Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm Về Lợi Ích

AN 10.1 Mục Đích Là Gì? Kimatthiyasutta

NHƯ VẦY TÔI NGHE. Một thời Thế Tôn trú gần Sāvatthī (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm, vườn cây của thái tử Kỳ-đà), tu viện của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Khi ấy, Tôn giả Ānanda đến hầu Thế Tôn, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên, và bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, mục đích và lợi ích của thiện giới (skillful ethics / ứng dụng đạo đức một cách khéo léo) là gì?”

“Này Ānanda, không hối hận là mục đích và lợi ích của thiện giới.”

“Nhưng mục đích và lợi ích của không hối hận là gì?”

Hân hoan (joy / niềm vui mừng, sự phấn khởi) là mục đích và lợi ích của không hối hận.”

“Nhưng mục đích và lợi ích của hân hoan là gì?”

“Niềm vui (Hỷ (rapture / Niềm vui mãnh liệt, sự thích thú khi thân tâm nhẹ nhàng))…”

“Nhưng mục đích và lợi ích của Niềm vui (Hỷ) là gì?”

Khinh an (tranquility / sự yên ổn của thân và tâm)…”

“Nhưng mục đích và lợi ích của khinh an là gì?”

An lạc (bliss / Lạc, sự sung sướng, hạnh phúc)…”

“Nhưng mục đích và lợi ích của an lạc là gì?”

Định (immersion / samādhi, sự tập trung tâm ý vững chắc vào một đối tượng)…”

“Nhưng mục đích và lợi ích của định là gì?”

Tri kiến như thật (truly knowing and seeing / yathābhūtañāṇadassana, sự thấy biết các pháp đúng như bản chất của chúng)…”

“Nhưng mục đích và lợi ích của tri kiến như thật là gì?”

Nhàm chán và ly tham (disillusionment and dispassion / nibbidā-virāga, sự chán ngán đối với các pháp hữu vi và sự từ bỏ tham ái)…”

“Nhưng mục đích và lợi ích của nhàm chán và ly tham là gì?”

"Giải thoát tri kiến (knowledge and vision of freedom / vimuttiñāṇadassana, sự thấy biết chứng ngộ giải thoát) là mục đích và lợi ích của nhàm chán và ly tham.

Như vậy đó, Ānanda, thiện giới có mục đích và lợi ích là không hối hận. Không hối hận có mục đích và lợi ích là hân hoan. Hân hoan có mục đích và lợi ích là Niềm vui (Hỷ). Niềm vui (Hỷ) có mục đích và lợi ích là khinh an. Khinh an có mục đích và lợi ích là an lạc. An lạc có mục đích và lợi ích là định. Định có mục đích và lợi ích là tri kiến như thật. Tri kiến như thật có mục đích và lợi ích là nhàm chán và ly tham. Nhàm chán và ly tham có mục đích và lợi ích là giải thoát tri kiến. Như vậy đó, Ānanda, thiện giới tuần tự đưa đến mục đích tối thượng."

I. Phẩm Lợi Ích

(I) (1) Ý Nghĩa Gì

1. Như vầy tôi nghe:

Một thời, Thế Tôn trú ở Savatthi, tại Jeta-vana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi Tôn gia Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, các thiện giới có ý nghĩa gì, có lợi ích gì?

− Này Ananda, các thiện giới có ý nghĩa không có hối tiếc, có lợi ích không có hối tiếc.

− Nhưng bạch Thế Tôn, không có hối tiếc có ý nghĩa gì, có lợi ích gì?

− Này Ananda, không có hối tiếc có ý nghĩa gì, có lợi ích gì? Này Ananda, không có hối tiếc có ý nghĩa hân hoan, có lợi ích hân hoan.

− Bạch Thế Tôn, nhưng hân hoan có ý nghĩa gì, có lợi ích gì?

− Này Ananda, hân hoan có ý nghĩa hoan hỷ, có lợi ích hoan hỷ.

− Nhưng bạch Thế Tôn, hoan hỷ có ý nghĩa gì, có lợi ích gì?

− Này Ananda, hoan hỷ có ý nghĩa khinh an, có lợi ích khinh an.

− Nhưng bạch Thế Tôn, khinh an có ý nghĩa gì, có lợi ích gì?

− Này Ananda, khinh an có ý nghĩa an lạc, có ích lợi an lạc.

− Nhưng bạch Thế Tôn, an lạc có ý nghĩa gì, có lợi ích gì? Này Ananda, an lạc có ý nghĩa định, có lợi ích định

− Nhưng bạch Thế Tôn, định có ý nghĩa gì, có lợi ích gì?

− Này Ananda, định có ý nghĩa như thật tri kiến, có lợi ích như thật tri kiến.

− Nhưng bạch Thế Tôn, như thật tri kiến có ý nghĩa gì, có lợi ích gì?

− Này Ananda, như thật tri kiến có ý nghĩa nhàm chán, ly tham, có lợi ích nhàm cán, ly tham.

− Nhưng bạch Thế Tôn, nhàm chán, ly tham có ý nghĩa gì, có lợi ích

Này Ananda, nhàm chán, ly tham có ý nghĩa giải thoát tri kiến, có lợi ích giải thoát tri kiến.

2. Như vậy, này Ananda, các thiện giới có ý nghĩa không hối tiếc, có lợi ích không hối tiếc, không hối tiếc có ý nghĩa hân hoan, có lợi ích hân hoan. Hân hoan có ý nghĩa hoan hỷ, có lợi ích khinh an. Khinh an có ý nghĩa an lạc, có lợi ích an lạc. An lạc có ý nghĩa định, có lợi ích định. Ðịnh có ý nghĩa như thật tri kiến, có lợi ích như thật tri kiến. Như thật tri kiến có ý nghĩa nhàm chán, ly tham, có lợi ích nhàm chán, ly tham. Nhàm chán ly tham có ý nghĩa giải thoát tri kiến, có lợi ích giải thoát tri kiến. Như vậy, này Ananda, các thiện giới thứ lớp dẫn tới tối thượng. Như vậy, này Ananda, các thiện giới thứ lớp đưa đến tối thượng.

