Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm Về Sự Tương Tự

AN 9.42 Chật Hẹp Sambādhasutta

Một thời Tôn giả Ānanda trú gần Kosambī, tại tu viện Ghosita. Khi ấy, Tôn giả Udāyī đến gặp Tôn giả Ānanda, chào hỏi Tôn giả. Sau khi chào hỏi và nói chuyện thân mật, Tôn giả Udāyī ngồi xuống một bên và nói với Tôn giả Ānanda: "Thưa Tôn giả, vị trời Pañcālacaṇḍa đã nói thế này:

‘Lối thoát giữa chốn chật hẹp
đã được khám phá bởi Đức Phật trí tuệ bao la,
người đã giác ngộ thiền định (absorption / jhāna, trạng thái tâm nhập định sâu sắc, vắng lặng các chướng ngại),
bậc Thánh, con ngưu vương đơn độc.’

Vậy, thưa Tôn giả, thế nào là sự chật hẹp, và thế nào là lối thoát giữa chốn chật hẹp mà Đức Phật đã nói đến?"

"Thưa Tôn giả, năm dục trưởng dưỡng (five kinds of sensual stimulation / pañca kāmaguṇā, năm đối tượng của giác quan mang tính dục lạc: sắc, thanh, hương, vị, xúc khả ái) này được Đức Phật gọi là ‘sự chật hẹp’. Năm loại nào? Các hình ảnh khả ái, đáng mong muốn, dễ chịu, thú vị, thuộc về dục lạc và khơi gợi ham muốn, được nhận biết qua mắt. Các âm thanh được nhận biết qua tai … Các mùi hương được nhận biết qua mũi … Các vị được nhận biết qua lưỡi … Các xúc chạm được nhận biết qua thân, khả ái, đáng mong muốn, dễ chịu, thú vị, thuộc về dục lạc và khơi gợi ham muốn. Đây là năm dục trưởng dưỡng được Đức Phật gọi là ‘sự chật hẹp’.

Này Tôn giả, một vị khất sĩ, hoàn toàn ly dục… chứng và trú Sơ thiền. Đến mức độ này, Đức Phật nói về một lối thoát giữa chốn chật hẹp một cách tương đối. Nhưng nó vẫn còn chật hẹp. Chật hẹp bởi điều gì? Bất cứ điều gì thuộc về có tầm có tứ(placing the mind and keeping it connected / chủ động hướng ý nghĩ đến đối tượng và giữ sự quan sát đối tượng đó) chưa chấm dứt, đó là sự chật hẹp ở đó.

Lại nữa, một vị khất sĩ, khi tầm và tứ đã lắng dịu… chứng và trú Nhị thiền. Đến mức độ này, Đức Phật nói về một lối thoát giữa chốn chật hẹp một cách tương đối. Nhưng nó vẫn còn chật hẹp. Chật hẹp bởi điều gì? Bất cứ Niềm vui (rapture / Hỷ / niềm vui dâng trào khi tâm định tĩnh) nào chưa chấm dứt, đó là sự chật hẹp ở đó.

Lại nữa, một vị khất sĩ, với sự phai nhạt của niềm vui… chứng và trú Tam thiền. Đến mức độ này, Đức Phật nói về việc tạo ra một lối thoát giữa chốn chật hẹp một cách tương đối. Nhưng nó vẫn còn chật hẹp. Chật hẹp bởi điều gì? Bất cứ An ổn (pleasure / Lạc / sự dễ chịu, thoải mái về thân và tâm) với xả nào chưa chấm dứt, đó là sự chật hẹp ở đó.

Lại nữa, một vị khất sĩ, từ bỏ an ổn và khổ đau… chứng và trú Tứ thiền. Đến mức độ này, Đức Phật nói về một lối thoát giữa chốn chật hẹp một cách tương đối. Nhưng nó vẫn còn chật hẹp. Chật hẹp bởi điều gì? Bất cứ nhận thức (perceptions / tưởng, nhận biết-phân biệt và gắn nhãn) nào về sắc chưa chấm dứt, đó là sự chật hẹp ở đó.

