Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về Chỗ Ở Của Chúng Sinh

AN 9.21 Ba Đặc Điểm Riêng Biệt Tiṭhānasutta

"Con người ở cõi Bắc Câu Lô Châu vượt trội hơn chư thiên cõi Ba Mươi Ba và con người ở cõi Diêm Phù Đề về ba đặc điểm. Ba đặc điểm nào? Họ vô tư và không sở hữu. Họ có tuổi thọ cố định. Họ có bản chất đặc thù. Con người ở cõi Bắc Câu Lô Châu vượt trội hơn chư thiên cõi Ba Mươi Ba và con người ở cõi Diêm Phù Đề về ba đặc điểm này.

Chư thiên cõi Ba Mươi Ba vượt trội hơn con người ở cõi Bắc Câu Lô Châu và cõi Diêm Phù Đề về ba đặc điểm. Ba đặc điểm nào? Tuổi thọ, vẻ đẹp và hạnh phúc của chư thiên. Chư thiên cõi Ba Mươi Ba vượt trội hơn con người ở cõi Bắc Câu Lô Châu và cõi Diêm Phù Đề về ba đặc điểm này.

Con người ở cõi Diêm Phù Đề vượt trội hơn con người ở cõi Bắc Câu Lô Châu và chư thiên cõi Ba Mươi Ba về ba đặc điểm. Ba đặc điểm nào? Dũng cảm, sự tỉnh thức (mindfulness / niệm, sự chú tâm không gián đoạn vào đối tượng), và đời sống phạm hạnh được thực hành ở đây. Con người ở cõi Diêm Phù Đề vượt trội hơn con người ở cõi Bắc Câu Lô Châu và chư thiên cõi Ba Mươi Ba về ba đặc điểm này."

III. Phẩm Chỗ Cư Trú Của Hữu Tình

(I) (21) Trong Ba Phương Diện

1.- Này các Tỷ-kheo, trong ba phương diện người Uttarakurukà (Bắc Cu-lô châu) thù thắng hơn chư Thiên cõi Ba mươi ba và loài Người ở Jambudìpa (Diêm-phù-đề). Thế nào là ba?

2. Không có ngã sở, không có chấp trước, tuổi thọ được quy định là những thù thắng. Này các Tỷ-kheo, trong ba phương diện này, người Uttarakuruka thù thắng hơn chư Thiên cõi Ba mươi ba và loài Người ở Jambudìpa.

3. Này các Tỷ-kheo, trong ba phương diện, chư Thiên cõi trời Ba mươi ba thù thắng hơn loài Người ở Uttarakuruka và loài Người ở Jambudìpa. Thế nào là ba?

4. Về thiên thọ mạng, về thiên dung sắc, về thiên lạc. Này các Tỷ-kheo, trong ba phương diện này, chư Thiên cõi trời Ba mươi ba thù thắng hơn loài Người ở Uttarakuruka và loài Người ở Jambudìpa.

5. Này các Tỷ-kheo, trong ba phương diện, loài Người ở Jambudìpa thù thắng hơn loài Người ở cõi Uttarakuruka và chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba. Thế nào là ba?

Họ là anh hùng, có trú niệm và sống Phạm hạnh ở đời này.

Này các Tỷ-kheo, trong ba phương diện này, loài Người ở cõi Jambudìpa thù thắng hơn loài Người ở cõi Uttarakuruka và chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba.

AN 9.22 Ngựa Con Hoang Dã Assakhaḷuṅkasutta

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các ông về ba loại ngựa con hoang dã và ba loại người hoang dã; ba loại ngựa tốt và ba loại người ưu tú; và ba loại ngựa thuần chủng quý và ba loại người thuần chủng quý. Hãy lắng nghe và suy tư với trí tuệ (apply your mind rationally / như lý tác ý, suy nghĩ đúng đắn, hợp lý), Ta sẽ nói.

Và thế nào là ba loại ngựa con hoang dã? Một con ngựa hoang dã thì nhanh nhẹn, nhưng không đẹp đẽ hay cân đối. Một con ngựa hoang dã khác thì nhanh nhẹn và đẹp đẽ, nhưng không cân đối. Còn một con ngựa hoang dã khác nữa thì nhanh nhẹn, đẹp đẽ, và cân đối. Đó là ba loại ngựa con hoang dã.

Và thế nào là ba loại người hoang dã? Một người hoang dã thì nhanh nhẹn, nhưng không đẹp đẽ hay cân đối. Một người hoang dã khác thì nhanh nhẹn và đẹp đẽ, nhưng không cân đối. Còn một người hoang dã khác nữa thì nhanh nhẹn, đẹp đẽ, và cân đối.

Và thế nào là một người hoang dã nhanh nhẹn, nhưng không đẹp đẽ hay cân đối? Đó là khi một vị Tỷ kheo như thật hiểu rõ: ‘Đây là khổ’ … ‘Đây là nguồn gốc của khổ’ … ‘Đây là sự chấm dứt khổ’ … ‘Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ’. Như vậy là họ nhanh nhẹn, Ta nói. Nhưng khi được hỏi một câu về giáo pháp hay giới luật, họ ngập ngừng, không trả lời được. Như vậy là họ không đẹp đẽ, Ta nói. Và họ không nhận được y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men trị bệnh. Như vậy là họ không cân đối, Ta nói. Đây là cách một người hoang dã nhanh nhẹn, nhưng không đẹp đẽ hay cân đối.

Và thế nào là một người hoang dã nhanh nhẹn và đẹp đẽ, nhưng không cân đối? Họ như thật hiểu rõ: ‘Đây là khổ’ … ‘Đây là nguồn gốc của khổ’ … ‘Đây là sự chấm dứt khổ’ … ‘Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ’. Như vậy là họ nhanh nhẹn, Ta nói. Khi được hỏi một câu về giáo pháp hay giới luật, họ trả lời mà không ngập ngừng. Như vậy là họ đẹp đẽ, Ta nói. Nhưng họ không nhận được y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men trị bệnh. Như vậy là họ không cân đối, Ta nói. Đây là cách một người hoang dã nhanh nhẹn và đẹp đẽ, nhưng không cân đối.

Và thế nào là một người hoang dã nhanh nhẹn, đẹp đẽ, và cân đối? Họ như thật hiểu rõ: ‘Đây là khổ’ … ‘Đây là nguồn gốc của khổ’ … ‘Đây là sự chấm dứt khổ’ … ‘Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ’. Như vậy là họ nhanh nhẹn, Ta nói. Khi được hỏi một câu về giáo pháp hay giới luật, họ trả lời mà không ngập ngừng. Như vậy là họ đẹp đẽ, Ta nói. Họ nhận được y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men trị bệnh. Như vậy là họ cân đối, Ta nói. Đây là cách một người hoang dã nhanh nhẹn, đẹp đẽ, và cân đối. Đó là ba loại người hoang dã.

Và thế nào là ba loại ngựa tốt? Một con ngựa tốt … thì nhanh nhẹn, đẹp đẽ, và cân đối. Đó là ba loại ngựa tốt.

Thế nào là ba loại người ưu tú? Một người ưu tú … thì nhanh nhẹn, đẹp đẽ, và cân đối.