AN 10.2 Ước Nguyện Cetanākaraṇīyasutta

"Này các Tỷ kheo, người có giới, đã thành tựu giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức), không cần phải ước nguyện: ‘Mong rằng tôi không hối hận!’ Đó là điều tự nhiên rằng người có giới thì không hối hận. Khi không hối hận, vị ấy không cần phải ước nguyện: ‘Mong rằng tôi cảm thấy hân hoan!’ Đó là điều tự nhiên rằng sự hân hoan khởi lên khi không hối hận. Khi cảm thấy hân hoan, vị ấy không cần phải ước nguyện: ‘Mong rằng tôi trải nghiệm Niềm vui (Hỷ)!’ Đó là điều tự nhiên rằng Niềm vui (Hỷ) phát sinh khi có sự hân hoan. Khi tâm tràn ngập Niềm vui (Hỷ), vị ấy không cần phải ước nguyện: ‘Mong rằng thân tôi trở nên khinh an!’ Đó là điều tự nhiên rằng thân trở nên khinh an khi tâm tràn ngập Niềm vui (Hỷ). Khi thân khinh an, vị ấy không cần phải ước nguyện: ‘Mong rằng tôi cảm thấy an lạc!’ Đó là điều tự nhiên cảm thấy an lạc khi thân khinh an. Khi cảm thấy an lạc, vị ấy không cần phải ước nguyện: ‘Mong rằng tâm tôi được định tĩnh (samādhi)!’ Đó là điều tự nhiên tâm được định tĩnh khi cảm thấy an lạc. Khi tâm được định tĩnh, vị ấy không cần phải ước nguyện: ‘Mong rằng tôi tri kiến như thật!’ Đó là điều tự nhiên có được tri kiến như thật khi tâm được định tĩnh. Khi tri kiến như thật, vị ấy không cần phải ước nguyện: ‘Mong rằng tôi trở nên nhàm chán và ly tham!’ Đó là điều tự nhiên trở nên nhàm chán và ly tham khi tri kiến như thật. Khi nhàm chán và ly tham, vị ấy không cần phải ước nguyện: ‘Mong rằng tôi chứng ngộ giải thoát tri kiến!’ Đó là điều tự nhiên chứng ngộ giải thoát tri kiến khi nhàm chán và ly tham.

Như vậy đó, này các Tỷ kheo, giải thoát tri kiến có mục đích và lợi ích là nhàm chán và ly tham. Nhàm chán và ly tham có mục đích và lợi ích là tri kiến như thật. Tri kiến như thật có mục đích và lợi ích là định. Định có mục đích và lợi ích là an lạc. An lạc có mục đích và lợi ích là khinh an. Khinh an có mục đích và lợi ích là Niềm vui (Hỷ). Niềm vui (Hỷ) có mục đích và lợi ích là sự hân hoan. Sự hân hoan có mục đích và lợi ích là không hối hận. Không hối hận có mục đích và lợi ích là thiện giới. Như vậy đó, này các Tỷ kheo, các thiện pháp tuôn chảy và làm viên mãn cho nhau, để đi từ bờ bên này sang bờ bên kia."

(II) (2) Nghĩ Với Dụng Ý

1. - Này các Tỷ-kheo, với người có giới, có giới đầy đủ, không cần phải làm với dụng ý rằng: “Mong rằng không hối tiếc sẽ sanh khởi nơi ta”. Pháp nhĩ là vậy, này Tỷ-kheo, với người có giới, có giới đầy đủ, không hối tiếc sanh khởi. Này các Tỷ-kheo, với người không hối tiếc, không cần phải làm với dụng ý rằng: “Mong rằng hân hoan sẽ sanh khởi nơi ta”. Pháp nhĩ là vậy, này các Tỷ-kheo, với người có không hối tiếc, hân hoan sanh khởi. Này các Tỷ-kheo, với người có hân hoan, không cần phải làm với dụng ý rằng: “Mong rằng hoan hỷ sẽ sanh khởi nơi ta”. Pháp nhĩ là vậy, này các Tỷ kheo, với người có hoan hỷ, không cần phải làm với dụng ỳ rằng : “Mong rằng thân ta được khinh an”, Pháp nhĩ là vậy, này các Tỷ-kheo, với người có ý hoan hỷ, thân được khinh an. Này các Tỷ-kheo, với người có thân khinh an, không cần phải làm với dụng ý rằng: “Mong rằng ta cảm thọ an lạc”. Pháp nhĩ là vậy, này các Tỷ-kheo, với người có thân khinh an, an lạc được cảm thọ. Này các Tỷ-kheo, với người có an lạc, không cần phải làm với dụng ý: “Mong rằng tâm ta được Thiền định”. Pháp nhĩ là vậy, này các Tỷ-kheo, với người có an lạc, tâm được Thiền định. Này các Tỷ-kheo, với người có Thiền định, không cần phải làm với dụng ý: “Mong rằng ta biết, ta thấy như thật”. Pháp nhĩ là vậy, này các Tỷ-kheo, người có tâm Thiện định, biết và thấy như thật”. Pháp nhĩ là vậy, này các Tỷ-kheo, người có tâm Thiền định, biết và thấy như thật. Này các Tỷ-kheo, người biết vả thấy như thật, không cần phải làm với dụng ý: “Mong rằng ta sẽ nhàm chán, ta sẽ ly tham” Pháp nhĩ là vậy, này các Tỷ-kheo, người biết và thấy như thật, nhàm chán và ly tham. Này các Tỷ-kheo, người nhàm chán, ly tham không cần phải làm với dụng ý: “Mong rằng ta sẽ chứng ngộ giải thoát tri kiến”. Pháp nhĩ là vậy, này các Tỷ-kheo, người nhàm chán, ly tham, chứng ngộ giải thoát tri kiến.