Lại nữa, một vị khất sĩ, vượt hoàn toàn các nhận thức về sắc, với sự chấm dứt của các nhận thức về đối ngại, không chú tâm đến các nhận thức về sự đa dạng, ý thức rằng ‘không gian là vô biên’, chứng và trú Không Vô Biên Xứ. Đến mức độ này, Đức Phật nói về một lối thoát giữa chốn chật hẹp một cách tương đối. Nhưng nó vẫn còn chật hẹp. Chật hẹp bởi điều gì? Bất cứ nhận thức nào về Không Vô Biên Xứ chưa chấm dứt, đó là sự chật hẹp ở đó.

Lại nữa, một vị khất sĩ, vượt hoàn toàn Không Vô Biên Xứ, ý thức rằng ‘thức là vô biên’, chứng và trú Thức Vô Biên Xứ. Đến mức độ này, Đức Phật nói về một lối thoát giữa chốn chật hẹp một cách tương đối. Nhưng nó vẫn còn chật hẹp. Chật hẹp bởi điều gì? Bất cứ nhận thức nào về Thức Vô Biên Xứ chưa chấm dứt, đó là sự chật hẹp ở đó.

Lại nữa, một vị khất sĩ, vượt hoàn toàn Thức Vô Biên Xứ, ý thức rằng ‘không có gì cả’, chứng và trú Vô Sở Hữu Xứ. Đến mức độ này, Đức Phật nói về một lối thoát giữa chốn chật hẹp một cách tương đối. Nhưng nó vẫn còn chật hẹp. Chật hẹp bởi điều gì? Bất cứ nhận thức nào về Vô Sở Hữu Xứ chưa chấm dứt, đó là sự chật hẹp ở đó.

Lại nữa, một vị khất sĩ, vượt hoàn toàn Vô Sở Hữu Xứ, chứng và trú Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Đến mức độ này, Đức Phật nói về một lối thoát giữa chốn chật hẹp một cách tương đối. Nhưng nó vẫn còn chật hẹp. Chật hẹp bởi điều gì? Bất cứ nhận thức nào về Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ chưa chấm dứt, đó là sự chật hẹp ở đó.

Lại nữa, một vị khất sĩ, vượt hoàn toàn Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, chứng và trú Diệt Thọ Tưởng Định. Và, sau khi thấy bằng Trí tuệ (wisdom / Tuệ / sự hiểu biết đúng đắn, thấu suốt thực tại), các lậu hoặc (defilements / āsava, những ô nhiễm tiềm ẩn làm rỉ chảy tâm, khiến chúng sinh luân hồi) của vị ấy được đoạn tận. Đến mức độ này, Đức Phật nói về một lối thoát giữa chốn chật hẹp một cách dứt khoát."

V. Phẩm Pancala

(I) (42) Pancalacanda

1. Như vầy tôi nghe:

Một thời Tôn giả Ananda trú ở Kosambi, tại khu vườn Ghosita. Rồi Tôn giả Udàyi đi đến Tôn giả Ananda, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Ananda những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Udàyi nói với Tôn giả Ananda:

− Thưa Hiền giả, lời này được Thiên tử Pancàlacanda nói như sau:

“Bậc thiện trí tìm được,
Giải thoát trong triền phược,
Vị giác tỉnh với Thiền,
Bậc giác giả Mâu-ni,
Bậc từ bỏ, không chấp
Bậc anh hùng ẩn sĩ.”

Thưa Hiền giả, thế nào là triền phược? Thế nào là giải thoát khỏi triền phược được Thế Tôn nói đến?

2. - Này Hiền giả, năm dục trưởng dưỡng này được Thế Tôn gọi là triền phược. Thế nào là năm?

Các sắc do mắt nhận thức, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn; các tiếng do tai nhận thức… các hương do mũi nhận thức… các vị do lưỡi nhận thức… các xúc do thân nhận thức, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này Hiền giả, năm dục trưởng dưỡng này là triền phược, được Thế Tôn nói đến.

3. Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo ly các dục… chứng và t rú sơ Thiền. Cho đến như vậy, này Hiền giả, là giải thoát khỏi triền phược được Thế Tôn nói đến với pháp môn. Nhưng ở đây vẫn có triền phược. Và ở đây, triền phược ấy là gì?

