Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về Động Đất

AN 8.61 Kinh Ước Muốn (Icchāsutta)

"Này các Tỷ kheo, có tám hạng người này được tìm thấy ở đời. Tám hạng người nào?

Thứ nhất, khi một vị Tỷ kheo sống độc cư, biệt lập, một ước muốn khởi lên đối với lợi dưỡng (material things / của cải vật chất, sự cúng dường). Vị ấy cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Nhưng lợi dưỡng không đến với vị ấy. Và do đó vị ấy sầu muộn, than khóc, đấm ngực và rơi vào hoang mang vì không có được những lợi dưỡng ấy. Đây gọi là một vị Tỷ kheo sống ước muốn lợi dưỡng. Vị ấy cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Nhưng khi không đạt được lợi dưỡng, vị ấy sầu muộn và than khóc. Vị ấy đã rời xa Chánh pháp (true teaching / giáo pháp chân chính).

Tiếp theo, khi một vị Tỷ kheo sống độc cư, biệt lập, một ước muốn khởi lên đối với lợi dưỡng. Vị ấy cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Và lợi dưỡng đến với vị ấy. Và do đó vị ấy trở nên say đắm và rơi vào sao nhãng (negligence / sự lơ là, không chú tâm) đối với những lợi dưỡng ấy. Đây gọi là một vị Tỷ kheo sống ước muốn lợi dưỡng. Vị ấy cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Và khi đạt được lợi dưỡng, vị ấy trở nên say đắm và sao nhãng. Vị ấy đã rời xa Chánh pháp.

Tiếp theo, khi một vị Tỷ kheo sống độc cư, biệt lập, một ước muốn khởi lên đối với lợi dưỡng. Vị ấy không cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Và lợi dưỡng không đến với vị ấy. Và do đó vị ấy sầu muộn, than khóc, đấm ngực và rơi vào hoang mang vì không có được những lợi dưỡng ấy. Đây gọi là một vị Tỷ kheo sống ước muốn lợi dưỡng. Vị ấy không cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Và khi không đạt được lợi dưỡng, vị ấy sầu muộn và than khóc. Vị ấy đã rời xa Chánh pháp.

Tiếp theo, khi một vị Tỷ kheo sống độc cư, biệt lập, một ước muốn khởi lên đối với lợi dưỡng. Vị ấy không cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Nhưng lợi dưỡng đến với vị ấy. Và do đó vị ấy trở nên say đắm và rơi vào sao nhãng đối với những lợi dưỡng ấy. Đây gọi là một vị Tỷ kheo sống ước muốn lợi dưỡng. Vị ấy không cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Nhưng khi đạt được lợi dưỡng, vị ấy trở nên say đắm và sao nhãng. Vị ấy đã rời xa Chánh pháp.

Tiếp theo, khi một vị Tỷ kheo sống độc cư, biệt lập, một ước muốn khởi lên đối với lợi dưỡng. Vị ấy cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Nhưng lợi dưỡng không đến với vị ấy. Nhưng vị ấy không sầu muộn, than khóc, đấm ngực và rơi vào hoang mang vì không có được những lợi dưỡng ấy. Đây gọi là một vị Tỷ kheo sống ước muốn lợi dưỡng. Vị ấy cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Nhưng khi không đạt được lợi dưỡng, vị ấy không sầu muộn và than khóc. Vị ấy không rời xa Chánh pháp.

Tiếp theo, khi một vị Tỷ kheo sống độc cư, biệt lập, một ước muốn khởi lên đối với lợi dưỡng. Vị ấy cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Và lợi dưỡng đến với vị ấy. Nhưng vị ấy không trở nên say đắm và rơi vào sao nhãng đối với những lợi dưỡng ấy. Đây gọi là một vị Tỷ kheo sống ước muốn lợi dưỡng. Vị ấy cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Nhưng khi đạt được lợi dưỡng, vị ấy không trở nên say đắm và sao nhãng. Vị ấy không rời xa Chánh pháp.

Tiếp theo, khi một vị Tỷ kheo sống độc cư, biệt lập, một ước muốn khởi lên đối với lợi dưỡng. Vị ấy không cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Và lợi dưỡng không đến với vị ấy. Nhưng vị ấy không sầu muộn, than khóc, đấm ngực và rơi vào hoang mang vì không có được những lợi dưỡng ấy. Đây gọi là một vị Tỷ kheo sống ước muốn lợi dưỡng. Vị ấy không cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Và khi không đạt được lợi dưỡng, vị ấy không sầu muộn và than khóc. Vị ấy không rời xa Chánh pháp.

Tiếp theo, khi một vị Tỷ kheo sống độc cư, biệt lập, một ước muốn khởi lên đối với lợi dưỡng. Vị ấy không cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Nhưng lợi dưỡng đến với vị ấy. Nhưng vị ấy không trở nên say đắm và rơi vào sao nhãng đối với những lợi dưỡng ấy. Đây gọi là một vị Tỷ kheo sống ước muốn lợi dưỡng. Vị ấy không cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Và khi đạt được lợi dưỡng, vị ấy không trở nên say đắm và sao nhãng. Vị ấy không rời xa Chánh pháp.

Đó là tám hạng người được tìm thấy ở đời."

VII. Phẩm Ðất Rung Ðộng

(I) (61) Dục

1. - Này các Tỷ-kheo, có tám hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là tám?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn khởi lên ước muốn có lợi dưỡng. Vị ấy hăng hái, phấn chấn tinh tấn để được lợi dưỡng. Dầu cho hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng, nhưng lợi dưỡng không khởi lên. Do không thấy được lợi dưỡng ấy, vị ấy sầu muộn, than van, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Này các Tỷ-kheo, vị ấy được gọi là Tỷ-kheo sống muốn lợi dưỡng, hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng. Do không thấy được lợi dưỡng ấy, vị ấy sầu muộn, than van, khóc lóc, bỏ rơi diệu pháp.

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn khởi lên ước muốn có lợi dưỡng. Vị ấy hăng hái, phấn chấn tinh tấn để được lợi dưỡng. Dầu cho hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng. Do hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng, lợi dưỡng khởi lên. Với lợi dưỡng ấy, vị ấy đắm say, phóng dật, rơi vào trạng thái đắm say, phóng dật. Ðây gọi là Tỷ-kheo sống muốn lợi dưỡng, hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng; được lợi dưỡng, trở thành đắm say, phóng dật, và bỏ rơi diệu pháp.

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Có vị Tỷ-kheo trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn khởi lên ước muốn có lợi dưỡng. Vị ấy không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng. Do vị ấy không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng, lợi dưỡng không khởi lên. Vị ấy do không được lợi dưỡng, nên sầu muộn, than van, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Ðây gọi là Tỷ-kheo sống ham muốn lợi dưỡng, không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng; không được lợi dưỡng, vị ấy sầu muộn, than van, khóc lóc, bỏ rơi diệu pháp.

5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn khởi lên ước muốn có lợi dưỡng. Vị ấy không hăng hái, không phấn chấn không tinh tấn để được lợi dưỡng. Dầu vị ấy không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng, lợi dưỡng khởi lên. Do không thấy được lợi dưỡng ấy, vị ấy sầu muộn, than van, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Này các Tỷ-kheo, vị ấy được gọi là Tỷ-kheo sống lợi dưỡng, hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng. Do không thấy được lợi dưỡng ấy, vị ấy sầu muộn, than van, khóc lóc, bỏ rơi diệu pháp. Với lợi dưỡng ấy, vị ấy đắm say, phóng dật, rơi vào trạng thái đắm say, phóng dật. Ðây gọi là Tỷ-kheo sống muốn lợi dưỡng, không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng; được lợi dưỡng, trở thành đắm say, phóng dật, và bỏ rơi diệu pháp.

6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn khởi lên ước muốn có lợi dưỡng. Vị ấy hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng. Dầu cho vị ấy hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng, lợi dưỡng không khởi lên. Vị ấy, do không được lợi dưỡng, không có sầu muộn, không có than van, không có khóc lóc, không có đập ngực, không có rơi vào bất tỉnh. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là Tỷ-kheo sống muốn lợi dưỡng, hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng; không được lợi dưỡng, không có sầu muộn, không có than van, và không bỏ rơi diệu pháp.

7. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn khởi lên ước muốn có lợi dưỡng. Vị ấy hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng. Do vị ấy hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng, lợi dưỡng khởi lên. Với lợi dưỡng ấy, vị ấy không đắm say, không phóng dật, không có rơi vào trạng thái đắm say. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo sống muốn lợi dưỡng, hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng; được lợi dưỡng, không đắm say, không phóng dật, và không bỏ rơi diệu pháp.

8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn khởi lên ước muốn có lợi dưỡng. Vị ấy không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng. Do vị ấy không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng, lợi dưỡng không khởi lên. Vị ấy được lợi dưỡng, không có sầu muộn, không có than van, không có khóc lóc, không có đập ngực, không có rơi vào bất tỉnh. Ðây gọi là Tỷ-kheo sống muốn lợi dưỡng, không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng; không được lợi dưỡng, vị ấy không sầu muộn, không than van, không khóc lóc, và không bỏ rơi diệu pháp.

9. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Có Tỷ-kheo trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn khởi lên ước muốn có lợi dưỡng. Vị ấy không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng. Dầu cho vị ấy không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng, lợi dưỡng khởi lên. Với lợi dưỡng ấy, vị ấy không đắm say, không phóng dật, không có rơi vào trạng thái đắm say. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo sống muốn lợi dưỡng, không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng; được lợi dưỡng, không đắm say, không phóng dật, và không bỏ rơi diệu pháp.

Này các Tỷ-kheo, có tám hạng người này sống có mặt, hiện hữu ở đời.