2. Như vậy, này các Tỷ-kheo, nhàm chán lý tham có ý nghĩa giải thoát tri kiến, có lợi ích giải thoát tri kiến; như thật tri kiến có ý nghĩa nhàm chán, ly tham, có lợi ích nhàm chán, ly tham; định có ý nghĩa như thật tri kiến, có lợi như thật tri kiến; an lạc có ý nghĩa định, có lợi ích định; khinh an có ý nghĩa an lạc có lợi ích an lạc; hỷ có ý nghĩa khinh an, có lợi ích khinh an; hân hoan có ý nghĩa hỷ, có lợi ích hỷ; không nuối tiếc có ý nghĩa hân hoan, có lợi ích hân hoan, các Thiện giới có ý nghĩa không nuối tiếc, có lợi ích không hối tiếc. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các pháp khiến cho các pháp (khác) tăng thịnh; các pháp khiến các pháp khác viên mãn, đưa từ bờ bên này qua bờ bên kia.

AN 10.3 Điều Kiện Thiết Yếu (1) Paṭhamaupanisasutta

"Này các Tỷ kheo, người không có giới, người thiếu giới đức, đã tự hủy hoại một điều kiện thiết yếu để không hối hận. Khi có hối hận, người có hối hận đã tự hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho sự hân hoan. Khi không có hân hoan, người thiếu hân hoan đã tự hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho Niềm vui (Hỷ). Khi không có Niềm vui (Hỷ), người thiếu Niềm vui (Hỷ) đã tự hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho khinh an. Khi không có khinh an, người thiếu khinh an đã tự hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho an lạc. Khi không có an lạc, người thiếu an lạc đã tự hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho Chánh định (right immersion / sammāsamādhi, sự tập trung đúng đắn). Khi không có Chánh định, người thiếu Chánh định đã tự hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho tri kiến như thật. Khi không có tri kiến như thật, người thiếu tri kiến như thật đã tự hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho nhàm chán và ly tham. Khi không có nhàm chán và ly tham, người thiếu nhàm chán và ly tham đã tự hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho giải thoát tri kiến.

Ví như một cái cây thiếu cành lá. Chồi non, vỏ cây, giác cây và lõi cây của nó sẽ không phát triển đầy đủ.

Cũng vậy, người không có giới, người thiếu giới đức, đã tự hủy hoại một điều kiện thiết yếu để không hối hận. Khi có hối hận, người có hối hận đã tự hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho sự hân hoan. … Người thiếu nhàm chán và ly tham đã tự hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho giải thoát tri kiến.

Người có giới, người đã thành tựu giới đức, đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu để không hối hận. Khi không có hối hận, người không hối hận đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho sự hân hoan. Khi có hân hoan, người đã thành tựu hân hoan đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho Niềm vui (Hỷ). Khi có Niềm vui (Hỷ), người đã thành tựu Niềm vui (Hỷ) đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho khinh an. Khi có khinh an, người đã thành tựu khinh an đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho an lạc. Khi có an lạc, người đã thành tựu an lạc đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho Chánh định. Khi có Chánh định, người đã thành tựu Chánh định đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho tri kiến như thật. Khi có tri kiến như thật, người đã thành tựu tri kiến như thật đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho nhàm chán và ly tham. Khi có nhàm chán và ly tham, người đã thành tựu nhàm chán và ly tham đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho giải thoát tri kiến.

Ví như một cái cây có đầy đủ cành lá. Chồi non, vỏ cây, giác cây và lõi cây của nó sẽ phát triển đầy đủ.

Cũng vậy, người có giới, người đã thành tựu giới đức, đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu để không hối hận. Khi không có hối hận, người không hối hận đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho sự hân hoan. … Người đã thành tựu nhàm chán và ly tham đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho giải thoát tri kiến."

(III) (3) Sở Y

1. - Này các Tỷ-kheo, với ác giới, với phá giới, không hối tiếc, sơ y bị diệt. Với không có không hối tiếc, với hối tiếc không đầy đủ, hân hoan sở y bị diệt. Với hân hoan không có, với hân hoan không đầy đủ, hỷ sở y bị diệt. Với hỷ không có, với hỷ không đầy đủ, khinh an sở y bị diệt. Với khinh an không có, với khinh an không đầy đủ, an lạc sở y bị diệt. Với an lạc không có, với an lạc không đầy đủ, chánh định sở y bị diệt. Với chánh định không có, với chánh định không đầy đủ, như thật tri kiến sở y bị diệt. Với như thật tri kiến không có, với như thật tri kiến không đầy đủ, nhàm chán, ly tham sở y bị diệt. Với nhàm chán, ly tham không có, với nhàm chán, ly tham không đầy đủ, giải thoát tri kiến sở y bị diệt. Ví như cây không đủ cành và lá, các mầm non (cũng có nghĩa là vỏ ngoài) của cây ấy không đi đến viên mãn, vỏ trong, giác cây, lõi cây không đi đến viên mãn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với ác giới, với phá giới, không hối tiếc sở y bị diệt. Với không hối tiếc không có, với không hối tiếc không đầy đủ… giải thoát tri kiến sở y bị diệt.

Này các Tỷ- kheo, với giới có mặt, với giới có đầy đủ, không hối tiếc có sở y. Với không hối tiếc có mặt, với không hối tiếc có đầy đủ, hân hoan có sở y. Với hân hoan có mặt, với hân hoan có đầy đủ, hoan hỷ có sở y. Với hoan hỷ có mặt, với hoan hỷ có đầy đủ, khinh an có sở y. Với khinh an có mặt, với khinh an có đầy đủ, an lạc có sở y. Với an lạc có mặt, với an lạc có đầy đủ, chánh định có sở y. Với chánh định có mặt, với chánh định có đầy đủ, như thật tri kiến có sở y. Với như thật tri kiến có mặt, với như thật tri kiến có đầy đủ, nhàm chán, ly tham có sở y. Với nhàm chán, ly tham có mặt, với nhàm chán, ly tham có đầy đủ, giải thoát tri kiến có sở y. Ví như này các Tỷ-kheo, một cây có đầy đủ cành và lá, các mầm non của cây ấy đi đến viên mãn, vỏ trong, giác cây, lõi cây đi đến viên mãn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với giới có mặt, với giới có đầy đủ, không hối tiếc có sở y. Với không hối tiếc có mặt, với không hối tiếc có đầy đủ… giải thoát tri kiến có sở y.