Cái ở đây là tầm và tứ chưa diệt. Chính cái ấy ở đây là triền phược.

4. Lại nữa, này Hiền giả, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ… chứng đạt và an trú Thiền thứ hai. Cho đến như vậy, này Hiền giả, là giải thoát khỏi triền phược được Thế Tôn nói đến với pháp môn. Nhưng ở đây vẫn có triền phược. Và ở đây triền phược ấy là gì?

Cái ở đây là hỷ chưa diệt. Chính cái ấy ở đây là triền phược.

5. Lại nữa, này Hiền giả, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả… chứng đạt và an trú Thiền thứ ba. Cho đến như vậy, này Hiền giả, là giải thoát khỏi triền phược được Thế Tôn nói đến với pháp môn. Nhưng ở đây vẫn có triền phược. Và ở đây triền phược ấy là gì?

Cái ở đây là xả lạc chưa diệt. Chính cái ấy ở đây là triền phược.

6. Lại nữa, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo đoạn lạc… chứng và trú Thiền thứ tư. Cho đến như vậy, này Hiền giả là giải thoát khỏi triền phược được Thế Tôn nói đến với pháp môn. Nhưng ở đây vẫn có triền phược. Và ở đây, triền phược ấy là gì?

Cái ở đây là sắc tưởng chưa diệt. Chính cái ấy ở đây là triền phược.

7. Lại nữa, này Hiền giả, Tỷ-kheo vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt các đối ngại tưởng, không tác ý đến sai biệt tưởng, biết rằng: “Hư không là vô biên, chứng đạt và an trú Không vô biên xứ. Cho đến như vậy, này Hiền giả là giải thoát khỏi triền phược được Thế Tôn nói đến với pháp môn. Nhưng ở đây vẫn có triền phược. Và ở đây, triền phược ấy là gì?

Cái ở đây là Không vô biên xứ chưa diệt. Chính cái ấy ở đây là triền phược.

8. Lại nữa, này Hiền giả, Tỷ-kheo biết rằng: “Thức là vô biên”, vượt qua Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ. Cho đến như vậy, thưa Hiền giả là giải thoát khỏi triền phược được Thế Tôn nói đến với pháp môn. Nhưng ở đây vẫn có triền phược. Và ở đây, triền phược ấy là gì?

Cái ở đây là Thức vô biên xứ chưa diệt. Chính cái ấy ở đây là triền phược.

9. Lại nữa, thưa Hiền giả, Tỷ-kheo vượt Thức là vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: “Không có vật gì”, chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ. Cho đến như vậy, thưa Hiền giả là giải thoát khỏi triền phược được Thế Tôn nói đến với pháp môn. Nhưng ở đây vẫn có triền phược. Và ở đây, triền phược ấy là gì?

Cái ở đây là Vô sở hữu xứ chưa diệt. Chính cái ấy ở đây là triền phược.

10. Lại nữa, này Hiền giả, Tỷ-kheo vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Cho đến như vậy, thưa Hiền giả là giải thoát khỏi triền phược được Thế Tôn nói đến với pháp môn. Nhưng ở đây vẫn có triền phược. Và ở đây, triền phược ấy là gì? Cái ở đây là Phi tưởng phi phi tưởng xứ chưa diệt. Chính cái ấy ở đây là triền phược.

11. Lại nữa, thưa Hiền giả, Tỷ-kheo vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định. Sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn diệt. Cho đến như vậy, này Hiền giả là giải thoát khỏi triền phược được Thế Tôn nói đến với phi pháp môn.

AN 9.43 Người Thân Chứng Kāyasakkhīsutta

“Thưa Tôn giả, người ta nói về một người được gọi là ‘người thân chứng’. Thế nào là người thân chứng mà Đức Phật đã nói đến?”

"Trước hết, một vị khất sĩ, hoàn toàn ly dục… chứng và trú Sơ thiền. Vị ấy thiền quán, trực tiếp trải nghiệm cảnh giới đó về mọi phương diện. Đến mức độ này, Đức Phật nói về người thân chứng một cách tương đối.

