Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về Gotamī

AN 8.51 Kinh Gotamī Gotamīsutta

Một thời Đức Phật trú ở xứ Thích-ca (Sakyan), gần Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu), tại Tu viện Cây Đa. Bấy giờ, bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề Gotamī (Mahāpajāpati Gotamī) đến đảnh lễ Đức Phật, đứng sang một bên và bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, xin hãy cho phép nữ giới được xuất gia (going forth / rời bỏ đời sống gia đình để sống không nhà) từ đời sống tại gia vào đời sống không nhà trong giáo pháp và giới luật (teaching and training / lời dạy và các quy tắc thực hành) do Bậc Giác Ngộ (Realized One / người đã đạt được sự giác ngộ hoàn toàn, chỉ Đức Phật) tuyên thuyết.”

“Thôi đi, Gotamī. Đừng tán thành việc nữ giới xuất gia từ đời sống tại gia vào đời sống không nhà trong giáo pháp và giới luật do Bậc Giác Ngộ tuyên thuyết.”

Lần thứ hai…

Lần thứ ba, bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề Gotamī bạch Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, xin hãy cho phép nữ giới được xuất gia từ đời sống tại gia vào đời sống không nhà trong giáo pháp và giới luật do Bậc Giác Ngộ tuyên thuyết.”

“Thôi đi, Gotamī. Đừng tán thành việc nữ giới xuất gia từ đời sống tại gia vào đời sống không nhà trong giáo pháp và giới luật do Bậc Giác Ngộ tuyên thuyết.”

Bấy giờ, bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề Gotamī nghĩ: “Đức Phật không cho phép nữ giới xuất gia.” Buồn bã, đau khổ, khóc lóc, mặt đẫm lệ, bà đảnh lễ Đức Phật, đi quanh Ngài theo chiều bên phải trong sự kính trọng, rồi rời đi.

Sau khi Đức Phật đã trú ở Ca-tỳ-la-vệ tùy ý, Ngài lên đường đi đến Tỳ-xá-ly (Vesālī). Đi từng chặng, Ngài đến Tỳ-xá-ly, và trú tại Đại Lâm (Great Wood), trong Trùng Các Giảng Đường. Bấy giờ, bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề Gotamī cạo tóc, đắp y phấn tảo (ocher robes / y phục màu đất của tu sĩ Phật giáo). Cùng với nhiều phụ nữ dòng Thích-ca khác, bà lên đường đi Tỳ-xá-ly. Đi từng chặng, bà đến Tỳ-xá-ly và đi đến Đại Lâm, Trùng Các Giảng Đường. Lúc ấy, bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề Gotamī đứng khóc ngoài cổng, chân sưng phù, thân mình lấm bụi, buồn bã, đau khổ, mặt đẫm lệ.

Tôn giả A-nan (Ānanda) thấy bà đứng đó, liền hỏi: “Này Gotamī, vì sao bà đứng khóc ngoài cổng, chân sưng phù, thân mình lấm bụi, buồn bã, đau khổ, mặt đẫm lệ như vậy?”

“Thưa Tôn giả A-nan, ấy là vì Đức Phật không cho phép nữ giới xuất gia trong giáo pháp và giới luật do Bậc Giác Ngộ tuyên thuyết.”

“Vậy thì, Gotamī, bà hãy đợi ở đây một lát, tôi sẽ vào thỉnh cầu Đức Phật cho phép nữ giới xuất gia.”

Rồi Tôn giả A-nan đi đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề Gotamī đang đứng khóc ngoài cổng, chân sưng phù, thân mình lấm bụi, buồn bã, đau khổ, mặt đẫm lệ. Bà ấy nói rằng ấy là vì Đức Phật không cho phép nữ giới xuất gia. Bạch Thế Tôn, xin hãy cho phép nữ giới được xuất gia từ đời sống tại gia vào đời sống không nhà trong giáo pháp và giới luật do Bậc Giác Ngộ tuyên thuyết.”

“Thôi đi, A-nan. Đừng tán thành việc nữ giới xuất gia từ đời sống tại gia vào đời sống không nhà trong giáo pháp và giới luật do Bậc Giác Ngộ tuyên thuyết.”

Lần thứ hai…

Lần thứ ba, Tôn giả A-nan bạch Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, xin hãy cho phép nữ giới được xuất gia từ đời sống tại gia vào đời sống không nhà trong giáo pháp và giới luật do Bậc Giác Ngộ tuyên thuyết.”

“Thôi đi, A-nan. Đừng tán thành việc nữ giới xuất gia từ đời sống tại gia vào đời sống không nhà trong giáo pháp và giới luật do Bậc Giác Ngộ tuyên thuyết.”

Bấy giờ, Tôn giả A-nan nghĩ: “Đức Phật không cho phép nữ giới xuất gia. Sao ta không thử một cách khác?”

Rồi Tôn giả A-nan bạch Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, một người nữ, sau khi đã xuất gia, có khả năng chứng ngộ các quả Dự lưu, Nhất lai, Bất lai và A-la-hán (fruits of stream-entry, once-return, non-return, and perfection / các quả vị thánh đạt được qua tu tập) không?”

“Có thể, này A-nan.”

“Bạch Thế Tôn, nếu một người nữ, sau khi đã xuất gia, có khả năng chứng ngộ các quả Dự lưu, Nhất lai, Bất lai và A-la-hán. Bạch Thế Tôn, bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề đã giúp đỡ Đức Thế Tôn rất nhiều. Bà là dì của Ngài, người đã nuôi nấng, chăm sóc, cho Ngài bú sữa. Khi thân mẫu của Đức Thế Tôn qua đời, chính bà đã nuôi Ngài bằng dòng sữa của mình. Bạch Thế Tôn, xin hãy cho phép nữ giới được xuất gia từ đời sống tại gia vào đời sống không nhà trong giáo pháp và giới luật do Bậc Giác Ngộ tuyên thuyết.”

"Này A-nan, nếu Ma-ha Ba-xà-ba-đề Gotamī chấp nhận tám bát kỉnh pháp (principles of respect / tám điều tôn trọng mà Ni giới phải tuân thủ đối với Tăng giới) này, đó sẽ là sự thọ giới (ordination / nghi lễ chính thức trở thành tu sĩ) của bà ấy.

Một tỳ-khưu-ni (nun / nữ tu sĩ Phật giáo đã thọ giới cụ túc), dù đã thọ giới một trăm năm, phải đảnh lễ một tỳ-khưu (monk / nam tu sĩ Phật giáo đã thọ giới cụ túc) mới thọ giới trong ngày hôm đó. Vị ấy phải đứng dậy đón chào, chắp tay vái chào, và thực hành các nghi thức phù hợp đối với vị tỳ-khưu ấy. Nguyên tắc này phải được tôn trọng, quý trọng, đề cao và tôn kính, và không được vi phạm cho đến trọn đời.

Một tỳ-khưu-ni không được nhập an cư mùa mưa (rainy season residence / thời gian ba tháng mùa mưa mà tu sĩ ở yên một chỗ để tu tập) tại một trú xứ (monastery / nơi ở của tu sĩ) không có tỳ-khưu. Nguyên tắc này phải được tôn trọng, quý trọng, đề cao và tôn kính, và không được vi phạm cho đến trọn đời.

Mỗi nửa tháng, các tỳ-khưu-ni phải mong đợi hai điều từ Tăng đoàn (community of monks / tập thể các vị tỳ-khưu): ngày Bố-tát (sabbath / ngày tụng giới và sám hối của tu sĩ, thường vào ngày rằm và cuối tháng âm lịch), và việc đến thỉnh cầu giáo giới. Nguyên tắc này phải được tôn trọng, quý trọng, đề cao và tôn kính, và không được vi phạm cho đến trọn đời.

Sau khi mãn hạ an cư mùa mưa, các tỳ-khưu-ni phải thỉnh cầu sự chỉ dạy từ cả hai Tăng đoàn (Tăng và Ni) về bất cứ điều gì đã thấy, đã nghe, hoặc nghi ngờ. Nguyên tắc này phải được tôn trọng, quý trọng, đề cao và tôn kính, và không được vi phạm cho đến trọn đời.

Một tỳ-khưu-ni đã phạm trọng tội (grave offense / tội nặng nhất trong giới luật, có thể dẫn đến mất tư cách tu sĩ) phải chịu hình phạt sám hối trước cả hai Tăng đoàn trong nửa tháng. Nguyên tắc này phải được tôn trọng, quý trọng, đề cao và tôn kính, và không được vi phạm cho đến trọn đời.

Một thức-xoa-ma-na (trainee nun / nữ tu sĩ đang trong giai đoạn tập sự hai năm trước khi thọ giới tỳ-khưu-ni) đã tu học sáu pháp học (six rules / sáu giới luật cơ bản cho thức-xoa-ma-na) trong hai năm phải xin thọ giới cụ túc từ cả hai Tăng đoàn. Nguyên tắc này phải được tôn trọng, quý trọng, đề cao và tôn kính, và không được vi phạm cho đến trọn đời.

Một tỳ-khưu-ni không được mắng nhiếc hay phỉ báng một tỳ-khưu bằng bất cứ cách nào. Nguyên tắc này phải được tôn trọng, quý trọng, đề cao và tôn kính, và không được vi phạm cho đến trọn đời.