AN 10.4 Điều Kiện Thiết Yếu (2) Dutiyaupanisasutta

Khi ấy, Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) nói với các Tỷ kheo … "Thưa các Hiền giả, người không có giới, người thiếu giới đức, đã tự hủy hoại một điều kiện thiết yếu để không hối hận. Khi có hối hận, người có hối hận đã tự hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho sự hân hoan. … Người thiếu nhàm chán và ly tham đã tự hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho giải thoát tri kiến. Ví như một cái cây thiếu cành lá. Chồi non, vỏ cây, giác cây và lõi cây của nó sẽ không phát triển đầy đủ. Cũng vậy, người không có giới, người thiếu giới đức, đã tự hủy hoại một điều kiện thiết yếu để không hối hận. Khi có hối hận, người có hối hận đã tự hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho sự hân hoan. … Người thiếu nhàm chán và ly tham đã tự hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho giải thoát tri kiến.

Người có giới, người đã thành tựu giới đức, đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu để không hối hận. Khi không có hối hận, người không hối hận đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho sự hân hoan. … Người đã thành tựu nhàm chán và ly tham đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho giải thoát tri kiến. Ví như một cái cây có đầy đủ cành lá. Chồi non, vỏ cây, giác cây và lõi cây của nó sẽ phát triển đầy đủ. Cũng vậy, người có giới, người đã thành tựu giới đức, đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu để không hối hận. Khi không có hối hận, người không hối hận đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho sự hân hoan. … Người đã thành tựu nhàm chán và ly tham đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho giải thoát tri kiến."

(IV) (4) Có Sở Y ( Do Sariputta Thuyết)

(Như kinh 3, chỉ khác ở đây là Tôn giả Sàriputta thuyết).

AN 10.5 Điều Kiện Thiết Yếu (3) Tatiyaupanisasutta

Khi ấy, Tôn giả Ānanda nói với các Tỷ kheo … "Thưa các Hiền giả, người không có giới, người thiếu giới đức, đã tự hủy hoại một điều kiện thiết yếu để không hối hận. Khi có hối hận, người có hối hận đã tự hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho sự hân hoan. Khi không có hân hoan, người thiếu hân hoan đã tự hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho Niềm vui (Hỷ). Khi không có Niềm vui (Hỷ), người thiếu Niềm vui (Hỷ) đã tự hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho khinh an. Khi không có khinh an, người thiếu khinh an đã tự hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho an lạc. Khi không có an lạc, người thiếu an lạc đã tự hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho Chánh định. Khi không có Chánh định, người thiếu Chánh định đã tự hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho tri kiến như thật. Khi không có tri kiến như thật, người thiếu tri kiến như thật đã tự hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho nhàm chán và ly tham. Khi không có nhàm chán và ly tham, người thiếu nhàm chán và ly tham đã tự hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho giải thoát tri kiến.

Ví như một cái cây thiếu cành lá. Chồi non, vỏ cây, giác cây và lõi cây của nó sẽ không phát triển đầy đủ.

Cũng vậy, người không có giới, người thiếu giới đức, đã tự hủy hoại một điều kiện thiết yếu để không hối hận. Khi có hối hận, người có hối hận đã tự hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho sự hân hoan. … Người thiếu nhàm chán và ly tham đã tự hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho giải thoát tri kiến.

Người có giới, người đã thành tựu giới đức, đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu để không hối hận. Khi không có hối hận, người không hối hận đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho sự hân hoan. Khi có hân hoan, người đã thành tựu hân hoan đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho Niềm vui (Hỷ). Khi có Niềm vui (Hỷ), người đã thành tựu Niềm vui (Hỷ) đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho khinh an. Khi có khinh an, người đã thành tựu khinh an đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho an lạc. Khi có an lạc, người đã thành tựu an lạc đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho Chánh định. Khi có Chánh định, người đã thành tựu Chánh định đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho tri kiến như thật. Khi có tri kiến như thật, người đã thành tựu tri kiến như thật đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho nhàm chán và ly tham. Khi có nhàm chán và ly tham, người đã thành tựu nhàm chán và ly tham đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho giải thoát tri kiến.

Ví như một cái cây có đầy đủ cành lá. Chồi non, vỏ cây, giác cây và lõi cây của nó sẽ phát triển đầy đủ.

Cũng vậy, người có giới, người đã thành tựu giới đức, đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu để không hối hận. Khi không có hối hận, người không hối hận đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho sự hân hoan. … Người đã thành tựu nhàm chán và ly tham đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho giải thoát tri kiến."

(V) (5) Có Sở Y (Do Tôn Giả Ananda Thuyết)

(Như kinh 3, chỉ khác ở đây là Tôn giả Ananda thuyết).

AN 10.6 Định Samādhisutta

Khi ấy, Tôn giả Ānanda đến hầu Thế Tôn, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên, và bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, có thể nào một Tỷ kheo đạt được một trạng thái định như thế này không? Vị ấy không có nhận thức (perceptions / tưởng, nhận biết-phân biệt và gắn nhãn) về đất trong đất, nước trong nước, lửa trong lửa, hay gió trong gió. Và vị ấy không nhận thức về Không vô biên xứ (dimension of infinite space / cõi trời thiền định nơi không gian được nhận thức là vô biên) trong Không vô biên xứ, không nhận thức về Thức vô biên xứ (dimension of infinite consciousness / cõi trời thiền định nơi thức được nhận thức là vô biên) trong Thức vô biên xứ, không nhận thức về Vô sở hữu xứ (dimension of nothingness / cõi trời thiền định nơi không có đối tượng nào được nhận thức là sở hữu) trong Vô sở hữu xứ, hay không nhận thức về Phi tưởng phi phi tưởng xứ (dimension of neither perception nor non-perception / cõi trời thiền định nơi nhận thức (tưởng) cực kỳ vi tế, không phải có cũng không phải không) trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Và vị ấy không nhận thức về thế giới này trong thế giới này, hay thế giới khác trong thế giới khác. Tuy nhiên vị ấy vẫn có nhận thức.”