Lại nữa, một vị khất sĩ, khi tầm và tứ đã lắng dịu, chứng và trú Nhị thiền… Tam thiền… Tứ thiền. Vị ấy thiền quán, trực tiếp trải nghiệm cảnh giới đó về mọi phương diện. Đến mức độ này, Đức Phật nói về người thân chứng một cách tương đối.

Lại nữa, một vị khất sĩ, vượt hoàn toàn các nhận thức về sắc, với sự chấm dứt của các nhận thức về đối ngại, không chú tâm đến các nhận thức về sự đa dạng, ý thức rằng ‘không gian là vô biên’, chứng và trú Không Vô Biên Xứ. Vị ấy thiền quán, trực tiếp trải nghiệm cảnh giới đó về mọi phương diện. Đến mức độ này, Đức Phật nói về người thân chứng một cách tương đối. Lại nữa, một vị khất sĩ chứng và trú Thức Vô Biên Xứ… Vô Sở Hữu Xứ… Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ…

Lại nữa, một vị khất sĩ, vượt hoàn toàn Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, chứng và trú Diệt Thọ Tưởng Định. Và, sau khi thấy bằng Trí tuệ, các lậu hoặc của vị ấy được đoạn tận. Vị ấy thiền quán, trực tiếp trải nghiệm cảnh giới đó về mọi phương diện. Đến mức độ này, Đức Phật nói về người thân chứng một cách dứt khoát."

(II) (43) Vị Thân Chứng

1. - “Thân chứng, thân chứng”, này Hiền giả, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, này Hiền giả, thân chứng được Thế Tôn nói đến?

2. - Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo ly dục… chứng và trú Thiền thứ nhất. Như thế nào, như thế nào, sau khi cảm xúc với thân, vị ấy như vậy, như vậy an trú xứ ấy. Cho đến như vậy, này Hiền giả, thân chứng được Thế Tôn nói đến pháp môn.

3. - Lại nữa, này các Hiền giả, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ… Thiền thứ hai… Thiền thứ ba… Chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Như thế nào, như thế nào, sau khi cảm xúc với thân, vị ấy như vậy, như vậy an trú xứ ấy. Cho đến như vậy, này Hiền giả, thân chứng được Thế Tôn nói đến pháp môn.

4. - Lại nữa, này các Hiền giả, Tỷ-kheo, sau khi vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt các tưởng đối ngại, không tác ý đến các tưởng sai biệt, biết rằng: “Hư không là vô biên”, chứng đạt và an trú Không vô biên xứ. Như thế nào, như thế nào, sau khi cảm xúc với thân, vị ấy như vậy, như vậy an trú xứ ấy. Cho đến như vậy, này Hiền giả, thân chứng được Thế Tôn nói đến pháp môn… (như trên) …

5. - Lại nữa, này các Hiền giả, Tỷ-kheo, sau khi vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định. Như thế nào, như thế nào, sau khi cảm xúc với thân, vị ấy như vậy, như vậy an trú xứ ấy. Cho đến như vậy, này Hiền giả, thân chứng được Thế Tôn nói đến pháp môn.

AN 9.44 Giải Thoát Bằng Trí Tuệ Paññāvimuttasutta

“Thưa Tôn giả, người ta nói về một người được gọi là ‘người giải thoát bằng trí tuệ’. Thế nào là người giải thoát bằng trí tuệ mà Đức Phật đã nói đến?”

"Trước hết, một vị khất sĩ, hoàn toàn ly dục… chứng và trú Sơ thiền. Và vị ấy hiểu điều đó bằng Trí tuệ. Đến mức độ này, Đức Phật nói về người giải thoát bằng trí tuệ một cách tương đối. …

Lại nữa, một vị khất sĩ, vượt hoàn toàn Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, chứng và trú Diệt Thọ Tưởng Định. Và, sau khi thấy bằng Trí tuệ, các lậu hoặc của vị ấy được đoạn tận. Và vị ấy hiểu điều đó bằng Trí tuệ. Đến mức độ này, Đức Phật nói về người giải thoát bằng trí tuệ một cách dứt khoát."