Và thế nào là một người ưu tú … nhanh nhẹn, đẹp đẽ, và cân đối? Đó là khi một vị Tỷ kheo, với sự chấm dứt của năm hạ phần kiết sử (five lower fetters / năm trói buộc ở cõi thấp gồm: 1. thân kiến - niềm tin sai lầm về một cái tôi thường hằng, 2. hoài nghi - sự nghi ngờ về Phật, Pháp, Tăng và con đường tu tập, 3. sùng tín và giáo điều - sự bám chấp vào các giới luật và nghi lễ một cách mù quáng, 4. tham dục - sự ham muốn các dục lạc ở cõi dục, 5. tức giận - sự bất mãn, chống đối), được hóa sinh (reborn spontaneously / sinh ra một cách tự nhiên, không qua thai bào, như chư thiên hoặc chúng sinh địa ngục). Họ nhập Niết bàn (extinguished there / đạt đến sự kết thúc hoàn toàn mọi khổ đau, không còn tái sinh) ở đó, và không còn trở lại thế giới này nữa. Như vậy là họ nhanh nhẹn, Ta nói. Khi được hỏi một câu về giáo pháp hay giới luật, họ trả lời mà không ngập ngừng. Như vậy là họ đẹp đẽ, Ta nói. Họ nhận được y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men trị bệnh. Như vậy là họ cân đối, Ta nói. Đây là cách một người ưu tú nhanh nhẹn, đẹp đẽ, và cân đối. Đó là ba loại người ưu tú.

Và thế nào là ba loại ngựa thuần chủng quý? Một con ngựa thuần chủng quý … thì nhanh nhẹn, đẹp đẽ, và cân đối. Đó là ba loại ngựa thuần chủng quý.

Và thế nào là ba loại người thuần chủng quý? Một người thuần chủng quý … thì nhanh nhẹn, đẹp đẽ, và cân đối.

Và thế nào là một người thuần chủng quý … nhanh nhẹn, đẹp đẽ, và cân đối? Đó là một vị Tỷ kheo chứng ngộ vô lậu tâm giải thoát (undefiled freedom of heart / sự giải thoát của tâm khỏi mọi ô nhiễm, phiền não) và tuệ giải thoát (freedom by wisdom / sự giải thoát đạt được thông qua trí tuệ thấu hiểu Tứ Thánh Đế) ngay trong đời này. Và họ sống sau khi đã chứng ngộ điều đó bằng thắng trí (own insight / trí tuệ thấu suốt, sự hiểu biết trực tiếp và vượt trội về bản chất của các pháp) của chính mình do sự lậu tận (ending of defilements / sự chấm dứt hoàn toàn các lậu hoặc, tức là các ô nhiễm tiềm ẩn làm chúng sinh trôi lăn trong vòng sinh tử). Như vậy là họ nhanh nhẹn, Ta nói. Khi được hỏi một câu về giáo pháp hay giới luật, họ trả lời mà không ngập ngừng. Như vậy là họ đẹp đẽ, Ta nói. Họ nhận được y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men trị bệnh. Như vậy là họ cân đối, Ta nói. Đây là cách một người thuần chủng quý nhanh nhẹn, đẹp đẽ, và cân đối. Đó là ba loại người thuần chủng quý."

(II) (22) Ngựa Chưa Ðược Ðiều Phục

1.- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về ba loại ngựa chưa được điều phục và ba hạng người chưa được điều phục; ba loại ngựa được điều phục, và ba hạng người được điều phục; ba loại ngựa hiền thiện thuần lương và ba hạng người hiền thiện thuần lương. Hãy nghe và khéo tác ý. Ta sẽ nói.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:

2.- Này các Tỷ-kheo, thế nào là ba loại ngựa chưa được điều phục?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có loại ngựa chưa được điều phục có tốc lực nhưng không có sắc đẹp, không có cân đối bề cao, chu vi bề ngoài. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có loại ngựa chưa được điều phục, có tốc lực, có sắc đẹp nhưng không có cân đối. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có loại ngựa chưa được điều phục, có tốc lực, có sắc đẹp và cân đối. Ba loại này, này các Tỷ-kheo, là ba loại ngựa chưa được điều phục.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ba hạng người chưa được điều phục?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người chưa được điều phục, có tốc lực nhưng không có sắc đẹp, không có cân đối. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người chưa được điều phục, có tốc lực, có sắc đẹp nhưng không có cân đối. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người chưa được điều phục, có tốc lực, có sắc đẹp, có cân đối. Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, là ba hạng người chưa được điều phục.

4. Thế nào, này các Tỷ-kheo, là hạng người chưa được điều phục, có tốc lực nhưng không có sắc đẹp, không có cân đối?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật tuệ tri: “Ðây là Khổ”, như thật tuệ tri: “Ðây là Khổ tập”, như thật tuệ tri: “Ðây là Khổ diệt”, như thật tuệ tri: “Ðây là con đường đưa đến Khổ diệt”. Ðây Ta nói trong nghĩa có tốc lực. Nhưng khi được hỏi về thắng pháp, thắng luật, vị ấy lại ngập ngừng, không có trả lời. Ðây Ta nói trong nghĩa không có sắc đẹp. Vị ấy không có nhận được các đồ tư dụng, như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Ðây Ta nói trong nghĩa không có cân đối. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chưa có điều phục, có tốc lực, nhưng không có sắc đẹp, không có cân đối. 5. Như thế nào, này các Tỷ-kheo, là hạng người chưa có điều phục, có tốc lực, có sắc đẹp, nhưng không có cân đối?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật tuệ tri: “Ðây là Khổ”, như thật tuệ tri: “Ðây là Khổ tập”, như thật tuệ tri: “Ðây là Khổ diệt”, như thật tuệ tri: “Ðây là con đường đưa đến Khổ diệt”. Ðây Ta nói trong nghĩa có tốc lực. Nhưng khi được hỏi về thắng pháp, thắng luật, vị ấy liền trả lời, không có ngập ngừng. Ðây Ta nói trong nghĩa có sắc đẹp. Nhưng vị ấy không nhận được các đồ tư dụng, như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Ðây Ta nói trong nghĩa không có cân đối. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người chưa được điều phục, có tốc lực, có sắc đẹp nhưng không có cân đối.

6. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là người chưa được điều phục, có tốc lực, có sắc đẹp, có cân đối?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật tuệ tri: “Ðây là Khổ”…, như thật tuệ tri: “Ðây là con Ðường đưa đến khổ diệt”. Ðây Ta nói trong nghĩa có tốc lực. Khi được hỏi về thắng pháp, thắng luật, vị ấy liền trả lời, không có ngập ngừng. Ðây Ta nói trong nghĩa có sắc đẹp. Vị ấy nhận được các đồ tư dụng, như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Ðây Ta nói trong nghĩa có cân đối. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người chưa được điều phục, có tốc lực, có sắc đẹp có cân đối. Những hạng người này, này các Tỷ-kheo, là ba hạng người chưa được điều phục.