“Có thể đó, Ānanda, một Tỷ kheo có thể đạt được một trạng thái định như thế này. Vị ấy không nhận thức về đất trong đất, nước trong nước, lửa trong lửa, hay gió trong gió. Và vị ấy không nhận thức về Không vô biên xứ trong Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ trong Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ trong Vô sở hữu xứ, hay Phi tưởng phi phi tưởng xứ trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Và vị ấy không nhận thức về thế giới này trong thế giới này, hay thế giới khác trong thế giới khác. Tuy nhiên vị ấy vẫn có nhận thức.”

“Nhưng làm thế nào điều này có thể xảy ra, bạch Thế Tôn?”

"Này Ānanda, đó là khi một Tỷ kheo nhận thức: ‘Đây là tịch tịnh, đây là vi diệu — nghĩa là, sự tịch tịnh của mọi hành (the stilling of all activities / sabbasaṅkhārasamatho, sự lắng dịu của tất cả các pháp hữu vi được tạo tác), sự từ bỏ mọi chấp thủ (the letting go of all attachments / sabbūpadhipaṭinissaggo, sự xả ly tất cả các nền tảng của sự dính mắc và tái sinh), sự đoạn tận ái dục (the ending of craving / taṇhākkhayo, sự chấm dứt hoàn toàn của tham ái), ly tham (fading away / virāgo, sự phai nhạt và từ bỏ tham muốn), diệt (cessation / nirodho, sự chấm dứt khổ và nguyên nhân của khổ), Niết bàn (extinguishment / nibbānaṃ, trạng thái dập tắt hoàn toàn khổ đau và phiền não, mục tiêu tối hậu của Phật giáo).’

Đó là cách một Tỷ kheo có thể đạt được một trạng thái định như thế này. Vị ấy không nhận thức về đất trong đất, nước trong nước, lửa trong lửa, hay gió trong gió. Và vị ấy không nhận thức về Không vô biên xứ trong Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ trong Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ trong Vô sở hữu xứ, hay Phi tưởng phi phi tưởng xứ trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Và vị ấy không nhận thức về thế giới này trong thế giới này, hay thế giới khác trong thế giới khác. Tuy nhiên vị ấy vẫn có nhận thức."

(VI) (6) Ðịnh Do Bậc Ðạo Sư Thuyết

1. Bấy giờ Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, có thể có chăng một Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, vị ấy có thể đi trong đất không tưởng đến đất; trong nước không tưởng đến nước; trong lửa; trong gió không tưởng đến gió; trong không vô biên xứ, không tưởng đến Không vô biên xứ; trong Thức vô biên xứ, không tưởng đến Thức vô biên xứ; trong Vô sở hữu xứ, không phi phi tưởng xứ, không tưởng đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ; trong thế giới hiện tại có thể không tưởng đến thế giới hiện tại; trong thế giới đời sau có thể không tưởng đến thế giới đời sau; tuy vậy, vị ấy vẫn có tưởng?

− Này Ananda, có thể như vậy, một Tỷ-kheo khi chứng được Thiện định như vậy, vị ấy có thể trong đất không tưởng đến đất; trong nước không tưởng đến nứơc; trong lửa không tưởng đến lửa, trong gió không tưởng đến gió, trong Không vô biên xứ, không tưởng đến Không vô biên xứ; trong Thức vô biên xứ, không tưởng đến thức vô biên xứ, trong Vô sở hữu xứ, không tưởng đến Vô sở hữu xứ; trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ, không tưởng đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ; trong thế giới hiện tại, không tưởng đến thế giới hiện tại; trong thế giới đời sau, không tưởng đến thế giới đời sau. Tuy vậy, vị ấy vẫn có tưởng.

2. - Nhưng bạch Thế Tôn, như thế nào một Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, vị ấy có thể trong đất, không tưởng đến đất… trong thế giới đời sau, không tưởng đến thế giới đời sau; tuy vậy, vị ấy vẫn có tưởng?

− Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo tưởng như sau: “Ðây là an tịnh, đây là thù thắng, tức là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự đoạn diệt khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn”. Như vậy, này Ananda, Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, vị ấy có thể trong đất, không tưởng đến đất; trong nước không tưởng đến nước… trong thế giới đời sau, không tưởng đến thế giới đời sau. Tuy vậy, vị ấy vẫn có tưởng.

AN 10.7 Sāriputta (Xá-lợi-phất) Sāriputtasutta

Khi ấy, Tôn giả Ānanda đến gặp Tôn giả Sāriputta, và chào hỏi nhau. Sau khi chào hỏi và nói chuyện thân mật, Tôn giả Ānanda ngồi xuống một bên và nói với Tôn giả Sāriputta:

“Thưa Tôn giả Sāriputta, có thể nào một Tỷ kheo đạt được một trạng thái định như thế này không? Vị ấy không nhận thức về đất trong đất, nước trong nước, lửa trong lửa, hay gió trong gió. Và vị ấy không nhận thức về Không vô biên xứ trong Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ trong Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ trong Vô sở hữu xứ, hay Phi tưởng phi phi tưởng xứ trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Và vị ấy không nhận thức về thế giới này trong thế giới này, hay thế giới khác trong thế giới khác. Tuy nhiên vị ấy vẫn có nhận thức.”

“Có thể đó, thưa Tôn giả Ānanda.”

“Nhưng làm thế nào điều này có thể xảy ra?”

“Thưa Tôn giả Ānanda, có một lần tôi đang ở ngay tại Sāvatthī này, trong Andhavana (Dark Forest / rừng U Ám, một khu rừng gần Xá-vệ). Ở đó tôi đã đạt được một trạng thái định như thế này. Tôi không nhận thức về đất trong đất, nước trong nước, lửa trong lửa, hay gió trong gió. Và tôi không nhận thức về Không vô biên xứ trong Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ trong Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ trong Vô sở hữu xứ, hay Phi tưởng phi phi tưởng xứ trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Và tôi không nhận thức về thế giới này trong thế giới này, hay thế giới khác trong thế giới khác. Tuy nhiên tôi vẫn có nhận thức.”

“Nhưng vào lúc đó, Tôn giả Sāriputta đã nhận thức điều gì?”