AN 8.62 Kinh Vừa Đủ (Alaṁsutta)

"Này các Tỷ kheo, một vị Tỷ kheo với sáu phẩm chất là đủ cho chính mình và cho người khác. Sáu phẩm chất nào? Một vị Tỷ kheo nhanh trí đối với các thiện pháp (skillful teachings / các pháp lành, các lời dạy thiện xảo). Vị ấy dễ dàng ghi nhớ những lời dạy đã nghe. Vị ấy quán xét ý nghĩa của những lời dạy đã ghi nhớ. Hiểu rõ ý nghĩa và giáo pháp, vị ấy thực hành theo đúng như vậy. Vị ấy là người nói giỏi, phát âm rõ ràng. Giọng nói của vị ấy trau chuốt, trong sáng, mạch lạc và diễn đạt được ý nghĩa. Vị ấy giáo huấn, khích lệ, làm phấn chấn và truyền cảm hứng cho các bạn đồng tu (spiritual companions / những người bạn cùng thực hành tâm linh). Một vị Tỷ kheo với sáu phẩm chất này là đủ cho chính mình và cho người khác.

Một vị Tỷ kheo với năm phẩm chất là đủ cho chính mình và cho người khác. Năm phẩm chất nào? Một vị Tỷ kheo không nhanh trí đối với các thiện pháp. Vị ấy dễ dàng ghi nhớ những lời dạy đã nghe. Vị ấy quán xét ý nghĩa của những lời dạy đã ghi nhớ. Hiểu rõ ý nghĩa và giáo pháp, vị ấy thực hành theo đúng như vậy. Vị ấy là người nói giỏi. Giọng nói của vị ấy trau chuốt, trong sáng, mạch lạc và diễn đạt được ý nghĩa. Vị ấy giáo huấn, khích lệ, làm phấn chấn và truyền cảm hứng cho các bạn đồng tu. Một vị Tỷ kheo với năm phẩm chất này là đủ cho chính mình và cho người khác.

Một vị Tỷ kheo với bốn phẩm chất là đủ cho chính mình nhưng không đủ cho người khác. Bốn phẩm chất nào? Một vị Tỷ kheo nhanh trí đối với các thiện pháp. Vị ấy dễ dàng ghi nhớ những lời dạy đã nghe. Vị ấy quán xét ý nghĩa của những lời dạy đã ghi nhớ. Hiểu rõ ý nghĩa và giáo pháp, vị ấy thực hành theo đúng như vậy. Nhưng vị ấy không phải là người nói giỏi và không phát âm rõ ràng. Giọng nói của vị ấy không trau chuốt, trong sáng, mạch lạc và không diễn đạt được ý nghĩa. Vị ấy không giáo huấn, khích lệ, làm phấn chấn và truyền cảm hứng cho các bạn đồng tu. Một vị Tỷ kheo với bốn phẩm chất này là đủ cho chính mình nhưng không đủ cho người khác.

Một vị Tỷ kheo với bốn phẩm chất là đủ cho người khác nhưng không đủ cho chính mình. Bốn phẩm chất nào? Một vị Tỷ kheo nhanh trí đối với các thiện pháp. Vị ấy dễ dàng ghi nhớ những lời dạy đã nghe. Nhưng vị ấy không quán xét ý nghĩa của những lời dạy đã ghi nhớ. Không hiểu rõ ý nghĩa và giáo pháp, vị ấy không thực hành theo đúng như vậy. Vị ấy là người nói giỏi, phát âm rõ ràng. Giọng nói của vị ấy trau chuốt, trong sáng, mạch lạc và diễn đạt được ý nghĩa. Vị ấy giáo huấn, khích lệ, làm phấn chấn và truyền cảm hứng cho các bạn đồng tu. Một vị Tỷ kheo với bốn phẩm chất này là đủ cho người khác nhưng không đủ cho chính mình.

Một vị Tỷ kheo với ba phẩm chất là đủ cho chính mình nhưng không đủ cho người khác. Ba phẩm chất nào? Một vị Tỷ kheo không nhanh trí đối với các thiện pháp. Vị ấy dễ dàng ghi nhớ những lời dạy đã nghe. Vị ấy quán xét ý nghĩa của những lời dạy đã ghi nhớ. Hiểu rõ ý nghĩa và giáo pháp, vị ấy thực hành theo đúng như vậy. Nhưng vị ấy không phải là người nói giỏi và không phát âm rõ ràng. Giọng nói của vị ấy không trau chuốt, trong sáng, mạch lạc và không diễn đạt được ý nghĩa. Vị ấy không giáo huấn, khích lệ, làm phấn chấn và truyền cảm hứng cho các bạn đồng tu. Một vị Tỷ kheo với ba phẩm chất này là đủ cho chính mình nhưng không đủ cho người khác.

Một vị Tỷ kheo với ba phẩm chất là đủ cho người khác nhưng không đủ cho chính mình. Ba phẩm chất nào? Một vị Tỷ kheo không nhanh trí đối với các thiện pháp. Vị ấy dễ dàng ghi nhớ những lời dạy đã nghe. Nhưng vị ấy không quán xét ý nghĩa của những lời dạy đã ghi nhớ. Không hiểu rõ ý nghĩa và giáo pháp, vị ấy không thực hành theo đúng như vậy. Vị ấy là người nói giỏi. Giọng nói của vị ấy trau chuốt, trong sáng, mạch lạc và diễn đạt được ý nghĩa. Vị ấy giáo huấn, khích lệ, làm phấn chấn và truyền cảm hứng cho các bạn đồng tu. Một vị Tỷ kheo với ba phẩm chất này là đủ cho người khác nhưng không đủ cho chính mình.

Một vị Tỷ kheo với hai phẩm chất là đủ cho chính mình nhưng không đủ cho người khác. Hai phẩm chất nào? Một vị Tỷ kheo không nhanh trí đối với các thiện pháp. Và vị ấy không dễ dàng ghi nhớ những lời dạy đã nghe. Nhưng vị ấy quán xét ý nghĩa của những lời dạy đã ghi nhớ. Hiểu rõ ý nghĩa và giáo pháp, vị ấy thực hành theo đúng như vậy. Vị ấy không phải là người nói giỏi. Giọng nói của vị ấy không trau chuốt, trong sáng, mạch lạc và không diễn đạt được ý nghĩa. Vị ấy không giáo huấn, khích lệ, làm phấn chấn và truyền cảm hứng cho các bạn đồng tu. Một vị Tỷ kheo với hai phẩm chất này là đủ cho chính mình nhưng không đủ cho người khác.

Một vị Tỷ kheo với hai phẩm chất là đủ cho người khác nhưng không đủ cho chính mình. Hai phẩm chất nào? Một vị Tỷ kheo không nhanh trí đối với các thiện pháp. Và vị ấy không dễ dàng ghi nhớ những lời dạy đã nghe. Vị ấy cũng không quán xét ý nghĩa của những lời dạy đã ghi nhớ. Không hiểu rõ ý nghĩa và giáo pháp, vị ấy không thực hành theo đúng như vậy. Nhưng vị ấy là người nói giỏi, phát âm rõ ràng. Giọng nói của vị ấy trau chuốt, trong sáng, mạch lạc và diễn đạt được ý nghĩa. Vị ấy giáo huấn, khích lệ, làm phấn chấn và truyền cảm hứng cho các bạn đồng tu. Một vị Tỷ kheo với hai phẩm chất này là đủ cho người khác nhưng không đủ cho chính mình."

(II) (62) Vừa Ðủ

1.- Thành tựu sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vừa đủ cho tự mình, vừa đủ cho các người khác. Thế nào là sáu?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nhanh nhẹn nắm được ý nghĩa trong các thiện pháp; là người thọ trì những pháp đã được nghe; là người suy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì; sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp, thực hành pháp, tùy pháp; giọng nói dễ nghe, phát âm tốt, lời nói tao nhã, phân minh, phát ngôn không bập bẹ, giải thích nghĩa lý xác minh; có khả năng thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các đồng Phạm hạnh. Thành tựu sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vừa đủ cho tự mình, vừa đủ cho các người khác.

3. Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vừa đủ cho tự mình, vừa đủ cho các người khác. Thế nào là năm?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không nhanh nhẹn nắm được ý nghĩa trong các thiện pháp; là người thọ trì những pháp đã được nghe; là người suy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì; sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp, thực hành pháp, tùy pháp; giọng nói dễ nghe, phát âm tốt, lời nói tao nhã, phân minh, phát ngôn không bập bẹ, giải thích nghĩa lý xác minh; có khả năng thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các đồng Phạm hạnh.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vừa đủ cho tự mình, vừa đủ cho các người khác.

5. Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vừa đủ cho tự mình, không vừa đủ cho các người khác. Thế nào là bốn?

6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nhanh nhẹn nắm được ý nghĩa trong các thiện pháp; là người thọ trì những pháp đã được nghe; là người suy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì; sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp, thực hành pháp, tùy pháp; giọng nói không dễ nghe, phát âm không tốt, lời nói không tao nhã, không phân minh, phát ngôn bập bẹ, giải thích nghĩa lý không xác minh; không có khả năng thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các đồng Phạm hạnh.

Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vừa đủ cho tự mình, không vừa đủ cho các người khác.

7. Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không vừa đủ cho tự mình, vừa đủ cho các người khác. Thế nào là bốn?

8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nhanh nhẹn nắm được ý nghĩa trong các thiện pháp; là người thọ trì những pháp đã được nghe; không là người suy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì; không có sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp, thực hành pháp, tùy pháp; giọng nói dễ nghe, phát âm tốt, lời nói tao nhã, phân minh, phát ngôn không bập bẹ, giải thích nghĩa lý xác minh; có khả năng thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các đồng Phạm hạnh.

Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không vừa đủ cho tự mình, vừa đủ cho các người khác.

9. Thành tựu ba pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vừa đủ cho tự mình, không vừa đủ cho các người khác. Thế nào là ba?

10. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không nhanh nhẹn nắm được ý nghĩa trong các thiện pháp; là người thọ trì những pháp đã được nghe; là người suy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì; sau khi biết ý nghĩa, sau khi biết pháp, thực hành pháp, tùy pháp; giọng nói không dễ nghe, phát âm không tốt, lời nói không tao nhã, không phân minh, phát ngôn bập bẹ, giải thích nghĩa lý không xác minh; không có khả năng thuyết giảng, không khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các đồng Phạm hạnh.

Thành tựu ba pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vừa đủ cho tự mình, không vừa đủ cho các người khác. Thế nào là ba?