Kể từ hôm nay, tỳ-khưu-ni không được phép chỉ trích tỳ-khưu, nhưng tỳ-khưu không bị cấm chỉ trích tỳ-khưu-ni. Nguyên tắc này phải được tôn trọng, quý trọng, đề cao và tôn kính, và không được vi phạm cho đến trọn đời.

Nếu Ma-ha Ba-xà-ba-đề Gotamī chấp nhận tám bát kỉnh pháp này, đó sẽ là sự thọ giới của bà ấy."

Bấy giờ, Tôn giả A-nan, sau khi đã học tám bát kỉnh pháp này từ chính Đức Phật, liền đi đến chỗ bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề Gotamī và nói:

"Này Gotamī, nếu bà chấp nhận tám bát kỉnh pháp, đó sẽ là sự thọ giới của bà.

Một tỳ-khưu-ni, dù đã thọ giới một trăm năm, phải đảnh lễ một tỳ-khưu mới thọ giới trong ngày hôm đó. Vị ấy phải đứng dậy đón chào, chắp tay vái chào, và thực hành các nghi thức phù hợp đối với vị tỳ-khưu ấy. Nguyên tắc này phải được tôn trọng, quý trọng, đề cao và tôn kính, và không được vi phạm cho đến trọn đời. …

Kể từ hôm nay, tỳ-khưu-ni không được phép chỉ trích tỳ-khưu, nhưng tỳ-khưu không bị cấm chỉ trích tỳ-khưu-ni. Nguyên tắc này phải được tôn trọng, quý trọng, đề cao và tôn kính, và không được vi phạm cho đến trọn đời. Nếu bà chấp nhận tám bát kỉnh pháp này, đó sẽ là sự thọ giới của bà."

“Thưa Tôn giả A-nan, ví như có một người nữ hay người nam còn trẻ, thanh xuân, thích trang điểm, đã gội đầu sạch sẽ. Sau khi nhận được một vòng hoa sen, hoa lài, hay hoa dây leo, họ sẽ nâng niu bằng hai tay và đặt lên đỉnh đầu. Cũng vậy, thưa Tôn giả, tôi xin chấp nhận tám bát kỉnh pháp này, không vi phạm cho đến trọn đời.”

Rồi Tôn giả A-nan đi đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và bạch Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề Gotamī đã chấp nhận tám bát kỉnh pháp, không vi phạm cho đến trọn đời.”

"Này A-nan, nếu nữ giới không được xuất gia từ đời sống tại gia vào đời sống không nhà trong giáo pháp và giới luật do Bậc Giác Ngộ tuyên thuyết, thì đời sống phạm hạnh (spiritual life / đời sống tu tập thanh tịnh) này sẽ kéo dài. Chánh pháp (true teaching / lời dạy chân chính của Đức Phật) sẽ tồn tại một ngàn năm. Nhưng vì họ đã được xuất gia, nên bây giờ đời sống phạm hạnh sẽ không kéo dài. Chánh pháp sẽ chỉ tồn tại năm trăm năm.

Ví như những gia đình có nhiều phụ nữ và ít đàn ông. Họ dễ trở thành mồi ngon cho kẻ cướp và trộm cắp. Cũng vậy, đời sống phạm hạnh không kéo dài trong một giáo pháp và giới luật mà nữ giới được xuất gia.

Ví như một cánh đồng lúa chín rộ. Một khi bị bệnh ‘xương trắng’ tấn công, nó sẽ không tồn tại lâu. Cũng vậy, đời sống phạm hạnh không kéo dài trong một giáo pháp và giới luật mà nữ giới được xuất gia.

Ví như một cánh đồng mía. Một khi bị bệnh ‘thối đỏ’ tấn công, nó sẽ không tồn tại lâu. Cũng vậy, đời sống phạm hạnh không kéo dài trong một giáo pháp và giới luật mà nữ giới được xuất gia.

Như một người xây con đê quanh một hồ nước lớn để đề phòng nước tràn bờ, cũng vậy, để đề phòng, Ta đã quy định tám bát kỉnh pháp này không được vi phạm cho đến trọn đời."

VI. Phẩm Gotamì

(I) (51) Mahàpajàpatì Gotamì

1. ### Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, khu vườn Nigrodha. Rồi Mahàpajàpatì Gotamì đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Mahàpajàpatì Gotamì bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.

− Thôi vừa rồi, này Gotamì, chớ có ưa thích nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.

2. Lần thứ hai, Mahàpajàpatì Gotamì bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.

− Thôi vừa rồi, này Gotamì, chớ có ưa thích nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.

3. Lần thứ ba, Mahàpajàpatì Gotamì bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.

− Thôi vừa rồi, này Gotamì, chớ có ưa thích nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.

Rồi Mahàpajàpatì Gotamì biết được: “Thế Tôn không chấp nhận cho nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng”, liền khổ đau, sầu muộn, nước mắt đầy mặt, khóc than, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

4. Rồi Thế Tôn, sau khi ở Kapilavatthu cho đến khi vừa ý, rồi ra đi đến Vesàli, tiếp tục bộ hành rồi đến Vesàli.

Ở đấy, Thế Tôn ở Vesàli, tại Ðại Lâm, ở ngôi nhà có nóc nhọn. Rồi Mahàpajàpatì Gotamì, với tóc cạo sạch, đắp áp cà-sa, cùng với nhiều nữ nhân Sàkya ra đi đến Vesàli, tiếp tục bộ hành và đến Vesàli, tại Ðại Lâm, ở ngôi nhà có nóc nhọn. Rồi Mahàpajàpatì Gotamì, với chân bị sưng, tay chân lấm bụi khổ đau, sầu muộn, nước mắt đầy mặt, khóc than, đứng ngoài cửa chính. Tôn giả Ananda thấy Mahàpajàpatì Gotamì với chân bị sưng, tay chân lấm bụi khổ đau, sầu muộn, nước mắt đầy mặt, khóc than, đứng ngoài cửa chính, thấy vậy liền nói với Mahàpajàpatì Gotamì:

− Thưa Gotamì, vì sao lại đứng ở cửa với chân bị sưng, tay chân lấm bụi khổ đau, sầu muộn, nước mắt đầy mặt, khóc than như vậy? − Thưa Tôn giả Ananda, vì rằng Thế Tôn không chấp nhận cho nữ nhân xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết.

− Vậy thưa Gotamì, hãy đứng chờ ở đây, chờ cho đến khi tôi xin phép Thế Tôn; để nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.

5. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, có Mahàpajàpatì Gotamì với chân bị sưng, tay chân lấm bụi khổ đau, sầu muộn, nước mắt đầy mặt, khóc than đứng ở ngoài cửa nói rằng: “Thế Tôn cho phép nhận cho nữ nhân xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng”. Lành thay! Bạch Thế Tôn, nếu nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.

− Thôi vừa rồi, này Gotamì, chớ có ưa thích nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Thế Tôn thuyết giảng.

Lần thứ hai … Lần thứ ba, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Lành thay! Bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn cho phép nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Thế Tôn thuyết giảng.

− Thôi vừa rồi, này Gotamì, chớ có ưa thích nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Thế Tôn thuyết giảng.

6. Rồi Tôn giả suy nghĩ như sau: “Thế Tôn không chấp nhận cho nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng. Vậy ta hay dùng phương pháp khác để xin Thế Tôn cho phép nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình “.

Rồi Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, không biết nữ nhân sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, có thể chứng được Dự lưu quả, Nhất lai quả, Bất lai quả hay A-la-hán quả không?

− Này Ananda, sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, nữ nhân có thể chứng được Dự lưu quả, Nhất lai quả, Bất lai quả hay A-la-hán quả.

− Bạch Thế Tôn, sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, nữ nhân có thể chứng được Dự lưu quả, Nhất lai quả, Bất lai quả hay A-la-hán quả. Lại nữa, bạch Thế Tôn, Mahàpajàpatì đã giúp đỡ Thế Tôn rất nhiều trong vai người dì, người vú, người kế mẫu, khi mẹ của Thế Tôn mệnh chung, lại cho Thế Tôn bú sữa. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.

7. - Này Ananda, nếu Mahàpajàpatì Gotamì chấp nhận tám kính pháp, thời Gotamì có thể được thọ cụ túc giới: Dầu cho thọ đại giới một trăm năm, một Tỷ-kheo ni đối với một Tỷ-kheo mới thọ đại giới trong một ngày cũng phải đảnh lễ, đứng dậy, chắp tay, xử sự đúng pháp. Pháp này sau khi cung kính, tông trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua. Tỳ kheo ni không có thể an cư mùa mưa tại chỗ không có Tỷ kheo. Pháp này sau khi cung kính, tông trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua . Nửa tháng một lần, Tỷ-kheo-ni cần phải thỉnh chúng Tỷ-kheo hỏi ngày trai giới và đến để thuyết giới. Pháp này, sau khi cung kính, tông trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua. Sau khi an cư mùa mưa xong, Tỷ-kheo-ni cần phải làm lễ Tự trước hai Tăng chúng về ba vấn đề được thấy, được nghe và nghi. Pháp này, sau khi cung kính, tông trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua. Tỷ-kheo-ni phạm trọng tội phải hành pháp pakkhamànattam (man-na-đọa) cho đến nửa tháng. Pháp này, sau khi cung kính, tông trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua. Sau khi học tập sáu pháp trong hai năm, phải đến xin thọ cụ túc giới trước hai Tăng chúng. Pháp này, sau khi cung kính, tông trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua. Không vì duyên cớ gì, một Tỷ-kheo-ni có thể mắng nhiếc, chỉ trích một Tỷ-kheo. Pháp này, sau khi cung kính, tông trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua. Này Ananda, bắt đầu từ hôm nay, có sự giáo giới phê bình giữa các Tỷ-kheo về Tỷ-kheo-Ni, không có sự giáo giới phê bình giữa các Tỷ-kheo-ni về các Tỷ-kheo. Pháp này, sau khi cung kính, tông trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua. Này Ananda, nếu Mahàpajàpatì Gotamì chấp nhận tám kính pháp này, thời cho phép Mahàpajàpatì Gotamì được thọ cụ túc giới.

