Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm Về Tiếng Rống Sư Tử

AN 9.11 Tiếng Rống Sư Tử của Sāriputta Sīhanādasutta

Một thời Thế Tôn trú gần Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika.

Khi ấy, Tôn giả Sāriputta đến đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên và bạch rằng: “Bạch Thế Tôn, con đã hoàn tất kỳ an cư mùa mưa (rainy season residence / hạ an cư, kỳ nhập hạ) tại Sāvatthī. Con muốn ra đi để du hành trong xứ.”

“Này Sāriputta, Thầy hãy làm những gì Thầy nghĩ là hợp thời.” Bấy giờ, Tôn giả Sāriputta từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Thế Tôn, rồi ra đi.

Và rồi, không lâu sau khi Tôn giả Sāriputta ra đi, một Tỳ kheo nọ bạch với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sāriputta đã xúc phạm con rồi ra đi mà không xin lỗi.”

Thế Tôn bèn gọi một Tỳ kheo: “Này Tỳ kheo, hãy nhân danh Ta nói với Sāriputta rằng bậc Đạo Sư cho gọi Thầy ấy.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” vị Tỳ kheo ấy vâng đáp. Vị ấy đến gặp Tôn giả Sāriputta và nói: “Thưa Tôn giả Sāriputta, bậc Đạo Sư cho gọi Tôn giả.”

“Thưa vâng, hiền giả,” Tôn giả Sāriputta đáp.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahāmoggallāna và Tôn giả Ānanda, cầm theo chìa khóa, đi từ trú xứ này đến trú xứ khác, nói rằng: “Chư Tôn giả, hãy ra đây! Chư Tôn giả, hãy ra đây! Nay Tôn giả Sāriputta sẽ cất tiếng rống sư tử trước sự hiện diện của Thế Tôn!”

Rồi Tôn giả Sāriputta đến đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả:

“Này Sāriputta, một trong những người bạn đồng tu của Thầy đã phàn nàn thế này: ‘Tôn giả Sāriputta đã xúc phạm tôi rồi ra đi mà không xin lỗi.’”

"Bạch Thế Tôn, một người chưa thiết lập được thân hành niệm (mindfulness of the body / sự tỉnh thức về thân) thì có thể xúc phạm một người bạn đồng tu rồi ra đi mà không xin lỗi.

Ví như người ta có thể vứt những thứ sạch sẽ lẫn không sạch sẽ lên đất, như phân, nước tiểu, nước bọt, mủ, và máu. Đất không vì thế mà kinh hoàng, ghê tởm, và chán ghét. Cũng vậy, con sống với tâm như đất, quảng đại, vô biên, không hạn lượng, không hận, không sân. Một người chưa thiết lập được thân hành niệm thì có thể xúc phạm một người bạn đồng tu rồi ra đi mà không xin lỗi.

Ví như người ta có thể rửa những thứ sạch sẽ lẫn không sạch sẽ trong nước, như phân, nước tiểu, nước bọt, mủ, và máu. Nước không vì thế mà kinh hoàng, ghê tởm, và chán ghét. Cũng vậy, con sống với tâm như nước, quảng đại, vô biên, không hạn lượng, không hận, không sân. Một người chưa thiết lập được thân hành niệm thì có thể xúc phạm một người bạn đồng tu rồi ra đi mà không xin lỗi.

Ví như lửa có thể đốt cháy những thứ sạch sẽ lẫn không sạch sẽ, như phân, nước tiểu, nước bọt, mủ, và máu. Lửa không vì thế mà kinh hoàng, ghê tởm, và chán ghét. Cũng vậy, con sống với tâm như lửa, quảng đại, vô biên, không hạn lượng, không hận, không sân. Một người chưa thiết lập được thân hành niệm thì có thể xúc phạm một người bạn đồng tu rồi ra đi mà không xin lỗi.

Ví như gió có thể thổi bay những thứ sạch sẽ lẫn không sạch sẽ, như phân, nước tiểu, nước bọt, mủ, và máu. Gió không vì thế mà kinh hoàng, ghê tởm, và chán ghét. Cũng vậy, con sống với tâm như gió, quảng đại, vô biên, không hạn lượng, không hận, không sân. Một người chưa thiết lập được thân hành niệm thì có thể xúc phạm một người bạn đồng tu rồi ra đi mà không xin lỗi.

Ví như một miếng giẻ có thể lau chùi những thứ sạch sẽ lẫn không sạch sẽ, như phân, nước tiểu, nước bọt, mủ, và máu. Miếng giẻ không vì thế mà kinh hoàng, ghê tởm, và chán ghét. Cũng vậy, con sống với tâm như miếng giẻ, quảng đại, vô biên, không hạn lượng, không hận, không sân. Một người chưa thiết lập được thân hành niệm thì có thể xúc phạm một người bạn đồng tu rồi ra đi mà không xin lỗi.

Ví như một cậu bé hay cô bé thuộc dòng dõi người làm nghề dọn xác chết, tay cầm một cái nồi và mặc áo quần rách rưới, đi vào một thị trấn hay làng mạc. Họ sẽ đi vào với tâm khiêm hạ. Cũng vậy, con sống với tâm như một cậu bé hay cô bé thuộc dòng dõi người làm nghề dọn xác chết, quảng đại, vô biên, không hạn lượng, không hận, không sân. Một người chưa thiết lập được thân hành niệm thì có thể xúc phạm một người bạn đồng tu rồi ra đi mà không xin lỗi.

Ví như có một con bò đực bị cắt sừng, hiền lành, được thuần hóa và huấn luyện kỹ càng. Nó đi lang thang từ đường này sang đường khác, từ quảng trường này sang quảng trường khác mà không làm hại ai bằng chân hay sừng của nó. Cũng vậy, con sống với tâm như một con bò đực bị cắt sừng, quảng đại, vô biên, không hạn lượng, không hận, không sân. Một người chưa thiết lập được thân hành niệm thì có thể xúc phạm một người bạn đồng tu rồi ra đi mà không xin lỗi.

Ví như có một người đàn bà hay đàn ông còn trẻ, thanh xuân, thích trang sức, và đã gội đầu sạch sẽ. Nếu xác một con rắn, một con chó hay một con người được treo quanh cổ họ, họ sẽ kinh hoàng, ghê tởm, và chán ghét. Cũng vậy, con kinh hoàng, ghê tởm, và chán ghét cái thân hôi thối này. Một người chưa thiết lập được thân hành niệm thì có thể xúc phạm một người bạn đồng tu rồi ra đi mà không xin lỗi.

Ví như có người mang một bát mỡ đang rỉ chảy, tiết ra từ các lỗ và kẽ hở. Cũng vậy, con mang cái thân này đang rỉ chảy, tiết ra từ các lỗ và kẽ hở. Một người chưa thiết lập được thân hành niệm thì có thể xúc phạm một người bạn đồng tu rồi ra đi mà không xin lỗi."

Khi ấy, vị Tỳ kheo kia từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt y qua một vai, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn và bạch rằng: “Bạch Thế Tôn, con đã phạm lỗi. Thật ngu si, khờ dại, và bất thiện khi con đã nói xấu Tôn giả Sāriputta bằng một lời cáo buộc không đúng, rỗng tuếch, sai lầm, không thật. Bạch Thế Tôn, xin hãy chấp nhận lỗi lầm của con đúng như bản chất của nó, để con sẽ thu thúc trong tương lai.”

“Đúng vậy, này Tỳ kheo, thầy đã phạm lỗi. Thật ngu si, khờ dại, và bất thiện khi thầy đã hành động như vậy. Nhưng vì thầy đã nhận ra lỗi lầm của mình đúng như bản chất của nó, và đã xử lý nó một cách đúng đắn, Ta chấp nhận nó. Vì đó là sự tăng trưởng trong luật của bậc Thánh khi nhận ra lỗi lầm của mình đúng như bản chất của nó, xử lý nó một cách đúng đắn, và cam kết thu thúc trong tương lai.”

Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Sāriputta: “Này Sāriputta, hãy tha thứ cho người vô ích này trước khi đầu của ông ấy vỡ thành bảy mảnh ngay tại đây.”

“Con sẽ tha thứ cho vị tôn giả ấy nếu vị ấy thỉnh cầu con: ‘Mong Tôn giả cũng hãy tha thứ cho tôi.’”

II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử

(I) (11) Sau Khi An Cư

1. Như vậy tôi nghe:

Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindikam, rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, con đã sống an cư trong mùa mưa tại Sàvatthi. Bạch Thế Tôn, nay con muốn ra đi du hành trong quốc độ.

− Này Sàriputta, nay Thầy hãy làm những gì Thầy nghĩ là hợp thời.

Rồi Tôn giả Sàriputta từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

2. Rồi một Tỷ-kheo, sau khi Tôn giả Sàriputta ra đi không bao lâu, bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sàriputta xâm phạm con, đã bỏ đi du hành không có xin lỗi con.

Thế Tôn cho gọi một Tỷ-kheo:

− Này Tỷ-kheo, hãy đến nhân danh Ta, nói với Sàriputta: “Thưa Hiền giả, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả”.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy, vâng đáp Thế Tôn, đi đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, nói với Tôn giả Sàriputta:

− Thưa Hiền giả Sàriputta, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả.