11. Thành tựu ba pháp này, này các Tỷ-kheo, vừa đủ cho các người khác, Tỷ-kheo không vừa đủ cho tự mình,. Thế nào là ba?

12. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không nhanh nhẹn nắm được ý nghĩa trong các thiện pháp; là người thọ trì những pháp đã được nghe; không là người suy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì; không là người sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp, thực hành pháp, tùy pháp; giọng nói dễ nghe, giải thích nghĩa lý xác minh; có khả năng thuyết giảng, làm cho hoan hỷ các đồng Phạm hạnh.

Thành tựu ba pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỳ kheo là vừa đủ cho các người khác, Tỷ-kheo không vừa đủ cho tự mình.

13. Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vừa đủ cho tự mình, không vừa đủ cho các người khác. Thế nào là hai?

14. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không nhanh nhẹn nắm được ý nghĩa trong các thiện pháp; là người không thọ trì những pháp đã được nghe; là người suy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì; là người sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp, thực hành pháp, tùy pháp; giọng nói không dễ nghe, giải thích nghĩa lý không xác minh; không có khả năng thuyết giảng, Ẩ, làm cho hoan hỷ các đồng Phạm hạnh.

Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vừa đủ cho tự mình, không vừa đủ cho các người khác.

15. Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vừa đủ cho các người khác, không vừa đủ cho tự mình. Thế nào là hai?

16. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không nhanh nhẹn nắm được ý nghĩa trong các thiện pháp; là người không thọ trì những pháp đã được nghe; không suy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì; không có sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp, thực hành pháp, tùy pháp; giọng nói dễ nghe, phát âm tốt, lời nói tao nhã, phân minh, phát ngôn không bập bẹ, giải thích nghĩa lý xác minh; có khả năng thuyết giảng pháp thoại, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các đồng Phạm hạnh.

Thành tựu hai pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo lả vừa đủ cho các người khác, không vừa đủ cho tự mình,.

AN 8.63 Kinh Giảng Vắn Tắt (Saṁkhittasutta)

Khi ấy, một vị Tỷ kheo đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn giảng Pháp (Dhamma / Giáo pháp, sự thật) cho con một cách vắn tắt. Sau khi nghe xong, con sẽ sống một mình, ẩn dật, siêng năng (diligent / cần mẫn, chuyên cần), nhiệt tâm và quyết chí.”

“Này Tỷ kheo, đây chính là cách một số kẻ ngốc yêu cầu Ta điều gì đó. Nhưng khi giáo pháp đã được giải thích, họ chỉ nghĩ đến việc đi theo Ta mà thôi.”

“Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn giảng Pháp cho con một cách vắn tắt! Mong Bậc Thánh (Holy One / người đã đạt được sự giác ngộ) giảng Pháp cho con một cách vắn tắt! Mong rằng con có thể hiểu được ý nghĩa những gì Thế Tôn nói! Mong rằng con có thể là người thừa tự giáo pháp của Đức Phật!”

"Vậy thì, này Tỷ kheo, con nên tu tập như sau: ‘Tâm của ta sẽ vững vàng và an trú tốt đẹp bên trong. Và các pháp bất thiện đã sinh khởi sẽ không chiếm ngự tâm ta.’ Đó là cách con nên tu tập.

Khi tâm con vững vàng và an trú tốt đẹp bên trong, và các pháp bất thiện đã sinh khởi không chiếm ngự tâm con, thì con nên tu tập như sau: ‘Ta sẽ phát triển tâm giải thoát bằng từ ái (heart’s release by love / sự giải thoát của tâm nhờ lòng từ. Lòng từ là lòng yêu thương chân thành, mong muốn người khác được hạnh phúc, an vu). Ta sẽ tu tập nó, biến nó thành cỗ xe và nền tảng của ta, duy trì nó, củng cố nó và thực hành nó một cách đúng đắn.’ Đó là cách con nên tu tập.

Khi sự định tâm (immersion / trạng thái tập trung sâu sắc của tâm, thiền định) này được phát triển và tu tập theo cách này, con nên phát triển nó trong khi có tầm có tứ (placing the mind and keeping it connected /nỗ lực hướng ý thức đến đối tượng và nỗ lực giữ ý thức vào đối tượng). Con nên phát triển nó với không tầm, chỉ có tứ (without placing the mind, merely keeping it connected / dễ dàng hướng ý thức đến đối tượng và nỗ lực giữ ý thức trên đối tượng). Con nên phát triển nó với không tầm không tứ (without placing the mind or keeping it connected / ý thức và đối tượng là một, không cần nỗ lực). Con nên phát triển nó với hỷ (rapture / niềm vui thích mãnh liệt). Con nên phát triển nó không có hỷ. Con nên phát triển nó với an vui (pleasure / lạc, niềm vui thích êm dịu và kéo dài, sự dễ chịu, hạnh phúc). Con nên phát triển nó với xả (equanimity / sự bình thản, tâm quân bình).

Khi sự định tâm này được phát triển tốt đẹp theo cách này, con nên tu tập như sau: ‘Ta sẽ phát triển tâm giải thoát bằng từ bi (heart’s release by compassion / sự giải thoát của tâm nhờ lòng bi, từ bi là Là lòng trắc ẩn, thương xót chân thành, mong muốn giúp người khác thoát khỏi khổ đau.)…’ … ‘Ta sẽ phát triển tâm giải thoát bằng tùy hỷ (heart’s release by rejoicing / sự giải thoát của tâm nhờ niềm vui với hạnh phúc của người khác)…’ … ‘Ta sẽ phát triển tâm giải thoát bằng xả (heart’s release by equanimity / sự giải thoát của tâm nhờ sự bình thản). Ta sẽ tu tập nó, biến nó thành cỗ xe và nền tảng của ta, duy trì nó, củng cố nó và thực hành nó một cách đúng đắn.’ Đó là cách con nên tu tập.

Khi sự định tâm này được phát triển tốt đẹp theo cách này, con nên phát triển nó trong khi có tầm có tứ. Con nên phát triển nó không tầm, chỉ có tứ. Con nên phát triển nó không tầm không tứ. Con nên phát triển nó với hỷ. Con nên phát triển nó không có hỷ. Con nên phát triển nó với an vui. Con nên phát triển nó với xả.

Khi sự định tâm này được phát triển tốt đẹp theo cách này, con nên tu tập như sau: ‘Ta sẽ quán thân trên thân (meditate observing an aspect of the body / thiền quán về các khía cạnh của thân thể) —nhiệt tâm, tỉnh giác và tỉnh thức (mindful / giữ tâm không quên đối tượng), gạt bỏ tham ái và ưu phiền (covetousness and displeasure / lòng tham muốn và sự buồn khổ) đối với thế gian.’ Đó là cách con nên tu tập.

Khi sự định tâm này được phát triển và tu tập theo cách này, con nên phát triển nó trong khi có tầm có tứ. Con nên phát triển nó không tầm, chỉ có tứ. Con nên phát triển nó không tầm không tứ. Con nên phát triển nó với hỷ. Con nên phát triển nó không có hỷ. Con nên phát triển nó với an vui. Con nên phát triển nó với xả.

Khi sự định tâm này được phát triển tốt đẹp theo cách này, con nên tu tập như sau: ‘Ta sẽ quán thọ (feelings / các cảm giác dễ chịu, khó chịu hoặc trung tính) trên các thọ…’ … ‘Ta sẽ quán tâm (mind / ý thức, dòng chảy của các trạng thái tâm lý) trên tâm…’ … ‘Ta sẽ quán pháp (principles / các đối tượng của tâm, các hiện tượng) trên các pháp—nhiệt tâm, tỉnh giác và tỉnh thức, gạt bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian.’ Đó là cách con nên tu tập.

Khi sự định tâm này được phát triển và tu tập theo cách này, con nên phát triển nó trong khi có tầm có tứ. Con nên phát triển nó không tầm, chỉ có tứ. Con nên phát triển nó không tầm không tứ. Con nên phát triển nó với hỷ. Con nên phát triển nó không có hỷ. Con nên phát triển nó với an vui. Con nên phát triển nó với xả.

Khi sự định tâm này được phát triển tốt đẹp theo cách này, dù con đi đâu, con cũng sẽ đi một cách thoải mái. Dù con đứng đâu, con cũng sẽ đứng một cách thoải mái. Dù con ngồi đâu, con cũng sẽ ngồi một cách thoải mái. Dù con nằm đâu, con cũng sẽ nằm một cách thoải mái."

Khi vị Tỷ kheo ấy được Đức Phật khuyên dạy như vậy, vị ấy từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ và kính cẩn đi quanh Đức Phật, giữ Ngài ở bên phải, rồi ra đi.

Rồi vị Tỷ kheo ấy, sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm và quyết chí, không bao lâu đã chứng ngộ sự viên mãn tối thượng của đời sống phạm hạnh ngay trong đời này. Vị ấy sống, đã thành tựu bằng chính tuệ giác của mình mục tiêu mà những người thiện gia nam tử chân chính xuất gia từ bỏ đời sống thế tục để hướng đến.

Vị ấy hiểu rõ: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.” Và vị Tỷ kheo ấy trở thành một trong những bậc A-la-hán (perfected / người đã đạt được giải thoát hoàn toàn, bậc xứng đáng).

(III) (63) Pháp Lược Thuyết

1. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Lành thay! bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con, sau khi nghe pháp của Thế Tôn, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

− Như vậy, ở đây, một số người ngu si, thỉnh cầu Ta, sau khi pháp được giảng, họ nghĩ Ta là người họ cần phải đi theo.

− Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con, Thiện Thệ hãy thuyết pháp vắn tắt. Con có thể hiểu được ý nghĩa lời của Thế Tôn thuyết giảng. Con có thể trở thành kẻ thừa tự lời Thế Tôn thuyết giảng.

2.- Vậy này Tỷ-kheo, Thầy cần phải học tập như sau:

“Nội tâm ta sẽ an trú, khéo vững trú. Các pháp ác, bất thiện khởi không có xâm chiếm tâm và không có chân đứng”. Như vậy, này Tỷ-kheo, Thầy cần phải học tập.

3. Này Tỷ-kheo, khi nào nội tâm của Thầy được an trú, khéo vững trú, các pháp ác, bất thiện sanh khởi xâm chiếm tâm và có chân đứng, khi ấy, này Tỷ-kheo, Thầy cần phải học tập như sau:

“Từ tâm giải thoát sẽ được ta tu tập, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, được làm cho kiên trì, được làm cho tích tập, được khéo tinh cần thực hành”. Như vậy, này Tỷ-kheo, Thầy cần phải học tập.