8. Rồi Tôn giả Ananda, sau khi học từ Thế Tôn tám trọng pháp này, rồi đi đến Mahàpajàpatì Gotamì, sau khi đến, nói với Mahàpajàpatì Gotamì:

− Nếu Mahàpajàpatì Gotamì chấp nhận tám kính pháp này, thời Gotamì sẽ được thọ cụ túc giới: “Dầu cho thọ đại giới một trăm năm, một Tỷ-kheo-ni … không có sự giáo giới phê bình giữa các Tỷ-kheo-ni về các Tỷ-kheo. Pháp này, sau khi cung kính, tông trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua”. Nếu Gotamì chấp nhận tám trọng pháp này, thời Gotamì sẽ được thọ cụ túc giới.

− Thưa Tôn giả Ananda, ví như một người đàn bà hay một người đàn ông, còn đang tuổi trẻ, tánh ưa trang sức, sau khi gội đầu xong, sau khi được một vòng hoa sen xanh hay một vòng vũ quý hoa, hay một vòng thiên tư hoa (hay cự thắng hoa) dùng hai tay cầm lấy vòng hoa ấy và đặt lên đỉnh đầu. Cũng vậy, thưa Tôn giả, tôi xin chấp nhận tám kính pháp này, cho đến trọn đời không có vượt qua.

9. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Mahàpajàpatì Gotamì đã chấp nhận tám kính pháp này, cho đến trọn đời không có vượt qua.

− Này Ananda, nếu nữ nhân không được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, thời này Ananda, Phạm hạnh được an trú lâu dài, và diệu pháp được tồn tại đến một ngàn năm. Vì rằng, này Ananda, nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật này, nay này Ananda, Phạm hạnh sẽ không được an trú lâu dài, thời này Ananda, diệu pháp được tồn tại năm trăm năm. Ví như, này Ananda, những gia đình nào có nhiều phụ nữ, ít đàn ông, thời những gia đình ấy rất dễ bị các đạo tặc, trộm ắp não hại. Cũng vậy, này Ananda, nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật này, nên Phạm hạnh sẽ không được an trú lâu dài. Ví như, này Ananda, khi nào một chứng bệnh được tên là “trắng như xương” rơi vào một ruộng lúa đã chín, thời ruộng lúa ấy không có an trú lâu dài. Cũng vậy, này Ananda, khi nào nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật này, thời Phạm hạnh này không có an trú lâu dài. Ví như, này Ananda, khi nào một chứng bệnh được tên là “đỏ sét” rơi vào một ruộng mía đã chín, thời ruộng mía ấy không có an trú lâu dài. Cũng vậy, này Ananda, khi nào nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật này, thời Phạm hạnh này không được an trú lâu dài. Ví như, này Ananda, một người vì nghĩ đến tương lai xây dựng bờ đê cho một hồ nước lớn để nước không thể chảy qua, cũng vậy, này Ananda, vì nghĩ đến tương lai, Ta mới ban hành kính tám pháp này, cho các Tỷ-kheo-ni cho đến trọn đời không vượt qua.

AN 8.52 Vị Giáo Thọ Sư cho Tỳ-khưu-ni Ovādasutta

Một thời Đức Phật trú gần Tỳ-xá-ly, tại Đại Lâm, trong Trùng Các Giảng Đường. Bấy giờ, Tôn giả A-nan đến đảnh lễ Đức Phật, ngồi xuống một bên và bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, một vị tỳ-khưu cần có bao nhiêu phẩm chất để được xem là giáo thọ sư cho tỳ-khưu-ni (adviser for nuns / vị tỳ-khưu được chỉ định để dạy dỗ Ni đoàn)?”

"Này A-nan, một vị tỳ-khưu có tám phẩm chất có thể được xem là giáo thọ sư cho tỳ-khưu-ni. Tám phẩm chất đó là gì?

Thứ nhất, vị tỳ-khưu có giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức), thu thúc trong giới bổn (restrained in the monastic code / sống có kiểm soát theo các giới luật của tu sĩ), có hạnh kiểm tốt và đi khất thực ở những nơi thích hợp. Thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt nhất, vị ấy giữ gìn các học giới đã thọ nhận.

Vị ấy là người đa văn (learned / người học rộng, nghe nhiều giáo pháp), ghi nhớ và nắm giữ những gì đã học. Những lời dạy này tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và văn cú hoàn hảo, mô tả một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Vị ấy rất thông thạo những lời dạy như vậy, ghi nhớ chúng, tụng đọc chúng, thẩm sát bằng tâm ý, và thông hiểu bằng trí tuệ.

Cả hai bộ giới (Pātimokkha của Tăng và Ni) đã được truyền thừa cho vị ấy một cách chi tiết, được phân tích kỹ lưỡng, nắm vững, đánh giá đúng đắn cả về giới luật và các phần phụ chú.

Vị ấy là người thiện ngôn (good speaker / người nói lời hay, khéo nói), phát âm rõ ràng. Giọng nói tao nhã, trong sáng, khúc chiết, và diễn đạt được ý nghĩa.

Vị ấy có khả năng giáo huấn, khích lệ, làm phấn khởi, và truyền cảm hứng cho Ni đoàn (community of nuns / tập thể các vị tỳ-khưu-ni).

Vị ấy được hầu hết các tỳ-khưu-ni yêu mến và chấp nhận.

Vị ấy chưa từng quấy rối tình dục bất kỳ người nữ nào đắp y phấn tảo đã xuất gia nhân danh Đức Phật.

Vị ấy đã thọ giới cụ túc được hai mươi năm hạ hoặc hơn.

Một vị tỳ-khưu có tám phẩm chất này có thể được xem là giáo thọ sư cho tỳ-khưu-ni."

(II) (52) Ai Giáo Giới?

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Ðại Lâm, ở ngôi nhà có nóc nhọn. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên… Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Thành tựu bao nhiêu pháp, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nên được chấp nhận là vị giáo giới cho các Tỷ-kheo-ni?

− Này Ananda, thành tựu tám pháp, Tỷ-kheo nên được chấp nhận là vị giáo giới cho các Tỷ-kheo-ni. Thế nào là tám?

2. Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo có giới đức, sống được chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các pháp. Vị ấy nghe nhiều, thọ trì điều đã được nghe, chất chứa điều đã được nghe; những pháp ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa lý văn cú cụ túc, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh; những pháp ấy, vị ấy đã được nghe nhiều, đã nắm giữ, đã ghi nhớ tụng đọc nhiều lần, chuyên ý quan sát, khéo thể nhập chánh kiến. Ðối với vị ấy, hai giới bổn Pàtimokkha được khéo trao truyền lại một cách rộng rãi, khéo phân tích, khéo thông hiểu, khéo quyết định thành sutta (ngôn ngữ) và thành âm vận. Vị ấy có một giọng nói dễ nghe, phát âm tốt, lời nói tao nhã, phát ngôn không bập bẹ, giải thích nghĩa lý minh xác. Vị ấy có khả năng thuyết giảng pháp thoại cho chúng Tỷ-kheo-ni, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, được phần lớn các Tỷ-kheo-ni ái mộ, thích ý. Trước khi y chỉ Thế Tôn, xuất gia, đắp áo cà-sa, vị ấy không có phạm trọng tội nào, được hai mươi tuổi an cư hay hơn hai mươi tuổi an cư.

Thành tựu tám pháp này, này Ananda, vị Tỷ-kheo được chấp nhận là vị giáo giới cho các Tỷ-kheo-ni.

AN 8.53 Lời Khuyên Ngắn Gọn cho Gotamī Saṁkhittasutta

Một thời Đức Phật trú gần Tỳ-xá-ly, tại Đại Lâm, trong Trùng Các Giảng Đường. Bấy giờ, bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề Gotamī đến đảnh lễ Đức Phật, đứng sang một bên và bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hãy dạy Pháp (Dhamma / Lời dạy của Đức Phật, chân lý) cho con một cách ngắn gọn. Sau khi nghe xong, con sẽ sống một mình, ẩn dật, tinh cần, nhiệt tâm, quyết chí (diligent, keen, and resolute / siêng năng, hăng hái và có ý chí mạnh mẽ).”