7. Này các Tỷ-kheo, thế nào là ba loại ngựa được điều phục?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có loại ngựa được điều phục, có tốc lực, nhưng không có sắc đẹp, không có cân đối. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có loại ngựa được điều phục, có tốc lực, có sắc đẹp nhưng không có cân đối. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có loại ngựa được điều phục, có tốc lực, có sắc đẹp, có cân đối. Các loại này, này các Tỷ-kheo, là ba hạng loại ngựa được điều phục.

8. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ba hạng người được điều phục?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người được điều phục, có tốc lực, nhưng không có sắc đẹp, không có cân đối. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người được điều phục, có tốc lực, có sắc đẹp nhưng không có cân đối. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người được điều phục, có tốc lực, có sắc đẹp, có cân đối.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người được điều phục, có tốc lực, không có sắc đẹp, không có cân đối?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo do đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, tại đấy, được nhập Niết-bàn, không còn phải trở lui đời này nữa. Ðây Ta nói trong nghĩa có tốc lực. Nhưng được hỏi về thắng pháp, thắng luật, vị ấy ngập ngừng, không có trả lời. Ðây Ta nói trong nghĩa không có sắc đẹp. Vị ấy không nhận được các đồ tư dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Ðây Ta nói trong nghĩa không có cân đối. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người được điều phục, có tốc lực, nhưng không có sắc đẹp, không có cân đối.

Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là hạng người được điều phục, có tốc lực, có sắc đẹp, nhưng không có cân đối?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo do đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, tại đấy, được nhập Niết-bàn, không phải trở lui đời này nữa. Ðây Ta nói trong nghĩa có tốc lực. Khi được hỏi về thắng pháp, thắng luật, vị ấy trả lời, không có ngập ngừng. Ðây Ta nói trong nghĩa có sắc đẹp. Nhưng vị này không nhận được các đồ tư dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Ðây Ta nói trong nghĩa không có cân đối. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người được điều phục, có tốc lực, có sắc đẹp nhưng không có cân đối.

9. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là hạng người được điều phục, có tốc lực, có sắc đẹp, có cân đối?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo do đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, tại đấy được nhập Niết-bàn, không phải trở lui đời này nữa. Ðây Ta nói trong nghĩa có tốc lực. Khi được hỏi về thắng pháp, thắng luật, vị ấy liền trả lời, không có ngập ngừng. Ðây Ta nói trong nghĩa có sắc đẹp. Và vị ấy nhận được các đồ tư dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Ðây Ta nói trong nghĩa có cân đối. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người được điều phục, có tốc lực, có sắc đẹp, có cân đối. Những hạng người này, này các Tỷ-kheo, là ba hạng người được điều phục.

10. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ba loại ngựa hiền thiện thuần lương?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có loại ngựa hiền thiện thuần lương, có tốc lực nhưng có sắc đẹp, không có cân đối. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có loại ngựa hiền thiện thuần lương, có tốc lực, có sắc đẹp, nhưng không có cân đối. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có loại ngựa hiền thiện thuần lương, có tốc lực, có sắc đẹp, có cân đối. Những loại này, này các Tỷ-kheo, là ba loại ngựa hiền thiện thuần lương.

11. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ba loại người hiền thiện thuần lương?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người hiền thiện thuần lương, có tốc lực nhưng không có sắc đẹp, không có cân đối. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người hiền thiện thuần lương, có tốc lực, có sắc đẹp, nhưng không có cân đối. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người hiền thiện thuần lương, có tốc lực, có sắc đẹp, có cân đối. Những hạng người này, này các Tỷ-kheo, là ba hạng người hiền thiện thuần lương.

Như thế nào, này các Tỷ-kheo, là hạng người hiền thiện thuần lương, có tốc lực nhưng không có sắc đẹp, không có cân đối?

Ở đây, này các Tỷ-kheo do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chúng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Ðây Ta nói trong nghĩa có tốc lực. Khi được hỏi về thắng pháp, thắng luật, vị ấy ngập ngừng, không trả lời. Ðây Ta nói trong nghĩa không có sắc đẹp. Vị ấy không nhận được các đồ tư dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Ðây Ta nói trong nghĩa không có cân đối. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người hiền thiện thuần lương, có tốc lực nhưng không có sắc đẹp, không có cân đối.

Như thế nào, này các Tỷ-kheo, là hạng người hiền thiện thuần lương, có tốc lực, có sắc đẹp nhưng không có cân đối?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ kheo do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chúng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Ðây Ta nói trong nghĩa có tốc lực. Khi được hỏi về thắng pháp, thắng luật, vị ấy liền trả lời, không có ngập ngừng. Ðây Ta nói trong nghĩa có sắc đẹp. Vị ấy không nhận được các đồ tư dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Ðây Ta nói trong nghĩa không có cân đối. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người hiền thiện thuần lương, có tốc lực, có sắc đẹp nhưng không có cân đối.

Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là hạng người hiền thiện thuần lương, có tốc lực, có sắc đẹp, có cân đối?

Ở đây, này các Tỷ-kheo do đoạn diệt các lậu hoặc, tự mình với thắng trí, chúng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Ðây Ta nói trong nghĩa có tốc lực. Khi được hỏi về thắng pháp, thắng luật, vị ấy liền trả lời. Ðây Ta nói trong nghĩa có sắc đẹp. Vị ấy nhận được các đồ tư dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Ðây Ta nói trong nghĩa có cân đối. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người hiền thiện thuần lương, có tốc lực, có sắc đẹp, có cân đối. Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, là ba hạng người hiền thiện thuần lương.

AN 9.23 Bắt Nguồn Từ Ái Dục Taṇhāmūlakasutta

“Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các ông về chín điều bắt nguồn từ ái (craving / lòng khao khát, ham muốn mãnh liệt). Và thế nào là chín điều bắt nguồn từ ái? Ái là nguyên nhân của sự tìm cầu. Sự tìm cầu là nguyên nhân của sự thu hoạch (lợi lộc). Sự thu hoạch là nguyên nhân của sự thẩm định (đánh giá). Sự thẩm định là nguyên nhân của tham dục. Tham dục là nguyên nhân của chấp thủ (attachment / sự bám víu, dính mắc vào các đối tượng của ham muốn). Chấp thủ là nguyên nhân của sự sở hữu. Sự sở hữu là nguyên nhân của sự keo kiệt. Sự keo kiệt là nguyên nhân của sự bảo vệ (giữ gìn). Do sự bảo vệ, nhiều điều xấu ác, bất thiện phát sinh: cầm gậy, cầm kiếm, tranh cãi, tranh luận, và ẩu đả, cáo buộc, nói chia rẽ, và nói dối. Đó là chín điều bắt nguồn từ ái.”

(III) (23) Ái

1. - Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về chín pháp lấy ái làm cội gốc. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chín pháp lấy ái làm cội gốc?

2. Do duyên ái nên cầu tìm; do duyên cầu tìm nên có được; do duyên có được nên có quyết định; do duyên quyết định nên có dục tham; do duyên dục tham nên đắm trước; do duyên đắm trước nên có chấp trước; do duyên chấp trước nên có xan tham; do duyên xan tham nên có thủ hộ, chấp trượng, chấp kiếm, đấu tranh, tránh tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ, rất nhiều các ác, bất thiện pháp khởi lên.

Này các Tỷ-kheo, đây là chín pháp lấy ái làm cội gốc.