− Thưa vâng, này Hiền giả.

Tôn giả Sàriputta vâng đáp Tỷ-kheo ấy. Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahà Moggallàna và Tôn giả Ananda cầm chìa khóa, đi từ tinh xá này đến tinh xá khác nói rằng: − Chư Tôn giả hãy đến! Chư Tôn giả hãy đến! Nay Tôn giả Sàriputta sẽ rống tiếng rống con sư tử trước mặt Thế Tôn.

3. Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên Thế Tôn, nói với Tôn giả Sàriputta đang ngồi xuống một bên:

− Ở đây, này Sàriputta, một đồng Phạm hạnh có điều bất mãn với Thầy: “Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sàriputta xâm phạm con đã ra đi không có xin lỗi con”.

4. - Thật vậy, bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm trên thân, người ấy, ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

Ví như, bạch Thế Tôn, trên đất, người ta quăng đồ tịnh, quăng đồ bất tịnh, quăng phẩn uế, quăng nước tiểu, nhổ nước miếng, quăng mủ và quăng máu; tuy vậy đất không lo âu, không xấu hổ, hay không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như đất, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

Ví như, bạch Thế Tôn, trong nước người ta rửa đồ tịnh, rửa đồ bất tịnh, rửa sạch phẩn uế, rửa sạch nước tiểu, rửa sạch nước miếng, rửa sạch máu, rửa sạch mủ; tuy vậy nước không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như nước, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

Ví như, bạch Thế Tôn, lửa đốt các đồ tịnh, đốt các đồ bất tịnh, đốt phẩn uế, đốt nước tiểu, đốt nước miếng, đốt mủ, đốt máu; tuy vậy lửa không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như lửa, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

Ví như, bạch Thế Tôn, gió thổi các đồ tịnh, thổi các đồ bất tịnh, thổi phẩn uế, thổi nước tiểu, thổi nước miếng, thổi mủ, thổi máu; tuy vậy gió không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như gió, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

Ví như, bạch Thế Tôn, một miếng vải lau chùi lau các đồ tịnh, lau các đồ bất tịnh, lau phẩn uế, lau nước tiểu, lau nước miếng, lau mủ, lau máu; tuy vậy miếng vải lau chùi không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như miếng vải lau chùi, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

Ví như, bạch Thế Tôn, con trai của một người Candàla (Chiên-đà-la: hạ liệt) hay con gái của một người Candàla, với tây cầm bát ăn xin, mặc đồ rách rưới, đi vào làng hay đi vào thị trấn, với một tâm trạng hạ liệt. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm giống như con Chiên-đà-la, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

Ví như, bạch Thế Tôn, một con bò đực, với sừng bị cưa, hiền lương, khéo điều phục, khéo huấn luyện, đi lang thang từ đường này đến đường khác, từ ngã tư này đến ngã tư khác, không hại một ai với chân hay với sừng. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm giống như một con bò đực với sừng bị cưa, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

Ví như, bạch Thế Tôn, một nữ nhân hay một nam nhân còn trẻ tuổi, thanh niên, ưa thích trang điểm, sau khi gội đầu, sẽ lo âu, xấu hổ, nhàm chán nếu xác rắn, hay xác chó, hay xác người được cuốn vào cổ người ấy. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con lo âu, xấu hổ, nhàm chán với cái thân đầy bất tịnh này. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

Ví như, bạch Thế Tôn, có người mang một cái bát đầy mỡ, có thủng nhiều lỗ, thủng nhiều đường, bị chảy, bị rỉ. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con mang cái thân này, có thủng nhiều lỗ, có thủng nhiều đường, bị chảy, bị rỉ. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

5. Rồi Tỷ-kheo ấy từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, con đã phạm một trọng tội. Vì ngu si, vì vô mình, vì bất thiện. Thầy đã xuyên tạc Tôn giả Sàriputta, không ý thức, trống không, vọng ngôn, không thật. Mong Thế Tôn chấp nhận cho con tội ấy là một tội để con ngăn đón về tương lai.

Này Tỷ-kheo, thật là một trọng tội. Vì ngu si, vì vô minh, vì bất thiện, Thầy đã xuyên tạc Tôn giả Sàriputta, không ý thức, trống không, vọng ngôn không thật. Này Tỷ kheo, vì Thầy đã thấy tội ấy là một tội, đã phát lộ đúng pháp, Ta chấp nhận tội ấy cho Thầy. Ðây là một sự tiến bộ, này Tỷ-kheo, trong Pháp Luật của bậc Thánh, những ai thấy tội là tội, phát lộ đúng pháp, và ngăn đón trong tương lai.

6. Rồi Thế Tôn, nói với Tôn giả Sàriputta:

− Này Sàriputta, hay tha thứ kẻ ngu si này, trước khi ở đây, đầu nó sẽ bị vỡ ta làm bảy mảnh.

− Bạch Thế Tôn, con tha thứ cho Tôn giả ấy, nếu Tôn giả ấy nói với con: “Hãy tha thứ cho”, và cũng mong Tôn giả ấy tha thứ cho con.

AN 9.12 Với Dư Y Saupādisesasutta

Một thời Thế Tôn trú gần Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika.

Khi ấy, Tôn giả Sāriputta vào buổi sáng đắp y, mang bát và y, vào Sāvatthī để khất thực. Rồi Tôn giả nghĩ: “Còn quá sớm để đi khất thực ở Sāvatthī. Sao ta không đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo?” Rồi Tôn giả đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo và chào hỏi các du sĩ ở đó. Sau khi chào hỏi và nói chuyện xã giao xong, Tôn giả ngồi xuống một bên.

Lúc bấy giờ, khi các du sĩ ngoại đạo ấy đang ngồi lại với nhau, cuộc thảo luận này đã nảy sinh giữa họ:

“Chư hiền, không ai chết mà còn hữu dư y (residue / còn lại nghiệp báo hoặc phiền não) lại thoát khỏi địa ngục, cảnh giới súc sinh, hay cảnh giới ngạ quỷ. Họ không thoát khỏi những nơi khổ đau, những nơi xấu xa, cõi đọa lạc.”

Tôn giả Sāriputta không tán thành cũng không bác bỏ lời tuyên bố đó của các du sĩ ngoại đạo. Tôn giả từ chỗ ngồi đứng dậy, nghĩ rằng: “Ta sẽ học ý nghĩa của lời tuyên bố này từ chính Đức Thế Tôn.”

Rồi Tôn giả Sāriputta đi khất thực ở Sāvatthī. Sau bữa ăn, khi từ nơi khất thực trở về, Tôn giả đến gặp Thế Tôn, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và kể lại cho Ngài nghe những gì đã xảy ra.

"Này Sāriputta, những du sĩ ngu si, bất tài theo các tôn giáo khác kia: họ là ai mà biết được người nào còn hữu dư y hay không?

Có chín hạng người này, khi chết còn hữu dư y, vẫn thoát khỏi địa ngục, cảnh giới súc sinh, và cảnh giới ngạ quỷ. Họ thoát khỏi những nơi khổ đau, những nơi xấu xa, cõi đọa lạc. Chín hạng người nào?

Có người đã hoàn thiện giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức) và định (immersion / sự tập trung tâm ý), nhưng có Trí tuệ (wisdom / Tuệ, sự hiểu biết đúng đắn) hạn chế. Với sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử (lower fetters / những trói buộc ở cõi thấp), họ chứng trung gian bát-niết-bàn (extinguished between one life and the next / nhập Niết-bàn giữa hai đời sống). Đây là người thứ nhất…

Hơn nữa, có người đã hoàn thiện giới đức và định, nhưng có Trí tuệ hạn chế. Với sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, họ chứng sinh bát-niết-bàn (extinguished upon landing / nhập Niết-bàn khi vừa tái sinh). Đây là người thứ hai…

Với sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, họ chứng vô hành bát-niết-bàn (extinguished without extra effort / nhập Niết-bàn không cần cố gắng nhiều). Đây là người thứ ba…

Với sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, họ chứng hữu hành bát-niết-bàn (extinguished with extra effort / nhập Niết-bàn với sự cố gắng). Đây là người thứ tư…

Với sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, họ đi thượng lưu sắc cứu cánh thiên (head upstream, going to the Akaniṭṭha realm / đi ngược dòng, đến cõi Sắc Cứu Cánh). Đây là người thứ năm…

Hơn nữa, có người đã hoàn thiện giới đức, nhưng có định và Trí tuệ hạn chế. Với sự đoạn tận ba kiết sử, và sự suy yếu của tham, sân, và si, họ là bậc nhất lai (once-returner / người chỉ trở lại một lần). Họ chỉ trở lại thế giới này một lần duy nhất, rồi chấm dứt khổ đau. Đây là người thứ sáu…

Hơn nữa, có người đã hoàn thiện giới đức, nhưng có định và Trí tuệ hạn chế. Với sự đoạn tận ba kiết sử, họ là bậc nhất chủng (one-seeder / người chỉ tái sinh một lần nữa trong cõi người). Họ sẽ tái sinh chỉ một lần trong kiếp người, rồi chấm dứt khổ đau. Đây là người thứ bảy…

Hơn nữa, có người đã hoàn thiện giới đức, nhưng có định và Trí tuệ hạn chế. Với sự đoạn tận ba kiết sử, họ là bậc gia gia (go from family to family / đi từ gia đình này sang gia đình khác). Họ sẽ luân hồi qua hai hoặc ba gia đình rồi chấm dứt khổ đau. Đây là người thứ tám…

Hơn nữa, có người đã hoàn thiện giới đức, nhưng có định và Trí tuệ hạn chế. Với sự đoạn tận ba kiết sử, họ có tối đa bảy lần tái sinh. Họ sẽ luân hồi tối đa bảy lần giữa các vị trời và loài người rồi chấm dứt khổ đau. Đây là người thứ chín…

Những du sĩ ngu si, bất tài theo các tôn giáo khác kia: họ là ai mà biết được người nào còn hữu dư y hay không? Đây là chín hạng người, khi chết còn hữu dư y, vẫn thoát khỏi địa ngục, cảnh giới súc sinh, và cảnh giới ngạ quỷ. Họ thoát khỏi những nơi khổ đau, những nơi xấu xa, cõi đọa lạc.