4. Này Tỷ-kheo, khi nào định này của Thầy được tu tập, được làm cho sung mãn như vậy, khi ấy, này Tỷ-kheo, Thầy cần phải tu tập định này với tầm với tứ; cần phải tu tập không tầm, chỉ với tứ; cần phải tu tập không tầm không tứ; cần phải tu tập có hỷ, cần phải tu tập không hỷ; cần phải tu tập câu hữu với lạc; cần phải tu tập câu hữu với xả. Này Tỷ-kheo, khi nào định này của Thầy được tu tập, được làm cho sung mãn như vậy, khi ấy này Tỷ-kheo, Thầy cần phải học tập như sau:

“Bi tâm giải thoát sẽ được Thầy tu tập … Hỷ tâm giải thoát sẽ được Thầy tu tập … Xả tâm giải thoát sẽ được Thầy tu tập, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, được làm cho kiên trì, được làm cho tích tập, được khéo tinh cần thực hành”. Như vậy, này Tỷ-kheo, Thầy cần phải học tập.

5. Này Tỷ-kheo, khi nào định này của Thầy được tu tập, được làm cho sung mãn như vậy, khi ấy, này Tỷ-kheo, Thầy cần phải tu tập định này với tầm với tứ; cần phải tu tập không tầm, chỉ với tứ; cần phải tu tập không tầm không tứ; cần phải tu tập có hỷ, cần phải tu tập không hỷ; cần phải tu tập câu hữu với lạc; cần phải tu tập câu hữu với xả. Này Tỷ-kheo, khi nào định này của Thầy được tu tập, được làm cho sung mãn như vậy, khi ấy này Tỷ-kheo, Thầy cần phải học tập như sau:

“Ta sẽ sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời”. Như vậy, này Tỷ-kheo, Thầy cần phải học tập.

6. Này Tỷ-kheo, khi nào định này của Thầy được tu tập, được làm cho sung mãn như vậy, khi ấy, này Tỷ-kheo, Thầy cần phải tu tập định này với tầm với tứ; cần phải tu tập không tầm, với tứ; cần phải tu tập không tầm, không tứ; cần phải tu tập có hỷ, cần phải tu tập không hỷ; cần phải tu tập câu hữu với lạc; cần phải tu tập câu hữu với xả. Này Tỷ-kheo, khi nào định này của Thầy được tu tập, được làm cho sung mãn như vậy, khi ấy này Tỷ-kheo, Thầy cần phải học tập như sau:

“Ta sẽ sống quán thọ trên các cảm thọ … quán tâm trên các tâm … quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời”. Như vậy, này Tỷ-kheo, Thầy cần phải học tập.

7. Này Tỷ-kheo, khi nào định này của Thầy được tu tập, được làm cho sung mãn như vậy, khi ấy, này Tỷ-kheo, Thầy cần phải tu tập định này với tầm với tứ; cần phải tu tập không tầm, với tứ; cần phải tu tập không tầm, không tứ; cần phải tu tập có hỷ, cần phải tu tập không hỷ; cần phải tu tập câu hữu với lạc; cần phải tu tập câu hữu với xả. Này Tỷ-kheo, khi nào định này của Thầy được tu tập, được làm cho sung mãn như vậy, khi ấy này Tỷ-kheo, chỗ nào, chỗ nào Thầy đi, chỗ ấy Thầy đi được an ổn; chỗ nào, chỗ nào Thầy sẽ đứng, chỗ ấy Thầy đứng được an ổn; chỗ nào, chỗ nào sẽ Thầy ngồi, chỗ ấy Thầy ngồi được an ổn; chỗ nào, chỗ nào Thầy sẽ nằm, chỗ ấy Thầy sẽ nằm được an ổn.

8. Tỷ-kheo ấy, được Thế Tôn giáo giới với bài giáo giới này, từ chỗ ngồi, đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi. Tỷ-kheo ấy sống một mình, thanh tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu chứng đạt được mục đích mà các thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Ðây là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, ngay trong hiện tại, tự mình chứng tri với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành. Những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán.

AN 8.64 Tại Đỉnh Gayā (Gayāsīsasutta)

Một thời Đức Phật trú gần Gayā, trên đỉnh Gayā. Tại đó, Đức Phật nói với các Tỷ kheo:

"Này các Tỷ kheo, trước khi Ta giác ngộ (awakening / sự tỉnh thức hoàn toàn) —khi Ta vẫn chưa giác ngộ nhưng đang là Bồ-tát (intent on awakening / người đang trên con đường giác ngộ, vị Phật tương lai)—Ta cảm nhận các ánh sáng nhưng không thấy các hình dạng.

Rồi Ta nghĩ rằng, ‘Nếu Ta vừa cảm nhận được ánh sáng vừa thấy các hình dạng thì sao? Khi đó tri kiến (knowledge and vision / sự hiểu biết và thấy biết) của Ta sẽ càng thanh tịnh hơn nữa.’

Vì vậy, sau một thời gian, sống siêng năng, nhiệt tâm và quyết chí, Ta cảm nhận ánh sáng và thấy các hình dạng. Nhưng Ta không giao tiếp với các chư thiên (deities / các vị trời, chúng sanh ở cõi trời) ấy, không trò chuyện, hay tham gia thảo luận.

Rồi Ta nghĩ rằng, ‘Nếu Ta cảm nhận ánh sáng và thấy được các hình dạng; và giao tiếp với các chư thiên ấy, trò chuyện, và tham gia thảo luận thì sao? Khi đó tri kiến của Ta sẽ càng thanh tịnh hơn nữa.’

Vì vậy, sau một thời gian… Ta cảm nhận ánh sáng và thấy được các hình dạng. Và Ta giao tiếp với các chư thiên ấy, trò chuyện, và tham gia thảo luận. Nhưng Ta không biết các chư thiên ấy thuộc cấp bậc chư thiên (orders of gods / các tầng lớp, loại chư thiên) nào.

Rồi Ta nghĩ rằng, ‘Nếu Ta cảm nhận ánh sáng và thấy được các hình dạng; và giao tiếp với các chư thiên ấy, trò chuyện, và tham gia thảo luận; và tìm hiểu xem các chư thiên ấy thuộc cấp bậc chư thiên nào thì sao? Khi đó tri kiến của Ta sẽ càng thanh tịnh hơn nữa.’

Vì vậy, sau một thời gian… Ta cảm nhận ánh sáng và thấy được các hình dạng. Và Ta giao tiếp với các chư thiên ấy… Và Ta tìm hiểu xem các chư thiên ấy thuộc cấp bậc chư thiên nào. Nhưng Ta không biết nghiệp (deeds / hành động có chủ ý tạo ra kết quả) nào đã khiến các chư thiên ấy tái sanh (reborn / sinh lại trong một đời sống mới) ở đó sau khi mệnh chung từ đây.

Vì vậy, sau một thời gian… Ta tìm hiểu xem nghiệp nào đã khiến các chư thiên ấy tái sanh ở đó sau khi mệnh chung từ đây. Nhưng Ta không biết nghiệp nào đã khiến các chư thiên ấy có thức ăn như vậy và trải nghiệm vui khổ như vậy.

Vì vậy, sau một thời gian… Ta tìm hiểu xem nghiệp nào đã khiến các chư thiên ấy có thức ăn như vậy và trải nghiệm vui khổ như vậy. Nhưng Ta không biết rằng các chư thiên này có tuổi thọ (lifespan / thời gian sống) dài bao lâu.

Vì vậy, sau một thời gian… Ta tìm hiểu rằng các chư thiên này có tuổi thọ dài bao lâu. Nhưng Ta không biết liệu Ta có từng chung sống với các chư thiên ấy trước đây hay không.

Rồi Ta nghĩ rằng, ‘Nếu Ta cảm nhận ánh sáng và thấy được các hình dạng; và giao tiếp với các chư thiên ấy, trò chuyện, và tham gia thảo luận; và tìm hiểu xem các chư thiên ấy thuộc cấp bậc chư thiên nào; và nghiệp nào đã khiến các chư thiên ấy tái sanh ở đó sau khi mệnh chung từ đây; và nghiệp nào đã khiến các chư thiên ấy có thức ăn như vậy và trải nghiệm vui khổ như vậy; và rằng các chư thiên này có tuổi thọ dài bao lâu; và liệu Ta có từng chung sống với các chư thiên ấy trước đây hay không? Khi đó tri kiến của Ta sẽ càng thanh tịnh hơn nữa.’

Vì vậy, sau một thời gian… Ta tìm hiểu liệu Ta có từng chung sống với các chư thiên ấy trước đây hay không.

Chừng nào tri kiến của Ta về chư thiên chưa hoàn toàn thanh tịnh trong tám phương diện này, Ta chưa tuyên bố sự vô thượng chánh đẳng chánh giác (supreme perfect awakening / sự giác ngộ hoàn hảo, tối thượng) của mình trong thế giới này cùng với chư thiên, Ma vương (Māras / các thế lực cản trở sự tu tập) và Phạm thiên (Divinities / các vị trời ở cõi sắc và vô sắc), với chúng Sa-môn và Bà-la-môn (ascetics and brahmins / những người tu hành khổ hạnh và các tu sĩ Bà-la-môn giáo), với chư thiên và loài người.

Nhưng khi tri kiến của Ta về chư thiên đã hoàn toàn thanh tịnh trong tám phương diện này, Ta đã tuyên bố sự vô thượng chánh đẳng chánh giác của mình trong thế giới này cùng với chư thiên, Ma vương và Phạm thiên, với chúng Sa-môn và Bà-la-môn, với chư thiên và loài người. Tri kiến khởi lên trong Ta: ‘Sự giải thoát của Ta là bất động; đây là lần tái sanh cuối cùng của Ta; bây giờ sẽ không còn đời sống nào trong tương lai nữa.’"

(VI) (64) Tagayà

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Gayasisa. Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo” - “Thưa vâng, bạch Thế Tôn. “.

Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:

2.- Này các Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa thành Chánh Ðẳng Giác, Ta còn làm Bồ Tát, Ta tưởng tri ánh sáng, Ta không thấy sắc. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta suy nghĩ: “Nếu Ta có thể tưởng tri ánh sáng và Ta có thể thấy được màu sắc, như vậy tri kiến của Ta được thanh tịnh hơn lên”. Rồi này các Tỷ-kheo, sau một thời gian Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, Ta tưởng tri ánh sáng và thấy được các sắc, nhưng Ta không giao thiệp với chư Thiên ấy, không nói chuyện, không thảo luận”.

3. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: “Nếu Ta có thể tưởng tri ánh sáng có thể thấy được các sắc, có thể giao thiệp với chư Thiên ấy, có thể nói chuyện, có thể thảo luận, như vậy, tri kiến này của Ta được thanh tịnh hơn lên”. Và này các Tỷ-kheo, sau một thời gian Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, tưởng tri ánh sáng và thấy được các sắc, và cùng chư Thiên ấy giao thiệp, nói chuyện và thảo luận. Nhưng Ta không biết về các chư Thiên ấy: “Chư Thiên này thuộc về Thiên chúng này, thuộc về Thiên chúng này”.

4. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: “Nếu Ta tưởng tri ánh sáng, thấy được các sắc, giao thiệp với chư Thiên ấy, nói chuyện, thảo luận với chư Thiên ấy và biết được về chư Thiên ấy : “Chư Thiên này thuộc về Thiên chúng này, thuộc về Thiên chúng này”, như vậy, tri kiến này của Ta được thanh tịnh hơn “. Rồi này các Tỷ-kheo, sau một thời gian Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, tưởng tri ánh sáng và thấy được các sắc, và cùng chư Thiên ấy giao thiệp, nói chuyện, thảo luận với chư Thiên ấy, biết được: “Chư Thiên này thuộc về Thiên chúng này, Thiên chúng này”, nhưng Ta không biết được: “Chư Thiên này do quả dị thục của nghiệp này, chết từ đây sanh ra tại chỗ ấy”; Ta biết được chư Thiên ấy: “Chư Thiên này do quả dị thục của nghiệp này, chết từ đây sanh ra tại chỗ ấy”; nhưng Ta không biết được: “Chư Thiên này, do đồ ăn như thế này, cảm thọ khổ lạc như thế này”; Ta biết được: “Chư Thiên này, do đồ ăn như thế này, cảm thọ khổ lạc như thế này”; nhưng Ta không biết được chư Thiên ấy: “Chư Thiên này, tuổi thọ dài như thế này, tồn tại lâu dài như thế này”, Ta biết được: “Chư Thiên này, tuổi thọ dài như thế này, tồn tại lâu dài như thế này”; nhưng Ta không biết chư Thiên ấy: “Trước đây Ta có cùng ở với chư Thiên này, hay trước đây Ta không cùng ở với chư Thiên này? “

5. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: “Nếu ta nhận thức được ánh sáng, thấy được các sắc, cùng với chư Thiên ấy giao thiệp, nói chuyện, thảo luận, Ta có thể biết được chư Thiên ấy: “Chư Thiên này thuộc Thiên chúng này, thuộc Thiên chúng này”. Ta có thể biết được chư Thiên ấy: “Chư Thiên này, do quả dị thục của nghiệp này, chết tại chỗ này, sanh tại chỗ ấy”. Ta có thể biết được chư Thiên ấy: “Chư Thiên này, do ăn đồ ăn như thế này, cảm thọ khổ lạc như thế này”; Ta có thể biết được chư Thiên ấy: “Chư Thiên này, tuổi thọ dài như thế này, tồn tại lâu dài như thế này”; Ta có thể biết được chư Thiên ấy: “Chư Thiên này, trước đây Ta có cùng ở với chư Thiên này, hay trước đây Ta có cùng ở với chư Thiên này”; như vậy, tri kiến của Ta được thanh tịnh hơn trước”. Này các Tỷ-kheo, sau một thời gian sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, Ta tưởng tri ánh sáng, thấy được các sắc, Ta giao thiệp, nói chuyện, thảo luận với các chư Thiên ấy: Ta biết được chư Thiên ấy,” Chư Thiên này thuộc Thiên chúng này, thuộc Thiên chúng này”. Ta biết được chư Thiên ấy: “Chư Thiên này, do quả dị thục của nghiệp này, chết tại chỗ này, sanh tại chỗ ấy”. Ta biết được chư Thiên ấy: “Chư Thiên này, do ăn đồ ăn như thế này, cảm thọ khổ lạc như thế này”; Ta biết được chư Thiên ấy: “Chư Thiên này, tuổi thọ dài như thế này, tồn tại lâu dài như thế này”; Ta biết được chư Thiên ấy: “Chư Thiên này, trước đây Ta có cùng ở với chư Thiên này, hay trước đây Ta không có ở cùng với chư Thiên này”.

6. Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào tri kiến gồm có tám diễn tiến và thuộc thượng giới Thiên này không được khéo thanh tịnh nơi ta, thời Ta không có xác chứng trong thế giới chư Thiên với Ma giới, Phạm Thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, rằng Ta đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Ðẳng Giác. Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào tri kiến gồm có tám diễn tiến và thuộc thượng giới Thiên này được khéo thanh tịnh nơi ta, thời Ta có xác chứng trong thế giới chư Thiên với Ma giới, Phạm Thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, rằng Ta đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Ðẳng Giác. Tri kiến khởi lên nơi Ta: “Bất động là tâm giải thoát của Ta. Ðây là đời sống cuối cùng, không còn tái sanh nữa”.

AN 8.65 Kinh Thắng Xứ (Abhibhāyatanasutta)

"Này các Tỷ kheo, có tám thắng xứ (dimensions of mastery / các cảnh giới làm chủ, các trạng thái vượt trội) này. Tám thắng xứ nào?

Người có tưởng về sắc bên trong, thấy các sắc bên ngoài, có giới hạn, cả đẹp lẫn xấu. Chế ngự chúng, vị ấy nhận thức: ‘Tôi biết và tôi thấy.’ Đây là thắng xứ thứ nhất.

Người có tưởng về sắc bên trong, thấy các sắc bên ngoài, vô lượng (limitless / không có giới hạn), cả đẹp lẫn xấu. Chế ngự chúng, vị ấy nhận thức: ‘Tôi biết và tôi thấy.’ Đây là thắng xứ thứ hai.

Người không có tưởng về sắc bên trong, thấy các sắc bên ngoài, có giới hạn, cả đẹp lẫn xấu. Chế ngự chúng, vị ấy nhận thức: ‘Tôi biết và tôi thấy.’ Đây là thắng xứ thứ ba.

Người không có tưởng về sắc bên trong, thấy các sắc bên ngoài, vô lượng, cả đẹp lẫn xấu. Chế ngự chúng, vị ấy nhận thức: ‘Tôi biết và tôi thấy.’ Đây là thắng xứ thứ tư.

Người không có tưởng về sắc bên trong, thấy các sắc bên ngoài, màu xanh, có sắc xanh, tướng xanh. Chế ngự chúng, vị ấy nhận thức: ‘Tôi biết và tôi thấy.’ Đây là thắng xứ thứ năm.

Người không có tưởng về sắc bên trong, thấy các sắc bên ngoài, màu vàng, có sắc vàng, tướng vàng. Chế ngự chúng, vị ấy nhận thức: ‘Tôi biết và tôi thấy.’ Đây là thắng xứ thứ sáu.

Người không có tưởng về sắc bên trong, thấy các sắc bên ngoài, màu đỏ, có sắc đỏ, tướng đỏ. Chế ngự chúng, vị ấy nhận thức: ‘Tôi biết và tôi thấy.’ Đây là thắng xứ thứ bảy.

Người không có tưởng về sắc bên trong, thấy các sắc bên ngoài, màu trắng, có sắc trắng, tướng trắng. Chế ngự chúng, vị ấy nhận thức: ‘Tôi biết và tôi thấy.’ Đây là thắng xứ thứ tám.

Đó là tám thắng xứ."

(V) (65) Thắng Xứ

1.- Này các Tỷ-kheo, có tám thắng xứ này. Thế nào là tám?

2. Một vị tưởng tri nội sắc, thấy các loại ngoại sắc, có hạn lượng đẹp xấu. Vị ấy tưởng tri rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy. Ðó là thắng xứ thứ nhất.

3. Một vị tưởng tri nội sắc, thấy các loại ngoại sắc, không có hạn lượng đẹp xấu. Vị ấy tưởng tri rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy. Ðó là thắng xứ thứ hai.

4. Một vị tưởng tri vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc hạn lượng đẹp xấu. Vị ấy tưởng tri rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy. Ðó là thắng xứ thứ ba.

5. Một vị tưởng tri vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc vô lượng đẹp xấu. Vị ấy tưởng tri rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy. Ðó là thắng xứ thứ tư.

6. Một vị tưởng tri vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Vị ấy tưởng tri rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy. Ðó là thắng xứ thứ năm.

7. Một vị tưởng tri vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu vàng, sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng. Vị ấy tưởng tri rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy. Ðó là thắng xứ thứ sáu.

8. Một vị tưởng tri vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng sắc đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ. Vị ấy tưởng tri rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy. Ðó là thắng xứ thứ bảy.

9. Một vị tưởng tri vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng. Vị ấy tưởng tri rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy. Ðó là thắng xứ thứ năm.

Này các Tỷ-kheo, những pháp này là tám thắng xứ.

AN 8.66 Kinh Giải Thoát (Vimokkhasutta)

"Này các Tỷ kheo, có tám sự giải thoát (liberations / các trạng thái giải thoát tâm) này. Tám sự giải thoát nào? Có sắc thân, thấy các sắc. Đây là sự giải thoát thứ nhất.

Không có tưởng về sắc bên trong, thấy các sắc bên ngoài. Đây là sự giải thoát thứ hai.

Chỉ chuyên chú vào tịnh tướng (feature of beauty / vẻ đẹp, đối tượng thiền thanh tịnh). Đây là sự giải thoát thứ ba.