AN 9.24 Chỗ Ở Của Chúng Sinh Sattāvāsasutta

"Này các Tỷ kheo, có chín chỗ ở của chúng sinh (abodes of sentient beings / các cõi giới mà chúng sinh cư ngụ). Chín chỗ nào?

Có những chúng sinh thân khác nhau và nhận thức (perceptions / tưởng, một trong năm uẩn, là quá trình nhận biết, phân biệt và gắn nhãn cho các đối tượng thông qua các giác quan) khác nhau, chẳng hạn như loài người, một số chư thiên, và một số chúng sinh ở cõi khổ. Đây là chỗ ở thứ nhất của chúng sinh.

Có những chúng sinh thân khác nhau và nhận thức giống nhau, chẳng hạn như chư thiên Phạm Chúng Thiên do tái sinh nhờ sơ thiền (first absorption / tầng thiền định thứ nhất trong bốn tầng thiền sắc giới, đặc trưng bởi sự có mặt của tầm, tứ, hỷ, lạc, và nhất tâm). Đây là chỗ ở thứ hai của chúng sinh.

Có những chúng sinh thân giống nhau và nhận thức khác nhau, chẳng hạn như chư thiên Quang Âm. Đây là chỗ ở thứ ba của chúng sinh.

Có những chúng sinh thân giống nhau và nhận thức giống nhau, chẳng hạn như chư thiên Biến Tịnh. Đây là chỗ ở thứ tư của chúng sinh.

Có những chúng sinh không có nhận thức và không cảm nhận bất cứ điều gì, chẳng hạn như chư thiên Vô Tưởng. Đây là chỗ ở thứ năm của chúng sinh.

Có những chúng sinh đã hoàn toàn vượt qua các nhận thức về hình sắc. Với sự chấm dứt các nhận thức đối ngại (perceptions of impingement / nhận thức về sự va chạm, cản trở của các đối tượng vật chất), không chú tâm đến các nhận thức đa dạng, biết rằng ‘không gian là vô biên’, họ đã tái sinh vào cõi Không Vô Biên Xứ (dimension of infinite space / một trong bốn cõi thiền vô sắc, nơi hành giả quán chiếu không gian là vô biên). Đây là chỗ ở thứ sáu của chúng sinh.

Có những chúng sinh đã hoàn toàn vượt qua cõi Không Vô Biên Xứ. Biết rằng ‘thức là vô biên’, họ đã tái sinh vào cõi Thức Vô Biên Xứ (dimension of infinite consciousness / một trong bốn cõi thiền vô sắc, nơi hành giả quán chiếu thức là vô biên). Đây là chỗ ở thứ bảy của chúng sinh.

Có những chúng sinh đã hoàn toàn vượt qua cõi Thức Vô Biên Xứ. Biết rằng ‘không có gì cả’, họ đã tái sinh vào cõi Vô Sở Hữu Xứ (dimension of nothingness / một trong bốn cõi thiền vô sắc, nơi hành giả quán chiếu không có gì tồn tại). Đây là chỗ ở thứ tám của chúng sinh.

Có những chúng sinh đã hoàn toàn vượt qua cõi Vô Sở Hữu Xứ. Họ đã tái sinh vào cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ (dimension of neither perception nor non-perception / cõi thiền vô sắc cao nhất, nơi nhận thức cực kỳ vi tế, không phải là có cũng không phải là không). Đây là chỗ ở thứ chín của chúng sinh.

Đó là chín chỗ ở của chúng sinh."

(IV) (24) Các Loại Hữu Tình

1. - Này các Tỷ-kheo, có chín chỗ cư trú của loài hữu tình. Thế nào là chín?

2. Này các Tỷ-kheo, có những loài hữu tình, thân sai biệt, tưởng sai biệt, như loài Người, một số chư Thiên, một số ở các đọa xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ nhất.

3. Này các Tỷ-kheo, có những loài hữu tình, thân sai biệt, tưởng đồng nhất, chư Phạm Chúng thiên, khi mới tái sanh. Ðó là hữu tình trú xứ thứ hai.

4. Này các Tỷ-kheo, có loại hữu tình, thân đồng nhất, tưởng sai biệt như Quang âm thiên. Ðó là hữu tình trú xứ thứ ba.

5. Này các Tỷ-kheo, có loài hữu tình, thân đồng nhất, tưởng đồng nhất, như Tịnh Cư thiên. Ðó là hữu tình trú xứ thứ tư.

6. Này các Tỷ-kheo, có những loại hữu tình không có tưởng, không có thọ như Vô Tưởng thiên. Ðó là hữu tình trú xứ thứ năm.

7. Này các Tỷ-kheo, có những loài hữu tình vượt khỏi sắc tưởng một cách hoàn toàn, diệt trừ các đối ngại tưởng, không có tác ý sai biệt tưởng, nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng được Không vô biên xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ sáu.

8. Này các Tỷ-kheo, có những loài hữu tình, vượt khỏi hư Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng được Thức vô biên xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ bảy.

9. Này các Tỷ-kheo, có những loài hữu tình vượt khỏi Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: “Không có gì tất cả”, chứng được Vô sở hữu xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ tám.

10. Này các Tỷ-kheo, có những loài hữu tình vượt khỏi Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ chín.

Này các Tỷ-kheo, đây là chín chỗ cư trú của các loài hữu tình.

AN 9.25 Củng Cố Bằng Trí Tuệ Paññāsutta

"Này các Tỷ kheo, khi tâm của một vị Tỷ kheo đã được củng cố vững chắc bằng trí tuệ (wisdom / tuệ, sự hiểu biết đúng đắn về bản chất của sự vật, hiện tượng, đặc biệt là Tứ Thánh Đế) thì vị ấy có thể tuyên bố: ‘Ta hiểu rằng: “Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã làm xong, không còn gì nữa ở nơi này.”’

Và thế nào là tâm của một vị Tỷ kheo được củng cố vững chắc bằng trí tuệ? Tâm được củng cố vững chắc bằng trí tuệ khi vị ấy biết: ‘Tâm ta không còn tham lam.’ … ‘Tâm ta không còn tức giận.’ … ‘Tâm ta không còn si mê.’ … ‘Tâm ta không còn khả năng trở nên tham lam.’ … ‘Tâm ta không còn khả năng trở nên tức giận.’ … ‘Tâm ta không còn khả năng trở nên si mê.’ … ‘Tâm ta không còn khả năng tái sinh trở lại cõi dục.’ … ‘Tâm ta không còn khả năng tái sinh trở lại cõi sắc giới.’ … ‘Tâm ta không còn khả năng tái sinh trở lại cõi vô sắc giới.’ Khi tâm của một vị Tỷ kheo đã được củng cố vững chắc bằng trí tuệ thì vị ấy có thể tuyên bố: ‘Ta hiểu rằng: “Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã làm xong, không còn gì nữa ở nơi này.”’"

(V) (25) Trí Tuệ

1. - Này các Tỷ-kheo, khi nào tâm Tỷ-kheo được khéo tích tập với trí tuệ, thời thật hợp lý cho Tỷ-kheo ấy nói như sau: “Ta rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tâm Tỷ-kheo được khéo tích tập?