Cho đến nay, này Sāriputta, Ta chưa thấy cần thiết phải giảng giải giáo pháp này cho các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, nam cư sĩ, và nữ cư sĩ. Tại sao vậy? Vì Ta không muốn những người nghe nó lại sinh tâm sao nhãng (negligence / phóng dật, sự lơ là, không chú tâm). Tuy nhiên, Ta đã nói ra điều này để trả lời câu hỏi của Thầy."

(II) (12) Không Có Dư Y

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika, rồi Tôn giả Sàriputta vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào Sàvatthi để khất thực. Tôn giả Sàriputta suy nghĩ như sau: “Nay còn quá sớm để vào Sàvatthi khất thực. Vậy ta hãy đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo”. Tôn giả Sàriputta đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo, sau khi đến, nói lên với các du sĩ ngoại đạo ấy những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.

2. Lúc bấy giờ, trong khi các du sĩ ngoại đạo ấy đang ngồi tụ họp, câu chuyện này khởi lên: “Thưa chư Hiền, ai chết có dư y, tất cả không được giải thoát khỏi địa ngục, không được giải thoát khỏi bàng sinh, không được giải thoát ngạ quỷ, không được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ”.

3. Rồi Tôn giả Sàriputta không hoan hỷ, không chỉ trích lời nói các du sĩ ngoại đạo ấy, không hoan hỷ, không chỉ trích, Tôn giả từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi, với ý nghĩ: “Ta sẽ biết ý nghĩa lời nói này từ Thế Tôn”. Rồi Tôn giả Sàriputta khất thực ở Sàvatthi xong, sau bữa ăn, trên con đường khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:

− Ở đây, bạch Thế Tôn, vào buổi sáng, con đắp y, cầm y bát đi vào Sàvatthi để khất thực. Bạch Thế Tôn, rồi con suy nghĩ như sau: “Nay còn quá sớm để vào Sàvatthi khất thực. Vậy ta hãy đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo, sau khi đến, con nói lên với các du sĩ ngoại đạo những lời chào đón, hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, con ngồi xuống một bên. Lúc bấy giờ, trong khi các du sĩ ngoại đạo đang ngồi tụ họp, câu chuyện này khởi lên: “Thưa chư Hiền, ai chết có dư y, tất cả người ấy không được giải thoát khỏi địa ngục, không được giải thoát khỏi bàng sinh, không được giải thoát ngạ quỷ, không được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ”. Rồi bạch Thế Tôn, con không hoan hỷ, không chỉ trích lời nói các du sĩ ngoại đạo ấy. Không hoan hỷ, không chỉ trích, con từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi, với ý nghĩ rằng: “Ta sẽ biết ý nghĩa lời nói này từ Thế Tôn”.

4. - Này Sàriputta, một số các du sĩ ngoại đạo là những kẻ ngu si, không thông minh, một số sẽ biết: “Người có dư y là người có dư y”, hay sẽ biết: “Người không có dư y là người không có dư y”. Này Sàriputta, có chín hạng người này, khi chết có dư y, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sinh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Thế nào là chín?

5. Ở đây, này Sàriputta, có hạng người viên mãn trong các giới, viên mãn trong định, nhưng không viên mãn trong tuệ. Vị ấy, sau khi diệt tận năm hạ phần kiết sử, là vị Trung gian Bát-niết-bàn (antarà parinibbàyì). Này Sàriputta, đây là hạng người thứ nhất, khi chết có dư y, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sinh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.

6. Lại nữa, này Sàriputta, ở đây có hạng người viên mãn trong các giới, viên mãn trong định, nhưng không viên mãn trong tuệ. Vị ấy, sau khi diệt tận năm hạ phần kiết sử, là vị Tổn hại Bát-niết-bàn (uppahacca parinibbàyì). Này Sàriputta, đây là hạng người thứ hai, khi chết có dư y, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sinh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.

Lại nữa, này Sàriputta, ở đây có hạng người viên mãn trong các giới, viên mãn trong định, nhưng không viên mãn trong tuệ. Vị ấy, sau khi diệt tận năm hạ phần kiết sử, là vị Vô hành Bát Niết Bàn (asankhàra parinibbàyì). Này Sàriputta, đây là hạng người thứ ba, khi chết có dư y, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sinh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.

Lại nữa, này Sàriputta, ở đây có hạng người viên mãn trong các giới, viên mãn trong định, nhưng không viên mãn trong tuệ. Vị ấy, sau khi diệt tận năm hạ phần kiết sử, là vị Hữu hành Bát-niết-bàn (sasankhàra parinibbàyì). Này Sàriputta, đây là hạng người thứ tư, khi chết có dư y, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sinh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.

Lại nữa, này Sàriputta, ở đây có hạng người viên mãn trong các giới, viên mãn trong định, nhưng không viên mãn trong tuệ. Vị ấy, sau khi diệt tận năm hạ phần kiết sử, là vị Thượng Lưu đi đến Sắc cứu cánh thiên (uddhamsota akanitthagàmì). Này Sàriputta, đây là hạng người thứ năm, khi chết có dư y, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sinh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.

7. Lại nữa, này Sàriputta, ở đây có hạng người viên mãn trong các giới, không viên mãn trong định, không viên mãn trong tuệ. Vị ấy, sau khi diệt tận ba kiết sử, làm nhẹ bớt tham, sân, si, là vị Nhất Lai, còn đến thế giới này một lần nữa, rồi đoạn tận khổ đau. Này Sàriputta, đây là hạng người thứ sáu, khi chết có dư y, được giải thoát khỏi địa ngục… được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.

8. Lại nữa, này Sàriputta, ở đây có hạng người viên mãn trong các giới, không viên mãn trong định, không viên mãn trong tuệ. Vị ấy, sau khi diệt tận ba kiết sử, là vị Nhất Chủng (ekabìji), còn sanh hiện hữu làm người một lần nữa rồi đoạn tận khổ đau. Này Sàriputta, đây là hạng người thứ bảy, khi chết có dư y, được giải thoát khỏi địa ngục… được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.

9. Lại nữa, này Sàriputta, ở đây có hạng người viên mãn trong các giới, thành tựu vừa phải trong định, thành tựu vừa phải trong tuệ. Vị ấy, sau khi diệt tận ba kiết sử, là vị Gia gia (kolankolo), sau khi dong ruỗi, sau khi luân chuyển hai hay ba gia đình, rồi đoạn tận khổ đau. Này Sàriputta, đây là hạng người thứ tám, khi chết có dư y, được giải thoát khỏi địa ngục… được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.

10. Lại nữa, này Sàriputta, ở đây có hạng người viên mãn trong các giới, thành tựu vừa phải trong định, thành tựu vừa phải trong tuệ. Vị ấy, sau khi diệt tận ba kiết sử, là vị trở lui tối đa là bảy lần (Thất Lai, sattakkhattu-paramo), sau khi dong ruỗi, sau khi luân chuyển, tối đa là bảy lần giữa chư Thiên và loài Người, rồi đoạn tận khổ đau. Này Sàriputta, đây là hạng người thứ chín, khi chết có dư y, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi bàng sanh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.

Này Sàriputta, một số người du sĩ ngoại đạo là ngu si, không thông minh, một số người sẽ biết: “Có dư y là có dư y” hay một số người sẽ biết: “Không có dư y là không dư y”.

Này Sàriputta, chín hạng người này, khi chết có dư y, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Nhưng này Sàriputta, cho đến nay, pháp môn này chưa được nói cho các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo-ni, các nam cư sĩ, các nữ cư sĩ. Vì cớ sao? Mong rằng khi nghe pháp môn này, họ không đem lại phóng dật. Lại nữa, này Sàriputta, pháp môn này được Ta nói đến vì Ta được hỏi đến.