Vượt hoàn toàn các sắc tưởng (perceptions of form / nhận thức về hình sắc), chấm dứt các đối ngại tưởng (perceptions of impingement / nhận thức về sự va chạm, chướng ngại), không chú ý đến các đa dạng tưởng (perceptions of diversity / nhận thức về sự khác biệt, nhiều loại), nhận biết rằng ‘không gian là vô biên’, họ nhập và an trú vào không vô biên xứ (dimension of infinite space / cõi thiền định nơi không gian được nhận thức là vô hạn). Đây là sự giải thoát thứ tư.

Vượt hoàn toàn không vô biên xứ, nhận biết rằng ‘ý thức là vô biên’, họ nhập và an trú vào thức vô biên xứ (dimension of infinite consciousness / cõi thiền định nơi ý thức được nhận thức là vô hạn). Đây là sự giải thoát thứ năm.

Vượt hoàn toàn thức vô biên xứ, nhận biết rằng ‘không có gì cả’, họ nhập và an trú vào vô sở hữu xứ (dimension of nothingness / cõi thiền định nơi không có gì được nhận thức là tồn tại). Đây là sự giải thoát thứ sáu.

Vượt hoàn toàn vô sở hữu xứ, họ nhập và an trú vào phi tưởng phi phi tưởng xứ (dimension of neither perception nor non-perception / cõi thiền định nơi nhận thức không phải là có cũng không phải là không). Đây là sự giải thoát thứ bảy.

Vượt hoàn toàn phi tưởng phi phi tưởng xứ, họ nhập và an trú vào diệt tận định (cessation of perception and feeling / trạng thái chấm dứt hoàn toàn nhận thức và cảm thọ). Đây là sự giải thoát thứ tám.

Đó là tám sự giải thoát."

(VI) (66) Các Giải Thoát

1.- Này các Tỷ-kheo, có tám giải thoát này. Thế nào là tám?

2. “Tự mình có sắc, thấy các sắc”. Ðó là giải thoát thứ nhất.

3. “Tưởng tri nội sắc là vô sắc, thấy các ngoại sắc”. Ðó là giải thoát thứ hai.

4. “Chú tâm trên suy tưởng (sắc là) tịnh”. Ðó là giải thoát thứ ba.

5. “Vượt khỏi hoàn toàn sắc tướng, chấm dứt các tưởng đối ngại, không tác ý đến các tưởng khác biệt, với suy tư: “Hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ. Ðó là giải thoát thứ tư.

6. “Vượt khỏi hoàn toàn Hư không vô biên xứ, với suy tư: “Thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ “. Ðó là giải thoát thứ năm.

7. “Vượt khỏi hoàn toàn Thức vô biên xứ, với suy tư: “Không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ”. Ðó là giải thoát thứ sáu.

8. “Vượt khỏi hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ðó là giải thoát thứ bảy.

9. “Vượt khỏi hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng. Ðó là giải thoát thứ tám.

Này các Tỷ-kheo, có tám giải thoát này.

AN 8.67 Kinh Lời Nói Không Cao Thượng (Anariyavohārasutta)

“Này các Tỷ kheo, có tám lời nói không cao thượng (ignoble expressions / những cách nói không xứng đáng với bậc thánh) này. Tám lời nào? Nói rằng mình đã thấy, nghe, suy nghĩ, hay biết điều gì đó, nhưng thực ra không phải vậy. Và nói rằng mình không thấy, nghe, suy nghĩ, hay biết điều gì đó, nhưng thực ra lại có. Đó là tám lời nói không cao thượng.”

(VIII) (67) Phi Thánh Ngôn

1. - Này các Tỷ-kheo, có tám phi thánh ngôn này. Thế nào là tám?

2. Không thấy nói thấy, không nghe nói nghe, không nghĩ nói nghĩ, không biết nói biết, thấy nói không thấy, nghe nói không nghe, nghĩ nói không nghĩ, biết nói không biết.

Này các Tỷ-kheo, đây là tám phi Thánh ngôn.

AN 8.68 Kinh Lời Nói Cao Thượng (Ariyavohārasutta)

“Này các Tỷ kheo, có tám lời nói cao thượng (noble expressions / những cách nói xứng đáng với bậc thánh) này. Tám lời nào? Nói rằng mình không thấy, nghe, suy nghĩ, hay biết điều gì đó, và thực sự là không phải vậy. Và nói rằng mình đã thấy, nghe, suy nghĩ, hay biết điều gì đó, và thực sự là như vậy. Đó là tám lời nói cao thượng.”

(VIII) (68) Thánh Ngôn

1. - Này các Tỷ-kheo, có tám thánh ngôn này. Thế nào là tám?

2. Không thấy nói không thấy, không nghe nói không nghe, không nghĩ nói không nghĩ, không biết nói không biết, thấy nói thấy, nghe nói nghe, nghĩ nói nghĩ, biết nói biết.

Này các Tỷ-kheo, đây là tám Thánh ngôn.

AN 8.69 Kinh Hội Chúng (Parisāsutta)

"Này các Tỷ kheo, có tám hội chúng (assemblies / các nhóm, các cuộc tụ họp) này. Tám hội chúng nào? Hội chúng Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, gia chủ và Sa-môn. Hội chúng chư thiên Tứ Đại Thiên Vương. Hội chúng chư thiên Ba Mươi Ba (Đao Lợi). Hội chúng Ma vương. Hội chúng Phạm thiên.

Ta nhớ đã từng đến một hội chúng gồm hàng trăm vị Sát-đế-lỵ. Ở đó Ta thường ngồi với họ, trò chuyện và tham gia thảo luận. Và dung sắc cùng giọng nói của Ta trở nên giống hệt họ. Ta giáo huấn, khích lệ, làm phấn chấn và truyền cảm hứng cho họ bằng một bài Pháp thoại. Nhưng khi Ta nói, họ không biết: ‘Ai đang nói đây? Là trời hay người?’ Và khi bài Pháp thoại của Ta kết thúc, Ta biến mất. Nhưng khi Ta biến mất, họ không biết: ‘Ai đã biến mất vậy? Là trời hay người?’

Ta nhớ đã từng đến một hội chúng gồm hàng trăm vị Bà-la-môn… gia chủ… Sa-môn… chư thiên Tứ Đại Thiên Vương… chư thiên Ba Mươi Ba… Ma vương… Phạm thiên. Ở đó Ta cũng thường ngồi với họ, trò chuyện và tham gia thảo luận. Và dung sắc cùng giọng nói của Ta trở nên giống hệt họ. Ta giáo huấn, khích lệ, làm phấn chấn và truyền cảm hứng cho họ bằng một bài Pháp thoại. Nhưng khi Ta nói, họ không biết: ‘Ai đang nói đây? Là trời hay người?’ Và khi bài Pháp thoại của Ta kết thúc, Ta biến mất. Nhưng khi Ta biến mất, họ không biết: ‘Ai đã biến mất vậy? Là trời hay người?’ Đó là tám hội chúng."

(IX) (69) Các Hội Chúng

1. - Này các Tỷ-kheo, có tám hội chúng này. Thế nào là tám?

2. Hội chúng Sát-đế-lỵ, hội chúng Bà-la-môn, hội chúng gia chủ, hội chúng Sa-môn, hội chúng Bốn Thiên vương, hội chúng cõi trời Ba mươi ba, hội chúng Màra, hội chúng Phạm thiên.

3. Này các Tỷ-kheo, Ta nhớ rằng Ta đã đi đến hàng trăm hội chúng Sát-đế-lỵ. Tại đấy, Ta lúc trước có hội họp, lúc trước có nói chuyện, lúc trước có thảo luận; Tại đấy, dung sắc của họ như thế nào, dung sắc của Ta trở thành như của họ; giọng nói của họ như thế nào, giọng nói của Ta trở thành như của họ. Và Ta, với pháp thoại, thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Khi Ta nói, họ không biết Ta là ai. Họ nói: “Người nói này là ai, Thiên nhân hay loài Người? “. Sau khi thuyết giảng với pháp thoại, thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, Ta biến mất. Khi ta biến mất, họ không biết Ta là ai. Họ nói: “Người biến mất này là ai, Thiên nhân hay loài Người? “

4. Này các Tỷ-kheo, Ta nhớ rằng Ta đã đi đến hàng trăm hội họ Bà-la-môn, … hàng trăm hội chúng Gia chủ, … hàng trăm hội chúng Sa-môn, … hàng trăm hội chúng Bốn Thiên vương, … hàng trăm hội chúng cõi Trời Ba mươi ba,… hàng trăm hội chúng Màra… hàng trăm hội chúng Phạm thiên. Tại đấy, Ta lúc trước có hội họp, lúc trước có nói chuyện, lúc trước có thảo luận; tại đấy dung sắc của họ như thế nào, dung sắc của Ta trở thành như của họ; giọng nói của họ như thế nào, giọng nói của Ta trở thành như của họ. Và Ta, với pháp thoại, thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Khi Ta nói, họ không biết Ta là ai. Họ nói: “Người nói này là ai, Thiên nhân hay loài Người? “. Sau khi thuyết giảng với pháp thoại, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, Ta biến mất. Khi ta biến mất, họ không biết Ta là ai. Họ nói: “Người biến mất này là ai, Thiên nhân hay loài Người? “

Này các Tỷ-kheo, đây là tám hội chúng.

AN 8.70 Kinh Động Đất (Bhūmicālasutta)

Một thời Đức Phật trú gần Vesālī, tại Đại Lâm, trong Trùng Các Giảng Đường (hall with the peaked roof / giảng đường có mái nhọn hoặc nhiều tầng).

Khi ấy, Đức Phật đắp y vào buổi sáng, mang theo bát và y, vào thành Vesālī để khất thực. Rồi, sau bữa ăn, trên đường từ nơi khất thực trở về, Ngài nói với Tôn giả A Nan: “A Nan, hãy lấy tọa cụ (sitting cloth / tấm vải để ngồi) của con. Chúng ta hãy đến miếu thờ (shrine / nơi thờ cúng, thường là một cây hoặc một cấu trúc nhỏ) Cāpāla để thiền định ban ngày.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” Tôn giả A Nan đáp. Lấy tọa cụ, ngài đi theo sau Đức Phật.