2. “Ly tham là tâm của ta”, như vậy tâm vị ấy được khép tích tập với trí tuệ. “Ly sân là tâm của ta”, như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ. “Ly si là tâm của ta”, như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ. “Tánh không có tham là tâm của ta”, như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ. “Tánh sân là tâm của ta”, như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ. “Tánh không có si là tâm của ta”, như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ. “Tánh không chuyển hướng về dục hữu là tâm của ta”, như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ. “Tánh không chuyển hướng về sắc hữu là tâm của ta”, như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ. “Tánh không chuyển hướng về vô sắc hữu là tâm của ta”, như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ.

Này các Tỷ-kheo, khi nào tâm Tỷ-kheo được khéo tích tập với trí tuệ, thời thậĩt hợp lý cho Tỷ-kheo ấy nói như sau: “Ta rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”” .

AN 9.26 Thí Dụ Cột Đá Silāyūpasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú gần thành Vương Xá, tại Trúc Lâm, nơi nuôi dưỡng các con sóc.

Khi ấy, Tôn giả Candikāputta nói với các Tỷ kheo: “Chư Hiền, Đề-bà-đạt-đa dạy các Tỷ kheo như thế này: ‘Khi tâm của một vị Tỷ kheo được kiên cố bằng tâm, vị ấy có thể tuyên bố: “Ta hiểu rằng: ‘Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã làm xong, không còn gì nữa ở nơi này.’”’”

Khi Tôn giả Candikāputta nói vậy, Tôn giả Xá-lợi-phất nói với ông: “Thưa Hiền giả Candikāputta, Đề-bà-đạt-đa không dạy các Tỷ kheo như vậy. Ông ấy dạy như thế này: ‘Khi tâm của một vị Tỷ kheo được củng cố tốt đẹp bằng tâm, vị ấy có thể tuyên bố: “Ta hiểu rằng: ‘Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã làm xong, không còn gì nữa ở nơi này.’”’”

Lần thứ hai …

Và lần thứ ba Tôn giả Candikāputta nói với các Tỷ kheo …

Và lần thứ ba, Tôn giả Xá-lợi-phất nói với ông: "Thưa Hiền giả Candikāputta, Đề-bà-đạt-đa không dạy các Tỷ kheo như vậy. Ông ấy dạy như thế này: ‘Khi tâm của một vị Tỷ kheo được củng cố tốt đẹp bằng tâm, vị ấy có thể tuyên bố: “Ta hiểu rằng: ‘Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã làm xong, không còn gì nữa ở nơi này.’”’

Và thế nào là tâm của một vị Tỷ kheo được củng cố tốt đẹp bằng tâm? Tâm được củng cố tốt đẹp bằng tâm khi vị ấy biết: ‘Tâm ta không còn tham lam.’ … ‘Tâm ta không còn tức giận.’ … ‘Tâm ta không còn si mê.’ … ‘Tâm ta không còn khả năng trở nên tham lam.’ … ‘Tâm ta không còn khả năng trở nên tức giận.’ … ‘Tâm ta không còn khả năng trở nên si mê.’ … ‘Tâm ta không còn khả năng tái sinh trở lại cõi dục.’ … ‘Tâm ta không còn khả năng tái sinh trở lại cõi sắc giới.’ … ‘Tâm ta không còn khả năng tái sinh trở lại cõi vô sắc giới.’

Khi tâm của một vị Tỷ kheo được giải thoát đúng đắn như vậy, ngay cả khi những cảnh sắc lôi cuốn đi vào tầm nhìn, chúng cũng không chiếm giữ tâm trí vị ấy. Tâm vẫn không bị ô nhiễm. Tâm vững vàng, không lay chuyển, quan sát sự biến mất.

Ví như có một cột đá, dài mười sáu bộ. Tám bộ chôn dưới đất, và tám bộ ở trên mặt đất. Và những cơn bão dữ dội nổi lên từ phía đông, phía tây, phía bắc, và phía nam. Chúng không thể làm nó rung chuyển, run rẩy và lay động. Tại sao vậy? Bởi vì cột đá đó được cắm chặt, với nền móng sâu. Cũng vậy, khi tâm của một vị Tỷ kheo được giải thoát đúng đắn như vậy, ngay cả khi những cảnh sắc lôi cuốn đi vào tầm nhìn, chúng cũng không chiếm giữ tâm trí vị ấy. Tâm vẫn không bị ô nhiễm. Tâm vững vàng, không lay chuyển, quan sát sự biến mất.

Nếu ngay cả những âm thanh… hương… vị… xúc chạm… và ý nghĩ lôi cuốn đi vào phạm vi của tâm, chúng cũng không chiếm giữ tâm. Tâm vẫn không bị ô nhiễm. Tâm vững vàng, không lay chuyển, quan sát sự biến mất."

(VI) (26) Trụ Ðá

1. Như vầy tôi nghe:

Một thời, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Candikàputta trú ở Ràjagaha (Vương Xá) tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Tại đấy, Tôn giả Candikàputta gọi các Tỷ-kheo, nói rằng:

− Này các Hiền giả, Devadatta thuyết pháp cho các Tỷ-kheo như sau: “Thưa các Hiền giả, khi nào tâm vị Tỷ-kheo được khéo tích tập với trí tuệ, thời thật hợp lý cho Tỷ-kheo ấy trả lời như sau: “Ta rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên là đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa””.

2. Ðược nói vậy, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Candikàputta:

− Này Hiền giả Candikàputta, Devadatta không có thuyết pháp cho các Tỷ-kheo như sau: “Thưa các Hiền giả, khi nào tâm Tỷ-kheo được khéo tích tạo với trí tuệ thời thật hợp lý cho Tỷ-kheo ấy trả lời như sau: “Ta rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa””. Này Hiền giả Candikàputta. Devadatta thuyết pháp cho các Tỷ-kheo như sau: “Thưa các Hiền giả, khi nào tâm vị Tỷ-kheo được khéo tích tập với tâm ý thời thật hợp lý cho Tỷ-kheo ấy trả lời như sau: “Ta rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

3. Lần thứ hai… Lần thứ ba, Tôn giả Candikàputta bảo các Tỷ-kheo nói rằng:

− Thưa các Hiền giả, Devadatta thuyết pháp cho các Tỷ-kheo như sau: “Khi nào tâm Tỷ-kheo được khéo tích tập với trí tuệ thời thật hợp lý cho vị Tỷ-kheo ấy trả lời như sau: “Ta rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa””.

Lần thứ ba, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Candikàputta:

− Này Hiền giả Candikàputta, Devadatta không có thuyết pháp cho các Tỷ-kheo như sau: “Thưa các Hiền giả, khi nào tâm Tỷ-kheo được khéo tích tập với trí tuệ thời thật hợp lý cho Tỷ-kheo ấy trả lời như sau: “Ta rõ biết: “Sanh đã tận… không còn trở lui trạng thái này nữa””. Này Hiền giả Candikàputta. Devadatta thuyết pháp cho các Tỷ-kheo như sau: “Thưa các Hiền giả, khi nào tâm vị Tỷ-kheo được khéo tích tập với tâm ý thời thật hợp lý cho Tỷ-kheo ấy trả lời như sau: “Ta rõ biết: “Sanh đã tận… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

4. - Và như thế nào, này Hiền giả, tâm vị Tỷ-kheo được khép tích tập với tâm ý?