(III) (44) Tuệ Giải Thoát

1. - “Tuệ giải thoát, tuệ giải thoát”, này Hiền giả, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, này Hiền giả, tuệ giải thoát được Thế Tôn nói đến?

2. Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo ly dục… chứng đạt và an trú sơ Thiền; với trí tuệ vị ấy rõ biết. Cho đến như vậy, này các Hiền giả, tuệ giải thoát được Thế Tôn nói đến với pháp môn… (như trên).

3. Lại nữa, này Hiền giả, Tỷ-kheo vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định; sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn tận. Với trí tuệ, vị ấy rõ biết. Cho đến như vậy, này Hiền giả, tuệ giải thoát được Thế Tôn nói đến với phi pháp môn.

AN 9.45 Giải Thoát Hai Phần Ubhatobhāgavimuttasutta

“Thưa Tôn giả, người ta nói về một người được gọi là ‘người giải thoát hai phần’. Thế nào là người giải thoát hai phần mà Đức Phật đã nói đến?”

"Trước hết, một vị khất sĩ, hoàn toàn ly dục… chứng và trú Sơ thiền. Vị ấy thiền quán, trực tiếp trải nghiệm cảnh giới đó về mọi phương diện. Và vị ấy hiểu điều đó bằng Trí tuệ. Đến mức độ này, Đức Phật nói về người giải thoát hai phần một cách tương đối. …

Lại nữa, một vị khất sĩ, vượt hoàn toàn Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, chứng và trú Diệt Thọ Tưởng Định. Và, sau khi thấy bằng Trí tuệ, các lậu hoặc của vị ấy được đoạn tận. Vị ấy thiền quán, trực tiếp trải nghiệm cảnh giới đó về mọi phương diện. Và vị ấy hiểu điều đó bằng Trí tuệ. Đến mức độ này, Đức Phật nói về người giải thoát hai phần một cách dứt khoát."

(IV) (45) Giải Thoát Cả Hai Phần

1. - “Giải thoát cả hai phần, giải thoát cả hai phần”, này Hiền giả, được nói đến. Cho đến như thế nào, này Hiền giả, giải thoát cả hai phần được Thế Tôn nói đến?

2. - Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo ly dục… chứng đạt và an trú sơ Thiền. Như thế nào, như thế nào, sau khi cảm xúc với thân, vị ấy như vậy, như vậy an trú xứ ấy; với trí tuệ, vị ấy rõ biết. Cho đến như vậy, này Hiền giả, là giải thoát cả hai phần được Thế Tôn nói đến với pháp môn… (như trên)… 3. Lại nữa, này Hiền giả, Tỷ-kheo vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định; sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc được diệt trừ. Như thế nào, như thế nào, sau khi cảm xúc với thân, vị ấy như vậy, như vậy an trú xứ ấy; với trí tuệ, vị ấy rõ biết. Cho đến như vậy, này Hiền giả, tuệ giải thoát cả hai phần được Thế Tôn nói đến với phi pháp môn.

AN 9.46 Giáo Pháp Hiện Tại Sandiṭṭhikadhammasutta

“Thưa Tôn giả, người ta nói về ‘một giáo pháp hiện chứng trong hiện tại’. Đức Phật đã nói về một giáo pháp hiện chứng trong hiện tại theo cách nào?”

"Trước hết, một vị khất sĩ, hoàn toàn ly dục… chứng và trú Sơ thiền. Đến mức độ này, Đức Phật nói về giáo pháp hiện chứng trong hiện tại một cách tương đối. …

Lại nữa, một vị khất sĩ, vượt hoàn toàn Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, chứng và trú Diệt Thọ Tưởng Định. Và, sau khi thấy bằng Trí tuệ, các lậu hoặc của vị ấy được đoạn tận. Đến mức độ này, Đức Phật nói về giáo pháp hiện chứng trong hiện tại một cách dứt khoát."

(V) (46) Chính Thực Mình Thấy (1)

− “Pháp là chính thực mình thấy, pháp là thiết thực hiện tại”, này Hiền giả, được nói đến như vậy.