Rồi Đức Phật đến miếu Cāpāla, nơi Ngài ngồi trên tọa cụ đã được trải sẵn. Khi đã ngồi yên, Ngài nói với Tôn giả A Nan:

“A Nan, Vesālī thật đáng yêu. Và các miếu Udena, Gotamaka, Thất Nữ, Đa Tử, Sārandada, và Cāpāla cũng đều đáng yêu. Bất cứ ai đã phát triển và tu tập bốn thần túc (four bases of psychic power / bốn nền tảng của năng lực siêu nhiên) —biến chúng thành cỗ xe và nền tảng, duy trì chúng, củng cố chúng và thực hành chúng một cách đúng đắn—nếu muốn, có thể sống trọn vẹn tuổi thọ hoặc phần còn lại của tuổi thọ (proper lifespan or what’s left of it / toàn bộ thời gian sống tối đa trong một kiếp hoặc phần còn lại). Như Lai (Realized One / Bậc đã đến như vậy, một danh hiệu của Phật) đã phát triển và tu tập bốn thần túc, biến chúng thành cỗ xe và nền tảng, duy trì chúng, củng cố chúng và thực hành chúng một cách đúng đắn. Nếu muốn, Như Lai có thể sống trọn vẹn tuổi thọ hoặc phần còn lại của tuổi thọ.”

Nhưng Tôn giả A Nan không hiểu, dù Đức Phật đã đưa ra một gợi ý rõ ràng như vậy, một dấu hiệu hiển nhiên như vậy. Ngài không thỉnh cầu Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy trụ lại trọn một kiếp (eon / một khoảng thời gian rất dài, một đại kiếp)! Bạch Bậc Thánh, mong Ngài hãy trụ lại trọn một kiếp! Điều đó sẽ vì lợi ích và hạnh phúc của số đông, vì lòng thương tưởng đối với thế gian, vì lợi ích, phúc lợi và hạnh phúc của chư thiên và loài người.” Vì tâm ngài như bị Ma ám ảnh.

Lần thứ hai…

Và lần thứ ba, Đức Phật nói với ngài:

“A Nan, Vesālī thật đáng yêu. Và các miếu Udena, Gotamaka, Thất Nữ, Đa Tử, Sārandada, và Cāpāla cũng đều đáng yêu. Bất cứ ai đã phát triển và tu tập bốn thần túc—biến chúng thành cỗ xe và nền tảng, duy trì chúng, củng cố chúng và thực hành chúng một cách đúng đắn—nếu muốn, có thể sống trọn vẹn tuổi thọ hoặc phần còn lại của tuổi thọ. Như Lai đã phát triển và tu tập bốn thần túc, biến chúng thành cỗ xe và nền tảng, duy trì chúng, củng cố chúng và thực hành chúng một cách đúng đắn. Nếu muốn, Như Lai có thể sống trọn vẹn tuổi thọ hoặc phần còn lại của tuổi thọ.”

Nhưng Tôn giả A Nan không hiểu, dù Đức Phật đã đưa ra một gợi ý rõ ràng như vậy, một dấu hiệu hiển nhiên như vậy. Ngài không thỉnh cầu Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy trụ lại trọn một kiếp! Bạch Bậc Thánh, mong Ngài hãy trụ lại trọn một kiếp! Điều đó sẽ vì lợi ích và hạnh phúc của số đông, vì lòng thương tưởng đối với thế gian, vì lợi ích, phúc lợi và hạnh phúc của chư thiên và loài người.” Vì tâm ngài như bị Ma ám ảnh.

Rồi Đức Phật nói với Tôn giả A Nan: “A Nan, con hãy đi làm việc của con.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” Tôn giả A Nan đáp. Ngài từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ và kính cẩn đi quanh Đức Phật, giữ Ngài ở bên phải, rồi ngồi xuống gốc cây gần đó.

Và rồi, không lâu sau khi Tôn giả A Nan rời đi, Ác ma Ba Tuần (Māra the Wicked / Ma vương xấu xa) nói với Đức Phật:

"Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy nhập Niết-bàn (fully extinguished / đạt đến sự tịch diệt hoàn toàn, chấm dứt khổ đau và tái sanh) ngay bây giờ! Mong Bậc Thánh hãy nhập Niết-bàn ngay bây giờ! Bây giờ là lúc để Đức Phật nhập Niết-bàn.

Bạch Thế Tôn, Ngài đã từng nói điều này: ‘Này Ác ma, Ta sẽ không nhập Niết-bàn cho đến khi Ta có các đệ tử Tỷ-kheo có năng lực, có học thức, vững vàng, đa văn, thuộc lòng giáo pháp và thực hành đúng theo giáo pháp; cho đến khi họ thực hành đúng đắn, sống thuận theo giáo pháp; cho đến khi họ học thông truyền thống của mình, và giải thích, giảng dạy, khẳng định, thiết lập, làm rõ, phân tích và trình bày; cho đến khi họ có thể bác bỏ một cách hợp lý và hoàn toàn các học thuyết khác nảy sinh, và giảng dạy với một cơ sở có thể chứng minh được.’ Hôm nay Ngài đã có những đệ tử Tỷ-kheo như vậy.

Mong Thế Tôn hãy nhập Niết-bàn ngay bây giờ! Mong Bậc Thánh hãy nhập Niết-bàn ngay bây giờ! Bây giờ là lúc để Đức Phật nhập Niết-bàn.

Bạch Thế Tôn, Ngài đã từng nói điều này: ‘Này Ác ma, Ta sẽ không nhập Niết-bàn cho đến khi Ta có các đệ tử Tỳ-kheo-ni có năng lực, có học thức, vững vàng, đa văn…’ …

‘Này Ác ma, Ta sẽ không nhập Niết-bàn cho đến khi Ta có các đệ tử Ưu-bà-tắc (layman disciples / nam cư sĩ Phật tử) có năng lực, có học thức, vững vàng, đa văn…’ …

‘Này Ác ma, Ta sẽ không nhập Niết-bàn cho đến khi Ta có các đệ tử Ưu-bà-di (laywoman disciples / nữ cư sĩ Phật tử) có năng lực, có học thức, vững vàng, đa văn…’ … Hôm nay Ngài đã có những đệ tử Ưu-bà-di như vậy.

Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy nhập Niết-bàn ngay bây giờ! Mong Bậc Thánh hãy nhập Niết-bàn ngay bây giờ! Bây giờ là lúc để Đức Phật nhập Niết-bàn. Bạch Thế Tôn, Ngài đã từng nói điều này:

‘Này Ác ma, Ta sẽ không nhập Niết-bàn cho đến khi con đường tâm linh của Ta thành công và thịnh vượng, rộng lớn, phổ biến, lan rộng và được công bố rộng rãi ở bất cứ nơi nào có chư thiên và loài người.’ Hôm nay con đường tâm linh của Ngài đã thành công và thịnh vượng, rộng lớn, phổ biến, lan rộng và được công bố rộng rãi ở bất cứ nơi nào có chư thiên và loài người.

Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy nhập Niết-bàn ngay bây giờ! Mong Bậc Thánh hãy nhập Niết-bàn ngay bây giờ! Bây giờ là lúc để Đức Phật nhập Niết-bàn."

“Hãy yên tâm, Ác ma. Như Lai sẽ sớm nhập Niết-bàn. Ba tháng nữa kể từ nay, Như Lai sẽ nhập Niết-bàn.”

Vì vậy, tại miếu Cāpāla, Đức Phật, tỉnh thức và nhận biết rõ, đã từ bỏ mạng căn (life force / yếu tố duy trì sự sống). Khi Ngài làm vậy, có một trận động đất lớn, kinh hoàng và rợn tóc gáy, và sấm sét vang trời. Rồi, hiểu rõ việc này, nhân dịp đó Đức Phật đã nói lên lời cảm hứng tự phát này:

“So sánh cái vô lượng
>Với sự tạo tác của đời sống kéo dài,
Bậc Trí từ bỏ mạng căn.
Nội tâm hoan hỷ, định tĩnh,
Ngài phá tan sự tự tạo tác như một chiếc áo giáp.”

Rồi Tôn giả A Nan nghĩ: “Đó thật là một trận động đất lớn! Đó thật là một trận động đất rất lớn; kinh hoàng và rợn tóc gáy, và sấm sét vang trời! Nguyên nhân là gì, lý do gì cho một trận động đất lớn như vậy?”

Rồi Tôn giả A Nan đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, đó thật là một trận động đất lớn! Đó thật là một trận động đất rất lớn; kinh hoàng và rợn tóc gáy, và sấm sét vang trời! Nguyên nhân là gì, lý do gì cho một trận động đất lớn như vậy?”

"A Nan, có tám nguyên nhân và lý do này cho một trận động đất lớn. Tám nguyên nhân nào?

Đại địa này nằm trên nước, nước nằm trên gió, và gió đứng vững trong không gian. Vào lúc một cơn gió lớn thổi, nó làm xáo động nước, và nước làm xáo động đất. Đây là nguyên nhân và lý do thứ nhất cho một trận động đất lớn.

Hơn nữa, có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn có thần thông, đã làm chủ được tâm, hoặc một vị trời có đại thần lực, đại uy lực. Họ đã phát triển nhận thức hạn chế về đất và nhận thức vô hạn về nước. Họ làm cho đất rung chuyển, chao đảo và rung động. Đây là nguyên nhân và lý do thứ hai cho một trận động đất lớn.

Hơn nữa, khi vị Bồ-tát mệnh chung từ cõi trời Đâu Suất (host of joyful gods / cõi trời Tusita, nơi Bồ-tát thường tái sanh trước khi thành Phật), ngài nhập vào thai mẹ, tỉnh thức và nhận biết rõ. Khi đó đất rung chuyển, chao đảo và rung động. Đây là nguyên nhân và lý do thứ ba cho một trận động đất lớn.

Hơn nữa, khi vị Bồ-tát ra khỏi lòng mẹ, tỉnh thức và nhận biết rõ, đất rung chuyển, chao đảo và rung động. Đây là nguyên nhân và lý do thứ tư cho một trận động đất lớn.

Hơn nữa, khi Như Lai chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, đất rung chuyển, chao đảo và rung động. Đây là nguyên nhân và lý do thứ năm cho một trận động đất lớn.

Hơn nữa, khi Như Lai chuyển bánh xe Pháp vô thượng, đất rung chuyển, chao đảo và rung động. Đây là nguyên nhân và lý do thứ sáu cho một trận động đất lớn.