− “Ly tham là tâm của ta”, như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với tâm ý. “Ly sân là tâm của ta”, như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với tâm ý. “Ly si là tâm của ta”, như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với tâm ý. “Tánh không có tham là tâm của ta”, như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với tâm ý. “Tánh không có sân là tâm của ta”, như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với tâm ý. “Tánh không có si là tâm của ta”, như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với tâm ý. “Tánh không chuyển hướng về dục hữu là tâm của ta”, như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với tâm ý. “Tánh không chuyển hướng về sắc hữu là tâm của ta”, như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với tâm ý. “Tánh không chuyển hướng về vô sắc hữu là tâm của ta”, như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với tâm ý.

5. Như vậy, này Hiền giả, với Tỷ-kheo có tâm chánh giải thoát như vậy, nếu các sắc do mắt nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vực của con mắt, các sắc không chinh phục tâm vị ấy, tâm được an trú, không bị tạp nhiễm, không bị lay động. Vị ấy tùy quán sự diệt tận của chúng; nếu các tiếng do tai nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vực của lỗ tai… nếu các hương do mũi nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vực của lỗ mũi… nếu các vị do lưỡi nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vức của lưỡi… nếu các xúc do thân nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vức của thân. nếu các pháp do ý nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vức của ý… Các pháp không chinh phục, tâm vị ấy, tâm được an trú, không bị tạp nhiễm, không bị lay động. Vị ấy tùy quán sự diệt tận của chúng. Ví như, này Hiền giả, một trụ đá cao mười sáu khuỷu tay, tám khuỷu tay chôn sâu xuống đất, tám khuỷu tay nổi lên trên, nếu từ phương Ðông, mưa to gió lớn đến, không làm rung động, không làm chuyển động, không làm chuyển động mạnh trụ đá ấy; nếu từ phương Tây… nếu từ phương Bắc… nếu từ phương Nam, mưa to gió lớn đến, không làm rung động, không làm chuyển động, không làm chuyển động mạnh trụ đá ấy. Vì sao? Này Hiền giả, vì trụ đá được đào sâu, được chôn sâu. Cũng vậy, này Hiền giả, với Tỷ-kheo có tâm chánh giải thoát như vậy, nếu các sắc do mắt nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vức của con mắt, các sắc không chinh phục tâm của vị ấy, tâm được an trú không bị tạp nhiễm, không bị lay động. Vị ấy tùy quán sự diệt tận của chúng. Nếu các tiếng do tai nhận thức… nếu các pháp do ý nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vức của ý, các pháp không chinh phục tâm vị ấy, tâm được an trú, không bị tạp nhiễm, không bị lay động. Vị ấy tùy quán sự diệt tận của chúng.

AN 9.27 Nguy Hiểm và Đe Dọa (Thứ Nhất) Paṭhamaverasutta

Khi ấy, gia chủ Cấp Cô Độc đến gặp Đức Phật, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ông:

"Này gia chủ, khi một vị thánh đệ tử đã dập tắt năm mối nguy hiểm và đe dọa, và có bốn yếu tố của sự nhập lưu (stream-entry / quả vị đầu tiên trong bốn quả vị thánh, người đã bước vào dòng chảy dẫn đến Niết bàn), vị ấy có thể, nếu muốn, tự tuyên bố về mình: ‘Ta đã chấm dứt tái sinh vào địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Ta đã chấm dứt tất cả những nơi mất mát, những nơi xấu xa, cõi khổ. Ta là một người nhập lưu! Ta không còn bị tái sinh vào cõi khổ, và chắc chắn sẽ giác ngộ.’

Năm mối nguy hiểm và đe dọa nào vị ấy đã dập tắt? Bất cứ ai giết hại chúng sinh đều tạo ra những nguy hiểm và đe dọa trong đời này và đời sau, và trải qua nỗi đau khổ và buồn rầu về tinh thần. Bất cứ ai từ bỏ việc giết hại chúng sinh đều không tạo ra những nguy hiểm và đe dọa trong đời này hay đời sau, và không trải qua nỗi đau khổ và buồn rầu về tinh thần. Vì vậy, mối nguy hiểm và đe dọa đó đã được dập tắt đối với bất cứ ai từ bỏ việc giết hại chúng sinh.

Bất cứ ai trộm cắp …

Bất cứ ai tà dâm …

Bất cứ ai nói dối …

Bất cứ ai dùng các chất say như bia, rượu đều tạo ra những nguy hiểm và đe dọa trong đời này và đời sau, và trải qua nỗi đau khổ và buồn rầu về tinh thần. Bất cứ ai từ bỏ việc dùng các chất say như bia, rượu đều không tạo ra những nguy hiểm và đe dọa trong đời này hay đời sau, và không trải qua nỗi đau khổ và buồn rầu về tinh thần. Vì vậy, mối nguy hiểm và đe dọa đó đã được dập tắt đối với bất cứ ai từ bỏ việc dùng các chất say như bia, rượu.

Đó là năm mối nguy hiểm và đe dọa vị ấy đã dập tắt.

Bốn yếu tố của sự nhập lưu nào vị ấy có? Đó là khi một vị thánh đệ tử có niềm tin (experiential confidence / tín, niềm tin trong sạch, vững chắc dựa trên sự hiểu biết và kinh nghiệm thực chứng, không phải đức tin mù quáng) vững chắc vào Đức Phật: ‘Đức Thế Tôn đó là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’

Vị ấy có niềm tin vững chắc vào giáo pháp: ‘Giáo pháp được Đức Thế Tôn khéo giảng dạy—thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, mời đến để thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.’

Vị ấy có niềm tin vững chắc vào Tăng đoàn: ‘Tăng đoàn các đệ tử của Đức Phật đang thực hành con đường tốt đẹp, chân thật, có hệ thống và đúng đắn. Bao gồm bốn đôi, tám bậc cá nhân. Đây là Tăng đoàn các đệ tử của Đức Phật xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được tiếp đón, xứng đáng được bố thí, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời.’

giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức, sự trong sạch và hoàn thiện về giới luật) của một vị thánh đệ tử được các bậc thánh yêu mến, không bị phá vỡ, không tỳ vết, không nhơ bẩn, và không bị tổn hại, mang tính giải thoát, được người trí khen ngợi, không bị hiểu sai, và dẫn đến định (immersion / samādhi, sự tập trung tâm ý vào một đối tượng duy nhất, trạng thái tâm vắng lặng, không xao lãng). Đó là bốn yếu tố của sự nhập lưu vị ấy có.

Khi một vị thánh đệ tử đã dập tắt năm mối nguy hiểm và đe dọa này, và có bốn yếu tố của sự nhập lưu này, vị ấy có thể, nếu muốn, tự tuyên bố về mình: ‘Ta đã chấm dứt tái sinh vào địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Ta đã chấm dứt tất cả những nơi mất mát, những nơi xấu xa, cõi khổ. Ta là một người nhập lưu! Ta không còn bị tái sinh vào cõi khổ, và chắc chắn sẽ giác ngộ.’"