AN 9.47 Niết Bàn Hiện Tại Sandiṭṭhikanibbānasutta

“Thưa Tôn giả, người ta nói rằng ‘niết bàn (extinguishment / Nibbāna, sự dập tắt hoàn toàn khổ đau và nguyên nhân của khổ đau) hiện chứng trong hiện tại’. Đức Phật đã nói niết bàn hiện chứng trong hiện tại theo cách nào?”

"Trước hết, một vị khất sĩ, hoàn toàn ly dục… chứng và trú Sơ thiền. Đến mức độ này, Đức Phật nói rằng niết bàn hiện chứng trong hiện tại một cách tương đối. …

Lại nữa, một vị khất sĩ, vượt hoàn toàn Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, chứng và trú Diệt Thọ Tưởng Định. Và, sau khi thấy bằng Trí tuệ, các lậu hoặc của vị ấy được đoạn tận. Đến mức độ này, Đức Phật nói rằng niết bàn hiện chứng trong hiện tại một cách dứt khoát."

(VI) (47) Chính Thực Mình Thấy (2)

− “Niết-bàn là chính thực mình thấy, Niết-bàn là chính thực mình thấy”, này Hiền giả, được nói đến như vậy.

AN 9.48 Niết Bàn Nibbānasutta

“Thưa Tôn giả, người ta nói về ‘niết bàn’. …”

(VII) (48) Niết Bàn

− “Niết-bàn, Niết-bàn”, này Hiền giả, được nói đến như vậy.

AN 9.49 Viên Tịch Parinibbānasutta

“Thưa Tôn giả, người ta nói về ‘parinibbāna (full extinguishment / viên tịch, sự tịch diệt hoàn toàn, không còn tái sinh sau khi một vị Phật hoặc A-la-hán qua đời)’. …”

(VIII) (49) Hoàn Mãn Niết Bàn

− “Hoàn mãn Niết-bàn, hoàn mãn Niết-bàn”, này Hiền giả, được nói đến như vậy.

AN 9.50 Niết Bàn Từng Phần Tadaṅganibbānasutta

“Thưa Tôn giả, người ta nói về ‘tadaṅganibbāna (extinguishment in a certain respect / niết bàn từng phần, sự dập tắt phiền não tạm thời bằng cách đối trị với các pháp đối nghịch)’. …”

(IX) (50) Hoàn Mãn Niét Bàn

− “Chi phần Niết-bàn, chi phần Niết-bàn”, này Hiền giả, được nói đến như vậy.

AN 9.51 Niết Bàn Trong Đời Này Diṭṭhadhammanibbānasutta

“Thưa Tôn giả, người ta nói về ‘niết bàn trong đời này’. Đức Phật đã nói về niết bàn trong đời này theo cách nào?”

"Trước hết, một vị khất sĩ, hoàn toàn ly dục… chứng và trú Sơ thiền. Đến mức độ này, Đức Phật nói về niết bàn trong đời này một cách tương đối. …

Lại nữa, một vị khất sĩ, vượt hoàn toàn Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, chứng và trú Diệt Thọ Tưởng Định. Và, sau khi thấy bằng Trí tuệ, các lậu hoặc của vị ấy được đoạn tận. Đến mức độ này, Đức Phật nói về niết bàn trong đời này một cách dứt khoát."

(X) (51) Thiết Thực Hiện Tại Niết Bàn

1. - “Thiết thực hiện tại Niết-bàn, Thiết thực hiện tại Niết-bàn”, này Hiền giả, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, này Hiền giả, là thiết thực hiện tại Niết-bàn được Thế Tôn nói đến?

2. - Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo ly dục… chứng đạt và an trú sơ Thiền. Cho đến như vậy, này Hiền giả, là thiết thực hiện tại Niết-bàn được Thế Tôn nói đến với pháp môn.

3. Lại nữa, này Hiền giả, Tỷ-kheo sau khi vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ môĩt cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định, sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc được tận. Cho đến như vậy, này Hiền giả, là thiết thực hiện tại Niết-bàn được Thế Tôn nói đến với phi pháp môn.