“Một nhận thức sinh khởi trong tôi và một nhận thức khác diệt đi: ‘Bhavanirodho nibbānaṁ (The cessation of continued existence is extinguishment / Sự diệt của hiện hữu (bhava - sự tiếp nối của vòng luân hồi) chính là Niết bàn). Bhavanirodho nibbānaṁ (Sự diệt của hiện hữu là Niết bàn).’ Ví như có một đống củi đang cháy. Một ngọn lửa sinh khởi và một ngọn lửa khác tắt đi. Cũng vậy, một nhận thức sinh khởi trong tôi và một nhận thức khác diệt đi: ‘Bhavanirodho nibbānaṁ (Sự diệt của hiện hữu là Niết bàn). Bhavanirodho nibbānaṁ (Sự diệt của hiện hữu là Niết bàn).’ Vào lúc đó, tôi nhận thức rằng sự diệt của hiện hữu là Niết bàn.”

(VII) (7) Ðịnh Do Tôn Giả Sariputta Thuyết

1. Bấy giờ Tôn giả Ananda đi đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda nói với Tôn giả Sàriputta:

− Thưa Hiền giả Sàriputta, có thể có chăng một Tỷ-kheo khi chứng Thiền định như vậy, vị ấy có thể trong địa đại, không tưởng đến địa đại… trong thế giới đời sau, không tưởng đến thế giới đời sau, tuy vậy, vị ấy vẫn tưởng?

− Này Ananda, có thể như vậy. Một Tỷ-kheo khi chứng Thiền định như vậy, vị ấy có thể trong đất không tưởng đến đất… trong thế giới đời sau, không tưởng đến thế giới đời sau. Tuy vậy, vị ấy vẫn có tưởng.

2.- Nhưng thưa Hiền giả Sàriputta, như thế nào một Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, vị ấy có thể trong đất, không tưởng đến đất… trong thế giới đời sau, không tưởng đến thế giới đời sau; tuy vậy, vị ấy vẫn có tưởng?

− Này Hiền giả Ananda, một thời ở đây, tôi trú ở Sàvatthi, trong rừng Andha. Tại đây, tôi chứng được Thiền định như sau: Trong đất, tôi không tưởng đến đất, trong thế giới đời sau, tôi không tưởng đến thế giới đời sau. Tuy vậy, tôi vẫn có tưởng.

3- Nhưng trong lúc ấy, Tôn giả Sàriputta tưởng đến gì?

− Một tưởng khác khởi lên trong tôi: “Hữu diệt là Niết-bàn”. Một tưởng khác diệt đi trong tôi: “Hữu diệt là Niết-bàn.” Ví như, này Hiền giả, lửa được đốt cháy từ mảnh đá nhỏ, một ngọn lửa khác khởi lên, một ngọn lửa khác diệt đi. Cũng vậy, này Hiền giả, một tưởng khác khởi lên trong tôi, thưa Hiền giả: “Hữu diệt là Niết-bàn.” Một tưởng khác diệt đi trong tôi: “Hữu diệt là Niết-bàn”. Tuy vậy, trong lúc ấy tôi vẫn có tưởng.

AN 10.8 Toàn Diện Uy Nghi: Các Tầng Thiền Jhānasutta

"Này các Tỷ kheo, một Tỷ kheo có Niềm tin (faith / saddhā, lòng tin trong sạch và vững chắc vào Phật, Pháp, Tăng) nhưng không có giới đức. Như vậy, vị ấy vẫn còn thiếu sót ở phương diện đó, và nên hoàn thiện nó, suy nghĩ rằng: ‘Làm thế nào để ta trở thành người có Niềm tin và có giới đức?’ Khi Tỷ kheo có Niềm tin và có giới đức, vị ấy đã hoàn thiện ở phương diện đó.

Một Tỷ kheo có Niềm tin và có giới đức, nhưng không đa văn (learned / người học rộng, nghe và ghi nhớ nhiều giáo pháp). … vị ấy không phải là người thuyết pháp (Dhamma speaker / người có khả năng giảng dạy và truyền bá giáo pháp)… vị ấy không hay đến các hội chúng (frequent assemblies / người thường xuyên tham dự các buổi họp mặt của Tăng đoàn hoặc các buổi thuyết pháp cho đông người)… vị ấy không thuyết pháp cho hội chúng một cách tự tin (teach Dhamma to the assembly with assurance / giảng dạy giáo pháp cho đông người một cách vững vàng, không rụt rè, với sự hiểu biết chắc chắn)… vị ấy không phải là người thông thạo luật (expert in the monastic law / vinayadhara, người nắm giữ, hiểu rõ và thực hành giới luật của Tỷ kheo)… vị ấy không sống ở nơi hoang dã, trú xứ xa vắng (stay in the wilderness, in remote lodgings / āraññika, người thực hành hạnh đầu đà ở rừng, sống tại những nơi thanh vắng, ít người để thuận lợi cho việc tu tập thiền định)… vị ấy không chứng đắc Tứ thiền (four absorptions / bốn tầng thiền định trong cõi sắc giới, tuần tự từ Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, đến Tứ thiền) — những thiền định mang lại an lạc trong hiện tại, thuộc về tâm cao thượng (blissful meditations in this life that belong to the higher mind / diṭṭhadhammasukhavihārā ābhicetasikā, những trạng thái thiền định mang lại hạnh phúc ngay trong đời sống này, thuộc về sự phát triển tâm thức cao hơn) — một cách dễ dàng, không khó khăn, bất cứ khi nào muốn (when they want, without trouble or difficulty / nikāmalābhī akicchalābhī akasiralābhī, có thể nhập và trú trong các tầng thiền theo ý muốn, không gặp trở ngại hay mệt nhọc)… vị ấy không chứng ngộ vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát (undefiled freedom of heart and freedom by wisdom / anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ, sự giải thoát của tâm khỏi tham ái và sự giải thoát bằng trí tuệ khỏi vô minh, không còn các lậu hoặc) ngay trong đời này, và an trú sau khi tự mình chứng ngộ bằng thắng trí do sự đoạn tận các lậu hoặc (defilements / āsava, những ô nhiễm tinh thần sâu kín như dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu, kiến lậu, làm chúng sinh trôi lăn trong vòng sinh tử). Như vậy, vị ấy vẫn còn thiếu sót ở phương diện đó, và nên hoàn thiện nó, suy nghĩ rằng: ‘Làm thế nào để ta trở thành người có Niềm tin, có giới đức, đa văn, là người thuyết pháp, hay đến các hội chúng, thuyết pháp cho hội chúng một cách tự tin, thông thạo luật, sống ở nơi hoang dã, trú xứ xa vắng, chứng đắc Tứ thiền khi muốn, và an trú sau khi đã chứng ngộ sự đoạn tận các lậu hoặc?’