(VII) (27) Sợ Hãi Hận Thù (1)

1. Rồi gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi xuống một bên:

2. - Này Gia chủ, khi nào năm sợ hãi hận thù của vị Thánh đệ tử được chỉ tức, thời vị ấy thành tựu được bốn Dự lưu phần. Nếu vị ấy muốn, có thể tuyên bố về ngã đối với tự ngã: “Ðịa ngục đối với ta được đoạn tận, loài bàng sanh đối với ta được đoạn tận, cõi ngạ quỷ đối với ta được đoạn tận, cõi dữ, ác thú, đọa xứ đối với ta được đoạn tận. Ta là vị Dự lưu, không còn thối đọa, chắc chắn đạt đến Chánh giác”.

3. Thế nào là năm sợ hãi hận thù được chỉ tức?

Này Gia chủ, sợ hãi hận thù do sát sanh, vì duyên sát sanh, đưa đến trong hiện tại; sợ hãi hận thù đưa đến trong tương lai, kể cả tâm khổ, tâm ưu người ấy cảm thọ. Từ bỏ sát sanh, sợ hãi hận thù không đưa đến trong hiện tại, sợ hãi hận thù không đưa đến trong tương lai, kể cả không có tâm khổ, tâm ưu người ấy cảm thọ… Ðối với vị từ bỏ sát sanh, như vậy sợ hãi hận thù được nhiếp phục. Này Gia chủ, sợ hãi hận thù do lấy của không cho, vì duyên lấy của không cho đưa đến trong hiện tại; sợ hãi hận thù đưa đến trong tương lai, kể cả tâm khổ, tâm ưu người ấy cảm thọ… Ðối với vị từ bỏ lấy của không cho, như vậy sự sợ hãi hận thùược nhiếp phục.

Này Gia chủ, sợ hãi hận thù do sống tà hạnh trong các dục, vì duyên sống tà hạnh trong các dục đưa đến trong hiện tại; sợ hãi hận thù đưa đến trong tương lai, kể cả tâm khổ, tâm ưu người ấy cảm thọ… Ðối với vị từ bỏ sống tà hạnh trong các dục, như vậy sợ hãi hận thù được nhiếp phục.

Này Gia chủ, sợ hãi hận thù do nói láo, vì duyên nói láo đưa đến trong hiện tại; sự sợ hãi hận thù đưa đến trong tương lai, kể cả tâm khổ, tâm ưu người ấy cảm thọ… Ðối với vị từ bỏ nói láo, như vậy sợ hãi hận thù được nhiếp phục.

Này Gia chủ, sợ hãi hận thù do đắm say rượu men, rượu nấu, vì duyên đắm say rượu men, rượu nấu đưa đến trong hiện tại; sự sợ hãi hận thù đưa đến trong tương lai, kể cả tâm khổ, tâm ưu người ấy cảm thọ… Ðối với vị từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu, như vậy sợ hãi hận thù được nhiếp phục.

Năm sự sợ hãi hận thù này được nhiếp phục.

4. Thế nào là bốn Dự lưu phần được đầy đủ?

Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử, đầy đủ lòng tin tuyệt đối với đức Phật: “Ðây là Thế Tôn, bậc ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn”.

Vị ấy đầy đủ lòng tin tuyệt đối với Pháp: “Ðây là Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, do người trí tự mình giác hiểu”.

Vị ấy đầy đủ lòng tin tuyệt đối đối với chúng Tăng: “Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Thiên hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Trực hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Chánh hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Như pháp hạnh, tức là bốn đôi tám chúng. Chúng Tăng đệ tử này của Thế Tôn, đáng được cung kính, đang được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là vô thượng phước điền ở trên đời. Các vị ấy đầy đủ các giới đức được bậc Thánh quý mến, không bị bể vụn, không bị hủy hoại, không có tỳ vết, không có vết nhơ, đưa đến tự do, được người trí tán thán, không bị nhiễm trước, đưa đến Thiền định. Bốn Dự lưu phần này được thành tựu.

AN 9.28 Nguy Hiểm và Đe Dọa (Thứ Hai) Dutiyaverasutta

"Này các Tỷ kheo, khi một vị thánh đệ tử đã dập tắt năm mối nguy hiểm và đe dọa, và có bốn yếu tố của sự nhập lưu, vị ấy có thể, nếu muốn, tự tuyên bố về mình: ‘Ta đã chấm dứt tái sinh vào địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Ta đã chấm dứt tất cả những nơi mất mát, những nơi xấu xa, cõi khổ. Ta là một người nhập lưu! Ta không còn bị tái sinh vào cõi khổ, và chắc chắn sẽ giác ngộ.’

Năm mối nguy hiểm và đe dọa nào vị ấy đã dập tắt? Bất cứ ai giết hại chúng sinh đều tạo ra những nguy hiểm và đe dọa trong đời này và đời sau, và trải qua nỗi đau khổ và buồn rầu về tinh thần. Bất cứ ai từ bỏ việc giết hại chúng sinh đều không tạo ra những nguy hiểm và đe dọa trong đời này hay đời sau, và không trải qua nỗi đau khổ và buồn rầu về tinh thần. Vì vậy, mối nguy hiểm và đe dọa đó đã được dập tắt đối với bất cứ ai từ bỏ việc giết hại chúng sinh.

Bất cứ ai trộm cắp … tà dâm … nói dối … Bất cứ ai dùng các chất say như bia, rượu đều tạo ra những nguy hiểm và đe dọa trong đời này và đời sau, và trải qua nỗi đau khổ và buồn rầu về tinh thần. Bất cứ ai từ bỏ việc dùng các chất say như bia, rượu đều không tạo ra những nguy hiểm và đe dọa trong đời này hay đời sau, và không trải qua nỗi đau khổ và buồn rầu về tinh thần. Vì vậy, mối nguy hiểm và đe dọa đó đã được dập tắt đối với bất cứ ai từ bỏ việc dùng các chất say như bia, rượu. Đó là năm mối nguy hiểm và đe dọa vị ấy đã dập tắt.

Bốn yếu tố của sự nhập lưu nào vị ấy có? Khi một vị thánh đệ tử có niềm tin vững chắc vào Đức Phật … giáo pháp … Tăng đoàn … Và giới đức của một vị thánh đệ tử được các bậc thánh yêu mến, không bị phá vỡ, không tỳ vết, không nhơ bẩn, và không bị tổn hại, mang tính giải thoát, được người trí khen ngợi, không bị hiểu sai, và dẫn đến định. Đó là bốn yếu tố của sự nhập lưu vị ấy có.

Khi một vị thánh đệ tử đã dập tắt năm mối nguy hiểm và đe dọa này, và có bốn yếu tố của sự nhập lưu này, vị ấy có thể, nếu muốn, tự tuyên bố về mình: ‘Ta đã chấm dứt tái sinh vào địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Ta đã chấm dứt tất cả những nơi mất mát, những nơi xấu xa, cõi khổ. Ta là một người nhập lưu! Ta không còn bị tái sinh vào cõi khổ, và chắc chắn sẽ giác ngộ.’"