"Này Gotamī, bà có thể biết rằng những pháp nào đưa đến tham ái (passion / sự ham muốn, luyến ái), không đưa đến ly tham (dispassion / sự không còn ham muốn, luyến ái); đưa đến sự trói buộc (yoking / sự ràng buộc vào khổ đau, phiền não), không đưa đến sự giải thoát (unyoking / sự cởi bỏ trói buộc, thoát khỏi khổ đau); đưa đến sự tích lũy (accumulation / sự vun đắp phiền não, nghiệp báo), không đưa đến sự tiêu tán (dispersal / sự làm tan biến phiền não, nghiệp báo); đưa đến nhiều ham muốn, không đưa đến ít ham muốn; đưa đến không biết đủ, không đưa đến biết đủ; đưa đến sống chung đụng, không đưa đến sống độc cư; đưa đến lười biếng, không đưa đến nghị lực (energy / sự siêng năng, cố gắng); đưa đến khó nuôi dưỡng, không đưa đến dễ nuôi dưỡng. Bà nên chắc chắn ghi nhớ rằng những pháp ấy không phải là giáo pháp, không phải là giới luật, và không phải là lời dạy của Bậc Đạo Sư.

Bà có thể biết rằng những pháp nào đưa đến ly tham, không đưa đến tham ái; đưa đến sự giải thoát, không đưa đến sự trói buộc; đưa đến sự tiêu tán, không đưa đến sự tích lũy; đưa đến ít ham muốn, không đưa đến nhiều ham muốn; đưa đến biết đủ, không đưa đến không biết đủ; đưa đến sống độc cư, không đưa đến sống chung đụng; đưa đến nghị lực, không đưa đến lười biếng; đưa đến dễ nuôi dưỡng, không đưa đến khó nuôi dưỡng. Bà nên chắc chắn ghi nhớ rằng những pháp ấy chính là giáo pháp, là giới luật, và là lời dạy của Bậc Đạo Sư."

(III) (53) Pháp Tóm Tắt

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Mahàvana, ở ngôi nhà có nóc nhọn. Rồi Mahàpajàpatì Gotamì đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Mahàpajàpatì Gotamì bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con, sau khi Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

2. - Này Gotamì, những pháp nào bà biết: “Những pháp này đưa đến tham dục, không phải ly tham; đưa đến hệ phước, không đưa đến ly hệ phước; đưa đến tích tập, không đưa đến không tích tập; đưa đến dục lớn, không đưa đến ít dục; đưa đến không biết đủ, không đưa đến biết đủ; đưa đến tụ hội, không đưa đến nhàn tịnh; đưa đến biếng nhác, không đưa đến tinh tấn; đưa đến khó nuôi dưỡng, không đưa đến dễ nuôi dưỡng”. Này Gotamì, hãy thọ trì nhứt hướng rằng: “Ðó là không phải Pháp, đó là không phải Luật, đó là không phải lời dạy của bậc Ðạo sư”.

3. Và này Gotamì, những pháp nào bà biết: “Những pháp đưa đến ly tham, không đưa đến tham dục; đưa đến ly hệ phước, không đưa đến hệ phước; đưa đến không tích tập, không đưa đến tích tập; đưa đến ít dục, không đưa đến dục lớn; đưa đến biết đủ, không đưa đến không biết đủ; đưa đến nhàn tịnh, không đưa đến tụ hội; đưa đến tinh tấn, không đưa đến biếng nhác; đưa đến khó dễ nuôi dưỡng, không đưa đến khó nuôi dưỡng”. Này Gotamì, hãy thọ trì nhứt hướng rằng: “Ðó là phải Pháp, đó là phải Luật, đó là lời dạy của bậc Ðạo sư”.

AN 8.54 Kinh Dīghajāṇu Dīghajāṇusutta

Một thời Đức Phật trú ở xứ Câu-ly (Koliyan), nơi có một thị trấn tên là Kakkarapatta. Bấy giờ, Dīghajāṇu người Câu-ly đến đảnh lễ Đức Phật, ngồi xuống một bên và bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, chúng con là những cư sĩ tại gia (laypeople / người Phật tử sống tại nhà), hưởng thụ dục lạc (sensual pleasures / sự vui thú qua năm giác quan) và sống ở nhà với con cái. Chúng con dùng gỗ đàn hương nhập từ xứ Kāsi, chúng con đeo vòng hoa, dùng hương thơm và phấn sáp, và chúng con nhận vàng và tiền bạc. Xin Đức Phật hãy dạy Pháp cho chúng con theo cách đưa đến an lạc và hạnh phúc trong đời này và trong các đời sau.”

"Này Byagghapajja, bốn pháp này đưa đến an lạc và hạnh phúc cho một người thiện gia nam tử (gentleman / người nam có phẩm hạnh tốt) trong đời này. Bốn pháp đó là gì?

Thành tựu về sự khởi xướng (Accomplishment in initiative / sự thành công trong việc bắt đầu và thực hiện công việc), thành tựu về sự bảo vệ (Accomplishment in protection / sự thành công trong việc giữ gìn tài sản), thành tựu về thiện hữu (Accomplishment in good friendship / sự thành công trong việc kết giao bạn tốt), và thành tựu về đời sống quân bình (Accomplishment in balanced finances / sự thành công trong việc chi tiêu cân đối). Thế nào là thành tựu về sự khởi xướng? Đó là khi một người thiện gia nam tử kiếm sống bằng các phương tiện như nông nghiệp, thương mại, chăn nuôi, bắn cung, phục vụ chính quyền, hoặc một trong các nghề nghiệp khác. Vị ấy hiểu biết cách thức tiến hành những việc này để hoàn thành và tổ chức công việc. Đây gọi là thành tựu về sự khởi xướng.

Thế nào là thành tựu về sự bảo vệ? Đó là khi một người thiện gia nam tử sở hữu tài sản hợp pháp mà vị ấy đã kiếm được bằng nỗ lực và sự chủ động của bản thân, gây dựng bằng chính đôi tay mình, thu được bằng mồ hôi công sức. Vị ấy đảm bảo tài sản được canh giữ và bảo vệ, suy nghĩ rằng: ‘Làm sao ta có thể ngăn chặn tài sản của mình bị vua quan hay trộm cướp lấy đi, bị lửa thiêu, bị nước cuốn trôi, hoặc bị những người thừa kế không ưa thích chiếm đoạt?’ Đây gọi là thành tựu về sự bảo vệ.

Thế nào là thành tựu về thiện hữu? Đó là khi một người thiện gia nam tử cư trú trong một thị trấn hay làng mạc. Và ở nơi đó có những người gia chủ hoặc con cái của họ, có thể trẻ hoặc già, nhưng trưởng thành trong hạnh kiểm, thành tựu về niềm tin, giới đức, lòng rộng rãi, và trí tuệ (accomplished in faith, ethics, generosity, and wisdom / đạt được sự vững chắc trong niềm tin, đạo đức, lòng rộng rãi và sự hiểu biết). Vị ấy kết giao, trò chuyện và tham gia thảo luận với họ. Và vị ấy noi theo những thành tựu tương tự về niềm tin, giới đức, lòng rộng rãi, và trí tuệ. Đây gọi là thành tựu về thiện hữu.

Thế nào là thành tựu về đời sống quân bình? Đó là khi một người thiện gia nam tử, biết rõ thu nhập và chi tiêu của mình, cân đối tài chính, không quá hoang phí cũng không quá keo kiệt. Vị ấy nghĩ: ‘Bằng cách này, thu nhập của ta sẽ vượt quá chi tiêu, chứ không ngược lại.’ Giống như một người thẩm định giá hoặc người học việc của họ, khi cầm cán cân, biết rằng nó thấp đi bao nhiêu hay cao lên bao nhiêu. Cũng vậy, một người thiện gia nam tử, biết rõ thu nhập và chi tiêu của mình, cân đối tài chính, không quá hoang phí cũng không quá keo kiệt. Vị ấy nghĩ: ‘Bằng cách này, thu nhập của ta sẽ vượt quá chi tiêu, chứ không ngược lại.’ Nếu một người thiện gia nam tử có ít thu nhập nhưng sống xa hoa, người ta sẽ nói: ‘Người thiện gia nam tử này tiêu xài tài sản như người ăn quả sung!’ Nếu một người thiện gia nam tử có thu nhập lớn nhưng sống khắc khổ, người ta sẽ nói: ‘Người thiện gia nam tử này đang bỏ đói bản thân đến chết!’ Nhưng một người thiện gia nam tử, biết rõ thu nhập và chi tiêu của mình, sống một đời sống quân bình, không quá hoang phí cũng không quá keo kiệt, nghĩ rằng: ‘Bằng cách này, thu nhập của ta sẽ vượt quá chi tiêu, chứ không ngược lại.’ Đây gọi là thành tựu về đời sống quân bình.

Có bốn cửa ngõ làm tiêu hao tài sản đã được thu thập theo cách này. Đam mê nữ sắc, nghiện rượu, cờ bạc, và có bạn xấu, người đồng hành xấu, kẻ liên hệ xấu. Giả sử có một hồ chứa nước lớn với bốn cửa dẫn nước vào và bốn cửa thoát nước ra. Và có người mở các cửa thoát nước và đóng các cửa dẫn nước vào, và trời không mưa đủ. Người ta sẽ trông đợi hồ chứa nước lớn đó cạn đi chứ không đầy lên. Cũng vậy, có bốn cửa ngõ làm tiêu hao tài sản đã được thu thập theo cách này. Đam mê nữ sắc, nghiện rượu, cờ bạc, và có bạn xấu, người đồng hành xấu, kẻ liên hệ xấu.

