Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về Tỉnh Thức

AN 8.81 Tỉnh Thức và Tỉnh Giác Satisampajaññasutta

"Này các Tỳ kheo, khi không có tỉnh thức (mindfulness / niệm, sự chú tâm, ghi nhớ) và tỉnh giác (situational awareness / sampajañña, sự hiểu biết rõ ràng, sự nhận biết tỉnh táo những gì đang xảy ra với thân, thọ, tâm, pháp), người thiếu tỉnh thức và tỉnh giác đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho xấu hổ (conscience / tàm, sự hổ thẹn với tội lỗi) và sợ điều ác (prudence / quý, sự ghê sợ tội lỗi). Khi không có xấu hổ và sợ điều ác, người thiếu xấu hổ và sợ điều ác đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho thu thúc các giác quan (sense restraint / indriyasaṃvara, sự kiểm soát, gìn giữ các giác quan không để chúng chạy theo các đối tượng bên ngoài). Khi không có thu thúc các giác quan, người thiếu thu thúc các giác quan đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức). Khi không có giới đức, người thiếu giới đức đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho chánh định (right immersion / sammāsamādhi, sự tập trung tâm ý một cách đúng đắn, trạng thái thiền định chân chính). Khi không có chánh định, người thiếu chánh định đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho như thật tri kiến (true knowledge and vision / yathābhūtañāṇadassana, sự thấy biết các pháp đúng như bản chất thật của chúng). Khi không có như thật tri kiến, người thiếu như thật tri kiến đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho nhàm chán (disillusionment / nibbidā, sự chán ngán, không còn hứng thú đối với các pháp hữu vi do thấy rõ tính vô thường, khổ, vô ngã của chúng) và ly tham (dispassion / virāga, sự lìa bỏ tham ái, không còn dính mắc). Khi không có nhàm chán và ly tham, người thiếu nhàm chán và ly tham đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho giải thoát tri kiến (knowledge and vision of freedom / vimuttiñāṇadassana, sự thấy biết rõ ràng về trạng thái giải thoát, sự chấm dứt khổ đau).

Ví như có một cái cây thiếu cành và lá. Chồi non, vỏ cây, giác cây và lõi cây của nó sẽ không phát triển đầy đủ.

Cũng vậy, khi không có tỉnh thức và tỉnh giác, người thiếu tỉnh thức và tỉnh giác đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho xấu hổ và sợ điều ác. Khi không có xấu hổ và sợ điều ác … Người thiếu nhàm chán và ly tham đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho giải thoát tri kiến.

Khi có tỉnh thức và tỉnh giác, người đã hoàn thiện tỉnh thức và tỉnh giác đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho xấu hổ và sợ điều ác. Khi có xấu hổ và sợ điều ác, người đã hoàn thiện xấu hổ và sợ điều ác đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho thu thúc các giác quan. Khi có thu thúc các giác quan, người đã hoàn thiện thu thúc các giác quan đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho giới đức. Khi có giới đức, người đã hoàn thiện giới đức đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho chánh định. Khi có chánh định, người đã hoàn thiện chánh định đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho như thật tri kiến. Khi có như thật tri kiến, người đã hoàn thiện như thật tri kiến đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho nhàm chán và ly tham. Khi có nhàm chán và ly tham, người đã hoàn thiện nhàm chán và ly tham đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho giải thoát tri kiến.

Ví như có một cái cây đầy đủ cành và lá. Chồi non, vỏ cây, giác cây và lõi cây của nó sẽ phát triển đầy đủ.

Cũng vậy, khi có tỉnh thức và tỉnh giác, người đã hoàn thiện tỉnh thức và tỉnh giác đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho xấu hổ và sợ điều ác. Khi có xấu hổ và sợ điều ác … Người đã hoàn thiện nhàm chán và ly tham đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho giải thoát tri kiến."

IX. Phẩm Niệm

(I) (81) Niệm

1. - Khi chánh niệm, tỉnh giác không có, này các Tỷ-kheo, với người không có chánh niệm, tỉnh giác, tàm quý đi đến hủy diệt. Khi tàm quý không có, này các Tỷ-kheo, với người thiếu tàm quý, chế ngự các căn đi đến hủy diệt. Khi chế ngự các căn không có, với người thiếu chế ngự các căn, giới đi đến hủy diệt. Khi giới không có, với người thiếu giới, chánh định đi đến hủy diệt. Khi chánh định không có, với người không có chánh định, tri kiến như thật đi đến hủy diệt. Khi tri kiến như thật không có, với người thiếu tri kiến như thật, nhàm chán, ly tham đi đến hủy diệt. Khi nhàm chán, ly tham không có, với người thiếu nhàm chán, ly tham, giải thoát tri kiến đi đến hủy diệt. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây không có cành và lá, các mầm non của cây ấy không đi đến thành mãn, vỏ cây, giác cây, lõi cây không đi đến thành mãn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi chánh niệm, tỉnh giác không có, với người không có chánh niệm, tỉnh giác tàm quý đi đến hủy diệt… giải thoát tri kiến đi đến hủy diệt.

2. Khi chánh niệm, tỉnh giác có mặt, với người có chánh niệm, tỉnh giác, tàm quý đi đến đầy đủ. Khi tàm quý có mặt, này các Tỷ-kheo, với người đầy đủ tàm quý, chế ngự các căn, đi đến đầy đủ. Khi chế ngự các căn có mặt, với người đầy đủ chế ngự các căn, giới đi đến đầy đủ. Khi giới có mặt, với người đầy đủ giới, chánh định đi đến đầy đủ. Khi chánh định có mặt, với người đầy đủ chánh định, tri kiến như thật đi đến đầy đủ. Khi tri kiến như thật có mặt, với người đầy đủ tri kiến như thật, thời nhàm chán, ly tham đi đến đầy đủ. Khi nhàm chán, ly tham có mặt, với người đầy đủ nhàm chán, ly tham, giải thoát tri kiến đi đến đầy đủ. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây có cành và lá, các mầm non và lõi cây đi đến thành mãn, vỏ cây, giác cây và lõi cây đi đến thành mãn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi chánh niệm, tỉnh giác có mặt, với người đầy đủ chánh niệm, tỉnh giác… giải thoát tri kiến đi đến đầy đủ.