AN 9.13 Với Koṭṭhita Koṭṭhikasutta

Khi ấy, Tôn giả Mahākoṭṭhita đến gặp Tôn giả Sāriputta, và chào hỏi Tôn giả. Sau khi chào hỏi và nói chuyện xã giao xong, Tôn giả ngồi xuống một bên và nói với Tôn giả Sāriputta:

“Thưa Tôn giả Sāriputta, có phải đời sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Phật là vì mục đích này: ‘Mong sao những nghiệp sẽ được cảm nghiệm trong đời này lại được tôi cảm nghiệm trong các đời sau’?”

“Chắc chắn không, thưa hiền giả.”

“Vậy có phải đời sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Phật là vì mục đích này: ‘Mong sao những nghiệp sẽ được cảm nghiệm trong các đời sau lại được tôi cảm nghiệm trong đời này’?”

“Chắc chắn không.”

“Có phải đời sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Phật là vì mục đích này: ‘Mong sao những nghiệp được cảm nghiệm là dễ chịu lại được tôi cảm nghiệm là đau khổ’?”

“Chắc chắn không.”

“Vậy có phải đời sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Phật là vì mục đích này: ‘Mong sao những nghiệp được cảm nghiệm là đau khổ lại được tôi cảm nghiệm là dễ chịu’?”

“Chắc chắn không.”

“Có phải đời sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Phật là vì mục đích này: ‘Mong sao những nghiệp được cảm nghiệm khi đã chín muồi lại được tôi cảm nghiệm khi chưa chín muồi’?”

“Chắc chắn không.”

“Vậy có phải đời sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Phật là vì mục đích này: ‘Mong sao những nghiệp được cảm nghiệm khi chưa chín muồi lại được tôi cảm nghiệm khi đã chín muồi’?”

“Chắc chắn không.”

“Có phải đời sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Phật là vì mục đích này: ‘Mong sao những nghiệp được cảm nghiệm nhiều lại được tôi cảm nghiệm ít’?”

“Chắc chắn không.”

“Vậy có phải đời sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Phật là vì mục đích này: ‘Mong sao những nghiệp được cảm nghiệm ít lại được tôi cảm nghiệm nhiều’?”

“Chắc chắn không.”

“Có phải đời sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Phật là vì mục đích này: ‘Mong sao những nghiệp sẽ được tôi cảm nghiệm lại không được cảm nghiệm’?”

“Chắc chắn không.”

“Vậy có phải đời sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Phật là vì mục đích này: ‘Mong sao những nghiệp không được cảm nghiệm lại được cảm nghiệm’?”

“Chắc chắn không.”

"Thưa Tôn giả Sāriputta, khi được hỏi liệu đời sống phạm hạnh có phải được sống dưới sự hướng dẫn của Đức Phật để những nghiệp sẽ được cảm nghiệm trong đời này lại được cảm nghiệm trong các đời sau không, Tôn giả đã nói: ‘Chắc chắn không’.

Khi được hỏi liệu đời sống phạm hạnh có phải được sống dưới sự hướng dẫn của Đức Phật để những nghiệp sẽ được cảm nghiệm trong các đời sau lại được cảm nghiệm trong đời này không…

những nghiệp được cảm nghiệm là dễ chịu lại được cảm nghiệm là đau khổ…

những nghiệp được cảm nghiệm là đau khổ lại được cảm nghiệm là dễ chịu…

những nghiệp được cảm nghiệm khi đã chín muồi lại được cảm nghiệm khi chưa chín muồi…

những nghiệp được cảm nghiệm khi chưa chín muồi lại được cảm nghiệm khi đã chín muồi…

những nghiệp được cảm nghiệm nhiều lại được cảm nghiệm ít…

những nghiệp được cảm nghiệm ít lại được cảm nghiệm nhiều…

những nghiệp sẽ được cảm nghiệm lại không được cảm nghiệm…

Khi được hỏi liệu đời sống phạm hạnh có phải được sống dưới sự hướng dẫn của Đức Phật để những nghiệp không được cảm nghiệm lại được cảm nghiệm không, Tôn giả đã nói: ‘Chắc chắn không.’ Vậy chính xác thì mục đích của việc sống đời sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Phật là gì?"

“Thưa hiền giả, đời sống phạm hạnh được sống dưới sự hướng dẫn của Đức Phật là để biết, thấy, đạt được, chứng ngộ, và liễu tri những gì chưa được biết, chưa được thấy, chưa đạt được, chưa chứng ngộ, và chưa liễu tri.”

“Nhưng những gì là chưa được biết, chưa được thấy, chưa đạt được, chưa chứng ngộ, và chưa liễu tri?”

“‘Đây là khổ.’ … ‘Đây là nguồn gốc của khổ.’ … ‘Đây là sự diệt khổ.’ … ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ.’ … Đây là những gì chưa được biết, chưa được thấy, chưa đạt được, chưa chứng ngộ, và chưa liễu tri. Đời sống phạm hạnh được sống dưới sự hướng dẫn của Đức Phật là để biết, thấy, đạt được, chứng ngộ, và liễu tri điều này.”

(III) (13) Tôn Giả Mahàkotthita

1. Rồi Tôn giả Mahàkotthita đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, chào đón hỏi thăm Tôn giả Sàriputta, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahàkotthita nói với Tôn giả Sàriputta:

− Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phạm nghiệp gì được cảm thọ hiện tại, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm thọ trong tương lai”?

− Không phải vậy, thưa Hiền giả.

− Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phạm nghiệp gì được cảm thọ tương lai, mong rằng nghiệp ấy, ta được cảm thọ trong hiện tại”?

− Không phải vậy, thưa Hiền giả.

− Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm giác là lạc thọ, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm giác là khổ thọ?”

− Không phải vậy, thưa Hiền giả. -Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm giác là khổ thọ, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm giác là lạc thọ”?

− Không phải vậy, thưa Hiền giả.

-Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ là thuần thục, mong rằng nghiệp ấy ta cảm thọ là không thuần thục”?

− Không phải vậy, thưa Hiền giả.

− Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ là không thuần thục, mong rằng nghiệp ấy ta cảm thọ là thuần thục”?

− Không phải vậy, thưa Hiền giả.

− Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ là nhiều, mong rằng nghiệp ấy ta cảm thọ là ít”?

− Không phải vậy, thưa Hiền giả.

− Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ là ít, mong rằng nghiệp ấy ta cảm thọ là nhiều”?

− Không phải vậy, thưa Hiền giả.

− Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì không được cảm thọ, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm thọ”?

− Không phải vậy, thưa Hiền giả.

− Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ, mong rằng nghiệp ấy ta không được cảm thọ”?

− Không phải vậy, thưa Hiền giả.

2. - Thưa Hiền giả Sàriputta, vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ hiện tại, mong rằng nghiệp ấy, ta được cảm thọ trong tương lai?” Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả?” Thưa Hiền giả Sàriputta, vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ tương lai, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm thọ hiện tại?” Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Thưa Hiền giả Sàriputta, vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm giác là lạc thọ, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm giác là khổ thọ”?. Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ thuần phục, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm thọ là không thuần phục”?. Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ không thuần phục, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm thọ là thuần phục”?. Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ là nhiều, mong rằng nghiệp ấy ta cảm thọ là ít”?. Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ là ít, mong rằng nghiệp ấy ta cảm thọ là nhiều”?. Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ, mong rằng nghiệp ấy ta không được cảm thọ”?. Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì không được cảm thọ, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm thọ”?. Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Vì mục đích gì sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn?

3. - Thưa Hiền giả, với những gì không biết, không thấy, không đạt, không chứng ngộ, không hiện quán, với mục đích để được biết, được thấy, được đạt, được chứng ngộ, được hiện quán mà Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn.

− Nhưng thưa Hiền giả, do không biết gì, không thấy gì, không đạt gì, không chứng ngộ gì, không hiện quán gì, với mục đích để được biết, được thấy, được đạt, được chứng ngộ, được hiện quán, mà Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn?

− “Ðây là Khổ”, này Hiền giả, là điều không được biết, không được thấy, không đạt, không chứng ngộ, không hiện quán, với mục đích để được biết, được thấy… mà Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn. “Ðây là Khổ tập”… “Ðây là Khổ diệt”… “Ðây là con Ðường đưa đến khổ diệt”, này Hiền giả, là điều không được biết, không được thấy, không được đạt, không được chứng ngộ, không được hiện quán, với mục đích được biết, được thấy, được đạt, được chứng ngộ, được hiện quán, mà Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn. Thưa Hiền giả, đây là điều không được biết, không được thấy, không đạt, không được chứng ngộ, không được hiện quán, với mục đích để được biết, được thấy, được đạt, được chứng ngộ, được hiện quán, mà Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn.

AN 9.14 Với Samiddhi Samiddhisutta

Khi ấy, Tôn giả Samiddhi đến gặp Tôn giả Sāriputta, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả:

“Này Samiddhi, dựa vào đâu mà các tư tưởng khởi lên trong một người?”

“Dựa vào danh và sắc (name and form / tâm và vật chất), thưa Tôn giả.”

“Chúng trở nên đa dạng ở đâu?”

“Trong các giới (elements / các yếu tố cơ bản cấu thành).”

“Nguồn gốc của chúng là gì?”