Có bốn cửa ngõ làm tăng trưởng tài sản đã được thu thập theo cách này. Không đam mê nữ sắc, nghiện rượu, hay cờ bạc, và có bạn tốt, người đồng hành tốt, kẻ liên hệ tốt. Giả sử có một hồ chứa nước lớn với bốn cửa dẫn nước vào và bốn cửa thoát nước ra. Và có người mở các cửa dẫn nước vào và đóng các cửa thoát nước ra, và trời mưa nhiều. Người ta sẽ trông đợi hồ chứa nước lớn đó đầy lên chứ không cạn đi. Cũng vậy, có bốn cửa ngõ làm tăng trưởng tài sản đã được thu thập theo cách này. Không đam mê nữ sắc, nghiện rượu, hay cờ bạc, và có bạn tốt, người đồng hành tốt, kẻ liên hệ tốt.

Đây là bốn pháp đưa đến an lạc và hạnh phúc cho một người thiện gia nam tử trong đời này.

Bốn pháp này đưa đến an lạc và hạnh phúc cho một người thiện gia nam tử trong các đời sau. Bốn pháp đó là gì? Thành tựu về niềm tin (Accomplishment in faith / sự đạt được niềm tin vững chắc), thành tựu về giới đức (Accomplishment in ethics / sự đạt được hành vi đạo đức vững chắc), thành tựu về lòng rộng rãi (Accomplishment in generosity / sự đạt được tâm bố thí, không keo kiệt), và thành tựu về trí tuệ (Accomplishment in wisdom / sự đạt được sự hiểu biết đúng đắn).

Thế nào là thành tựu về niềm tin? Đó là khi một người thiện gia nam tử có niềm tin (faith / lòng tin vào Tam Bảo) vào sự giác ngộ của Bậc Giác Ngộ: ‘Đức Thế Tôn đó là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’ Đây gọi là thành tựu về niềm tin.

Thế nào là thành tựu về giới đức? Đó là khi một người thiện gia nam tử không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không dùng các chất say, rượu men, rượu nấu. Đây gọi là thành tựu về giới đức.

Thế nào là thành tựu về lòng rộng rãi? Đó là khi một người thiện gia nam tử sống tại gia với tâm không còn vết nhơ của sự keo kiệt, rộng rãi, hào phóng, ưa thích từ bỏ, chuyên tâm làm từ thiện, thích cho đi và chia sẻ. Đây gọi là thành tựu về lòng rộng rãi.

Thế nào là thành tựu về trí tuệ? Đó là khi một người thiện gia nam tử có trí tuệ (wisdom / sự hiểu biết đúng đắn). Vị ấy có trí tuệ về sự sinh diệt (wisdom of arising and passing away / sự hiểu biết về bản chất vô thường của các pháp), là trí tuệ thánh thiện, có khả năng thâm nhập, và đưa đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Đây gọi là thành tựu về trí tuệ.

Đây là bốn pháp đưa đến an lạc và hạnh phúc cho một người thiện gia nam tử trong các đời sau.

Họ siêng năng nơi làm việc,
Cần mẫn trong quản lý công việc,
Họ cân đối tài chính,
Và bảo tồn tài sản của mình.

Có niềm tin, thành tựu giới đức,
Rộng rãi, không còn keo kiệt,
Họ luôn thanh lọc con đường
Đến an lạc trong các đời sau.

Và như vậy tám phẩm chất này
Của người gia chủ có niềm tin
Được bậc Chân Nhân tuyên bố
Đưa đến hạnh phúc ở cả hai cõi,

An lạc và lợi ích trong đời này,
Và hạnh phúc trong các đời sau.
Đây là cách, đối với người gia chủ,
Phước báu tăng trưởng nhờ lòng rộng rãi."

(IV) (54) Dìghajanu, Người Koliya

1. Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Koliya, tại một thị trấn của dân chúng Koliya tên là Kakkarapatta. Rồi Koliya tử Dìghajànu (đầu gối dài) đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Koliya tử Dìghajànu bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, chúng con là những người gia chủ thọ hưởng những dục vọng, sống hệ phược với vợ con, dùng các hương chiên-đàn ở Kàsi đeo, và dùng các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, thọ lãnh vàng và bạc; bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp cho những người như chúng con, thuyết như thế nào để những pháp ấy đem đến cho chúng con hạnh phúc an lạc ngay trong hiện tại, và hạnh phúc an lạc trong tương lai.

2. - Này Byagghapajja (chân cọp), có các pháp này đưa đến hạnh phúc hiện tại, an lạc hiện tại cho thiện nam tử. Thế nào là bốn?

3. Ðầy đủ sự tháo vát, đầy đủ phòng hộ, làm bạn với thiện, sống thăng bằng điều hòa. Này Byagghapajja, thế nào là sống thăng bằng điều hòa?

4. Ở đây, này Byagghapajja, thiện nam tử làm nghề gì để sống, hoặc nghề nông, hoặc đi buôn, hoặc nuôi bò, hoặc làm người bắn cung, hoặc làm việc cho vua, hoặc bất cứ nghề gì, trong các nghề ấy, người ấy thiện xảo, không biết mệt, biết suy tư hiểu phương tiện vừa đủ để tự làm và điều khiển người khác làm; này Byagghapajja, đây gọi là đầy đủ sự tháo vát. Và này Byagghapajja, thế nào là đầy đủ phòng hộ?

5. Ở đây, này Byagghapajja, những tài sản của thiện nam tử do tháo vát tinh tấn thâu hoạch được, do sức mạnh bàn tay cất chứa được, do mồ hôi đổ ra đúng pháp, thâu hoạch được đúng pháp, vị ấy giữ gìn chúng, phòng hộ và bảo vệ: “Làm thế nào các tài sản này của ta không bị vua mang đi, không bị trộm cướp mang đi, không bị lửa đốt, không bị nước cuốn trôi, không bị các người con thừa tự không khả ái cướp đoạt”. Này Byagghapajja, đây gọi là đầy đủ sự phòng hộ. Và này Byagghapajja, thế nào là làm bạn với thiện?

6. Ở đây, này Byagghapajja, thiện nam tử sống tại làng hay tại thị trấn. Tại đấy có! gia chủ hay con người gia chủ, những trẻ được nuôi lớn trong giới đức, hay những người lớn tuổi được lớn lên trong giới đức, đầy đủ lòng tin, đầy đủ giới đức, đầy đủ bố thí, đầy đủ trí tuệ, vị ấy làm quen, nói chuyện, thảo luận. Với những người đầy đủ lòng tin, vị ấy học tập với đầy đủ lòng tin. Với những người đầy đủ giới đức, vị ấy học tập với đầy đủ giới đức. Với những người đầy đủ bố thí, vị ấy học tập với đầy đủ bố thí. Với những người đầy đủ trí tuệ, vị ấy học tập với đầy đủ trí tuệ. Này Byagghapajja, đây gọi là làm bạn với thiện. Và này Byagghapajja, thế nào là sống thăng bằng, điều hòa?

7. Ở đây, này Byagghapajja, thiện nam tử sau khi biết tài sản nhập, và sau khi biết tài sản xuất, sinh sống một cách điều hòa, không quá phung phí, không quá bỏn xẻn. Vị ấy suy nghĩ: “Ðây là tiền nhập của ta, sau khi trừ đi tiền xuất, còn lại như vậy; không phải đây là tiền xuất của ta, sau khi trừ đi tiền nhập, còn lại như vậy”. Ví như, này Byagghapajja, người cầm cân hay đệ tử người cầm cân, sau khi cầm cân biết rằng: “Với chừng ấy, cân nặng xuống, hay với chừng ấy, cân bổng lên”. Cũng vậy, này Byagghapajja, thiện nam tử sau khi biết tài sản nhập, và sau khi biết tài sản xuất, sinh sống một cách điều hòa, không quá phung phí, không quá bỏn xẻn. Vị ấy suy nghĩ: “Ðây là tiền nhập của ta, sau khi trừ đi tiền xuất, còn lại như vậy; không phải đây là tiền xuất của ta, sau khi trừ đi tiền nhập, còn lại như vậy”. Này Byagghapajja, nếu thiện nam tử này tiền nhập vào ít, nhưng sống nếp sống rộng rãi, hoang phí, thời người ta nói về người ấy như sau: “Người thiện nam tử này ăn tài sản của vị ấy như ăn trái cây sung”. Này Byagghapajja, nếu người thiện nam tử này có tiền nhập lớn, nhưng sống nếp sống cơ cực, thời người ta sẽ nói về vị ấy như sau: “Người thiện nam tử này sẽ chết như người chết đói”. Khi nào, này Byagghapajja, thiện nam tử này, sau khi biết tài sản nhập, và sau khi biết tài sản xuất, sống nép sống thăng bằng đìều hoà, không quá phung phí, không quá bỏn xẻn. Vị ấy suy nghĩ: “Ðây là tiền nhập của ta, sau khi trừ đi tiền xuất, còn lại như vậy; không phải đây là tiền xuất của ta, sau khi trừ đi tiền nhập, còn lại như vậy”. Này Byagghapajja, đây gọi là nếp sống thăng bằng điều hòa.

