu tràn đầy thứ hai…”

“Hơn nữa, một thánh đệ tử đã quy y Tăng. Đây là loại phước báu tràn đầy thứ ba…”

“Này các Tỷ kheo, năm sự bố thí này là vĩ đại, nguyên thủy, lâu đời, truyền thống, và cổ xưa. Chúng không bị hư hoại, như đã từng như vậy từ khởi thủy. Chúng không bị hư hoại hiện nay và cũng sẽ không bị hư hoại trong tương lai. Các Sa môn và Bà la môn có trí không coi thường chúng. Năm sự nào?”

“Thứ nhất, một thánh đệ tử từ bỏ sát sinh. Làm như vậy, họ bố thí cho vô số chúng sinh sự không sợ hãi, không thù oán, và không ác ý. Và chính họ cũng hưởng được sự không sợ hãi, không thù oán, và không ác ý vô hạn. Đây là sự bố thí thứ nhất, một sự cúng dường vĩ đại, nguyên thủy, lâu đời, truyền thống, và cổ xưa. Nó không bị hư hoại, như đã từng như vậy từ khởi thủy. Nó không bị hư hoại hiện nay và cũng sẽ không bị hư hoại trong tương lai. Các Sa môn và Bà la môn có trí không coi thường nó. Đây là loại phước báu tràn đầy thứ tư…”

“Hơn nữa, một thánh đệ tử từ bỏ trộm cắp. … Đây là loại phước báu tràn đầy thứ năm…”

“Hơn nữa, một thánh đệ tử từ bỏ tà dâm. … Đây là loại phước báu tràn đầy thứ sáu…”

“Hơn nữa, một thánh đệ tử từ bỏ nói dối. … Đây là loại phước báu tràn đầy thứ bảy…”

“Hơn nữa, một thánh đệ tử từ bỏ các chất say như bia, rượu, và rượu mạnh. Làm như vậy, họ bố thí cho vô số chúng sinh sự không sợ hãi, không thù oán, và không ác ý. Và chính họ cũng hưởng được sự không sợ hãi, không thù oán, và không ác ý vô hạn. Đây là sự bố thí thứ năm, một sự cúng dường vĩ đại, nguyên thủy, lâu đời, truyền thống, và cổ xưa. Nó không bị hư hoại, như đã từng như vậy từ khởi thủy. Nó không bị hư hoại hiện nay và cũng sẽ không bị hư hoại trong tương lai. Các Sa môn và Bà la môn có trí không coi thường nó. Đây là loại phước báu tràn đầy thứ tám…”

“Đây là tám loại phước báu tràn đầy, thiện lành tràn đầy. Chúng nuôi dưỡng an vui và đưa đến cõi trời, chín muồi trong an vui và dẫn đến cõi trời. Chúng dẫn đến điều đáng ưa thích, đáng mong muốn, đáng hài lòng, đến phúc lợi và an vui.”

(IX) (39) Nguồn Nước Công Ðức

1.- Này các Tỷ-kheo, có tám nguồn nước công đức này, là nguồn nước thiện, món ăn cho an lạc làm nhơn sanh Thiên, quả dị thục an lạc, đưa đến cõi trời, dẫn đến khả ái, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc. Thế nào là tám?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử quy y Phật. Này các Tỷ-kheo, đây là nguồn nước công đức thứ nhất, là nguồn nước thiện … hạnh phúc, an lạc.

3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử quy y Pháp. Này các Tỷ-kheo, đây là nguồn nước công đức thứ hai, là nguồn nước thiện … hạnh phúc, an lạc.

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử quy y Tăng. Này các Tỷ-kheo, đây là nguồn nước công đức thứ ba, là nguồn nước thiện … hạnh phúc, an lạc.

5. Này các Tỷ-kheo, có năm bố thí này, là đại bố thí, được biết là tối sơ, được biết là lâu ngày, được biết là truyền thống cổ xưa, trước không tạp loạn, hiện tại không tạp loạn, tương lai không tạp loạn, không bị những Sa-môn, những Bà-la-môn có trí khinh thường. Thế nào là năm?

6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, Này các Tỷ Kheo vị Thánh đệ tử từ bỏ sát sanh, đem cho không sợ hãi cho vô lượng chúng sanh, đem cho không hận thù cho vô lượng chúng sanh, đem cho không hại cho vô lượng chúng sanh; sau khi cho vô lượng chúng sanh, không sợ hãi, không hận thù, không hại, vị ấy sẽ được san sẽ vô lượng không sợ hãi, không hận thù, không hại. Này các Tỷ-kheo, đây là bố thí thứ nhất, là đại bố thí, được biết là tối sơ, được biết là lâu ngày … không bị những Sa-môn, những Bà-la-môn có trí khinh thường. Này các Tỷ-kheo, đây là nguồn nước công đức thứ tư, là nguồn nước thiện … dẫn đến khả ái, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc.

7. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử đoạn tận lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho … đoạn tận tà hạnh trong các dục, từ bỏ tà hạnh trong các dục … đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo … đoạn tận đắm say rượu men, rượu nấu,từ bỏ đắm say rượu mem rượu nấu. Này các Tỷ kheo Thành Ðệ Tử đoạn tận đắm say rượu men, rượu nấu,từ bỏ đắm say rượu mem rượu nấu, đem cho không sợ hãi cho vô lượng chúng sanh, đem cho không hận thù cho vô lượng chúng sanh, đem cho không hại cho vô lượng chúng sanh; sau khi cho vô lượng chúng sanh, không sợ hãi, không hận thù, không hại, vị ấy được san sẽ vô lượng không sợ hãi, không hận thù, không hại. Này các Tỷ-kheo, đây là bố thí thứ năm, là đại bố thí, được biết là tối sơ, được biết là lâu ngày … không bị những Sa-môn, những Bà-la-môn có trí khinh thường. Này các Tỷ-kheo, đây là nguồn nước công đức thứ tàm, là nguồn nước thiện … dẫn đến khả ái, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc.

Này các Tỷ-kheo, có tám nguồn nước công đức này, là nguồn nước thiện, món ăn cho an lạc làm nhơn sanh Thiên, quả dị thục an lạc, đưa đến cõi trời, dẫn đến khả ái, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc.

AN 8.40 Quả Báo Của Ác Hạnh Duccaritavipākasutta

“Này các Tỷ kheo, việc sát sinh, khi được thực hành, phát triển, và làm cho thuần thục, sẽ dẫn đến địa ngục, cõi súc sinh, hay cõi ngạ quỷ. Quả báo nhẹ nhất mà nó mang lại cho một con người là tuổi thọ ngắn ngủi.”

“Việc trộm cắp, khi được thực hành, phát triển, và làm cho thuần thục, sẽ dẫn đến địa ngục, cõi súc sinh, hay cõi ngạ quỷ. Quả báo nhẹ nhất mà nó mang lại cho một con người là mất mát tài sản.”

“Việc tà dâm, khi được thực hành, phát triển, và làm cho thuần thục, sẽ dẫn đến địa ngục, cõi súc sinh, hay cõi ngạ quỷ. Quả báo nhẹ nhất mà nó mang lại cho một con người là sự cạnh tranh và thù địch.”

“Việc nói dối, khi được thực hành, phát triển, và làm cho thuần thục, sẽ dẫn đến địa ngục, cõi súc sinh, hay cõi ngạ quỷ. Quả báo nhẹ nhất mà nó mang lại cho một con người là bị vu khống.”

“Việc nói lời chia rẽ, khi được thực hành, phát triển, và làm cho thuần thục, sẽ dẫn đến địa ngục, cõi súc sinh, hay cõi ngạ quỷ. Quả báo nhẹ nhất mà nó mang lại cho một con người là bị chia rẽ với bạn bè.”

“Việc nói lời thô ác, khi được thực hành, phát triển, và làm cho thuần thục, sẽ dẫn đến địa ngục, cõi súc sinh, hay cõi ngạ quỷ. Quả báo nhẹ nhất mà nó mang lại cho một con người là phải nghe những điều khó chịu.”

“Việc nói lời vô ích, khi được thực hành, phát triển, và làm cho thuần thục, sẽ dẫn đến địa ngục, cõi súc sinh, hay cõi ngạ quỷ. Quả báo nhẹ nhất mà nó mang lại cho một con người là không ai coi trọng lời nói của mình.”

“Việc uống bia rượu, khi được thực hành, phát triển, và làm cho thuần thục, sẽ dẫn đến địa ngục, cõi súc sinh, hay cõi ngạ quỷ. Quả báo nhẹ nhất mà nó mang lại cho một con người là sự điên loạn.”

(X) (40) Rất Là Nhẹ

1.- Này các Tỷ-kheo, sát sanh được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của sát sanh là được làm người với tuổi thọ ngắn.

2. Này các Tỷ-kheo, lấy của không cho được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của lấy của không cho là được làm người với sự tổn hại tài sản.

3. Này các Tỷ-kheo, tà hạnh trong các dục được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của tà hạnh trong các dục là được làm người với sự oán thù của kẻ địch.

4. Này các Tỷ-kheo, nói láo được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của nói láo là được làm người bị vu cáo không đúng sự thật.

5. Này các Tỷ-kheo, nói hai lưỡi được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của nói hai lưỡi là được làm người với bạn bè bị đổ vỡ.

6. Này các Tỷ-kheo, nói ác khẩu được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của nói ác khẩu là được làm người và được nghe những tiếng không khả ý. 7. Này các Tỷ-kheo, nói lời phù phiếm được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của nói lời phù phiếm là được làm người và được nghe những lời khó chấp nhận.

8. Này các Tỷ-kheo, uống men rượu, rượu nấu, được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của uống rượu mem rượu nấu là được làm người với tâm điên loạn.