Xúc (contact / sự tiếp chạm giữa giác quan, đối tượng và ý thức) là nguồn gốc của chúng.”

“Nơi hội tụ của chúng là gì?”

Thọ (feeling / cảm giác dễ chịu, khó chịu hay trung tính) là nơi hội tụ của chúng.”

“Thủ lĩnh của chúng là gì?”

“Định là thủ lĩnh của chúng.”

“Người cai quản của chúng là gì?”

Tỉnh thức (mindfulness / Niệm, sự chú tâm không phán xét) là người cai quản của chúng.”

“Người giám sát của chúng là gì?”

“Trí tuệ là người giám sát của chúng.”

“Cốt lõi của chúng là gì?”

Giải thoát (freedom / sự giải thoát khỏi khổ đau) là cốt lõi của chúng.”

“Đỉnh cao của chúng là gì?”

“Chúng đạt đến đỉnh cao là bất tử (freedom from death / sự giải thoát khỏi vòng sinh tử).”

“Này Samiddhi, khi được hỏi dựa vào đâu mà các tư tưởng khởi lên trong một người, Thầy đã trả lời ‘danh và sắc’. Khi được hỏi … đỉnh cao của chúng là gì, Thầy đã trả lời ‘bất tử’. Tốt lắm, tốt lắm, Samiddhi! Thật tốt khi Thầy đã trả lời từng câu hỏi. Nhưng đừng vì thế mà kiêu mạn.”

(IV) (14) Tôn Giả Samiddhi

1. Rồi Tôn giả Samiddhi đi đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, chào đón hỏi thăm Tôn giả Sàriputta, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Rồi Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Samiddhi đang ngồi xuống một bên:

− Do sở duyên gì, này Samiddhi, một người khởi lên các tư duy tầm?

− Do danh sắc làm sở duyên, thưa Tôn giả.

− Nhưng này Samiddhi, cái gì khiến chúng đi đến sai khác?

− Các giới, thưa Tôn giả.

− Nhưng này Samiddhi, chúng lấy gì làm tập khởi?

− Lấy xúc làm tập khởi, thưa Tôn giả.

− Này Samiddhi, chúng qui tụ ở đâu?

− Chúng qui tụ ở các cảm thọ, thưa Tôn giả.

− Nhưng này Samiddhi, chúng lấy gì làm thượng thủ?

− Chúng lấy định làm thượng thủ, thưa Tôn giả. − Nhưng này Samiddhi, chúng lấy gì làm tăng thượng?

− Chúng lấy niệm làm tăng thượng, thưa Tôn giả.

− Này Samiddhi, chúng lấy cái gì làm tối thượng?

− Chúng là tuệ làm tối thượng, thưa Tôn giả.

− Này Samiddhi, chúng lấy gì làm lõi cây?

− Chúng lấy giải thoát làm lõi cây, thưa Tôn giả.

− Này Samiddhi, chúng thể nhập vào gì?

− Chúng thể nhập vào bất tử, thưa Tôn giả.

2. - Khi được hỏi: “Này Samiddhi, do sở duyên gì một người khởi lên các tư duy tầm?”, Hiền giả đáp: “Do danh sắc làm sở duyên, thưa Tôn giả”. Này Samiddhi, khi được hỏi: “Cái gì khiến chúng đi đến sai khác?”, Hiền giả đáp:” Trong các giới, thưa Tôn giả”. Khi được hỏi: “Này Samiddhi, chúng lấy gì làm tập khởi?”, Hiền giả đáp: “Lấy xúc làm tập khởi, thưa Tôn giả”. Khi được hỏi: “Này Samiddhi, chỗ qui tụ của chúng là gì?”, Hiền giả đáp: “Chỗ qui tụ của chúng là thọ, thưa Tôn giả”. khi được hỏi: “Này Samiddhi, chúng lấy gì làm thượng thủ?”, Hiền giả đáp: “Chúng lấy định làm thượng thủ, thưa Tôn giả”. Khi được hỏi: “Này Samiddhi, chúng lấy gì làm tăng thượng?”, Hiền giả đáp: “Chúng lấy niệm tăng thượng, thưa Tôn giả”. Khi được hỏi: “Này Samiddhi, chúng lấy gì làm tối thượng?” Hiền giả đáp: “Chúng lấy tuệ làm tối thượng, thưa Tôn giả”. Khi được hỏi: “Này Samiddhi, chúng lấy gì làm lõi cây?”, Hiền giả đáp: “Chúng lấy giải thoát làm lõi cây, thưa Tôn giả”. Khi được hỏi: “Này Samiddhi, chúng thể nhập vào gì?”, Hiền giả đáp: “Chúng thể nhập vào bất tử, thưa Tôn giả”. Lành thay, lành thay, này Samiddhi! Lành thay này Samiddhi! Hiền giả đã trả lời các câu hỏi. Nhưng Hiền giả chớ có kiêu mạn về vấn đề này.

AN 9.15 Thí Dụ Về Cái Nhọt Gaṇḍasutta

"Này các Tỳ kheo, giả sử có một cái nhọt đã nhiều năm tuổi. Và cái nhọt đó có chín lỗ hở là những vết thương hở liên tục. Bất cứ thứ gì rỉ ra từ đó đều dơ bẩn, hôi thối, và đáng ghê tởm. Bất cứ thứ gì chảy ra từ đó đều dơ bẩn, hôi thối, và đáng ghê tởm.

‘Cái nhọt’ là một thuật ngữ chỉ cái thân này được tạo thành từ tứ đại (four principal states / bốn yếu tố chính: đất, nước, lửa, gió), do cha mẹ sinh ra, được nuôi dưỡng bằng cơm cháo, chịu sự vô thường, sự mài mòn và bào mòn, sự tan rã và hủy diệt. Và cái nhọt đó có chín lỗ hở là những vết thương hở liên tục. Bất cứ thứ gì rỉ ra từ đó đều dơ bẩn, hôi thối, và đáng ghê tởm. Bất cứ thứ gì chảy ra từ đó đều dơ bẩn, hôi thối, và đáng ghê tởm. Vì vậy, này các Tỳ kheo, đừng có ảo tưởng về thân này."

(V) (15) Một Ung Nhọt

1. - Ví như, này chư Hiền, một ung nhọt đã trái nhiều. Nó có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.

5. Ung nhọt, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.

Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy nhàm chán thân này.

AN 9.16 Các Nhận Thức Saññāsutta

“Này các Tỳ kheo, chín nhận thức (perceptions / tưởng, nhận biết-phân biệt và gắn nhãn) này, khi được tu tập và làm cho sung mãn, thì rất có kết quả và lợi ích lớn. Chúng đạt đến đỉnh cao là bất tử và kết thúc trong bất tử. Chín nhận thức nào? Nhận thức về sự bất tịnh, về cái chết, về sự ghê tởm của thức ăn, về sự không hài lòng với toàn thế giới, về vô thường, về khổ trong vô thường, về vô ngã trong khổ, về sự từ bỏ, và về sự phai nhạt. Chín nhận thức này, khi được tu tập và làm cho sung mãn, thì rất có kết quả và lợi ích lớn. Chúng đạt đến đỉnh cao là bất tử và kết thúc trong bất tử.”

(VI) (16) Tưởng

1. - Này các Tỷ-kheo, có chín tưởng này được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh. Thế nào là chín? 2. Tưởng bất tịnh, tưởng chết, tưởng ghê tởm đối với các món ăn, tưởng không ưa thích đối với tất cả thế giới, tưởng vô thường, tưởng khổ trên vô thường, tưởng vô ngã trên khổ, tưởng đoạn tận, tưởng ly tham.

Này các Tỷ-kheo, chín tưởng này được tu tập, được làm sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh.

AN 9.17 Các Gia Đình Kulasutta

"Này các Tỳ kheo, thăm một gia đình có chín yếu tố thì không đáng giá, hoặc nếu quý vị đã đến rồi, thì ngồi xuống cũng không đáng giá. Chín yếu tố nào? Họ không lịch sự đứng dậy, cúi chào, hay mời ngồi. Họ giấu giếm những gì họ có. Ngay cả khi có nhiều, họ cũng cho ít. Ngay cả khi có đồ tốt, họ cũng cho đồ thô. Họ cho một cách cẩu thả, không cẩn thận. Họ không ngồi gần để nghe pháp. Khi quý vị nói, họ không lắng nghe kỹ. Thăm một gia đình có chín yếu tố này thì không đáng giá, hoặc nếu quý vị đã đến rồi, thì ngồi xuống cũng không đáng giá.

Thăm một gia đình có chín yếu tố thì đáng giá, hoặc nếu quý vị đã đến rồi, thì ngồi xuống cũng đáng giá. Chín yếu tố nào? Họ lịch sự đứng dậy, cúi chào, và mời ngồi. Họ không giấu giếm những gì họ có. Khi có nhiều, họ cho nhiều. Khi có đồ tinh tế, họ cho đồ tinh tế. Họ cho một cách cẩn thận, không cẩu thả. Họ ngồi gần để nghe pháp. Khi quý vị nói, họ lắng nghe kỹ. Thăm một gia đình có chín yếu tố này thì đáng giá, hoặc nếu quý vị đã đến rồi, thì ngồi xuống cũng đáng giá."