(VIII) (28) Sợ Hãi Hận Thù (2)

(Thế Tôn thuyết lại kinh 26 cho các Tỷ-kheo).

AN 9.29 Cơ Sở Của Sự Oán Giận Āghātavatthusutta

“Này các Tỷ kheo, có chín cơ sở của sự oán giận. Chín cơ sở nào? Nghĩ rằng: ‘Họ đã làm điều sai trái với tôi,’ các ông nuôi dưỡng sự oán giận. Nghĩ rằng: ‘Họ đang làm điều sai trái với tôi’ … ‘Họ sẽ làm điều sai trái với tôi’ … ‘Họ đã làm điều sai trái với người tôi yêu mến’ … ‘Họ đang làm điều sai trái với người tôi yêu mến’ … ‘Họ sẽ làm điều sai trái với người tôi yêu mến’ … ‘Họ đã giúp đỡ người tôi không thích’ … ‘Họ đang giúp đỡ người tôi không thích’ … Nghĩ rằng: ‘Họ sẽ giúp đỡ người tôi không thích,’ các ông nuôi dưỡng sự oán giận. Đó là chín cơ sở của sự oán giận.”

(IX) (29) Xung Ðột Sự

1. - Này các Tỷ-kheo, có chín xung đột sự. Thế nào là chín?

2. “Vị ấy đã làm hại tôi”, xung đột khởi lên. “Vị ấy đang làm hại tôi”, xung đột khởi lên. “Vị ấy sẽ làm hại tôi”, xung đột khởi lên. “Vị ấy đã làm hại người tôi thương, tôi mến”… “Vị ấy đang làm hại người tôi thương, tôi mến”… “Vị ấy sẽ làm hại người tôi thương, tôi mến”, xung đột khởi lên. “Vị ấy đã làm lợi cho người tôi không thương, không mến”… “Vị ấy đang làm lợi…” Vị ấy sẽ làm lợi cho người tôi không thương, không mến”, xung đột khởi lên.

Này các Tỷ-kheo, đây là chín xung đột sự.

AN 9.30 Loại Bỏ Sự Oán Giận Āghātapaṭivinayasutta

“Này các Tỷ kheo, có chín phương pháp này để loại bỏ sự oán giận. Chín phương pháp nào? Nghĩ rằng: ‘Họ đã làm hại tôi, nhưng tôi có thể làm gì được chứ?’ các ông loại bỏ sự oán giận. Nghĩ rằng: ‘Họ đang làm hại tôi …’ … ‘Họ sẽ làm hại tôi …’ … ‘Họ đã làm hại người tôi yêu mến …’ … ‘Họ đang làm hại người tôi yêu mến …’ ‘Họ sẽ làm hại người tôi yêu mến …’ … ‘Họ đã giúp đỡ người tôi không thích …’ … ‘Họ đang giúp đỡ người tôi không thích …’ … Nghĩ rằng: ‘Họ sẽ giúp đỡ người tôi không thích, nhưng tôi có thể làm gì được chứ?’ các ông loại bỏ sự oán giận. Đó là chín phương pháp để loại bỏ sự oán giận.”

(X) (30) Ðiều Phục Xung Ðột Sự

1. - Này các Tỷ-kheo, có chín điều phục xung đột sự. Thế nào là chín? “Vị ấy đã làm hại tôi; có ích lợi gì mà nghĩ như vậy”, nhờ vậy xung đột được điều phục. “Vị ấy sẽ làm hại tôi; có ích lợi gì mà nghĩ như vậy”, nhờ vậy xung đột được điều phục. “Vị ấy đã làm hại người tôi thương mến; có ích lợi gì mà nghĩ như vậy”, nhờ vậy xung đột được điều phục. “Vị ấy đã làm hại… vị ấy làm hại người tôi thương tôi mến; có ích lợi gì mà nghĩ như vậy”, nhờ vậy xung đột được điều phục. “Vị ấy đã làm lợi cho người tôi không thương, không mến”… “Vị ấy đang làm lợi… vị ấy sẽ làm lợi cho người tôi không thương, không mến, có lợi ích gì mà nghĩ như vậy”, nhờ vậy xung đột được điều phục

Này các Tỷ-kheo, đây là chín xung đột sự được điều phục.

AN 9.31 Những Sự Chấm Dứt Tuần Tự Anupubbanirodhasutta

"Này các Tỷ kheo, có chín sự chấm dứt tuần tự này. Chín sự nào?

Đối với người đã đạt sơ thiền, các nhận thức về dục vọng đã chấm dứt.

Đối với người đã đạt nhị thiền (second absorption / tầng thiền định thứ hai, đặc trưng bởi sự vắng mặt của tầm và tứ, chỉ còn hỷ, lạc, và nhất tâm), sự có tầm có tứ (placing the mind and keeping it connected / chủ động hướng ý nghĩ đến đối tượng và giữ sự quan sát đối tượng đó) đã chấm dứt.

Đối với người đã đạt tam thiền (third absorption / tầng thiền định thứ ba, đặc trưng bởi sự xả ly hỷ, chỉ còn lạc và nhất tâm), niềm vui (rapture / hỷ, một trạng thái vui sướng, phấn khởi phát sinh trong thiền định) đã chấm dứt.

Đối với người đã đạt tứ thiền (fourth absorption / tầng thiền định thứ tư, đặc trưng bởi sự xả ly lạc, chỉ còn xả và nhất tâm, hơi thở dừng lại), hơi thở đã chấm dứt.

Đối với người đã đạt cõi Không Vô Biên Xứ, nhận thức về hình sắc đã chấm dứt.

Đối với người đã đạt cõi Thức Vô Biên Xứ, nhận thức về cõi Không Vô Biên Xứ đã chấm dứt.

Đối với người đã đạt cõi Vô Sở Hữu Xứ, nhận thức về cõi Thức Vô Biên Xứ đã chấm dứt.

Đối với người đã đạt cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, nhận thức về cõi Vô Sở Hữu Xứ đã chấm dứt.

Đối với người đã đạt diệt tận định (cessation of perception and feeling / trạng thái thiền định cao nhất, nơi mọi nhận thức và cảm thọ đều chấm dứt hoàn toàn), nhận thức và cảm thọ đã chấm dứt.

Đó là chín sự chấm dứt tuần tự."

(XI) (31) Chín Thứ Ðệ Diệt

1. - Này các Tỷ-kheo, có chín thứ đệ diệt. Thế nào là chín?

2. Thành tựu sơ Thiền, các dục tưởng bị đoạn diệt. Thành tựu đệ nhị Thiền, các tầm tứ bị đoạn diệt. Thành tựu đệ tam Thiền, hỷ bị đoạn diệt. Thành tựu đệ tứ Thiền, hơi thở vào, hơi thở ra bị đoạn diệt. Thành tựu Không vô biên xứ, sắc tưởng bị đoạn diệt. Thành tựu Thức vô biên xứ, Không vô biên xứ tưởng bị đoạn diệt. Thành tựu Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Vô sở hữu xứ bị đoạn diệt. Thành tựu Diệt thọ tưởng định, các tưởng và các cảm thọ bị đoạn diệt.

Này các Tỷ-kheo, đây là chín thứ đệ diệt.