Hơn nữa, khi Như Lai, tỉnh thức và nhận biết rõ, từ bỏ mạng căn, đất rung chuyển, chao đảo và rung động. Đây là nguyên nhân và lý do thứ bảy cho một trận động đất lớn.

Hơn nữa, khi Như Lai nhập Niết-bàn trong Niết-bàn giới không còn dư y (element of extinguishment with no residue / trạng thái Niết-bàn hoàn toàn, không còn bất kỳ yếu tố nào của sự tồn tại), đất rung chuyển, chao đảo và rung động. Đây là nguyên nhân và lý do thứ tám cho một trận động đất lớn.

Đó là tám nguyên nhân và lý do cho một trận động đất lớn."

(X) (70) Ðộng Ðất

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Ðại Lâm, ở ngôi nhà có nóc nhọn. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, đem theo y và bát, vào Vesàli để khất thực. Sau khi đi khất thực, ăn xong và trên đường khất thực trở về, Ngài nói với Tôn giả Ananda:

2. - Này Ananda, hãy lấy tọa cụ, chúng ta sẽ đi đến Càpàla để nghỉ trưa.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, lấy tọa cụ và đi theo sau lưng Thế Tôn.

3. Thế Tôn đi đến đền Càpàla, sau khi đến, Ngài ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:

4. - Này Ananda, khả ái thay Vesàli! Khả ái thay đền Udena! Khả ái thay đền Gotamaka! Khả ái thay đền Bahuputtaka! Khả ái thay đền Sattamba! Khả ái thay đền Sàrandada! Khả ái thay đền Càpàla! Này Ananda, những ai đã tu tập bốn thần túc, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, kiên trì, tích tập, khéo thực hành, nếu muốn, này Ananda, người ấy có thể sống một kiếp hay một phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu tập bốn thần túc, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, kiên trì, tích tập, khéo thực hành. Này Ananda, nếu muốn Như Lai có thể sống một kiếp hay một phần kiếp còn lại.

Như vậy, Tôn giả Ananda không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng của Thế Tôn, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn, Tôn giả không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người “, vì tâm của Tôn giả bị Ma vương ám ảnh.

5. Lần thứ hai Thế Tôn … lần thứ ba, Thế Tôn nói vời Tôn giả Ananda:

6. - Này Ananda, khả ái thay Vesàli! Khả ái thay đền Udena! Khả ái thay đền Gotamaka! Khả ái thay đền Bahuputtaka! Khả ái thay đền Sattamba! Khả ái thay đền Sàrandada! Khả ái thay đền Càpàla! Này Ananda, những ai đã tu tập bốn thần túc, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, kiên trì, tích tập, khéo thực hành, nếu muốn, này Ananda, người ấy có thể sống đến một kiếp hay một phần kiếp còn lại. Này Ananda, Như Lai đã tu tập bốn thần túc, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, kiên trì, tích tập, khéo thực hành. Này Ananda, nếu muốn Như Lai có thể sống một kiếp hay một phần kiếp còn lại.

Như vậy, Tôn giả Ananda không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng của Thế Tôn, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn, Tôn giả không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người “, vì tâm của Tôn giả bị Ác Ma ám ảnh.

7. Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:

− Này Ananda, hãy đi và làm những gì Thầy nghĩ là phải thời.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân bên hữu hướng về Thế Tôn rồi ra đi, ngồi xuống một gốc cây, không xa Thế Tôn.

8. Rồi Tôn giả Ananda ra đi chưa bao lâu, Ác ma nói với Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ. Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ. Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ cho đến khi nào những Tỷ-kheo của Ta chưa trở thành những đệ tử tinh thông, có huấn luyện, có tin tưởng, đạt được an ổn khỏi khổ ách, nghe nhiều, thọ trì pháp, thực hành pháp và tùy pháp, sở hành chơn chánh, hành trì theo pháp; sau khi học hỏi như bậc Sư trưởng của mình, chưa tuyên bố, thuyết giảng trình bày xác định, khai minh, phân tích, và giải thích rõ ràng chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể bác bỏ, hàng phục với chánh pháp, chưa có thể thuyết pháp thần diệu”.

Bạch Thế Tôn, nay những Tỷ-kheo của Thế Tôn đã trở thành những đệ tử tinh thông, có huấn luyện, có tin tưởng, đạt được an ổn khỏi khổ ách, nghe nhiều, thọ trì pháp, thực hành pháp và tùy pháp, sở hành chơn chánh, hành trì theo pháp; sau khi học hỏi như bậc Sư trưởng của mình, chưa tuyên bố, thuyết giảng trình bày xác định, khai minh, phân tích, và giải thích rõ ràng chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, đã có thể bác bỏ, hàng phục với chánh pháp, có thể thuyết pháp thần diệu”. Bạch Thế Tôn Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bac5h Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ cho đến khi nào những Tỷ-kheo của Ta chưa trở thành những đệ tử tinh thông, có huấn luyện, có tin tưởng … khi nào những nam cư sĩ của Ta chưa trở thành, … khi nào những nữ cư sĩ của Ta chưa trở thành những đệ tử tinh thông, có huấn luyện, có tin tưởng, đạt được an ổn khỏi khổ ách, nghe nhiều, thọ trì pháp, thực hành pháp và tùy pháp, sở hành chơn chánh, hành trì theo pháp; sau khi học hỏi như bậc Sư trưởng của mình, chưa tuyên bố, thuyết giảng trình bày xác định, khai minh, phân tích, và giải thích rõ ràng chánh pháp; khi nào có tà đạo khởi lên, chưa có thể bác bỏ, hàng phục với chánh pháp, chưa có thể thuyết pháp thần diệu”.

Bạch Thế Tôn, nay những cư sĩ của Thế Tôn đã trở thành đệ tử tinh thông, có huấn luyện, có tin tưởng, đạt được an ổn khỏi khổ ách, nghe nhiều, thọ trì pháp, thực hành pháp và tùy pháp, sở hành chơn chánh, hành trì theo pháp; sau khi học hỏi giáo lý đã có thể tuyên bố, thuyết giảng trình bày xác định, khai minh, phân tích, và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, đã có thể bác bỏ, hàng phục với chánh pháp, có thể thuyết pháp thần diệu”.

Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ! Thiện Thệ hãy diệt độ! Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ! Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào Phạm hạnh Ta giảng dạy chưa thịnh đạt, phát triển, quảng bá, biến mãn, phổ biến, khéo thuyết giảng cho chư Thiên và loài Người “.

Nay bạch Thế Tôn, Phạm hạnh Thế Tôn giảng dạy được thịnh đạt, phát triển, quảng bá, biến mãn, phổ biến, khéo thuyết giảng cho chư Thiên và loài Người. Nay Thế Tôn hãy diệt độ! Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ!

− Này Ác ma hãy yên tâm, không bao lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ!

9. Và tại đền Càpàla, Thế Tôn chánh niệm, tỉnh giác, từ bỏ thọ hành (không duy trì mạng sống lâu hơn nữa). Khi Thế Tôn từ bỏ thọ hành, thời đại địa chấn động ghê rợn, tóc lông dựng ngược, sấm trời vang dậy. Lúc bấy giờ, Thế Tôn hiểu ý nghĩa sự kiện này, liền thốt ra lời cảm hứng như sau:

Mạng sống có hạn hay vô hạn
Tu sĩ từ bỏ không kéo dài
Nội tâm an lạc, trú Thiền định
Như thoát áo giáp tự ngã mang.

10. Lúc bấy giờ, Tôn giả Ananda suy nghĩ: “Thật là lớn, đất chấn động này. Thật là to lớn, đất chấn động này, đại địa chấn động ghê rợn, tóc lông dựng ngược và sấm trời vang dậy. Do nhân gì, do duyên gì, đại địa chấn động hiển lộ như vậy? “

Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn:

− Thật là lớn, đất chấn động này. Thật là to lớn, đất chấn động này, đại địa chấn động ghê rợn, tóc lông dựng ngược và sấm trời vang dậy. Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, đại địa chấn động hiển lộ như vậy?

11. - Này Ananda, có tám nhân, có tám duyên, khiến đại địa chấn động. Thế nào là tám?

12. Này Ananda, đại địa này thiết lập trên nước, nước ở trên gió và gió ở trên hư không. Này Ananda, đến thời gió lớn khởi lên, khi gió lớn thổi lên nước rung động, và khi nước rung động thì quả đất rung động. Ðó là nhân thứ nhất, duyên thứ nhất, đại địa chấn động.

13. Lại nữa, này Ananda, có Sa-môn hay Bà-la-môn có thần thông, tâm được tự tại, hay hàng chư Thiên có đại thần thông, có đại uy lực; những vị này tu tập địa tưởng có hạn, thủy tưởng vô lượng, vị ấy có thể khiến quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Này Ananda, đó là nhân thứ hai, duyên thứ hai, khiến đại địa chấn động.

14. Lại nữa, này Ananda, khi Bồ-tát từ bỏ thân chư Thiên Tusità (Ðâu-xuất), chánh niệm, tỉnh giác, nhập vào mẫu thai, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Này Ananda, đó là nhân thứ ba, duyên thứ ba, khiến đại địa chấn động.

15. Lại nữa, này Ananda, khi Bồ-tát, chánh niệm, tỉnh giác, ra khỏi mẫu thai; khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Này Ananda, đó là nhân thứ tư, duyên thứ tư, khiến đại địa chấn động.

16. Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai chứng ngộ Vô thượng Chánh Ðẳng Giác; khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Này Ananda, đó là nhân thứ năm, duyên thứ năm, khiến đại địa chấn động.

17. Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai chuyển bánh xe Pháp; khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Này Ananda, đó là nhân thứ sáu, duyên thứ sáu, khiến đại địa chấn động.

18. Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai chánh niệm, tỉnh giác, từ bỏ không duy trì mạng sống (thọ hành); khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Này Ananda, đó là nhân thứ bảy, duyên thứ bảy, khiến đại địa chấn động.

19. Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai nhập Vô dư Niết-bàn; khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Này Ananda, đó là nhân thứ tám, duyên thứ tám, khiến đại địa chấn động.

Này Ananda, có tám nhân này, tám duyên này khiến đại địa chấn động.