Khi vị ấy có Niềm tin, có giới đức, đa văn, là người thuyết pháp, hay đến các hội chúng, thuyết pháp cho hội chúng một cách tự tin, thông thạo luật, sống ở nơi hoang dã, trú xứ xa vắng, chứng đắc Tứ thiền khi muốn, và an trú sau khi đã chứng ngộ sự đoạn tận các lậu hoặc, vị ấy đã hoàn thiện ở phương diện đó. Một Tỷ kheo có mười phẩm chất này thì tỏa sáng khắp mọi nơi (impressive all around / samantapāsādiko, người có đức hạnh và trí tuệ gây được niềm tin và sự kính mến từ mọi người xung quanh), và hoàn hảo về mọi mặt (complete in every respect / sabbākāraparipūro, người đã viên mãn tất cả các phẩm chất cần thiết trên con đường tu tập)."

(VIII) (8) Người Có Lòng Tin

1. - Vị Tỷ-kheo có lòng tin, này các Tỷ-kheo, nhưng không có giới. Như vậy, vị ấy về chi phần này không được viên mãn. Vị ấy cần phải làm cho viên mãn chi phần ấy, nghĩ rằng: “Làm thế nào để ta có lòng tin và có giới nữa? “. Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo có lòng tin và có giới, như vậy về chi phần ấy, Tỷ-kheo có viên mãn.

2. Và này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có lòng tin, có giới nhưng không có nghe nhiều… có nghe nhiều nhưng không có nói pháp… có nói pháp nhưng không thường tham gia với hội chúng… thường tham gia với hội chúng, nhưng không vô úy thuyết pháp chúng nhưng không trì luật… có trì luật, nhưng không phải là người ở rừng, ở các trú xứ xa vắng, là người ở rừng, ở các trú xứ xa vắng, nhưng đối với bốn Thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức, đối với bốn Thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức, nhưng không do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Như vậy, vị ấy về chi phần này không được viên mãn. Vị ấy cần phải làm cho viên mãn chi phần ấy, nghĩ rằng: “Làm thế nào, ta có lòng tin, có giới, có nghe nhiều, có thuyết pháp, thường tham gia với chúng hội, vô úy thuyết pháp cho hội chúng, trì luật, là người ở rừng, ở các trú xứ xa vắng, đối với bốn Thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức, và do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, ta có thể chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát? “Và này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo có lòng tin, có giới, nghe nhiều, có thuyết pháp, thường tham gia với hội chúng, vô úy thuyết pháp cho hội chúng, trì luật, là người ở rừng, ở các trú xứ xa vắng, đối với bốn Thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức, do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát; như vậy về chi phần này, vị ấy được viên mãn.

Thành tựu mười pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tịnh tín một cách phổ biến, và viên mãn trong mọi phương diện.

AN 10.9 Toàn Diện Uy Nghi: Các Giải Thoát Tịch Tịnh Santavimokkhasutta

"Một Tỷ kheo có Niềm tin, nhưng không có giới đức. … vị ấy không đa văn. … vị ấy không phải là người thuyết pháp … vị ấy không hay đến các hội chúng … vị ấy không thuyết pháp cho hội chúng một cách tự tin … vị ấy không thông thạo luật … vị ấy không sống ở nơi hoang dã, trú xứ xa vắng … vị ấy không chạm đến bằng thân những giải thoát tịch tịnh, thuộc về vô sắc, vượt trên các sắc (peaceful liberations that are formless, transcending form / ye te santā vimokkhā atikkamma rūpe āruppā, các tầng thiền Vô sắc giới (Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ) là những trạng thái giải thoát an tịnh, vượt qua các đối tượng của Sắc giới)… vị ấy không chứng ngộ vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát ngay trong đời này, và an trú sau khi tự mình chứng ngộ bằng thắng trí do sự đoạn tận các lậu hoặc. Như vậy, vị ấy vẫn còn thiếu sót ở phương diện đó, và nên hoàn thiện nó, suy nghĩ rằng: ‘Làm thế nào để ta trở thành người có Niềm tin, có giới đức, đa văn, là người thuyết pháp, hay đến các hội chúng, thuyết pháp cho hội chúng một cách tự tin, thông thạo luật, sống ở nơi hoang dã, trú xứ xa vắng, chứng đắc các giải thoát vô sắc, và an trú sau khi đã chứng ngộ sự đoạn tận các lậu hoặc?’

Khi vị ấy có Niềm tin, có giới đức, đa văn, là người thuyết pháp, hay đến các hội chúng, thuyết pháp cho hội chúng một cách tự tin, thông thạo luật, sống ở nơi hoang dã, trú xứ xa vắng, chứng đắc các giải thoát vô sắc, và an trú sau khi đã chứng ngộ sự đoạn tận các lậu hoặc, vị ấy đã hoàn thiện ở phương diện đó. Một Tỷ kheo có mười phẩm chất này thì tỏa sáng khắp mọi nơi, và hoàn hảo về mọi mặt."