8. Như vậy, này Byagghapajja, có bốn cửa xuất để tiêu phí tài sản thâu nhập: “Ðam mê đàn bà, đam mê rượu chè, đam mê cờ bạc; bạn bè kẻ ác, thân hữu kẻ ác, giao du kẻ ác”. Ví như, này Byagghapajja, một hồ nước lớn, có bốn cửa nước chảy vào, có bốn cửa nước chảy ra, có người đóng lại các cửa nước chảy vào, mở ra các cửa nước chảy ra, trời lại không mưa đúng lúc, như vậy, này Byagghapajja, chờ đợi là hồ nước ấy bị giảm thiểu, không có tăng trưởng. Cũng vậy, này Byagghapajja, có bốn cửa xuất để tiêu phí tài sản được thâu nhập: “: “Ðam mê đàn bà, đam mê rượu chè, đam mê cờ bạc; bạn bè kẻ ác, thân hữu kẻ ác, giao du kẻ ác”.

9. Như vậy, Này Byagghapajja, có bốn cửa vào để tài sản được hưng khởi: “: “Không say đắm đàn bà, không say đắm rượu chè, không say đắm cờ bạc; bạn bè với thiện, thân hữu với thiện, giao du với thiện”. Ví như, này Byagghapajja, một hồ nước lớn, có bốn cửa nước chảy vào, có bốn cửa nước chảy ra, có người đóng lại các cửa nước chảy ra, mở ra các cửa nước chảy vào, và trời lại mưa đúng lúc, như vậy, này Byagghapajja, chờ đợi là hồ nước ấy tăng trưởng, không có giảm thiểu. Cũng vậy, này Byagghapajja, có bốn cửa vào để tài sản được hưng khởi: “Không say đắm đàn bà, không say đắm rượu chè, không say đắm cờ bạc; bạn bè với thiện, thân hữu với thiện, giao du với thiện”.

Bốn pháp này, này Byagghapajja, đưa đến hạnh phúc hiện tại, an lạc hiện tại cho các thiện nam tử.

10. Có bốn pháp này, này Byagghapajja, đưa đến hạnh phúc tương lai, an lạc tương lai cho thiện nam tử. Thế nào là bốn?

11. Ðầy đủ lòng tin, đầy đủ giới đức, đầy đủ bố thí, đầy đủ trí tuệ. Và này Byagghapajja, thế nào là đầy đủ lòng tin?

12. Ở đây, này Byagghapajja, thiện nam tử có lòng in, tin tưởng ở sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là Thế Tôn … bậc Thiên Nhân sư, Phật, Thế Tôn “. Này Byagghapajja, đây gọi là đầy đủ lòng in. Và này Byagghapajja, thế nào là đầy đủ giới đức?

13. Ở đây, này Byagghapajja, thiện nam tử từ bỏ sát sanh … từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Này Byagghapajja, đây gọi là đầy đủ giới đức. Và này Byagghapajja, thế nào là đầy đủ bố thí?

14. Ở đây, này Byagghapajja, thiện nam tử sống ở gia đình, với tâm không bị cấu uế, xan tham chi phối, bố thí rộng rãi, với bàn tay mở rộng, vui thích từ bỏ, sẵn sàng để được yêu cầu, vui thích chia xẻ vật bố thí. Này Byagghapajja, đây gọi là đầy đủ bố thí. Và này Byagghapajja, thế nào là đầy đủ trí tuệ?

15. Ở đây, này Byagghapajja, thiện nam tử có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, với thánh thể nhập (quyết trạch), chơn chánh chấm dứt khổ đau. Này Byagghapajja, đây gọi là đầy đủ trí tuệ.

Tháo vát trong công việc
Không phóng dật, nhanh nhẹn
Sống đời sống thăng bằng
Giữ tài sản thâu được
Có tin, đầy đủ giới
Bố thí, không xan tham
Rửa sạch đường thượng đạo
An toàn trong tương lai
Ðây chính là tám pháp
Bậc tín chủ tìm cầu
Bậc chân thật tuyên bố
Ðưa đến lạc hai đời
Hạnh phúc cho hiện tại
Và an lạc tương lai
Ðây trú xứ gia chủ
Bố thí, tăng công đức.

AN 8.55 Kinh Ujjaya Ujjayasutta

Bấy giờ, bà-la-môn Ujjaya đến gặp Đức Phật và chào hỏi Ngài. Sau khi chào hỏi và nói chuyện xã giao xong, ông ngồi xuống một bên và bạch Đức Phật:

“Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi muốn đi xa. Xin Đức Phật hãy dạy Pháp cho chúng tôi theo cách đưa đến an lạc và hạnh phúc trong đời này và trong các đời sau.”

"Này Bà-la-môn, bốn pháp này đưa đến an lạc và hạnh phúc cho một người thiện gia nam tử trong đời này. Bốn pháp đó là gì? Thành tựu về sự khởi xướng, thành tựu về sự bảo vệ, thành tựu về thiện hữu, và thành tựu về đời sống quân bình.

Thế nào là thành tựu về sự khởi xướng? Một người thiện gia nam tử có thể kiếm sống bằng các phương tiện như nông nghiệp, thương mại, chăn nuôi, bắn cung, phục vụ chính quyền, hoặc một trong các nghề nghiệp khác. Vị ấy hiểu biết cách thức tiến hành những việc này để hoàn thành và tổ chức công việc. Đây gọi là thành tựu về sự khởi xướng.

Thế nào là thành tựu về sự bảo vệ? Đó là khi một người thiện gia nam tử sở hữu tài sản hợp pháp mà vị ấy đã kiếm được bằng nỗ lực và sự chủ động của bản thân, gây dựng bằng chính đôi tay mình, thu được bằng mồ hôi công sức. Vị ấy đảm bảo tài sản được canh giữ và bảo vệ, suy nghĩ rằng: ‘Làm sao ta có thể ngăn chặn tài sản của mình bị vua quan hay trộm cướp lấy đi, bị lửa thiêu, bị nước cuốn trôi, hoặc bị những người thừa kế không ưa thích chiếm đoạt?’ Đây gọi là thành tựu về sự bảo vệ.

Thế nào là thành tựu về thiện hữu? Đó là khi một người thiện gia nam tử cư trú trong một thị trấn hay làng mạc. Và ở nơi đó có những người gia chủ hoặc con cái của họ, có thể trẻ hoặc già, nhưng trưởng thành trong hạnh kiểm, thành tựu về niềm tin, giới đức, lòng rộng rãi, và trí tuệ. Vị ấy kết giao, trò chuyện và tham gia thảo luận với họ. Và vị ấy noi theo những thành tựu tương tự về niềm tin, giới đức, lòng rộng rãi, và trí tuệ. Đây gọi là thành tựu về thiện hữu.

Thế nào là thành tựu về đời sống quân bình? Đó là khi một người thiện gia nam tử, biết rõ thu nhập và chi tiêu của mình, cân đối tài chính, không quá hoang phí cũng không quá keo kiệt. Vị ấy nghĩ: ‘Bằng cách này, thu nhập của ta sẽ vượt quá chi tiêu, chứ không ngược lại.’ Giống như một người thẩm định giá hoặc người học việc của họ, khi cầm cán cân, biết rằng nó thấp đi bao nhiêu hay cao lên bao nhiêu. Cũng vậy, một người thiện gia nam tử, biết rõ thu nhập và chi tiêu của mình, cân đối tài chính, không quá hoang phí cũng không quá keo kiệt. Vị ấy nghĩ: ‘Bằng cách này, thu nhập của ta sẽ vượt quá chi tiêu, chứ không ngược lại.’ Nếu một người thiện gia nam tử có ít thu nhập nhưng sống xa hoa, người ta sẽ nói: ‘Người thiện gia nam tử này tiêu xài tài sản như người ăn quả sung!’ Nếu một người thiện gia nam tử có thu nhập lớn nhưng sống khắc khổ, người ta sẽ nói: ‘Người thiện gia nam tử này đang bỏ đói bản thân đến chết!’ Nhưng một người thiện gia nam tử, biết rõ thu nhập và chi tiêu của mình, sống một đời sống quân bình, không quá hoang phí cũng không quá keo kiệt, nghĩ rằng: ‘Bằng cách này, thu nhập của ta sẽ vượt quá chi tiêu, chứ không ngược lại.’ Đây gọi là thành tựu về đời sống quân bình.

Có bốn cửa ngõ làm tiêu hao tài sản đã được thu thập theo cách này. Đam mê nữ sắc, nghiện rượu, cờ bạc, và có bạn xấu, người đồng hành xấu, kẻ liên hệ xấu. Giả sử có một hồ chứa nước lớn với bốn cửa dẫn nước vào và bốn cửa thoát nước ra. Và có người mở các cửa thoát nước và đóng các cửa dẫn nước vào, và trời không mưa đủ. Người ta sẽ trông đợi hồ chứa nước lớn đó cạn đi chứ không đầy lên. Cũng vậy, có bốn cửa ngõ làm tiêu hao tài sản đã được thu thập theo cách này. Đam mê nữ sắc, nghiện rượu, cờ bạc, và có bạn xấu, người đồng hành xấu, kẻ liên hệ xấu.

Có bốn cửa ngõ làm tăng trưởng tài sản đã được thu thập theo cách này. Không đam mê nữ sắc, nghiện rượu, hay cờ bạc, và có bạn tốt, người đồng hành tốt, kẻ liên hệ tốt. Giả sử có một hồ chứa nước lớn với bốn cửa dẫn nước vào và bốn cửa thoát nước ra. Và có người mở các cửa dẫn nước vào và đóng các cửa thoát nước ra, và trời mưa nhiều. Người ta sẽ trông đợi hồ chứa nước lớn đó đầy lên chứ không cạn đi. Cũng vậy, có bốn cửa ngõ làm tăng trưởng tài sản đã được thu thập theo cách này. Không đam mê nữ sắc, nghiện rượu, hay cờ bạc, và có bạn tốt, người đồng hành tốt, kẻ liên hệ tốt.

Đây là bốn pháp đưa đến an lạc và hạnh phúc cho một người thiện gia nam tử trong đời này.

Bốn pháp này đưa đến an lạc và hạnh phúc cho một người thiện gia nam tử trong các đời sau. Bốn pháp đó là gì? Thành tựu về niềm tin, thành tựu về giới đức, thành tựu về lòng rộng rãi, và thành tựu về trí tuệ.

Thế nào là thành tựu về niềm tin? Đó là khi một người thiện gia nam tử có niềm tin vào sự giác ngộ của Bậc Giác Ngộ: ‘Đức Thế Tôn đó là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’ Đây gọi là thành tựu về niềm tin.

Thế nào là thành tựu về giới đức? Đó là khi một người thiện gia nam tử không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không dùng các chất say, rượu men, rượu nấu. Đây gọi là thành tựu về giới đức.

Thế nào là thành tựu về lòng rộng rãi? Đó là khi một người thiện gia nam tử sống tại gia với tâm không còn vết nhơ của sự keo kiệt, rộng rãi, hào phóng, ưa thích từ bỏ, chuyên tâm làm từ thiện, thích cho đi và chia sẻ. Đây gọi là thành tựu về lòng rộng rãi.

Thế nào là thành tựu về trí tuệ? Đó là khi một người thiện gia nam tử có trí tuệ. Vị ấy có trí tuệ về sự sinh diệt, là trí tuệ thánh thiện, có khả năng thâm nhập, và đưa đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Đây gọi là thành tựu về trí tuệ.

Đây là bốn pháp đưa đến an lạc và hạnh phúc cho một người thiện gia nam tử trong các đời sau.

Họ siêng năng nơi làm việc,
Cần mẫn trong quản lý công việc,
Họ cân đối tài chính,
Và bảo tồn tài sản của mình.

Có niềm tin, thành tựu giới đức,
Rộng rãi, không còn keo kiệt,
Họ luôn thanh lọc con đường
Đến an lạc trong các đời sau.

Và như vậy tám phẩm chất này
Của người gia chủ có niềm tin
Được bậc Chân Nhân tuyên bố
Đưa đến hạnh phúc ở cả hai cõi,

An lạc và lợi ích trong đời này,
Và hạnh phúc trong đời sau.
Đây là cách, đối với người gia chủ,
Phước báu tăng trưởng nhờ lòng rộng rãi."

(V ) (55) Bà-La-Môn Ujjaya

1. Rồi Bà-la-môn Ujjaya đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Ujjaya bạch Thế Tôn:

− Chúng con muốn đi nước ngoài, Tôn giả Gotama hãy thuyết pháp cho những người như chúng con, thuyết pháp như thế nào để những pháp ấy đem lại cho chúng con hạnh phú hiện tại, an lạc hiện tại, hạnh phúc tương lai, an lạc tương lai.

2. … (như bài kinh 54 kể cả bài kệ, với những thay đổi cần thiết ).

AN 8.56 Nguy Hiểm Bhayasutta

"Này các tỳ-khưu, ‘nguy hiểm’ (danger / mối đe dọa, sự không an toàn) là một thuật ngữ chỉ các dục lạc. ‘Khổ đau’ (suffering / sự bất toại nguyện, đau đớn về thể chất và tinh thần), ‘bệnh tật’ (disease / sự ốm đau), ‘ung nhọt’ (boil / khối mủ sưng đau), ‘mũi tên’ (dart / vật nhọn gây đau đớn), ‘cạm bẫy’ (snare / cái bẫy để bắt giữ), ‘đầm lầy’ (bog / vùng đất lầy lội khó thoát ra), và ‘thai tạng’ (womb / nơi chứa đựng bào thai, ẩn dụ cho sự tái sinh) là những thuật ngữ chỉ các dục lạc. Và tại sao ‘nguy hiểm’ là một thuật ngữ chỉ các dục lạc? Người nào bị mê đắm bởi tham dục (sensual greed / lòng tham muốn các dục lạc) và bị trói buộc bởi dục vọng (lustful desire / sự ham muốn mãnh liệt về tình dục và các thú vui giác quan) thì không được giải thoát khỏi những nguy hiểm trong đời này hay trong các đời sau. Đó là lý do tại sao ‘nguy hiểm’ là một thuật ngữ chỉ các dục lạc. Và tại sao ‘khổ đau’, ‘bệnh tật’, ‘ung nhọt’, ‘mũi tên’, ‘cạm bẫy’, ‘đầm lầy’, và ‘thai tạng’ là những thuật ngữ chỉ các dục lạc? Người nào bị mê đắm bởi tham dục và bị trói buộc bởi dục vọng thì không được giải thoát khỏi các thai tạng (sự tái sinh) trong đời này hay trong các đời sau. Đó là lý do tại sao ‘thai tạng’ là một thuật ngữ chỉ các dục lạc.

Nguy hiểm, khổ đau, và bệnh tật,
Ung nhọt, mũi tên, và cạm bẫy,
Cả đầm lầy và thai tạng nữa.
Những điều này mô tả các dục lạc
phàm phu (ordinary people / người chưa giác ngộ, còn bị phiền não chi phối) còn dính mắc.

Bị nhấn chìm bởi những thứ có vẻ dễ chịu,
Ngươi đi vào một thai tạng khác.
Nhưng khi một tỳ-khưu nhiệt tâm,
Và không quên sự tỉnh thức (awareness / sự nhận biết rõ ràng những gì đang xảy ra trong hiện tại),

Bằng cách này họ vượt qua
Đầm lầy khổ ải này.
Họ nhìn thấy chúng sinh này đang vùng vẫy,
Rơi vào vòng sinh và già."

(VI) (56) Sợ Hãi

1.- Sợ hãi, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Ðau khổ, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Bệnh tật, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Cục bướu, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Mũi tên, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Trói buộc, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Bùn, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Thai tạng, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với các dục.

2. Như thế nào, này các Tỷ-kheo, sợ hãi là đồng nghĩa với các dục?

Vì rằng, những ai bị dục ái nhiễm, những ai bị dục tham trói buộc, không được giải thoát khỏi sợ hãi hiện tại, không được giải thoát khỏi sợ hãi trong tương lai; do vậy, sợ hãi là đồng nghĩa với các dục.

3. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, khổ … bệnh … cục bướu … mũi tên … trói buộc … bùn … Như thế nào thai tạng là đồng nghĩa với các dục?

Vì rằng, những ai bị dục ái nhiễm, những ai bị dục tham trói buộc, không được giải thoát khỏi sợ hãi hiện tại, không được giải thoát khỏi sợ hãi trong tương lai; do vậy, sợ hãi là đồng nghĩa với các dục.

Sợ hãi, khổ và bệnh
Cục bướu và mũi tên
Trói buộc và bùn lầy
Cả hai cùng thai tạng
Chúng được gọi tình dục
Chỗ phàm phu ái nhiễm
Chìm đắm trong sắc đẹp
Chúng lại vào thai tạng
Khi Tỷ-kheo nhiệt tình
Không thả lỏng tỉnh giác
Vượt đường hiểm nạn này
Con đường khó vượt qua
Vị ấy nhìn chúng sanh
Ðang sống trong sợ hãi
Vì bị sanh và già
Ám ảnh và chinh phục.

AN 8.57 Xứng Đáng Nhận Cúng Dường (1) Paṭhamaāhuneyyasutta

"Này các tỳ-khưu, một vị tỳ-khưu có tám phẩm chất thì xứng đáng nhận vật cúng dường của chư thiên (Worthy of Offerings Dedicated to the Gods / bậc xứng đáng được tôn kính và cúng dường cao nhất), xứng đáng được tiếp đón, xứng đáng nhận vật tặng phẩm, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời (supreme field of merit for the world / nơi gieo trồng công đức mang lại kết quả tốt đẹp nhất). Tám phẩm chất đó là gì?

Đó là khi một vị tỳ-khưu có giới đức, thu thúc trong giới bổn, có hạnh kiểm tốt và đi khất thực ở những nơi thích hợp. Thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt nhất, vị ấy giữ gìn các học giới đã thọ nhận.

Vị ấy là người đa văn, ghi nhớ và nắm giữ những gì đã học. Những lời dạy này tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và văn cú hoàn hảo, mô tả một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Vị ấy rất thông thạo những lời dạy như vậy, ghi nhớ chúng, tụng đọc chúng, thẩm sát bằng tâm ý, và thông hiểu bằng trí tuệ.

Vị ấy có bạn tốt, người đồng hành tốt, kẻ liên hệ tốt.

Vị ấy có chánh kiến (right view / sự hiểu biết đúng đắn về Tứ Diệu Đế và bản chất của thực tại), sở hữu cái nhìn đúng đắn.

Vị ấy chứng đắc tứ thiền (four absorptions / bốn trạng thái nhập định sâu sắc trong thiền định)—những trạng thái thiền định an lạc trong đời này thuộc về tâm cao thượng—bất cứ khi nào muốn, không khó khăn, không mệt nhọc.

Vị ấy nhớ lại nhiều đời quá khứ, với các đặc điểm và chi tiết.

Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân (clairvoyance that is purified and surpasses the human / khả năng nhìn thấy các cảnh giới khác và sự tái sinh của chúng sinh, vượt xa mắt thường), vị ấy thấy chúng sinh tái sinh như thế nào tùy theo nghiệp của họ.

Vị ấy chứng ngộ tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn ô nhiễm (undefiled freedom of heart and freedom by wisdom / sự giải thoát hoàn toàn khỏi phiền não nhờ định và tuệ) ngay trong đời này. Và vị ấy sống sau khi đã tự mình chứng ngộ bằng trí tuệ thấu suốt nhờ sự đoạn trừ các lậu hoặc (defilements / những ô nhiễm tinh thần làm chúng sinh trôi lăn trong luân hồi).

Một vị tỳ-khưu có tám phẩm chất này thì xứng đáng nhận vật cúng dường của chư thiên, xứng đáng được tiếp đón, xứng đáng nhận vật tặng phẩm, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời."

(VII) (57) Xứng Ðáng Ðược Cúng Dường (1)

1.- Thành tựu tám pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Thế nào là tám?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo giữ giới … chấp nhận và học tập trong các học pháp; nghe nhiều, khéo thể nhập trong chánh tri kiến; làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao du với thiện; có chánh tri kiến, thành tựu chánh kiến; chứng được bốn Thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức; nhớ được nhiều đời trước, như một đời, hai đời … nhớ được nhiều đời trước với các tướng trạng với các chi tiết; với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân … rõ biết các chúng sanh, tùy theo hạnh nghiệp của chúng; do đoạn diệt các lậu hoặc … chứng ngộ, chứng đạt và an trú.

Thành tựu tám pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính … là ruộng phước vô thượng ở đời.

AN 8.58 Xứng Đáng Nhận Cúng Dường (2) Dutiyaāhuneyyasutta

"Một vị tỳ-khưu có tám phẩm chất thì xứng đáng nhận vật cúng dường của chư thiên, xứng đáng được tiếp đón, xứng đáng nhận vật tặng phẩm, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời. Tám phẩm chất đó là gì?

Đó là khi một vị tỳ-khưu có giới đức, thu thúc trong giới bổn, có hạnh kiểm tốt và đi khất thực ở những nơi thích hợp. Thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt nhất, vị ấy giữ gìn các học giới đã thọ nhận.

Vị ấy là người đa văn, ghi nhớ và nắm giữ những gì đã học. Những lời dạy này tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và văn cú hoàn hảo, mô tả một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Vị ấy rất thông thạo những lời dạy như vậy, ghi nhớ chúng, tụng đọc chúng, thẩm sát bằng tâm ý, và thông hiểu bằng trí tuệ.

Vị ấy sống với nghị lực được khơi dậy. Vị ấy mạnh mẽ, kiên cường, không lười nhác khi phát triển các phẩm chất thiện lành.

Vị ấy sống ở nơi hoang dã, trong các trú xứ xa xôi hẻo lánh.

Vị ấy chế ngự được tham ái và bất mãn (discontent / sự không hài lòng, khó chịu), và sống làm chủ được tham ái và bất mãn mỗi khi chúng khởi lên.

Vị ấy chế ngự được sợ hãi và kinh hoàng, và sống làm chủ được sợ hãi và kinh hoàng mỗi khi chúng khởi lên.

Vị ấy chứng đắc tứ thiền—những trạng thái thiền định an lạc trong đời này thuộc về tâm cao thượng—bất cứ khi nào muốn, không khó khăn, không mệt nhọc.

Vị ấy chứng ngộ tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn ô nhiễm ngay trong đời này. Và vị ấy sống sau khi đã tự mình chứng ngộ bằng trí tuệ thấu suốt nhờ sự đoạn trừ các lậu hoặc.

Một vị tỳ-khưu có tám phẩm chất này thì xứng đáng nhận vật cúng dường của chư thiên, xứng đáng được tiếp đón, xứng đáng nhận vật tặng phẩm, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời."

(VIII) (58) Xứng Ðáng Ðược Cúng Dường (2)

1.- Thành tựu tám pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Thế nào là tám?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo giữ giới … chấp nhận và học tập trong các học pháp; nghe nhiều, khéo thể nhập trong chánh tri kiến; sống tinh cần tinh tấn, nỗ lực kiên trì, không bỏ rơi gánh nặng trong các thiện pháp; sống tại rừng núi, tại các trú xứ xa vắng, chịu đựng lạc và bất lạc, luôn luôn nhiếp phục bất lạc nổi lên; chịu đựng sợ hãi và khiếp đảm, luôn luôn nhiếp phục sợ hãi và khiếp đảm nổi lên; chứng được bốn Thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức; do đoạn diệt các lậu hoặc … chứng ngộ, chứng đạt và an trú.

Thành tựu tám pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính … là ruộng phước vô thượng ở đời.

AN 8.59 Tám Hạng Người (1) Paṭhamapuggalasutta

"Này các tỳ-khưu, tám hạng người này xứng đáng nhận vật cúng dường của chư thiên, xứng đáng được tiếp đón, xứng đáng nhận vật tặng phẩm, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời. Tám hạng người đó là gì? Bậc Dự lưu (stream-enterer / người đã nhập vào dòng thánh, chắc chắn đạt Niết-bàn) và người đang thực hành để chứng quả Dự lưu (fruit of stream-entry / thành quả của bậc Dự lưu). Bậc Nhất lai (once-returner / người chỉ còn tái sinh một lần nữa ở cõi dục) và người đang thực hành để chứng quả Nhất lai (fruit of once-return / thành quả của bậc Nhất lai). Bậc Bất lai (non-returner / người không còn tái sinh trở lại cõi dục) và người đang thực hành để chứng quả Bất lai (fruit of non-return / thành quả của bậc Bất lai). Bậc A-la-hán (perfected one / người đã hoàn toàn giác ngộ, chấm dứt khổ đau và tái sinh), và người đang thực hành để chứng quả A-la-hán (fruit of perfection / thành quả của bậc A-la-hán). Đây là tám hạng người xứng đáng nhận vật cúng dường của chư thiên, xứng đáng được tiếp đón, xứng đáng nhận vật tặng phẩm, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời.

Bốn vị đang hành đạo,
Và bốn vị đã chứng quả.
Đây là Tăng đoàn chân chính,
Với trí tuệ, giới đức, và định (immersion / sự tập trung tâm ý, thiền định).

Đối với loài người, những chúng sinh tìm cầu phước báu,
Những người cúng dường tế lễ,
Tạo phước báu thế gian,
Những gì cúng dường cho Tăng đoàn thì có quả lớn."

(IX) (59) Tám Hạng Người (1)

1. - Có tám hạng người này, này các Tỷ-kheo, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Thế nào là tám?

2. Bậc Dự lưu, bậc đã hướng đến sự chứng ngộ quả Dự lưu; Bậc Nhất lai, bậc đã hướng đến sự chứng ngộ quả Nhất lai; Bậc Bất lai, bậc đã hướng đến sự chứng ngộ quả bất lai; Bậc A-la-hán, bậc đã hướng đến sự chứng ngộ quả A-la-hán.

Tám hạng người này, này các Tỷ-kheo, đáng được cung kính … là ruộng phước vô thượng ở đời.

Bốn vị đã trú quả
Tăng chúng này chánh trực
Trí tuệ, giới, Thiền định
Loài Người cúng thí vật
Chúng sanh cầu phước đức
Làm công đức tái sanh
Tăng chúng tăng quả lớn.

AN 8.60 Tám Hạng Người (2) Dutiyapuggalasutta

"Này các tỳ-khưu, tám hạng người này xứng đáng nhận vật cúng dường của chư thiên, xứng đáng được tiếp đón, xứng đáng nhận vật tặng phẩm, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời. Tám hạng người đó là gì? Bậc Dự lưu và người đang thực hành để chứng quả Dự lưu. Bậc Nhất lai và người đang thực hành để chứng quả Nhất lai. Bậc Bất lai và người đang thực hành để chứng quả Bất lai. Bậc A-la-hán, và người đang thực hành để chứng quả A-la-hán. Đây là tám hạng người xứng đáng nhận vật cúng dường của chư thiên, xứng đáng được tiếp đón, xứng đáng nhận vật tặng phẩm, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời.

Bốn vị đang hành đạo,
Và bốn vị đã chứng quả.
Đây là Tăng đoàn cao thượng,
Tám hạng người giữa chúng sinh.

Đối với loài người, những chúng sinh tìm cầu phước báu,
Những người cúng dường tế lễ,
Tạo phước báu thế gian,
Những gì cúng dường ở đây thì có quả lớn."

(X) (60) Tám Hạng Người (2)

1-2. … (giống như đoạn 1, 2 của kinh trên, chỉ có bài kệ hơi khác) …

Bốn vị đã hướng đến
Bốn vị đã trú quả
Tăng chúng này tối thắng
Tám người giữa chúng sanh
Loài Người cúng thí vật
Chúng sanh cầu phước đức
Làm công đức tái sanh
Tăng chúng tăng quả lớn.