(VII) (17) Gia Ðình

1. - Này các Tỷ-kheo, gia đình nào thành tựu chín chi phần, nếu chưa đến thời không nên đến, nếu đã đến thời không nên ngồi xuống. Thế nào là chín?

2. Không vui vẻ đứng dậy; không vui vẻ đảnh lễ; không vui vẻ mời ngồi; nếu có, họ giấu đi; có nhiều, họ cho ít, có đồ tốt, họ cho đồ xấu; họ cho không cẩn thận; họ cho không có chu đáo; họ không có ngồi xung quanh để nghe pháp, không thưởng thức lời nói.

Này các Tỷ-kheo, gia đình nào thành tựu chín chi phần này, nếu chưa đến thời không nên đến, nếu đã đến thời không nên ngồi xuống.

3. Này các Tỷ-kheo, gia đình nào thành tựu chín chi phần, nếu chưa đến thời nên đến, nếu đã đến thời nên ngồi xuống. Thế nào là chín?

4. Họ vui vẻ đứng dậy; họ vui vẻ đảnh lễ; họ vui vẻ mời ngồi; nếu có, họ không giấu đi; có nhiều, họ cho nhiều, có đồ tốt, họ cho đồ tốt; họ cho cẩn thận; họ cho một cách chu đáo; họ ngồi xung quanh để nghe pháp, họ thưởng thức lời nói.

Này các Tỷ-kheo, gia đình nào thành tựu chín chi phần này, nếu chưa đến thời nên đến, nếu đã đến thời nên ngồi xuống.

AN 9.18 Ngày Trai Giới Với Chín Yếu Tố Navaṅguposathasutta

"Này các Tỳ kheo, việc giữ ngày trai giới (Sabbath / Uposatha, ngày thực hành các giới luật đặc biệt) với chín yếu tố của nó thì rất có kết quả và lợi ích lớn, huy hoàng và dồi dào. Và nên giữ như thế nào?

Đó là khi một vị Thánh đệ tử suy ngẫm: ‘Cho đến khi còn sống, các bậc A-la-hán từ bỏ sát sinh, từ bỏ gậy và kiếm. Các ngài cẩn trọng và tử tế, và sống đầy lòng trắc ẩn đối với tất cả chúng sinh. Con cũng vậy, trong ngày và đêm này sẽ từ bỏ sát sinh, từ bỏ gậy và kiếm. Con sẽ cẩn trọng và tử tế, và sống đầy lòng trắc ẩn đối với tất cả chúng sinh. Con sẽ giữ ngày trai giới bằng cách làm theo các bậc A-la-hán trong phương diện này.’ Đây là yếu tố thứ nhất của nó. …

‘Cho đến khi còn sống, các bậc A-la-hán từ bỏ giường cao và sang trọng. Các ngài ngủ ở nơi thấp, hoặc là một chiếc giường nhỏ hoặc một tấm chiếu rơm. Con cũng vậy, trong ngày và đêm này sẽ từ bỏ giường cao và sang trọng. Con sẽ ngủ ở nơi thấp, hoặc là một chiếc giường nhỏ hoặc một tấm chiếu rơm. Con sẽ giữ ngày trai giới bằng cách làm theo các bậc A-la-hán trong phương diện này.’ Đây là yếu tố thứ tám của nó.

Họ thiền định, lan tỏa tâm từ đến một phương, rồi đến phương thứ hai, rồi đến phương thứ ba, rồi đến phương thứ tư. Cũng vậy, ở trên, ở dưới, ngang qua, khắp mọi nơi, xung quanh tất cả, họ lan tỏa tâm từ đến toàn thế giới—dồi dào, rộng lớn, vô lượng, không oán thù, không sân hận. Đây là yếu tố thứ chín của nó.

Việc giữ ngày trai giới với chín yếu tố theo cách này thì rất có kết quả và lợi ích lớn, huy hoàng và dồi dào."

(VIII) (18) Từ Bi

1. - Này các Tỷ-kheo, ngày trai giới thành tựu chín chi phần được thực hành, có quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn, có biến mãn lớn. Ðược thực hành như thế nào, này các Tỷ-kheo, ngày trai giới thành tựu chín chi phần, có quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn, có biến mãn lớn?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Hôm nay, đêm này và ngày này, ta cũng đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh là loài hữu tình. Với chi phần này, ta theo gương vị A-la-hán, sẽ thực hành ngày trai giới”. Ðây là chi phần thứ nhất được thành tựu.

3. “Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Hôm nay, đêm này và ngày này, ta cũng đoạn tận lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Với chi phần này, ta theo gương vị A-la-hán, sẽ thực hành trai giới”. Ðây là chi phần thứ hai được thành tựu.

4. “Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận phi Phạm hạnh, hành Phạm hạnh, sống xa lìa, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Hôm nay, đêm này và ngày này, ta cũng đoạn phi Phạm hạnh, hành Phạm hạnh, sống xa lìa, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Với chi phần này, ta theo gương vị A-la-hán, sẽ thực hành ngày trai giới”. Ðây là chi phần thứ ba được thành tựu.

5. “Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận nói láo, tránh xa nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ nơi sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lừa gạt, không phải lại lời hứa đối với đời. Hôm nay, đêm này và ngày này, ta cũng đoạn tận nói láo, tránh xa nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ nơi sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lừa gạt, không phải lại lời hứa đối với đời. Với chi phần này, ta theo gương vị A-la-hán, sẽ thực hành trai giới”. Ðây là chi phần thứ tư được thành tựu.

6. “Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận đắm say rượu men, rượu nấu. Hôm nay, đêm này và ngày này ta cũng đoạn tận đắm say rượu men, rượu nấu. Với chi phần này, ta theo gương vị A-la-hán, sẽ thực hành ngày trai giới”. Ðây là chi phần thứ năm được thành tựu.

7. “Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán mỗi ngày dùng một bữa, không ăn ban đêm, không ăn phi thời. Hôm nay, đêm này và ngày này, ta cũng dùng mỗi ngày dùng một bữa, không ăn ban đêm, không ăn phi thời. Với chi phần này, ta theo gương vị A-la-hán, sẽ thực hành ngày trai giới”. Ðây là chi phần thứ sáu được thành tựu.

8. “Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ xem múa, hát, nhạc, diễn kịch, không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang. Hôm nay, đêm này và ngày này, ta cũng từ bỏ xem múa, hát, nhạc, diễn kịch, không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang. Với chi phần này, ta theo gương vị A-la-hán, sẽ thực hành ngày trai giới”. Ðây là chi phần thứ bảy được thành tựu.

9. “Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận giường cao, giường lớn, từ bỏ giường cao, giường lớn, các vị ấy nằm trên giường thấp, trên giường nhỏ, trên thảm cỏ. Hôm nay, đêm này và ngày này, ta cũng đoạn tận giường cao, giường lớn, từ bỏ giường cao, giường lớn, các vị ấy nằm trên giường thấp, trên giường nhỏ, trên thảm cỏ. Với chi phần này, ta theo gương vị A-la-hán, sẽ thực hành ngày trai giới”. Ðây là chi phần thứ tám được thành tựu.

10. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử với tâm câu hữu với từ, biến mãn một phương và an trú, như vậy phương thứ hai… như vậy phương thứ ba… như vậy phương thứ tư… như vậy cùng khắp thế giới, trên dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy với tâm câu hữu với từ, biến mãn và an trú, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, được thực hành ngày trai giới thành tựu chín chi phần, có quả lớn, có lợi ích, có rực rỡ lớn, có biến mãn lớn.

AN 9.19 Một Vị Trời Devatāsutta

"Này các Tỳ kheo, đêm nay, một vài vị thiên nhân rực rỡ, chiếu sáng toàn bộ Kỳ Viên Tịnh Xá, đã đến gặp Ta, đảnh lễ, đứng sang một bên, và nói với Ta: ‘Bạch Thế Tôn, trước kia khi chúng con còn là người, những người xuất gia đã đến nhà chúng con. Chúng con đã lịch sự đứng dậy chào đón họ, nhưng chúng con đã không cúi đầu. Và vì vậy, vì không hoàn thành phận sự của mình, đầy hối hận và tiếc nuối, chúng con đã tái sinh vào một cõi thấp hơn.’

Rồi một vài vị thiên nhân khác đến gặp Ta và nói: ‘Bạch Thế Tôn, trước kia khi chúng con còn là người, những người xuất gia đã đến nhà chúng con. Chúng con đã lịch sự đứng dậy chào đón họ và cúi đầu, nhưng chúng con đã không mời ngồi. Và vì vậy, vì không hoàn thành phận sự của mình, đầy hối hận và tiếc nuối, chúng con đã tái sinh vào một cõi thấp hơn.’