(IX) (9) Tịch Tịnh Giải Thoát

(Như kinh 8 ở trên, cho đến… là người ở rừng ở các trú xứ vắng…)

… là người trì luật, nhưng không phải là người ở rừng, ở các trú xứ xa vắng… là người ở rừng, ở các trú xa vắng… là người ở rừng, ở các trú xứ xa vắng, nhưng đối với các tịch tịnh giải thoát vượt khỏi các sắc, thuộc về vô sắc, vị ấy không cảm giác với thân và an trú, đối với các tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các săc, thuộc về vô sắc vị ấy có cảm giác với thân an trú, nhưng không do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình với thắng trí chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát; như vậy về chi phần này không viên mãn. Vị ấy cần phải làm cho viên mãn chi phần ấy, nghĩ rằng: “Làm thế nào, ta có lòng tin, có giới, có nghe nhiều, có thuyết pháp, thường tham gia với hội chúng, vô úy thuyết pháp cho hội chúng, trì luật, là người ở rừng, ở các trú xứ xa vắng, đối với các tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc, thuộc về vô sắc, ta có cảm giác với thân và an trú; do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, ta chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát? “Và này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo có lòng tin, có giới, có nghe nhiều, có thuyết pháp thường tham gia với hội chúng, vô úy thuyết pháp cho hội chúng, là vị trí luật, là vị ở rừng, ở các trú xứ xa vắng, đối với các tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc, thuộc về vô sắc, vị ấy có cảm giác với thân và an trú; do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình với thắng trí, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát; như vậy về chi phần này, vị ấy được viên mãn.

Thành tựu mười pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tịnh tín một cách phổ biến, và viên mãn trong mọi phương diện.

AN 10.10 Toàn Diện Uy Nghi: Ba Minh Vijjāsutta

"Một Tỷ kheo có Niềm tin, nhưng không có giới đức. Như vậy, vị ấy vẫn còn thiếu sót ở phương diện đó, và nên hoàn thiện nó, suy nghĩ rằng: ‘Làm thế nào để ta trở thành người có Niềm tin và có giới đức?’ Khi Tỷ kheo có Niềm tin và có giới đức, vị ấy đã hoàn thiện ở phương diện đó.

Một Tỷ kheo có Niềm tin và có giới đức, nhưng không đa văn … vị ấy không phải là người thuyết pháp … vị ấy không hay đến các hội chúng … vị ấy không thuyết pháp cho hội chúng một cách tự tin … vị ấy không thông thạo luật … vị ấy không nhớ lại nhiều đời quá khứ (recollect their many kinds of past lives / pubbenivāsānussatiñāṇa, một trong Tam Minh, là trí tuệ thấy rõ các kiếp sống đã qua của mình và chúng sinh)… vị ấy không, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu phàm (clairvoyance that is purified and superhuman / dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena, con mắt của chư thiên, trong sạch, có khả năng thấy xa, thấy rõ những điều mắt thường không thấy được, vượt ngoài tầm mắt người thường), thấy chúng sinh chết đi và tái sinh (see sentient beings passing away and being reborn / cutūpapātañāṇa, một trong Tam Minh, là trí tuệ thấy rõ sự chết đi và tái sinh của chúng sinh tùy theo nghiệp của họ)… vị ấy không chứng ngộ vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát ngay trong đời này, và an trú sau khi tự mình chứng ngộ bằng thắng trí do sự đoạn tận các lậu hoặc. Như vậy, vị ấy vẫn còn thiếu sót ở phương diện đó, và nên hoàn thiện nó, suy nghĩ rằng: ‘Làm thế nào để ta trở thành người có Niềm tin, có giới đức, đa văn, là người thuyết pháp, hay đến các hội chúng, thuyết pháp cho hội chúng một cách tự tin, thông thạo luật, người nhớ lại nhiều đời quá khứ, người với thiên nhãn vượt ngoài tầm người thường thấy chúng sinh chết đi và tái sinh, và người an trú sau khi đã chứng ngộ sự đoạn tận các lậu hoặc?’

Khi vị ấy có Niềm tin, có giới đức, đa văn, là người thuyết pháp, hay đến các hội chúng, thuyết pháp cho hội chúng một cách tự tin, thông thạo luật, người nhớ lại nhiều đời quá khứ, người với thiên nhãn vượt ngoài tầm người thường thấy chúng sinh chết đi và tái sinh, và người an trú sau khi đã chứng ngộ sự đoạn tận các lậu hoặc, vị ấy đã hoàn thiện ở phương diện đó. Một Tỷ kheo có mười phẩm chất này thì tỏa sáng khắp mọi nơi, và hoàn hảo về mọi mặt."

(X) (10) Với Các Minh

(Như kinh trước cho đến: Vị ấy trì luật…) là người trì luật, nhưng không nhớ đến rất nhiều đời sống trước, một đời, hai đời… vị ấy nhớ nhiều đời sống trước với các chi tiết và các đặc điểm, nhớ đến rất nhiều đời sống trước, như một đời, hai đời… vị ấy nhớ nhiều đời sống trước với các chi tiết và các đặc điểm, nhưng không với thiên nhãn siêu nhân… vị ấy rõ biết các chúng sanh tùy theo hạnh nghiệp của họ…, vị ấy với thiên nhãn siêu nhân… vị ấy rõ biết các chúng sanh tùy theo hạnh nghiệp của họ, nhưng không do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát; như vậy, về chi phần này, vị ấy không được viên mãn. Vị ấy cần phải làm cho viên mãn chi phần ấy, nghĩ rằng: “Làm thế nào ta có lòng tin, có giới, có nghe nhiều, có thuyết pháp, thường tham gia với hội chúng, vô úy thuyết pháp cho hội chúng, là vị trì luật, có thể nhớ đến nhiều đời sống trước như một đời, hai đời… có thể nhớ đến nhiều đời sống trước, với các chi tiết và các đặc điểm,… với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân có thể biết được các chúng sanh tùy theo hạnh nghiệp của họ, do đoạn diệt các lậu hoặc… chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát? “Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo có lòng tin, có giới, có nghe nhiều, là vị thuyết pháp, thường tham gia với hội chúng, vô úy thuyết pháp cho hội chúng, là vị trì luật, nhớ đến nhiều đời sống trước, như một đời, hai đời… có thể nhớ đến nhiều đời sống trước, với các chi tiết và các đặc điểm… với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân có thể biết được các chúng sanh tùy theo hạnh nghiệp của họ, do đoạn diệt các lậu hoặc… chứng ngộ, chứng đạt và an trú; như vậy về chi phần này, vị ấy được viên mãn.

Thành tựu mười pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tịnh tín một cách phổ biến, có viên mãn trong mọi phương diện.