AN 8.82 Với Puṇṇiya Puṇṇiyasutta

Khi ấy, Tôn giả Puṇṇiya đến gặp Đức Phật, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên và thưa với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, do nhân gì, duyên gì mà đôi khi bậc Như Lai (Realized One / Tathāgata, bậc đã đến như vậy và đi như vậy, một danh hiệu của Đức Phật) cảm thấy có cảm hứng thuyết Pháp, và đôi khi lại không?”

"Này Puṇṇiya, khi một Tỳ kheo có niềm tin (faith / tín, sự tin tưởng vững chắc) nhưng không đến gần, Như Lai không cảm thấy có cảm hứng thuyết Pháp. Nhưng khi một Tỳ kheo có niềm tin và đến gần, Như Lai cảm thấy có cảm hứng thuyết Pháp. Khi một Tỳ kheo có niềm tin và đến gần, nhưng không đảnh lễ … họ đảnh lễ, nhưng không đặt câu hỏi … họ đặt câu hỏi, nhưng không chủ động lắng nghe Pháp … họ chủ động lắng nghe Pháp, nhưng không ghi nhớ Pháp đã nghe … họ ghi nhớ Pháp đã nghe, nhưng không suy ngẫm ý nghĩa của những lời dạy đã ghi nhớ … họ suy ngẫm ý nghĩa của những lời dạy đã ghi nhớ, nhưng, vì chưa hiểu rõ ý nghĩa và lời dạy, họ không thực hành theo. Như Lai không cảm thấy có cảm hứng thuyết Pháp.

Nhưng khi một Tỳ kheo có niềm tin, đến gần, đảnh lễ, đặt câu hỏi, chủ động lắng nghe Pháp, ghi nhớ Pháp, suy ngẫm ý nghĩa, và thực hành theo, Như Lai cảm thấy có cảm hứng thuyết Pháp. Khi một người có tám phẩm chất này, Như Lai cảm thấy hoàn toàn có cảm hứng thuyết Pháp."

(II) (82) Tôn Gỉả Punniya

1. Rồi Tôn giả Punniya đi đến Thế Tôn, sau khi đến… Ngồi xuống một bên, Tôn giả Punniya bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, có khi Thế Tôn thuyết pháp, có khi Thế Tôn không thuyết pháp?

2. - Này Punniya, Tỷ-kheo có lòng tin, không đi đến yết kiến, Thế Tôn không có thuyết pháp. Khi nào Tỷ-kheo có lòng tin và đi đến yết kiến, như vậy Thế Tôn có thuyết pháp. Này Punniya, Tỷ-kheo có lòng tin, có đi đến yết kiến, nhưng không có hầu hạ, có hầu hạ nhưng không hỏi… có hỏi nhưng không lóng tai… có lóng tai nghe pháp, nhưng nghe pháp không có thọ trì… nghe pháp có thọ trì nhưng không suy nghĩ đến ý nghĩa các pháp được thọ trì… có suy nghĩ các pháp được thọ trì, nhưng sau khi biết nghĩa, sau khi biết pháp, không thực hành pháp và tùy pháp. Thế Tôn không thuyết pháp. Khi nào, này Punniya lòng tin, có đi đến yết kiến, có hầu hạ, có hỏi, có lóng tai nghe, có thọ trì pháp, có suy tư ý nghĩa các pháp được thọ trì, sau khi biết nghĩa, sau khi biết pháp, thực hành pháp và tùy pháp, như vậy, Như Lai có thuyết pháp.

Thành tựu những pháp này, này Punniya, nhất định Như Lai thuyết pháp.

AN 8.83 Cội Rễ Mūlakasutta

“Này các Tỳ kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các ông: ‘Chư hiền, tất cả các pháp lấy gì làm cội rễ? Điều gì tạo ra chúng? Đâu là nguồn gốc của chúng? Đâu là nơi hội tụ của chúng? Đâu là điều chủ yếu của chúng? Ai là người cai quản chúng? Ai là người giám sát chúng? Đâu là lõi cây của chúng?’ Các ông sẽ trả lời họ như thế nào?”

“Bạch Thế Tôn, các lời dạy của chúng con lấy Đức Phật làm cội rễ. Ngài là người hướng dẫn và là nơi nương tựa của chúng con. Bạch Thế Tôn, mong rằng chính Đức Phật sẽ làm sáng tỏ ý nghĩa của điều này. Các Tỳ kheo sẽ lắng nghe và ghi nhớ.”

“Vậy thì, này các Tỳ kheo, Ta sẽ giảng dạy. Hãy lắng nghe và khéo suy tư với trí tuệ (apply the mind rationally / như lý tác ý, sự chú ý, hướng tâm một cách hợp lý, đúng đắn), Ta sẽ nói.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” họ đáp. Đức Phật dạy điều này:

“Này các Tỳ kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các ông: ‘Chư hiền, tất cả các pháp lấy gì làm cội rễ? Điều gì tạo ra chúng? Đâu là nguồn gốc của chúng? Đâu là nơi hội tụ của chúng? Đâu là điều chủ yếu của chúng? Ai là người cai quản chúng? Ai là người giám sát chúng? Đâu là lõi cây của chúng?’ Các ông nên trả lời họ: ‘Chư hiền, tất cả các pháp lấy ước muốn (desire / chanda, ý muốn, sự mong muốn làm điều gì đó, có thể thiện hoặc bất thiện) làm cội rễ. Chúng được tạo ra bởi tác ý (application of mind / manasikāra, sự chú ý, sự hướng tâm đến đối tượng một cách có chủ đích). Xúc (contact / phassa, sự tiếp xúc giữa căn (giác quan), cảnh (đối tượng) và thức (ý thức), làm phát sinh cảm thọ) là nguồn gốc của chúng. Thọ (feeling / vedanā, cảm giác dễ chịu (lạc), khó chịu (khổ) hoặc trung tính (không khổ không lạc) phát sinh từ xúc) là nơi hội tụ của chúng. Định (immersion / samādhi, sự tập trung tâm ý vào một đối tượng duy nhất, trạng thái tâm vắng lặng) là điều chủ yếu của chúng. Tỉnh thức là người cai quản chúng. Trí tuệ (wisdom / tuệ, sự hiểu biết đúng đắn, sáng suốt) là người giám sát chúng. Giải thoát (freedom / vimutti, sự giải thoát hoàn toàn khỏi khổ đau, phiền não và vòng luân hồi) là lõi cây của chúng.’ Khi bị các du sĩ ngoại đạo chất vấn, đó là cách các ông nên trả lời họ.”

(III) (83) Cội rễ Của Sự Vật

1. - Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo đến hỏi: “Thưa Hiền giả, tất cả pháp lấy gì làm căn bản? Tất cả pháp lấy gì làm sanh khởi? Tất cả pháp lấy gì làm tập khởi? Tất cả pháp lấy gì làm chỗ tụ hội? Tất cả pháp lấy gì làm thượng thủ? Tất cả pháp lấy gì làm tăng thượng? Tất cả pháp lấy gì làm tối thượng? Tất cả này pháp lấy gì làm lõi cây?” Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy như thế nào?

2. - Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa. Lành thay, Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết ý nghĩa lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì. − Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

3. - Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo có hỏi như sau: “Thưa Hiền giả, tất cả pháp lấy gì làm căn bản? Tất cả pháp lấy gì làm sanh khỏi? Tất cả pháp lấy gì làm tập khởi? Tất cả pháp lấy gì làm chỗ tụ hội? Tất cả pháp lấy gì làm thượng thủ? Tất cả pháp lấy gì làm tăng thượng? Tất cả pháp lấy gì làm tối thượng? Tất cả này pháp lấy gì làm lõi cây?” Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy trả lời như sau: “Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây”. Ðược hỏi như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như vậy.

AN 8.84 Siêu Trộm Corasutta

"Này các Tỳ kheo, một tên siêu trộm có tám yếu tố thì sớm bị hành quyết, và không sống được bao lâu. Tám yếu tố nào? Hắn tấn công vô cớ. Hắn trộm cắp mọi thứ không chừa thứ gì. Hắn giết phụ nữ. Hắn hãm hiếp thiếu nữ. Hắn cướp của tu sĩ. Hắn cướp kho vua. Hắn hành nghề gần nhà. Hắn không khéo léo trong việc cất giấu của gian. Một tên siêu trộm có tám yếu tố này thì sớm bị hành quyết, và không sống được bao lâu.

Một tên siêu trộm có tám yếu tố thì không sớm bị hành quyết, và sống lâu. Tám yếu tố nào? Hắn không tấn công vô cớ. Hắn không trộm cắp mọi thứ không chừa thứ gì. Hắn không giết phụ nữ. Hắn không hãm hiếp thiếu nữ. Hắn không cướp của tu sĩ. Hắn không cướp kho vua. Hắn không hành nghề gần nhà. Hắn khéo léo trong việc cất giấu của gian. Một tên siêu trộm có tám yếu tố này thì không sớm bị hành quyết, và sống lâu."

(IV) (84) Ðại Ăn Trộm

1. - Thành tựu tám chi phần, này các Tỷ-kheo, người ăn trộm lớn mau chóng đi đến đường cùng, không tồn tại lâu dài. Thế nào là tám?

Ðập người không đập, lấy trộm không để lại cái gì, giết nữ nhân, hiếp dâm thiếu nữ, xâm phạm người xuất gia; xâm phạm ngân khố của vua; làm việc quá gần nhà, và không khéo cất giấu.

Thành tựu tám chi phần này, này các Tỷ-kheo, người ăn trộm lớn mau chóng đi đến đường cùng, không tồn tại lâu dài.

3. Thành tựu tám chi phần, này các Tỷ-kheo, người ăn trộm lớn không mau chóng đi đến đường cùng, tồn tại được lâu dài. Thế nào là tám?

4. Không đập người không đập, lấy trộm có để lại cái gì, không giết nữ nhân, không hiếp dâm thiếu nữ; không xâm phạm người xuất gia, không xâm phạm ngân khố của vua, không làm việc quá gần nhà, và khéo léo cất giấu.

Thành tựu tám chi phần này, này các Tỷ-kheo, một người ăn trộm không mau chóng đi đến đường cùng, tồn tại được lâu dài.

AN 8.85 Các Danh Xưng Của Bậc Như Lai Samaṇasutta

"‘Sa-môn’ (Ascetic / samaṇa, người tu hành, người xuất gia cố gắng dập tắt phiền não) là một danh xưng của bậc Như Lai, bậc A-la-hán (perfected one / arahant, bậc đã hoàn thiện, đã diệt trừ mọi phiền não, xứng đáng được cúng dường), Đức Chánh Đẳng Chánh Giác (fully awakened Buddha / sammāsambuddha, bậc tự mình giác ngộ hoàn toàn và đúng đắn tất cả các pháp). ‘Bà-la-môn’ (Brahmin / brāhmaṇa, theo truyền thống là người thuộc giai cấp tu sĩ Bà-la-môn giáo; trong Phật giáo, từ này cũng được dùng để chỉ người có phẩm hạnh thanh tịnh, người đã loại trừ các điều ác), ‘Bậc Thông suốt Vệ-đà’ (Knowledge Master / vedagū, người đã đạt đến sự hiểu biết hoàn hảo, bậc trí giả, người đã vượt qua mọi kiến thức thế gian), ‘Y sĩ’ (Healer / bhisakka, người chữa bệnh, bậc lương y; Đức Phật thường được ví như một đại y vương chữa bệnh khổ cho chúng sinh), ‘Người đã tắm gội’ (Unstained / nahātaka, người đã gột rửa mọi phiền não, thanh tịnh như người đã tắm sạch bụi bẩn), ‘Vô cấu’ (Immaculate / vimala, thanh tịnh, không tỳ vết, không còn ô nhiễm bởi phiền não), ‘Bậc hiểu biết’ (Knower / jāniya, người có trí tuệ, người biết rõ các pháp), và ‘Người giải thoát’ (Freed / vimutta, người đã được giải thoát khỏi mọi ràng buộc) là những danh xưng của bậc Như Lai, bậc A-la-hán, Đức Chánh Đẳng Chánh Giác.

Bậc Sa-môn nên đạt đến tối thượng,
một Bà-la-môn đã sống đời phạm hạnh;
Bậc Thông suốt Vệ-đà nên đạt đến,
một Y sĩ.

Người đã tắm gội nên đạt đến tối thượng,
không tỳ vết và thanh tịnh;
Bậc hiểu biết nên đạt đến,
người đã giải thoát.

Ta chiến thắng trong trận chiến!
Đã giải thoát, Ta giải thoát kẻ khác khỏi xiềng xích.
Ta là rồng đã được thuần phục hoàn toàn,
một bậc thiện xảo, Ta đã tịch tịnh."

(V) (85) Người Sa Môn

1. - Sa-môn, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Bà-la-môn, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Bậc Chánh trí, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Dược sư là đồng nghĩa với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Bậc Ly cấu, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Như Lai, bậc Ala-hán, Chánh Ðẳng Giác. Bậc Có trí, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Bậc Giải thoát, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.

Sa-môn đạt được gì, Phạm chí thành mãn gì, Bậc Chánh trí đạt gì, Bậc Dược sư vô thượng, Bậc Ly cấu đạt gì. Bậc Vô cấu thanh tịnh, Bậc Trí đạt được gì, Bậc Giải thoát vô thượng. Trong chiến trận Ta thắng, Giải thoát khỏi triền phược, Voi tối thượng nhiếp phục, Ta, vô học, tịch tịnh.

AN 8.86 Với Nāgita Yasasutta

Một thời Đức Phật đang du hành trong xứ Kosala cùng với một Tăng đoàn đông đảo các Tỳ kheo thì Ngài đến một ngôi làng của các Bà-la-môn xứ Kosala tên là Icchānaṅgala. Ngài trú tại một khu rừng gần Icchānaṅgala. Các Bà-la-môn và gia chủ ở Icchānaṅgala nghe tin:

“Hình như Sa-môn Gotama—một người dòng Thích Ca, xuất gia từ gia tộc Thích Ca—đã đến Icchānaṅgala. Ngài đang trú tại một khu rừng gần Icchānaṅgala. Ngài có tiếng tốt đồn xa như sau: ‘Vị Thế Tôn (blessed / bhagavā, bậc được tôn kính) ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc (accomplished in knowledge and conduct / vijjācaraṇasampanna, bậc đầy đủ trí tuệ và đức hạnh), Thiện Thệ (holy / sugata, bậc đã đi một cách tốt đẹp đến Niết-bàn), Thế Gian Giải (knower of the world / lokavidū, bậc hiểu rõ thế gian), Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu (supreme guide for those who wish to train / anuttaro purisadammasārathi, bậc vô song trong việc giáo hóa chúng sinh), Thiên Nhân Sư (teacher of gods and humans / satthā devamanussānaṃ, thầy của trời và người), Phật (awakened / buddha, bậc giác ngộ), Thế Tôn.’ … Thật tốt đẹp khi được gặp những bậc A-la-hán như vậy.”

Rồi, khi đêm đã qua, họ mang theo nhiều vật thực tươi và chín đến khu rừng gần Icchānaṅgala, đứng bên ngoài cổng làm huyên náo kinh khủng.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Nāgita là thị giả của Đức Phật. Khi ấy, Đức Phật nói với Nāgita: “Này Nāgita, ai đang làm huyên náo kinh khủng vậy? Cứ như là những người đánh cá đang kéo lưới!”

“Bạch Thế Tôn, đó là những Bà-la-môn và gia chủ ở Icchānaṅgala. Họ đã mang theo nhiều vật thực tươi và chín, và đang đứng bên ngoài cổng muốn đặc biệt cúng dường lên Đức Phật và Tăng đoàn Tỳ kheo.”

“Này Nāgita, Ta mong không nổi danh. Mong rằng danh tiếng không đến với Ta. Có những người không thể có được lạc xuất ly (pleasure of renunciation / nekkhammasukha, niềm vui phát sinh từ sự từ bỏ đời sống thế tục, từ bỏ các dục vọng), lạc độc cư (pleasure of seclusion / pavivekasukha, niềm vui phát sinh từ sự sống một mình nơi vắng vẻ, xa lìa đám đông), lạc tịch tịnh (pleasure of peace / upasamasukha, niềm vui phát sinh từ sự an tĩnh nội tâm, sự lắng dịu các phiền não), lạc giác ngộ (pleasure of awakening / sambodhasukha, niềm vui tối thượng phát sinh từ sự chứng ngộ chân lý, sự giác ngộ hoàn toàn) khi họ muốn, một cách không khó khăn, không mệt nhọc như Ta. Hãy để họ tận hưởng niềm vui thấp kém, lười biếng của lợi lộc, danh dự và tiếng tăm.”

“Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy chấp thuận ngay bây giờ! Mong Bậc Thánh hãy chấp thuận! Bây giờ là lúc Đức Phật chấp thuận. Bất cứ nơi nào Đức Phật đi đến, các Bà-la-môn và gia chủ, và người dân thành thị và nông thôn cũng sẽ hướng về như vậy. Giống như khi trời mưa lớn và nước chảy xuống chỗ trũng. Cũng vậy, bất cứ nơi nào Đức Phật đi đến, các Bà-la-môn và gia chủ, và người dân thành thị và nông thôn cũng sẽ hướng về như vậy. Tại sao vậy? Bởi vì giới đức và trí tuệ của Đức Phật.”

"Này Nāgita, Ta mong không nổi danh. Mong rằng danh tiếng không đến với Ta. Có những người không thể có được lạc xuất ly, lạc độc cư, lạc tịch tịnh, lạc giác ngộ khi họ muốn, một cách không khó khăn, không mệt nhọc như Ta. Hãy để họ tận hưởng niềm vui thấp kém, lười biếng của lợi lộc, danh dự và tiếng tăm.

Ngay cả một số chư thiên cũng không thể có được lạc xuất ly, lạc độc cư, lạc tịch tịnh, lạc giác ngộ khi họ muốn, một cách không khó khăn, không mệt nhọc như Ta. Khi tất cả các ông tụ họp vui vẻ với nhau, Ta nghĩ: ‘Các vị tôn giả này hẳn là không có được lạc xuất ly, lạc độc cư, lạc tịch tịnh, lạc giác ngộ khi họ muốn, một cách không khó khăn, không mệt nhọc như Ta. Điều đó hẳn là vì họ tụ họp vui vẻ với nhau.’

Hãy xem những Tỳ kheo mà Ta thấy lấy ngón tay chọc nhau, cười đùa và vui chơi cùng nhau. Ta tự nghĩ: ‘Các vị tôn giả này hẳn là không có được lạc xuất ly, lạc độc cư, lạc tịch tịnh, lạc giác ngộ khi họ muốn, một cách không khó khăn, không mệt nhọc như Ta. Điều đó hẳn là vì họ lấy ngón tay chọc nhau, cười đùa và vui chơi cùng nhau.’

Hãy xem những Tỳ kheo mà Ta thấy ăn no căng bụng, rồi đam mê thú vui ngủ nghỉ, nằm dài và mơ màng. Ta tự nghĩ: ‘Các vị tôn giả này hẳn là không có được lạc xuất ly, lạc độc cư, lạc tịch tịnh, lạc giác ngộ khi họ muốn, một cách không khó khăn, không mệt nhọc như Ta. Điều đó hẳn là vì họ ăn no căng bụng, rồi đam mê thú vui ngủ nghỉ, nằm dài và mơ màng.’

Hãy xem một Tỳ kheo sống trong làng mà Ta thấy đang ngồi nhập định. Ta tự nghĩ: ‘Bây giờ một người làm công trong tu viện, một Sa-di, hoặc một bạn đồng tu sẽ làm cho vị tôn giả này xuất khỏi định.’ Vì vậy, Ta không hài lòng khi Tỳ kheo đó sống trong làng.

Hãy xem một Tỳ kheo ở nơi hoang dã mà Ta thấy đang ngồi thiền gật gù. Ta tự nghĩ: ‘Bây giờ vị tôn giả này, sau khi xua tan cơn buồn ngủ và mệt mỏi đó, sẽ chỉ chuyên chú vào nhận thức (perceptions / tưởng, một trong năm uẩn, là quá trình nhận biết, phân biệt và ghi nhớ các đặc điểm của đối tượng, rồi gán cho chúng những tên gọi hay khái niệm) duy nhất về rừng vắng.’ Vì vậy, Ta hài lòng khi Tỳ kheo đó sống ở nơi hoang dã.

Hãy xem một Tỳ kheo ở nơi hoang dã mà Ta thấy đang ngồi mà không nhập định. Ta tự nghĩ: ‘Bây giờ nếu tâm của vị tôn giả này chưa nhập định thì vị ấy sẽ làm cho nó nhập định; hoặc nếu nó đã nhập định, vị ấy sẽ duy trì nó.’ Vì vậy, Ta hài lòng khi Tỳ kheo đó sống ở nơi hoang dã.

Hãy xem một Tỳ kheo ở nơi hoang dã mà Ta thấy đang ngồi nhập định. Ta tự nghĩ: ‘Bây giờ vị tôn giả này sẽ giải thoát tâm chưa được giải thoát hoặc duy trì tâm đã được giải thoát.’ Vì vậy, Ta hài lòng khi Tỳ kheo đó sống ở nơi hoang dã.

Hãy xem một Tỳ kheo mà Ta thấy sống trong làng nhận y, vật thực khất thực, trú xứ, và dược phẩm trị bệnh. Tận hưởng lợi lộc, danh dự và tiếng tăm, họ xao lãng việc ẩn cư, và họ xao lãng các trú xứ xa xôi nơi hoang dã và rừng rậm. Họ đi xuống các làng, thị trấn và kinh thành rồi ở lại đó. Vì vậy, Ta không hài lòng khi Tỳ kheo đó sống trong làng.

Hãy xem một Tỳ kheo mà Ta thấy ở nơi hoang dã nhận y, vật thực khất thực, trú xứ, và dược phẩm trị bệnh. Từ bỏ lợi lộc, danh dự và tiếng tăm, họ không xao lãng việc ẩn cư, và họ không xao lãng các trú xứ xa xôi nơi hoang dã và rừng rậm. Vì vậy, Ta hài lòng khi Tỳ kheo đó sống ở nơi hoang dã.

Này Nāgita, khi Ta đi trên đường và không thấy ai ở phía trước hay phía sau, Ta cảm thấy thư thái, ngay cả khi Ta cần tiểu tiện hay đại tiện."

(VI) (86) Ðảnh Lễ

1. Một thời, Thế Tôn đang bộ hành giữa dân chúng Kosala với chúng Tỷ-kheo, đi đến một làng Bà-lamôn của dân chúng Kosala tên là Icchànangala. Tại đấy, Thế Tôn trú ở Icchànangala, tại khu rừng Icchànangala.

2. Các Bà-la-môn gia chủ trú ở Icchànangala được nghe: “Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích-ca, nay đã đến Icchànangala, trú ở Icchànangala, tại khu rừng Icchànangala, những tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Sa-môn Gotama: “Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn… Lành thay, nếu được yết kiến một bậc A-la-hán như vậy.” Rồi Bà-la-môn gia chủ sau khi đêm ấy đã mãn, đem theo rất nhiều đồ ăn loại cứng và loại mềm, đi đến Icchànangala, sau khi đến, đứng tại ngoài cửa nói lớn tiếng làm ồn ào.

3. Lúc bấy giờ, Tôn giả Nàgita là thị giả của Thế Tôn. Rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Nàgita:

− Này Nàgita, những ai lớn tiếng, cao tiếng như những hàng cá, với đống cá lớn?

− Các người ấy, bạch Thế Tôn là các Bà-la-môn gia chủ ở Icchànangala đang đứng ở ngoài cổng vào, đem theo rất nhiều đồ ăn loại cứng và loại mềm cho Thế Tôn và chúng Tăng.

− Này Nàgita, Ta không có liên hệ gì với danh vọng, và danh vọng không có liên hệ gì với Ta. Này Nàgita, những ai tìm được có khó khăn, tìm được có mệt nhọc, tìm được có phí sức an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc mà Ta đã tìm được không khó khăn, tìm được không mệt nhọc, tìm được không phí sức, hãy để họ thọ hưởng lạc như phân, thụy miên lạc, lợi dưỡng, cung kính, danh văn lạc ấy.

− Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy chấp nhận! Thiện Thệ hãy chấp nhận. Bạch Thế Tôn, nay là thời Thế Tôn chấp nhận. Thế Tôn sẽ đi đến chỗ nào, tại chỗ ấy, các Bà-la-môn gia chủ ở thị trấn và ở quốc độ cũng sẽ đi đến với tâm hướng về Ngài. Ví như trời mưa nặng hạt, và nước mưa được chảy tùy theo chiều dốc. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn sẽ đi đến chỗ nào, tại chỗ ấy, các Bà-la-môn gia chủ ở tại thị trấn và quốc độ cũng sẽ đi đến, với tâm hướng về Ngài. Vì sao? Bạch Thế Tôn, do vì giới hạnh và trí tuệ của Thế Tôn.

− Này Nàgita, Ta không có liên hệ với danh vọng và danh vọng không có liên hệ gì với Ta. Này Nàgita, những ai tìm được có khó khăn, tìm được có mệt nhọc, tìm được có phí sức an lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc; còn Ta, Ta đã tìm được không khó khăn, tìm được không mệt nhọc, tìm được không phí sức, hãy để họ thọ hưởng lạc như phân, thụy miên lạc, lợi dưỡng, cung kính, danh văn lạc ấy. Này Nàgita, một số chư Thiên tìm được có khó khăn, tìm được có mệt nhọc, tìm được có phí sức an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc, mà Ta, Ta đã tìm được không có khó khăn, tìm được không có mệt nhọc, tìm được không có phí sức. Này Nàgita, khi nào các Thầy họp với nhau, tụ hội với nhau, sống an trú chú tâm trong nếp sống hội chúng, thời Ta suy nghĩ như sau: “Thật vậy, các Tôn giả này của Ta tìm được có khó khăn, tìm được có mệt nhọc, tìm được có phí sức an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc này; còn Ta, Ta đã tìm được không có phí sức an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc. Cho nên các Tôn giả của Ta mới họp với nhau, tụ hội với nhau, sống an trú chú tâm trong nếp sống hội chúng”.

4. Này Nàgita, khi nào Ta thấy các Tỷ-kheo, chơi giỡn lấy ngón tay đâm thọc nhau. Này Nàgita, Ta suy nghĩ như sau: “Thật vậy, các Tôn giả này của Ta tìm được có khó khăn, tìm được có mệt nhọc, tìm được có phí sức an ổ lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc; còn Ta, Ta đã tìm được… chánh giác lạc. Cho nên các Tôn giả của Ta mới chơi giỡn lấy ngón tay đâm thọc nhau”.

5. Ở đây, này Nàgita, khi Ta thấy các Tỷ-kheo sau khi ăn cho đến thỏa mãn, cho đến bụng có thể chứa được, rồi sống chú tâm vào lạc nằm xuống, lạc về xúc, lạc về ngủ, khi ấy, này Nàgita, Ta suy nghĩ như sau: “Thật sự, các Tôn giả này tìm được có khó khăn, tìm được có mệt nhọc, tìm được có phí sức an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc; còn Ta thời chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc; vì rằng các Tôn giả này, sau khi ăn cho đến thỏa mãn, cho đến bụng có thể chứa được, rồi sống chú tâm vào lạc nằm xuống, lạc về xúc, lạc về ngủ”.

6. Ở đây, này Nàgita, khi ta thấy Tỷ-kheo trú ở cuối làng, đang ngồi Thiền định. Này Nàgita, rồi Ta suy nghĩ: “Nay người giữ khu vườn sẽ đến quấy rầy, hay một Sa-di sẽ làm vị ấy từ bỏ Thiền định”. Do vậy, này Nàgita, Ta không hoan hỷ Tỷ-kheo ấy trú ở cuối làng.

7. Ở đây, này Nàgita, Ta thấy một Tỷ-kheo trú ở rừng đang ngồi ngủ gục ở trong rừng. Này Nàgita, Ta suy nghĩ như sau: “Nay Tôn giả này khi đoạn trừ được buồn ngủ và mỏi mệt, sẽ tác ý đến tưởng về rừng và sống nhất tâm”. Do vậy, này Nàgita, Ta hoan hỷ với Tỷ-kheo ấy sống ở trong rừng.

8. Ở đây, này Nàgita. Ta thấy Tỷ-kheo sống ở rừng đang ngồi không Thiền định ở trong rừng. Này Nàgita, Ta suy nghĩ như sau: “Nay, vị Tôn giả này sẽ định tĩnh tâm chưa được Thiền định, và sẽ bảo vệ tâm đã được Thiền định”. Do vậy, này Nàgita, Ta hoan hỷ với Tỷ-kheo ấy sống ở trong rừng.

9. Ở đây, này Nàgita, Ta thấy Tỷ-kheo ngồi Thiền định ở trong rừng. Này Nàgita, Ta suy nghĩ như sau: “Nay Tôn giả này sẽ giải thoát tâm chưa được giải thoát hay sẽ bảo vệ tâm đã được giải thoát”. Do vậy, này Nàgita, Ta hoan hỷ với Tỷ-kheo sống ở trong rừng.

Khi nào, này Nàgita, Ta đi trên đường, không thấy một ai ở phía trước hay ở phía sau, này Nàgita, khi ấy, Ta cảm thấy sảng khoái cho đến vấn đề đại, tiểu tiện.

AN 8.87 Úp Bát Pattanikujjanasutta

"Này các Tỳ kheo, Tăng đoàn có thể, nếu muốn, thực hiện việc úp bát (turning the bowl upside down / pattanikkujjana, một hình thức kỷ luật của Tăng đoàn, theo đó các Tỳ kheo không nhận vật thực cúng dường từ một cư sĩ đã có hành vi sai trái nghiêm trọng đối với Tam Bảo hoặc Tăng đoàn, nhằm giúp người đó nhận ra lỗi lầm và sửa đổi) đối với một cư sĩ tại gia dựa trên tám lý do. Tám lý do nào? Họ cố gắng ngăn cản các Tỳ kheo nhận được vật phẩm cúng dường. Họ cố gắng làm hại các Tỳ kheo. Họ cố gắng đuổi các Tỳ kheo ra khỏi một tu viện. Họ sỉ nhục và lăng mạ các Tỳ kheo. Họ chia rẽ các Tỳ kheo. Họ phê phán Phật, Pháp, và Tăng. Tăng đoàn có thể, nếu muốn, thực hiện việc úp bát đối với một cư sĩ tại gia dựa trên tám lý do này.

Tăng đoàn có thể, nếu muốn, thực hiện việc ngửa bát (turning the bowl upright / pattamukujjana, Tăng đoàn chấp nhận lại sự cúng dường của một cư sĩ sau khi người đó đã sám hối và sửa đổi lỗi lầm đã khiến họ bị úp bát) đối với một cư sĩ tại gia dựa trên tám lý do. Tám lý do nào? Họ không cố gắng ngăn cản các Tỳ kheo nhận được vật phẩm cúng dường. Họ không cố gắng làm hại các Tỳ kheo. Họ không cố gắng đuổi các Tỳ kheo ra khỏi một tu viện. Họ không sỉ nhục và lăng mạ các Tỳ kheo. Họ không chia rẽ các Tỳ kheo. Họ không phê phán Phật, Pháp, và Tăng. Tăng đoàn có thể, nếu muốn, thực hiện việc ngửa bát đối với một cư sĩ tại gia dựa trên tám lý do này."

(VII) (87) Bình Bát

1. - Này các Tỷ-kheo, nếu muốn, chúng Tăng có thể lật úp bình bát của một nam cư sĩ thành tựu tám pháp. Thế nào là tám?

2. Cố gắng đem lại thiệt hại cho các Tỷ-kheo, cố gắng đem lại bất lợi cho các Tỷ-kheo, cố gắng đuổi các Tỷ-kheo không cho trú ở, mắng nhiếc chỉ trích các Tỷ-kheo, làm ly gián giữa các Tỷ-kheo, hủy báng Phật, hủy báng Pháp, hủy báng Tăng.

Này các Tỷ-kheo, nếu muốn, chúng Tăng có thể lật úp bình bát của một cư sĩ thành tựu tám pháp này.

3. Này các Tỷ-kheo, nếu muốn, chúng Tăng có thể lật ngửa bình bát của một nam cư sĩ thành tựu tám pháp. Thế nào là tám? 4. Không cố gắng đem lại thiệt hại cho các Tỷ-kheo, không cố gắng đem lại bất lợi cho các Tỷ-kheo, không cố gắng đuổi các Tỷ-kheo, không cho trú ở, không mắng nhiếc chỉ trích các Tỷ-kheo, không làm ly gián giữa các Tỷ-kheo, tán thán Phật, tán thán Pháp, tán thán chúng Tăng.

Này các Tỷ-kheo, nếu muốn, chúng Tăng có thể lật ngửa bình bát của một nam cư sĩ thành tựu tám pháp này.

AN 8.88 Tuyên Bố Bất Tín Nhiệm Appasādapavedanīyasutta

"Này các Tỳ kheo, các cư sĩ tại gia có thể, nếu muốn, đưa ra tuyên bố bất tín nhiệm (proclamation of no confidence / appasādappavedana, một thông báo chính thức từ các cư sĩ rằng họ không còn tin tưởng, không còn kính trọng một vị Tỳ kheo do những hành vi không phù hợp của vị ấy) đối với một Tỳ kheo có tám phẩm chất. Tám phẩm chất nào? Vị ấy cố gắng ngăn cản các cư sĩ nhận được vật phẩm. Vị ấy cố gắng làm hại các cư sĩ. Vị ấy sỉ nhục và lăng mạ các cư sĩ. Vị ấy chia rẽ các cư sĩ. Vị ấy phê phán Phật, Pháp, và Tăng. Vị ấy bị thấy ở nơi không thích hợp để khất thực. Các cư sĩ tại gia có thể, nếu muốn, đưa ra tuyên bố bất tín nhiệm đối với một Tỳ kheo có tám phẩm chất này.

Các cư sĩ tại gia có thể, nếu muốn, đưa ra tuyên bố tín nhiệm (proclamation of confidence / pasādappavedana, một thông báo chính thức từ các cư sĩ rằng họ tín nhiệm, kính trọng một vị Tỳ kheo) đối với một Tỳ kheo có tám phẩm chất. Tám phẩm chất nào? Vị ấy không cố gắng ngăn cản các cư sĩ nhận được vật phẩm. Vị ấy không cố gắng làm hại các cư sĩ. Vị ấy không sỉ nhục và lăng mạ các cư sĩ. Vị ấy không chia rẽ các cư sĩ. Vị ấy không phê phán Phật, Pháp, và Tăng. Vị ấy không bị thấy ở nơi không thích hợp để khất thực. Các cư sĩ tại gia có thể, nếu muốn, đưa ra tuyên bố tín nhiệm đối với một Tỳ kheo có tám phẩm chất này."

(VIII) (88) Phản Ðối

1. - Ðối với nam cư sĩ thành tựu tám pháp, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo muốn, có thể nói lời phản đối. Thế nào là tám?

2. Cố gắng đem lại thiệt hại cho các gia chủ, cố gắng đem lại bất lợi cho các gia chủ, nhiếc mắng chỉ triùch các gia chủ, làm ly gián giữa các gia chủ, hủy báng Phật, hủy báng Pháp, phỉ báng chúng Tăng, thấy người ấy tại các chỗ không xứng đáng.

Ðối với nam cư sĩ thành tựu tám pháp, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo muốn, có thể nói lời phản đối.

3. Ðối với nam cư sĩ thành tựu tám pháp, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo muốn, có thể nói lời tùy thuận. Thế nào là tám?

4. Không cố gắng đem lại thiệt hại cho các gia chủ, không cố gắng đem lại bất lợi cho các gia chủ, không nhiếc mắng chỉ trích các gia chủ, không làm ly gián giữa các gia chủ, tán thán Phật, tán thán Pháp, tán thán chúng Tăng, thấy người ấy tại các chỗ xứng đáng.

Ðối với nam cư sĩ thành tựu tám pháp này, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo muốn, có thể nói lời tùy thuận.

AN 8.89 Hòa Giải Paṭisāraṇīyasutta

"Này các Tỳ kheo, Tăng đoàn có thể, nếu muốn, thực hiện hành động yêu cầu hòa giải (act requiring reconciliation / paṭisāraṇīyakamma, một thủ tục của Tăng đoàn yêu cầu một Tỳ kheo phải xin lỗi và làm cho cư sĩ mà vị ấy đã xúc phạm hoặc gây tổn hại được hài lòng) đối với một Tỳ kheo có tám phẩm chất. Tám phẩm chất nào? Vị ấy cố gắng ngăn cản các cư sĩ nhận được vật phẩm. Vị ấy cố gắng làm hại các cư sĩ. Vị ấy sỉ nhục và lăng mạ các cư sĩ. Vị ấy chia rẽ các cư sĩ. Vị ấy phê phán Phật, Pháp, và Tăng. Vị ấy không giữ một lời hứa chính đáng đã hứa với một cư sĩ. Tăng đoàn có thể, nếu muốn, thực hiện hành động yêu cầu hòa giải đối với một Tỳ kheo có tám phẩm chất này.

Tăng đoàn có thể, nếu muốn, thu hồi hành động yêu cầu hòa giải đối với một Tỳ kheo có tám phẩm chất. Tám phẩm chất nào? Vị ấy không cố gắng ngăn cản các cư sĩ nhận được vật phẩm. Vị ấy không cố gắng làm hại các cư sĩ. Vị ấy không sỉ nhục và lăng mạ các cư sĩ. Vị ấy không chia rẽ các cư sĩ. Vị ấy không phê phán Phật, Pháp, và Tăng. Vị ấy giữ một lời hứa chính đáng đã hứa với một cư sĩ. Tăng đoàn có thể, nếu muốn, thu hồi hành động yêu cầu hòa giải đối với một Tỳ kheo có tám phẩm chất này."

(IX) (89) Buộc Tội

1. - Ðối với Tỷ-kheo thành tựu tám pháp, này các Tỷ-kheo, nếu chúng Tăng muốn, chúng Tăng có thể làm Yết-ma buộc tội. Thế nào là tám?

2. Cố gắng đem lại thiệt hại cho các gia chủ, cố gắng đem lại bất lợi cho các gia chủ, làm ly gián giữa các gia chủ, hủy báng Phật, hủy báng Pháp, hủy báng chúng Tăng, không thực hiện lời hứa đúng pháp cho các gia chủ.

Ðối với Tỷ-kheo thành tựu tám pháp, này các Tỷ-kheo, nếu chúng Tăng muốn, chúng Tăng có thể làm Yết-ma buộc tội.

3. Ðối với Tỷ-kheo thành tựu tám pháp, này các Tỷ-kheo, nếu chúng Tăng muốn, chúng Tăng có thể giải tỏa buộc tội Yết-ma. Thế nào là tám?

4. Không cô gắng đem lại thiệt hại cho các gia chủ, không cố gắng đem lại bất lợi cho các gia chủ, không cố gắng ly gián giữa các gia chủ, không hủy báng Phật, không hủy báng Pháp, không hủy báng chúng Tăng, thực hiện lời hứa đúng Pháp cho các gia chủ.

Ðối với Tỷ-kheo thành tựu tám pháp, này các Tỷ-kheo, nếu chúng Tăng muốn, chúng Tăng có thể giải tỏa buộc tội Yết-ma.

AN 8.90 Hành Vi Đúng Mực Trong Trường Hợp Sai Trái Nghiêm Trọng Sammāvattanasutta

“Này các Tỳ kheo, một Tỳ kheo đã bị kết tội vì hành vi sai trái nghiêm trọng phải hành xử đúng mực về tám phương diện. Vị ấy không được truyền giới cụ túc, không được cho y chỉ (dependence / nissaya, sự nương tựa của một Tỳ kheo mới tu vào một vị Tỳ kheo trưởng thượng có kinh nghiệm để được dạy dỗ và hướng dẫn trong đời sống phạm hạnh), không được Sa-di hầu hạ. Vị ấy không được đồng ý được bổ nhiệm làm người giáo giới cho các Tỳ kheo ni, và nếu được bổ nhiệm cũng không nên giáo giới cho các Tỳ kheo ni. Vị ấy không được đồng ý với bất kỳ sự bổ nhiệm nào của Tăng đoàn. Vị ấy không được đặt ở vị trí trưởng thượng. Vị ấy không được giải tội cho người khác về bất kỳ lỗi nào tương tự như lỗi mà mình đã phạm. Một Tỳ kheo đã bị kết tội vì hành vi sai trái nghiêm trọng phải hành xử đúng mực về tám phương diện này.”

Phẩm Tương Tự

AN 8.91–117 Các Bài Kinh Không Tên Với Nhiều Nữ Cư Sĩ Vào Ngày Bố Tát Sāmaññavagga

Rồi nữ cư sĩ Bojjhā … Sirīmā … Padumā … Sutanā … Manujā … Uttarā … Muttā … Khemā … Somā … Rucī … Cundī … Bimbī … Sumanā … Mallikā … Tissā … Tissamātā … Soṇā … mẹ của Soṇā … Kāṇā … Kāṇamātā (mẹ của Kāṇā) … Uttarā mẹ của Nanda … Visākhā mẹ của Migāra … nữ cư sĩ Khujjuttarā … nữ cư sĩ Sāmāvatī … Suppavāsā người Koliyan … nữ cư sĩ Suppiyā … nữ gia chủ mẹ của Nakula …

(X) (90) Hành Xử Ðúng Pháp

1. - Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo đã bị hành tìm tội Yết-ma, cần phải chơn chánh hành xử với vị ấy, theo tám pháp: Không cho pháp truyền đại giới, không cho vị ấy y chỉ, không cho Sa-di hầu hạ, không cho phép được nói gì với Tỷ-kheo dầu đã chấp nhận, không cho phép giáo giới các Tỷ-kheo-ni, không được hưởng các quyết định của Tăng chúng, không được đặt trong một vị trí đặc biệt nào, không được phép trở lại vị trí cũ bởi bất cứ lý do nào.

Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo đã bị hành tìm tội Yết-ma, cần phải chơn chánh hành xử với vị ấy theo tám pháp này.

(X) (90b) Một Số Nữ Cư Sĩ

Bojjhà, Sirimà, Padumà, Sudhanà, Manujà, Uttarà, Muttà, Khemà, Somà Rùpì, Cundì Bimbì, Sumanà, Mallikà, Tissà, mẹ của Tissà, Sonà, mẹ Cunda Sonà, Kànà, mẹ của Kànà, Uttarà, mẹ của Nandà, Visàkhà, mẹ của Migàra, nữ cư sĩ Khujjuttarà và Sàmavatì, Suppavàsà, người thiếu nữ Koliya, nữ cư sĩ Suppiyà, nữ gia chủ mẹ của Nakula.