Rồi một vài vị thiên nhân khác đến gặp Ta và nói: ‘Bạch Thế Tôn, trước kia khi chúng con còn là người, những người xuất gia đã đến nhà chúng con. Chúng con đã lịch sự đứng dậy chào đón họ, cúi đầu, và mời ngồi, nhưng chúng con đã không chia sẻ hết khả năng của mình. …’

‘… chúng con đã không ngồi gần để nghe giáo pháp. …’

‘… chúng con đã không chủ động lắng nghe giáo pháp. …’

‘… chúng con đã không ghi nhớ giáo pháp. …’

‘… chúng con đã không xem xét ý nghĩa của những giáo pháp mà chúng con đã ghi nhớ. …’

‘… không hiểu rõ ý nghĩa và giáo pháp, chúng con đã không thực hành theo. Và vì vậy, vì không hoàn thành phận sự của mình, đầy hối hận và tiếc nuối, chúng con đã tái sinh vào một cõi thấp hơn.’

Rồi một vài vị thiên nhân khác đến gặp Ta và nói: ‘Bạch Thế Tôn, trước kia khi chúng con còn là người, những người xuất gia đã đến nhà chúng con. Chúng con đã lịch sự đứng dậy, cúi đầu, và mời họ ngồi. Chúng con đã chia sẻ hết khả năng của mình. Chúng con đã ngồi gần để nghe giáo pháp, lắng tai nghe, ghi nhớ chúng, và xem xét ý nghĩa của chúng. Hiểu rõ giáo pháp và ý nghĩa, chúng con đã thực hành theo. Và vì vậy, vì đã hoàn thành phận sự của mình, không hối hận và tiếc nuối, chúng con đã tái sinh vào một cõi cao hơn.’

Này các Tỳ kheo, đây là những gốc cây, và đây là những căn lều trống. Hãy thực hành thiền định, này các Tỳ kheo! Đừng sao nhãng! Đừng hối tiếc sau này, như những vị thiên nhân trước kia."

(IX) (16) Chư Thiên

1. - Ðêm nay, này các Tỷ-kheo, một số đông chư Thiên, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến chỗ Ta, sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Này các Tỷ-kheo, đứng một bên, các Thiên nhân ấy thưa với Ta: “Bạch Thế Tôn, khi chúng con sống giữa loài Người, trong thời quá khứ, các vị xuất gia không có gia đình đến chúng con. Bạch Thế Tôn, chúng con đã đứng dậy, nhưng chúng con không đảnh lễ. Bạch Thế Tôn, do không làm đầy đủ bổn phận, chúng con sanh ra hối hận, phiền não, vì bị sanh với thân hạ liệt”.

2. Này các Tỷ-kheo, lại có nhiều chư Thiên khác đến chỗ Ta và thưa như sau: “Bạch Thế Tôn, khi chúng con sống giữa loài Người, trong thời quá khứ, các vị xuất gia không có gia đình đến chúng con. Chúng con đã đứng dậy, chúng con đã đảnh lễ, nhưng con không mời ghế ngồi. Bạch Thế Tôn, do không làm đầy đủ bổn phận, chúng con sanh ra hối hận, phiền não, vì bị sanh với thân hạ liệt”. 3. Này các Tỷ-kheo, lại có nhiều chư Thiên khác đến chỗ Ta và thưa như sau: “Bạch Thế Tôn, khi chúng con sống giữa loài Người, trong thời quá khứ, các vị xuất gia không có gia đình đến chúng con. Chúng con đã đứng dậy, chúng con đã đảnh lễ, chúng con đã mời ghế ngồi nhưng chúng con không chia xẻ (đồ ăn) tùy theo khả năng và sức lực của chúng con… Chúng con chia xẻ (đồ ăn), tùy theo khả năng và sức lực của chúng con, nhưng chúng con không ngồi xung quanh để nghe pháp… chúng con có ngồi xung quanh để nghe pháp, nhưng chúng con không lóng tai nghe pháp… chúng con lóng tai nghe pháp, nhưng chúng con sau khi nghe không có thọ trì pháp… chúng con sau khi nghe, có thọ trì pháp, nhưng không có suy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì… chúng con có suy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì, nhưng chúng con sau khi biết nghĩa, biết pháp, không thực hành pháp và tùy pháp. Bạch Thế Tôn, do không làm đầy đủ bổn phận, chúng con sanh ra hối hận, phiền não, vì bị sanh ra với thân hạ liệt”.

4. Này các Tỷ-kheo, lại có nhiều chư Thiên khác đến chỗ Ta và thưa như sau: “Bạch Thế Tôn, khi chúng con sống giữa loài Người, trong thời gian quá khứ, các vị xuất gia không có gia đình đến chúng con. Bạch Thế Tôn, chúng con đã đứng dậy, chúng con đã đảnh lễ, chúng con đã mời ghế ngồi, chúng con đã chia xẻ (đồ ăn) tùy theo khả năng và sức lực của chúng con, chúng con đã ngồi xung quanh để nghe pháp, chúng con lóng tai nghe pháp, chúng con sau khi nghe thọ trì pháp, chúng con có suy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì, chúng con sau khi biết nghĩa, biết pháp, thực hành pháp và tùy pháp. Bạch Thế Tôn, do chúng con làm đầy đủ bổn phận, chúng con không sanh hối hận, phiền não, vì được sanh với thân thù thắng”.

Này các Tỷ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những ngôi nhà trống. Này các Tỷ-kheo, hãy Thiền định, chớ có phóng dật, chớ có hối tiếc về sau, như các Thiên nhân đã được nói đến trước đây.

AN 9.20 Về Velāma Velāmasutta

Một thời Thế Tôn trú gần Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Khi ấy, gia chủ Anāthapiṇḍika đến đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với ông: “Này gia chủ, Ta tự hỏi liệu gia đình ông có cúng dường bố thí không?”

“Có, bạch Thế Tôn. Nhưng chỉ là cháo loãng thô với dưa muối.”

"Này gia chủ, có người có thể cúng dường một món quà thô hay tế. Nhưng họ cúng dường một cách cẩu thả, không suy nghĩ, không tự tay mình làm. Họ cho những thứ thừa thãi, và họ cho mà không xem xét đến hậu quả. Khi ấy, bất cứ nơi nào quả của sự cúng dường như vậy biểu hiện, tâm của họ không hướng đến việc hưởng thụ thức ăn ngon, y phục đẹp, xe cộ tốt, hay năm loại năm dục công đức tinh tế (five refined kinds of sensual stimulation / năm loại hưởng thụ giác quan cao cấp). Và con cái, vợ, nô tỳ, người hầu, và người làm công của họ không muốn nghe lời họ. Họ không chủ động lắng nghe hay cố gắng hiểu. Tại sao vậy? Bởi vì đó là kết quả của những hành động được làm một cách cẩu thả.

Có người có thể cúng dường một món quà thô hay tế. Và họ cúng dường một cách cẩn thận, suy nghĩ, tự tay mình làm. Họ không cho những thứ thừa thãi, và họ cho có xem xét đến hậu quả. Khi ấy, bất cứ nơi nào quả của sự cúng dường như vậy biểu hiện, tâm của họ hướng đến việc hưởng thụ thức ăn ngon, y phục đẹp, xe cộ tốt, hay năm loại kích thích giác quan tinh tế. Và con cái, vợ, nô tỳ, người hầu, và người làm công của họ muốn nghe lời. Họ chủ động lắng nghe và cố gắng hiểu. Tại sao vậy? Bởi vì đó là kết quả của những hành động được làm một cách cẩn thận.

Ngày xửa ngày xưa, này gia chủ, có một vị Bà-la-môn tên là Velāma. Ông đã thực hiện cuộc cúng dường sau đây, một đại thí. 84.000 chén vàng đầy bạc. 84.000 chén bạc đầy vàng. 84.000 chén đồng đầy tiền vàng. 84.000 con voi với đồ trang sức bằng vàng và cờ phướn, phủ lưới vàng tuyết. 84.000 cỗ xe ngựa bọc da sư tử, hổ, và báo, cùng thảm màu kem, với đồ trang sức bằng vàng và cờ phướn, phủ lưới vàng tuyết. 84.000 con bò sữa với dây cương bằng lụa và thùng đồng. 84.000 thiếu nữ trang điểm bằng hoa tai gắn ngọc. 84.000 chiếc giường dài trải nệm len—có lông xù, trắng tinh, hoặc thêu hoa—và trải một tấm da nai tốt, có lọng che phía trên và gối đỏ ở hai đầu. 8.400.000.000 thước vải tốt bằng lanh, bông, lụa, và len. Và ai có thể kể hết bao nhiêu thức ăn, đồ uống, đồ ăn nhẹ, bữa ăn, đồ giải khát, và đồ uống? Nó giống như một dòng sông tràn bờ.

Này gia chủ, ông có thể nghĩ: ‘Chắc chắn Bà-la-môn Velāma vào thời đó phải là một người nào khác?’ Nhưng ông không nên thấy như vậy. Chính Ta là Bà-la-môn Velāma vào thời đó. Ta đã thực hiện cuộc cúng dường đó, một đại thí. Nhưng tại sự kiện đó không có ai xứng đáng nhận sự cúng dường, và không có ai thanh tịnh hóa sự cúng dường.

Có nhiều phước báu hơn khi cúng dường một người thành tựu về chánh kiến (accomplished in view / hiểu biết đúng đắn) hơn là đại thí của Velāma.

Có nhiều phước báu hơn khi cúng dường một bậc Nhất Lai hơn là một trăm người thành tựu về chánh kiến.

Có nhiều phước báu hơn khi cúng dường một bậc bất lai (non-returner / người không trở lại) hơn là một trăm bậc Nhất Lai.

Có nhiều phước báu hơn khi cúng dường một bậc A-la-hán hơn là một trăm bậc Bất Lai.

Có nhiều phước báu hơn khi cúng dường một vị Độc Giác Phật (Independent Buddha / Phật tự giác ngộ mà không cần thầy) hơn là một trăm bậc A-la-hán.

Có nhiều phước báu hơn khi cúng dường một bậc Như Lai (Realized One / người đã đến như vậy), một bậc A-la-hán, một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác hơn là một trăm vị Độc Giác Phật.

Có nhiều phước báu hơn khi cúng dường Tăng đoàn Tỳ kheo do Đức Phật dẫn đầu hơn là cúng dường một bậc Như Lai, một bậc A-la-hán, một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.

Có nhiều phước báu hơn khi xây dựng một trú xứ đặc biệt cho Tăng đoàn bốn phương hơn là cúng dường Tăng đoàn Tỳ kheo do Đức Phật dẫn đầu.

Có nhiều phước báu hơn khi quy y Phật, Pháp, và Tăng với tâm niềm tin (confident heart / tín, lòng tin tưởng vững chắc) hơn là xây dựng một trú xứ cho Tăng đoàn bốn phương.

Có nhiều phước báu hơn khi thọ trì các học giới—không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không dùng các chất say như bia, rượu, và rượu mạnh—hơn là quy y Phật, Pháp, và Tăng với tâm niềm tin.

Có nhiều phước báu hơn khi phát triển tâm từ—dù chỉ trong khoảng thời gian vắt sữa một con bò cái—hơn là thọ trì các học giới.

Có nhiều phước báu hơn khi phát triển nhận thức về vô thường—dù chỉ trong khoảng thời gian một cái búng tay—hơn là làm tất cả những điều này, bao gồm cả việc phát triển tâm từ trong khoảng thời gian vắt sữa một con bò cái."

(X) (20) Velàma

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, vườn ông Anàthapindika. Rồi Tôn giả Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi xuống một bên:

− Này Gia chủ, Ông có bố thí trong gia đình của Ông không?

− Bạch Thế Tôn, trong gia đình của con có bố thí, nhưng chỉ có món ăn thô tệ làm bằng hột gạo bể, và cháo chua.

2. - Này Gia chủ, dầu bố thí các món thô hay tế, nếu bố thí không cẩn thận, bố thí không có chú tâm, bố thí không tự tay mình, bố thí những vật quăng đi, bố thí không có nghĩ đến tương lai; chỗ nào, chỗ nào, sự bố thí ấy sanh quả dị thục, thời tâm không thiên về thưởng thức các món ăn thù diệu, tâm không thiên về thưởng thức y áo thù diệu, tâm không thiên về thưởng thức các cỗ xe thù diệu, tâm không thiên về thưởng thức năm dục công đức thù diệu. Và các người con, hay vợ, hay những người phục vụ, hay những người đưa tin, hay những người làm công, họ không có khéo nghe, họ không có lóng tai, họ không có an trú tâm hiểu biết. Vì sao? Này Gia chủ, như vậy là quả dị thục của các nghiệp làm không có cẩn thận.

3. Này Gia chủ, dầu có bố thí các món thô hay tế, nếu bố thí có cẩn thận, bố thí có chú tâm, bố thí tự tay mình, bố thí những vật không quăng bỏ đi, bố thí có nghĩ đến tương lai; chỗ nào, chỗ nào, sự bố thí ấy sanh quả dị thục, thời tâm thiên về thưởng thức các món ăn thù diệu, tâm thiên về thưởng thức y áo thù diệu, tâm thiên về thưởng thức các cỗ xe thù diệu, tâm thiên về thưởng thức năm dục công đức thù diệu. Và các người con, hay vợ, hay những người phục vụ, hay những người đưa tin, hay những người làm công, họ có khéo nghe, họ có lóng tai, họ có an trú tâm hiểu biết. Vì sao? Này Gia chủ, như vậy là quả dị thục của việc làm có cẩn thận. 4. Thuở xưa, này Gia chủ, có một vị Bà-la-môn tên là Velàma. Vị ấy bố thí rộng lớn như sau: Vị ấy bố thí 84.000 bát bằng vàng đựng đầy bạc. Vị ấy bố thí 84.000 bát bằng bạc đựng đầy vàng. Vị ấy bố thí 84.000 bát bằng đồng đựng đầy châu báu. Vị ấy bố thí 84.000 con voi với đồ trang sức bằng vàng, với các ngọn cờ bằng vàng, bao trùm với những lưới bằng chỉ vàng và 84.000 cỗ xe, được trải với da sư tử, được trải với da cọp, được trải với da báo, được trải với mềm màu vàng, với những trang sức bằng vàng, với các ngọn cờ bằng vàng, bao trùm với những lưới bằng chỉ vàng. Vị ấy bố thí 84.000 con bò sữa, cột bằng những sợi dây gai mịn với những thùng sữa bằng bạc. Vị ấy bố thí 84.000 thiếu nữ, trang sức với những bông tai bằng châu báu. Vị ấy bố thí 84.000 giường nằm trải nệm bằng len thêu bông, nệm bằng da con sơn dương gọi là kadali, tấm khảm với lầu che phía trên, có đầu gối chân màu đỏ hai phía. Vị ấy bố thí 84.000 thước vải, bằng vài gai mịn màng nhất, bằng vải lụa mịn màng nhất, bằng vải len mịn màng nhất, bằng vải bông mịn màng nhất. Và ai có thể nói về các đồ ăn, đồ uống, loại cứng, loại mềm, các loại đồ ăn nếm và các loại nước đường. “Chúng tôi nghĩ chúng chảy như dòng sông”.

5. Có thể, này Gia chủ, Ông nghĩ: “Có thể Bà-la-môn Velàma là một người nào khác, vị đã bố thí một cách rộng lớn như vậy”. Này Gia chủ, chớ có nghĩ như vậy. Chính lúc ấy, Ta là Bà-la-môn Velàma, chính Ta đã bố thí rộng lớn ấy. Nhưng này Gia chủ, khi bố thí ấy được cho, không có một ai xứng đáng để nhận bố thí. Không có một ai làm cho thanh tịnh bố thí ấy. Này Gia chủ, dầu Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn, nếu có ai bố thí cho một người chánh kiến, bố thí này lớn hơn quả lớn kia. Này Gia chủ, dầu Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn và có ai bố thí cho 100 người chánh kiến, và có ai bố thí cho một vị Nhất lai, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia. Này Gia chủ, dầu cho Bà-la-môn Velàma bố thí rộng lớn, và có ai bố thí cho 100 người Nhất lai, và có ai bố thí cho một vị Bất lai, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia. Này Gia chủ, dầu Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn, và có ai bố thí cho 100 vị Bất lai, và có ai bố thí cho một vị A-la-hán, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia. Này Gia chủ, dầu Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn hơn, và có ai bố thí cho một vị A-la-hán, và có ai bố thí cho một vị Ðộc Giác Phật, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia. Này Gia chủ, dầu cho Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn và có người bố thí cho 100 vị Ðộc Giác Phật, có ai bố thí cho Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia. Này Gia chủ, dầu cho Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn, và có ai bố thí cho chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị thượng thủ, và có ai xây dựng một tinh xá cho chúng Tăng trong bốn phương… và có ai với tâm tịnh tín qui y Phật, Pháp và Tăng, và có ai với tâm tịnh tín chấp nhận học pháp, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ không đắm say rượu men, rượu nấu… Và có ai với tâm tịnh tín, chấp nhận học pháp… từ bỏ không đắm say rượu men, rượu nấu, và ai tu tập từ tâm giải thoát, cho đến trong khi khoảnh khắc vắt sữa bò, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia. Này Gia chủ, dầu cho Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn, có ai bố thí một vị đầy đủ chánh kiến… và có ai bố thí cho 100 vị đầy đủ chánh kiến… và có ai bố thí một vị Bất lai… và có ai bố thí trăm vị Bất lai, và có ai bố thí một vị A-la-hán… và có ai bố thí trăm vị A-la-hán… và có ai bố thí một vị Ðộc giác Phật, và có ai bố thí trăm vị Ðộc giác Phật, và có ai bố thí Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác… và có ai bố thí chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị cầm đầu, và có ai cho xây dựng một tinh xá cho chúng Tăng trong bốn phương… và có ai với tâm tịnh tín qui y Phật, Pháp và chúng Tăng… và có ai tâm tịnh tín chấp nhận học pháp, từ bỏ sát sanh… từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu… và có ai dầu chỉ trong một khoảnh khắc vắt sữa bò, tu tập từ tâm, và có ai dầu chỉ trong một khoảnh khắc búng ngón tay, tu tập tưởng vô thường, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia.