Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm Về Người Bảo Hộ

AN 10.11 Trú Xứ Senāsanasutta

"Này các Tỳ kheo, một Tỳ kheo có năm yếu tố, sử dụng và thường xuyên lui tới những trú xứ có năm yếu tố, sẽ sớm chứng ngộ vô nhiễm tâm giải thoát (undefiled freedom of heart / sự giải thoát tâm không còn ô nhiễm) và tuệ giải thoát (freedom by wisdom / sự giải thoát bằng trí tuệ) ngay trong đời này, và sống sau khi đã chứng ngộ điều đó bằng thắng trí (own insight / sự hiểu biết vượt trội, sự tự mình chứng ngộ) của mình do sự đoạn tận các lậu hoặc (defilements / những ô nhiễm tiềm ẩn, những phiền não vi tế làm chúng sinh trôi lăn trong vòng luân hồi).

Và thế nào là một Tỳ kheo có năm yếu tố? Đó là khi một vị Thánh đệ tử có niềm tin (faith / lòng tin vững chắc) vào sự giác ngộ của bậc Như Lai: ‘Đức Thế Tôn là bậc A-la-hán (perfected / bậc đã hoàn thiện, xứng đáng được cúng dường), Chánh Đẳng Giác (fully awakened Buddha / bậc giác ngộ hoàn toàn và chân chính), Minh Hạnh Túc (accomplished in knowledge and conduct / người đầy đủ trí tuệ và đức hạnh), Thiện Thệ (holy / bậc đã đi qua một cách tốt đẹp), Thế Gian Giải (knower of the world / người hiểu biết thế gian), Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu (supreme guide for those who wish to train / bậc tối cao dẫn dắt những người cần được huấn luyện), Thiên Nhân Sư (teacher of gods and humans / thầy của trời và người), Phật (awakened / bậc giác ngộ), Thế Tôn (blessed / đấng được tôn kính).’ Vị ấy ít bệnh, ít khổ não. Bao tử của vị ấy tiêu hóa tốt, không quá nóng cũng không quá lạnh, mà vừa phải, và thích hợp cho việc thiền định. Vị ấy không gian xảo hay lừa dối. Vị ấy bộc lộ bản thân một cách chân thật với bậc Đạo Sư hoặc những bạn đồng tu sáng suốt. Vị ấy sống với siêng năng (energy roused up / tấn, sự nỗ lực, tinh cần) được khơi dậy để từ bỏ các pháp bất thiện và thực hành các pháp thiện. Vị ấy mạnh mẽ, kiên trì mạnh mẽ, không lười biếng khi phát triển các pháp thiện. Vị ấy có trí tuệ (wise / tuệ, sự hiểu biết đúng đắn). Vị ấy có trí tuệ về sự sinh diệt, một trí tuệ cao thượng, thâm nhập, và dẫn đến sự đoạn tận hoàn toàn khổ đau. Đó là cách một Tỳ kheo có năm yếu tố.

Và thế nào là một trú xứ có năm yếu tố? Đó là khi một trú xứ không quá xa cũng không quá gần, mà thuận tiện cho việc đi lại. Ban ngày không bị người quấy rầy, và ban đêm thì yên tĩnh và vắng lặng. Ít có sự phiền nhiễu từ ruồi, muỗi, gió, nắng, và loài bò sát. Khi ở tại trú xứ đó, những nhu yếu phẩm—y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men cùng vật dụng cho người bệnh—dễ dàng kiếm được. Và tại trú xứ đó có nhiều vị Tỳ kheo trưởng lão rất uyên bác, những người thừa kế di sản Pháp, đã ghi nhớ giáo pháp, luật tạng, và các đề cương. Thỉnh thoảng, họ đến gặp các vị Tỳ kheo ấy và hỏi các vị ấy những câu hỏi: ‘Thưa ngài, tại sao lại nói như vậy? Điều đó có nghĩa là gì?’ Các bậc tôn giả ấy làm sáng tỏ những điều chưa rõ, phơi bày những điều còn che khuất, và xua tan nghi ngờ về nhiều vấn đề còn hoài nghi. Đó là cách một trú xứ có năm yếu tố. Một Tỳ kheo có năm yếu tố, sử dụng và thường xuyên lui tới những trú xứ có năm yếu tố, sẽ sớm chứng ngộ vô nhiễm tâm giải thoát và tuệ giải thoát ngay trong đời này, và sống sau khi đã chứng ngộ điều đó bằng thắng trí của mình do sự đoạn tận các lậu hoặc."

II. Phẩm Hộ Trì

(I) (11) Trú Xứ

1. - Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thành tựu năm chi phần, thân cận, chia xẻ xứ thành tựu năm chi phần, không bao lâu, do d0oạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

Và này các Ty-kheo, Tỷ-kheo có lòng tin, tin tưởng ở sự giác ngộ của Như Lai: “Dây là Thế Tôn, bậc Ala-hán, Chánh Ðẳng giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Diều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn”. Vị ấy ít bệnh, ít não, sự tiêu hóa được điều hòa, không lạnh quá, không nóng quá, trung bình, hợp với tinh tấn. Vị ấy không lừa đảo, man trá, nêu rõ mình như chân đối với bậc Ðạo Sư, đối với các vị sáng suốt hay đối với các vị đồng Phạm hạnh. Vị ấy sống tinh cần tinh tấn, từ bỏ các pháp bất thiện, thành tựu các thiện pháp, nỗ lực, kiên trì, tinh tấn, không từ bỏ gánh nặng trong các thiện pháp. Vị ấy có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt (của các pháp), thể nhập thánh quyết trạch đưa đến chơn chánh, đoạn diệt khổ đau.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thành tựu năm chi phần. Này các Tỷ-kheo, như thế nào là trú xứ thành tựu năm chi phần?

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, trú xứ không quá xa, không quá gần, thuận tiện cho đi và đến, ban ngày không đông đủ, ban đêm không ồn ào, không huyên náo, ít xúc chạm với ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, và các loại rắn rít. Trú tại trú xứ ấy, tìm được không mệt nhọc các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Tại trú xứ ấy, các trưởng lão Tỷ-kheo đến ở là những bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, những bậc trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu, thường thường đến các vị ấy tìm hiểu, hỏi han: “Thưa Tôn giả, cái này là thế nào? Ý nghĩa cái này là gì? “Các Tôn giả ấy mở rộng những gì chưa mở rộng, trình bày những gì chưa trình bày, đối với những vấn đề còn khởi lên những nghi vấn, vị ấy giải tỏa các nghi vấn ấy. Này các Tỷ-kheo, trú xứ như vậy thành tựu năm chi phần.

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thành tựu năm chi phần, thân cận chia xẻ trú xứ thành tựu năm chi phần, không bao lâu, do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí có thể chứng ngộ chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

AN 10.12 Năm Yếu Tố Pañcaṅgasutta

"Này các Tỳ kheo, trong giáo pháp và giới luật này, một Tỳ kheo đã từ bỏ năm yếu tố và sở hữu năm yếu tố được gọi là bậc toàn hảo, bậc thành tựu, bậc tối thượng.

Và thế nào là một Tỳ kheo đã từ bỏ năm yếu tố? Đó là khi một Tỳ kheo đã từ bỏ dục tham (sensual desire / ham muốn dục lạc), tức giận (ill will / sân hận, ác ý), tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ (dullness and drowsiness / hôn trầm và thụy miên), tâm bất an và hối tiếc (restlessness and remorse / trạo cử và hối quá), và hoài nghi (doubt / sự nghi ngờ). Đó là cách một Tỳ kheo đã từ bỏ năm yếu tố.

Và thế nào là một Tỳ kheo có năm yếu tố? Đó là khi một Tỳ kheo có toàn bộ giới (ethics / đạo đức) của bậc hữu học, định (immersion / sự tập trung, thiền định) của bậc hữu học, trí tuệ (wisdom / tuệ) của bậc hữu học, giải thoát (freedom / sự giải thoát) của bậc hữu học, và giải thoát tri kiến (knowledge and vision of freedom / sự hiểu biết và cái thấy về giải thoát) của bậc hữu học. Đó là cách một Tỳ kheo có năm yếu tố.

Trong giáo pháp và giới luật này, một Tỳ kheo đã từ bỏ năm yếu tố và sở hữu năm yếu tố được gọi là bậc toàn hảo, bậc thành tựu, bậc tối thượng.

Dục tham, tức giận,
tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ,
bồn chồn lo lắng, và hoài nghi
hoàn toàn không tìm thấy ở một Tỳ kheo.

Người như vậy đã thành tựu
giới của bậc hữu học,
định của bậc hữu học,
và giải thoát cùng tri kiến.

Sở hữu năm yếu tố này,
và thoát khỏi năm yếu tố kia,
trong giáo pháp và giới luật này
họ được gọi là ‘bậc toàn hảo’."

(II) (12) Các Chi Phần

1. - Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đoạn tận năm chi phần, thành tựu năm chi phần được gọi trong Pháp và Luật này là vị toàn hảo, đã thành tựu viên mãn, là bậc tối thượng.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đoạn tận năm chi phần?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo d0oạn tận dục tham, đoạn tận sân, đoạn tận hôn trầm thụy miên, đoạn tận trao hối, đoạn tận nghi. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đoạn tận năm chi phần.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo thành tựu năm chi phần?

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thành tựu vô học giới uẩn, thành tựu vô học định uẩn, thành tựu vô học tuệ uẩn, thành tựu vô học giải thoát uẩn, thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thành tựu năm chi phần.

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đoạn tận năm chi phần, thành tựu năm chi phần, được gọi trong Pháp và Luật này, là vị toàn hảo, đã thành tựu viên mãn, là bậc tối thượng.

Không dục tham, không sân,
Không hôn trầm thụy miên
Không trạo cử, không nghi,
Tỷ-kheo hoàn toàn không
Với vô học giới uẩn,
Với vô học định uẩn,
Ðầy đủ với giải thoát,
Với tri kiến như vậy.
Vị Tỷ-kheo như vậy,
Ðầy đủ năm chi phần,
Ðoạn tận năm chi phần,
Trong Pháp và Luật này,
Ðược gọi vị đầy đủ
Hoàn toàn mọi phương diện.

AN 10.13 Kiết Sử Saṁyojanasutta

"Này các Tỳ kheo, có mười kiết sử (fetters / những trói buộc). Mười kiết sử đó là gì? Năm hạ phần kiết sử và năm thượng phần kiết sử. Năm hạ phần kiết sử là gì? Thân kiến (substantialist view / chấp vào một cái “ta” hay “cái của ta” thường hằng, một thực thể bền vững), hoài nghi, sùng tín và giáo điều (misapprehension of precepts and observances / giới cấm thủ, sự hiểu lầm về các giới luật và sự tuân thủ), dục tham, và tức giận. Đây là năm hạ phần kiết sử.

Năm thượng phần kiết sử là gì? Sắc ái (desire for rebirth in the realm of luminous form / tham ái cõi sắc giới), vô sắc ái (desire for rebirth in the formless realm / tham ái cõi vô sắc giới), mạn (conceit / sự kiêu ngạo, tự mãn), bồn chồn lo lắng (restlessness / trạo cử, sự dao động của tâm), và vô minh (ignorance / sự không hiểu biết, thiếu sáng suốt). Đây là năm thượng phần kiết sử. Đây là mười kiết sử."

(III) (13) Các Kiết Sử

1. - Này các Tỷ-kheo, có mười kiết sử này. Thế nào là mười?

2. Năm hạ phần kiết sử, năm thượng phần kiết sử.

Thế nào là năm hạ phần kiết sử?

3. Thân kiến, nghi, giới cấm thủ, dục tham, sân. Ðây là năm hạ phần kiết sử.

Thế nào là năm thượng phần kiết sử?

4. Sắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử, vô minh. Ðây là năm thượng phần kiết sử.

Này các Tỷ-kheo, đây là mười kiết sử.

AN 10.14 Tâm Chai Sạn Cetokhilasutta

"Này các Tỳ kheo, một Tỳ kheo hay Tỳ kheo ni chưa từ bỏ năm loại tâm chai sạn (hard-heartedness / sự cứng cỏi, chai lì của tâm) và chưa đoạn trừ năm sự trói buộc của tâm (shackles of the heart / những ràng buộc, níu giữ trong tâm) thì chỉ có thể mong đợi sự suy giảm, không tăng trưởng, trong các pháp thiện, dù ngày hay đêm.

Năm loại tâm chai sạn mà họ chưa từ bỏ là gì?

Thứ nhất, một Tỳ kheo nghi ngờ bậc Đạo Sư. Họ không chắc chắn, không quyết đoán, và thiếu niềm tin. Vì vậy, tâm họ không hướng đến sự nhiệt thành, sự tận tụy, sự kiên trì, và sự nỗ lực. Đây là loại tâm chai sạn thứ nhất mà họ chưa từ bỏ.

Hơn nữa, một Tỳ kheo nghi ngờ giáo pháp … Tăng đoàn … sự tu tập … Một Tỳ kheo tức giận và khó chịu với các bạn đồng tu, phẫn uất và khép kín. Vì vậy, tâm họ không hướng đến sự nhiệt thành, sự tận tụy, sự kiên trì, và sự nỗ lực. Đây là loại tâm chai sạn thứ năm mà họ chưa từ bỏ. Đây là năm loại tâm chai sạn mà họ chưa từ bỏ.

Năm sự trói buộc của tâm mà họ chưa đoạn trừ là gì? Thứ nhất, một Tỳ kheo không thoát khỏi tham lam, ham muốn, yêu thích, khát khao, đam mê, và thèm muốn các dục lạc. Vì vậy, tâm họ không hướng đến sự nhiệt thành, sự tận tụy, sự kiên trì, và sự nỗ lực. Đây là sự trói buộc của tâm thứ nhất mà họ chưa đoạn trừ.

Hơn nữa, một Tỳ kheo không thoát khỏi tham ái đối với thân thể … Họ không thoát khỏi tham ái đối với sắc tướng … Họ ăn no căng bụng, rồi đắm mình trong thú vui ngủ nghỉ, nằm dài, và mơ màng … Họ sống đời phạm hạnh với mong muốn được tái sinh vào một trong các cõi trời: ‘Nhờ giới luật này, sự tuân thủ này, khổ hạnh nhiệt thành này, hay đời sống phạm hạnh này, mong rằng tôi sẽ trở thành một trong các vị trời!’ Vì vậy, tâm họ không hướng đến sự nhiệt thành, sự tận tụy, sự kiên trì, và sự nỗ lực. Đây là sự trói buộc của tâm thứ năm mà họ chưa đoạn trừ. Đây là năm sự trói buộc của tâm mà họ chưa đoạn trừ.

Một Tỳ kheo hay Tỳ kheo ni chưa từ bỏ năm loại tâm chai sạn này và chưa đoạn trừ năm sự trói buộc của tâm này thì chỉ có thể mong đợi sự suy giảm, không tăng trưởng, trong các pháp thiện, dù ngày hay đêm.

Ví như mặt trăng trong tuần trăng khuyết (hạ huyền). Dù ngày hay đêm, vẻ đẹp, độ tròn, ánh sáng, và đường kính cùng chu vi của nó chỉ suy giảm. Cũng vậy, Tỳ kheo hay Tỳ kheo ni chưa từ bỏ năm loại tâm chai sạn này và chưa đoạn trừ năm sự trói buộc của tâm này thì chỉ có thể mong đợi sự suy giảm, không tăng trưởng, trong các pháp thiện, dù ngày hay đêm.

Một Tỳ kheo hay Tỳ kheo ni đã từ bỏ năm loại tâm chai sạn và đã đoạn trừ năm sự trói buộc của tâm thì có thể mong đợi sự tăng trưởng, không suy giảm, trong các pháp thiện, dù ngày hay đêm.

(IV) (14) Tâm Hoang Vu

1. - Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào năm tâm hoang vu chưa đoạn tận, năm tâm triền phược chưa được cắt đứt, với vị ấy, đêm đến hay ngày đến, chờ đợi là tổn giảm trong các thiện pháp, không phải là tăng trưởng.

Như thế nào là năm tâm hoang vu chưa được đoạn tận?

2. Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo nghi ngờ bậc Ðạo Sư, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni nào nghi ngờ bậc Ðạo Sư, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín, thời tâm vị ấy không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ nhất chưa được đoạn tận.

3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào nghi ngờ Pháp… không có tịnh tín (như trên), nghi ngờ Tăng… không có tịnh tín, nghi ngờ các Học pháp, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào nghi ngờ các Học Pháp… không có tịnh tín, tâm vị này không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ tư chưa được đoạn tận. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy phẫn nộ đối với các vị đồng Phạm hạnh, không có hoan hỷ, tâm tư chống đối, cứng rắn. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheoni nào phẫn nộ đối với các vị đồng Phạm hạnh, không có hoan hỷ, tâm tư chống đối, cứng rắn, thời tâm của vị này không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn. Nếu tân của ai không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ năm chưa được đoạn tận. Như vậy là năm tâm hoang vu chưa được đoạn tận.

Thế nào là năm tâm triền phược chưa cắt đứt?

4. Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo, đối với những dục, không tham ái, không phải không tham dục, không phải không luyến ái, không phải không khao khát, không phải không nhiệt não, không phải không khát ái. Này các Tỳ kheo, Tỳ kheo nào đối với những dục không phải không tham ái…không phải không khát ái, tâm của vĩ ấy không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm triền phược thứ nhất chưa được cắt đứt.

5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đối với tự thân không phải không tham ái… (như trên)… như vậy là tâm triền phược thứ hai chưa được cắt đứt. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đối với các sắc pháp không phải không tham ái… (như trên)… như vậy là tâm triền phược thứ ba chưa được cắt đứt. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào ăn cho đến thỏa thuê, cho đến bụng chức đầy, sống nào ăn thiên về khoái lạc sàng tọa, khoái lạc ngủ nghỉ, khoái lạc thụy miên. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào ăn cho thỏa thuê, cho đến bụng chức đầy… (như trên)… như vậy là tâm triền phược thứ tư chưa được cắt đứt. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào sống Phạm hạnh với mong cầu được sanh Thiên giới, có ý nghĩa: “Ta với giới này, với hạnh này, với khổ hạnh này, hay với Phạm hạnh này sẽ được sanh làm chư Thiên này hay chư Thiên khác”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào sống Phạm hạnh (như trên)… như vậy là tâm triền phược thứ năm chưa được cắt đứt.

Như vậy là năm tâm triền phược chưa được cắt đứt.

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào, năm tâm hoang vu chưa đoạn tận, năm tâm triền phược này chưa cắt đứt, với vị ấy, đêm đến hay ngày đến, chờ đợi là sự tổn giảm trong các thiện pháp, không phải là tăng trưởng.

Năm loại tâm chai sạn mà họ đã từ bỏ là gì? Thứ nhất, một Tỳ kheo không nghi ngờ bậc Đạo Sư. Họ không không chắc chắn, không quyết đoán, hay thiếu niềm tin. Vì vậy, tâm họ hướng đến sự nhiệt thành, sự tận tụy, sự kiên trì, và sự nỗ lực. Đây là loại tâm chai sạn thứ nhất mà họ đã từ bỏ.

Hơn nữa, một Tỳ kheo không nghi ngờ giáo pháp … Tăng đoàn … sự tu tập … Một Tỳ kheo không tức giận và khó chịu với các bạn đồng tu, không phẫn uất hay khép kín. Vì vậy, tâm họ hướng đến sự nhiệt thành, sự tận tụy, sự kiên trì, và sự nỗ lực. Đây là loại tâm chai sạn thứ năm mà họ đã từ bỏ. Đây là năm loại tâm chai sạn mà họ đã từ bỏ.

Năm sự trói buộc của tâm mà họ đã đoạn trừ là gì? Thứ nhất, một Tỳ kheo thoát khỏi tham lam, ham muốn, yêu thích, khát khao, đam mê, và thèm muốn các dục lạc. Vì vậy, tâm họ hướng đến sự nhiệt thành, sự tận tụy, sự kiên trì, và sự nỗ lực. Đây là sự trói buộc của tâm thứ nhất mà họ đã đoạn trừ.

Hơn nữa, một Tỳ kheo thoát khỏi tham ái đối với thân thể … Họ thoát khỏi tham ái đối với sắc tướng … Họ không ăn no căng bụng, rồi đắm mình trong thú vui ngủ nghỉ, nằm dài, và mơ màng … Họ không sống đời phạm hạnh với mong muốn được tái sinh vào một trong các cõi trời: ‘Nhờ giới luật này, sự tuân thủ này, khổ hạnh nhiệt thành này, hay đời sống phạm hạnh này, mong rằng tôi sẽ trở thành một trong các vị trời!’ Vì vậy, tâm họ hướng đến sự nhiệt thành, sự tận tụy, sự kiên trì, và sự nỗ lực. Đây là sự trói buộc của tâm thứ năm mà họ đã đoạn trừ. Đây là năm sự trói buộc của tâm mà họ đã đoạn trừ.

Một Tỳ kheo hay Tỳ kheo ni đã từ bỏ năm loại tâm chai sạn này và đã đoạn trừ năm sự trói buộc của tâm này thì có thể mong đợi sự tăng trưởng, không suy giảm, trong các pháp thiện, dù ngày hay đêm.

Ví như mặt trăng trong tuần trăng tròn (thượng huyền). Dù ngày hay đêm, vẻ đẹp, độ tròn, ánh sáng, và đường kính cùng chu vi của nó chỉ tăng trưởng. Cũng vậy, một Tỳ kheo hay Tỳ kheo ni đã từ bỏ năm loại tâm chai sạn này và đã đoạn trừ năm sự trói buộc của tâm này thì có thể mong đợi sự tăng trưởng, không suy giảm, trong các pháp thiện, dù ngày hay đêm."

6. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào tâm hoang vu đã đoạn tân, năm tâm triền phược đã cắt đứt, với vị ấy, đêm đến hay ngày đến, chờ đợi là sự lớn mạnh trong các thiện pháp, không phải là tổn giảm. Thế nào là năm tâm hoang vu đã được đoạn tận?

7. Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo không nghi ngờ bậc Ðạo Sư, không do dự, quyết đoán, tịnh tín. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không nghi ngờ bậc Ðạo Sư, không do dự, quyết đoán, tịnh tín, thời tâm vị ấy hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai hướng về nhiệt tâm, chuyên chú kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang thứ nhất đã được đoạn tận.

8. Lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không nghi ngờ pháp… (như trên)… không nghi ngờ Học Pháp, không do dự, quyết đoán, tịnh tín. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không nghi ngờ Học pháp, không do dự, quyết đoán, tịnh tín, thời tâm vị ấy hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai hướng về nhiệt tâm là tâm hoang vu thứ tư đã được đoạn tận. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không phẫn nộ đối với các vị đồng Phạm hạnh, hoan hỷ, tâm tư không chống đối, không cứng rắn. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không phẫn nộ đối với các vị d0ồng Phạm hạnh, hoan hỷ, tâm tư không chống đối, không cứng rắn, thời tâm vị ấy hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ năm đã được đoạn tận.

Như vậy là năm tâm hoang vu đã được đoạn tận.

Thế nào là năm tâm triền phược đã được cắt đứt?

9. Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo đối với những dục không có tham ái, không có tham dục, không có ái luyến, không có khao khát, không có nhiệt não, không có khát ái. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đối với những dục không có luyến ái, không có khao khát, không có tham dục, không có luyến ái, không có khao khát, không có nhiệt não, không có khái ái, tâm vị ấy hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm triền phược thứ nhất đã được cắt đứt.

10. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đối với tự thân không có tham ái… (như trên)… như vậy là tâm triền phược thứ hai đã được cắt đứt. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đối với các sắc pháp không có tham ái… (như trên)… như vậy là tâm triền phược thứ ba đã được cắt đứt. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không ăn cho đến thỏa thuê, cho đến bụng chức đầy, không thiên nặng về khoái lạc sàng tọa, khoái lạc ngủ nghĩ, khoái lạc thụy miên… (như trên)… như vậy là tâm triền phược thứ tư đã được cắt đứt. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào sống Phạm hạnh, không mong cầu được sanh Thiên giới với ý nghĩa: “Ta với giới này, với hạnh này, với khổ hạnh này, hay với Phạm hạnh này, sẽ được sanh làm chư Thiên này hay chư Thiên khác”. Này các Tỷ kheo, Tỷ kheo nào sống phạm hạnh, không mong cầu dược sanh Thiên giới, với ý nghĩ : “Ta với giới này, với hạnh này, với khổ hạnh này, hay với phạm hạnh này, sẽ được sanh làm chư thiên này hay chư Thiên khác”, tâm vị ấy hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm triền phược thứ năm đã được cắt đứt.

Như vậy là năm tâm triền phược đã được cắt đứt.

Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào, năm tâm hoang vu đã được đoạn tận, năm tâm triền phược này đã được cắt đứt, với vị ấy, đêm hay ngày đến, chờ đợi là sự lớn mạnh trong thiện pháp, không phải tổn giảm. Ví như, này các Tỷ-kheo, trong độ trăng trưởng về dung sắc, được tăng trưởng về hình tròn, được tăng trưởng về ánh sáng, được tăng trưởng về bề cao, bề rộng của quỷ đạo. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Với Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào, năm tâm hoang vu đã được cắt đứt, với vị ấy, đêm đến hay ngày đến, chờ đợi là sự lớn mạnh trong các thiện pháp, không phải là tổn giảm.

AN 10.15 Không Sao Nhãng Appamādasutta

"Này các Tỳ kheo, bậc Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, được xem là tối thượng trong tất cả chúng sinh—dù là không chân, hai chân, bốn chân, hay nhiều chân; có sắc hay vô sắc; có nhận thức (perceptions / tưởng, nhận biết-phân biệt và gắn nhãn) hay không có nhận thức, hay phi nhận thức phi phi nhận thức. Cũng vậy, tất cả các pháp thiện đều bắt nguồn từ sự không sao nhãng (diligence / appamāda, sự chuyên cần, không lơ là), quy tụ về sự không sao nhãng, và sự không sao nhãng được xem là tối thượng trong các pháp ấy.

Dấu chân của tất cả các loài đi bằng chân đều có thể nằm gọn trong dấu chân voi, vì vậy dấu chân voi được xem là lớn nhất trong tất cả. Cũng vậy, tất cả các pháp thiện đều bắt nguồn từ sự không sao nhãng, quy tụ về sự không sao nhãng, và sự không sao nhãng được xem là tối thượng trong các pháp ấy.

Các kèo của một ngôi nhà một mái đều hướng về nóc, xuôi về nóc, và hội tụ tại nóc, vì vậy nóc được xem là cao nhất trong tất cả. Cũng vậy, tất cả các pháp thiện đều bắt nguồn từ sự không sao nhãng, quy tụ về sự không sao nhãng, và sự không sao nhãng được xem là tối thượng trong các pháp ấy.

Trong tất cả các loại rễ thơm, cam tùng (spikenard / một loại rễ cây có hương thơm) được xem là tốt nhất. Cũng vậy …

Trong tất cả các loại lõi gỗ thơm, chiên đàn đỏ (red sandalwood / gỗ đàn hương đỏ) được xem là tốt nhất. Cũng vậy …

Trong tất cả các loại hoa thơm, hoa lài được xem là tốt nhất. Cũng vậy …

Tất cả các vị tiểu vương đều là chư hầu của một Chuyển Luân Thánh Vương (wheel-turning monarch / vị vua cai trị bằng bánh xe Pháp), vì vậy Chuyển Luân Thánh Vương được xem là đứng đầu trong tất cả. Cũng vậy …

Ánh sáng của tất cả các vì sao không bằng một phần mười sáu ánh sáng của mặt trăng, vì vậy ánh sáng của mặt trăng được xem là tốt nhất trong tất cả. Cũng vậy …

Vào mùa thu, bầu trời trong sáng không mây. Và khi mặt trời mọc lên trên bầu trời, xua tan mọi bóng tối trong không gian, nó chiếu sáng, rực rỡ và tỏa sáng. Cũng vậy …

Tất cả các sông lớn—nghĩa là, Hằng Hà, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, và Mahī—đều chảy, nghiêng, dốc, và hướng về biển cả, và biển cả được xem là lớn nhất trong số đó. Cũng vậy, tất cả các pháp thiện đều bắt nguồn từ sự không sao nhãng, quy tụ về sự không sao nhãng, và sự không sao nhãng được xem là tối thượng trong các pháp ấy."

(V) (15) Không Phóng Dật

1. Này các Tỷ-kheo, cho đến các loài hữu tình không chân, hay hai chân, hay nhiều chân, hay có sắc, hay không sắc, hay có tưởng, hay không tưởng, hay phi tưởng phi phi tưởng. Như lai được gọi là tối thượng giữa họ, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những thiện pháp nào, tất cả những pháp ấy lấy không phóng dật làm căn bản, lấy không phóng dật làm chỗ quy tụ, không phóng dật được gọi là tối thượng trong các pháp ấy.

2. Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những dấu chân của các loại chúng sanh bộ hành nào, tất cả đều hôi tập trong chân con voi và chân con voi được gọi là tối thượng trong tất cả loại chân, tức là về phần to lớn. cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những thiện pháp nào, tất cả chúng lấy không phóng dật làm căn bản, lấy không phóng dật làm chỗ quy tụ, không phóng dật được gọi là tối thượng trong tất cả thiện pháp. Ví như, các đòn tay nào của một ngôi nhà có nóc nhọn, tất cả đều đi đến mái nhọn, hướng đến mái nhọn, quy tụ vào mái nhọn. Mái nhọn đối với chúng được gọi là tối thượng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những thiện pháp nào, tất cả chúng lấy không phóng dật làm căn bản, lấy không phóng dật làm chỗ quy tụ, không phóng dật được gọi là tối thượng trong tất cả thiện pháp.

Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những loại rể hương nào, loại mủ keo đen được gọi là tối thượng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những thiện pháp nào… trong tất cả các thiện pháp. Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những loại lõi hương nào, loại chiên-đàn đỏ được gọi là tối thượng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những thiện pháp nào… trong tất cả thiện pháp. Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những loại hương nào, vũ quý hoa được gọi là tối thượng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những thiện pháp nào… trong tất cả thiện pháp. Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những tiểu vương nào, tất cả đều tùy thuộc vua Chuyển luân vương. Chuyển luân vương đối với họ được gọi là tối thượng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những thiện pháp nào… trong tất cả thiện pháp. Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm ánh sáng của bất loại sao nào, tất cả đều không bằng một phần mười sáu ánh sáng của mặt trăng. Ánh sáng mặt trăng đố với chúng được gọi là tối thượng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những thiện pháp nào… trong tất cả thiện pháp. Ví như, này các Tỷ-kheo, vào mùa thu, khi hư không mở rộng, không có mây mù, mặt trời vươn thẳng lên trời, không quét sạch mọi tối tăm trên trời, chói sáng, rực sáng, bừng sáng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những thiện pháp nào… trong tất cả thiện pháp. Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có con sông lớn nào, ví như sông Hằng, sông Aciravatì, sông Sarabhù, sông Maihì, tất cả con sông ấy đều đi đến biển, hướng đến biển, thuận xuôi về biển, hướng nhập vào biển, biển lớn được gọi là tối thượng với chúng. cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những thiện pháp nào, tất cà những pháp lấy không phóng dật làm căn bản, lấy không phóng dật làm chỗ quy tụ, không phóng dật được gọi là tối thượng trong các pháp ấy.

AN 10.16 Đáng Được Cúng Dường Chư Thiên Āhuneyyasutta

“Này các Tỳ kheo, mười hạng người này đáng được cúng dường chư thiên (offerings dedicated to the gods / sự dâng cúng dành cho các vị trời, ở đây chỉ sự cúng dường cao quý nhất), đáng được khoản đãi, đáng được bố thí, đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời. Mười hạng người đó là gì? Bậc Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác; bậc Độc Giác Phật (Independent Buddha / vị Phật tự mình giác ngộ nhưng không thuyết pháp rộng rãi); bậc câu phần giải thoát (freed both ways / người giải thoát cả về tâm và tuệ, tức là chứng đắc các tầng thiền và cả trí tuệ giải thoát); bậc tuệ giải thoát; bậc thân chứng (direct witness / người tự mình chứng nghiệm chân lý); bậc kiến đáo (attained to view / người đạt được chánh kiến, thấy rõ chân lý); bậc tín giải thoát (freed by faith / người giải thoát nhờ niềm tin); bậc tùy tín hành (follower by faith / người thực hành theo niềm tin); bậc tùy pháp hành (follower of teachings / người thực hành theo giáo pháp); bậc chủng tánh (lamb of the flock / gotrabhū, người thuộc dòng dõi Thánh, người có khuynh hướng tu tập). Đây là mười hạng người đáng được cúng dường chư thiên, đáng được khoản đãi, đáng được bố thí, đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời.”

(VI) (16) Ðáng Ðược Cúng Dường

1. - Này các Tỷ-kheo, mười hạng người này đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Thế náo là mười?

2. Như lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng Giác, bậc Ðộc giác, bậc Giải thoát cả hai phần, bậc tuệ giải thoát, bậc Thân chứng, bậc Kiến chí, bậc Tín giải thoát, bậc Tùy pháp hành, bậc Tùy tín hành, bậc Chuyển tánh.

Này các Tỷ-kheo, mười hạng người này đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời.

AN 10.17 Người Bảo Hộ (Thứ Nhất) Paṭhamanāthasutta

"Này các Tỳ kheo, các vị nên sống có người bảo hộ, không nên không có người bảo hộ. Sống không có người bảo hộ là khổ. Có mười phẩm chất đóng vai trò người bảo hộ. Mười phẩm chất đó là gì? Thứ nhất, một Tỳ kheo có giới đức, được chế ngự trong giới luật của Tăng đoàn, hành xử tốt đẹp và đi khất thực ở những nơi thích hợp. Thấy sự nguy hiểm trong lỗi nhỏ nhặt nhất, họ giữ gìn các học giới đã thọ nhận. Đây là một phẩm chất đóng vai trò người bảo hộ.

Hơn nữa, một Tỳ kheo rất uyên bác, ghi nhớ và gìn giữ những gì đã học. Những giáo pháp này tốt đẹp ở phần đầu, tốt đẹp ở phần giữa, và tốt đẹp ở phần cuối, có ý nghĩa và văn cú rõ ràng, mô tả một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Họ rất uyên bác trong những giáo pháp như vậy, ghi nhớ chúng, tụng đọc lại, thẩm xét kỹ trong tâm, và thấu hiểu chúng về mặt lý thuyết. Đây cũng là một phẩm chất đóng vai trò người bảo hộ.

Hơn nữa, một Tỳ kheo có bạn tốt, bạn đồng hành, và người thân cận tốt. Đây cũng là một phẩm chất đóng vai trò người bảo hộ.

Hơn nữa, một Tỳ kheo dễ khuyên dạy, có những phẩm chất khiến họ dễ khuyên dạy. Họ kiên nhẫn, và tiếp nhận sự chỉ dạy một cách kính trọng. Đây cũng là một phẩm chất đóng vai trò người bảo hộ.

Hơn nữa, một Tỳ kheo khéo léo và không mệt mỏi trong nhiều công việc khác nhau cho các bạn đồng tu, hiểu biết cách thức tiến hành để hoàn thành và sắp xếp công việc. Đây cũng là một phẩm chất đóng vai trò người bảo hộ.

Hơn nữa, một Tỳ kheo yêu mến giáo pháp và là một niềm vui khi trò chuyện cùng, tràn đầy niềm vui (joy / hỷ, sự vui thích, hoan hỷ) trong giáo pháp và sự tu tập. Đây cũng là một phẩm chất đóng vai trò người bảo hộ.

Hơn nữa, một Tỳ kheo sống với siêng năng được khơi dậy để từ bỏ các pháp bất thiện và thực hành các pháp thiện. Họ mạnh mẽ, kiên trì mạnh mẽ, không lười biếng khi phát triển các pháp thiện. Đây cũng là một phẩm chất đóng vai trò người bảo hộ.

Hơn nữa, một Tỳ kheo biết đủ với bất kỳ loại y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men cùng vật dụng cho người bệnh nào. Đây cũng là một phẩm chất đóng vai trò người bảo hộ.

Hơn nữa, một Tỳ kheo có tỉnh thức (mindful / niệm, sự chú tâm, ghi nhớ không quên). Họ có sự tỉnh thức và nhận biết cao độ, và có thể nhớ lại và gợi lại những gì đã nói và làm từ lâu. Đây cũng là một phẩm chất đóng vai trò người bảo hộ.

Hơn nữa, một Tỳ kheo có trí tuệ. Họ có trí tuệ về sự sinh diệt, một trí tuệ cao thượng, thâm nhập, và dẫn đến sự đoạn tận hoàn toàn khổ đau. Đây cũng là một phẩm chất đóng vai trò người bảo hộ.

Các vị nên sống có người bảo hộ, không nên không có người bảo hộ. Sống không có người bảo hộ là khổ. Đây là mười phẩm chất đóng vai trò người bảo hộ."

(VII) (17) Vị Hộ Trì (1)

1. - Này các Tỷ-kheo, hãy trú với vị hộ trì, chớ trú không có vị hộ trì. Này các Tỷ-kheo, đau khổ là người sống không có vị hộ trì. Này các Tỷ-kheo, mười pháp này tạo thảnh vị hộ trì. Thế nào là mười?

2. Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo có giới, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ oai nghi, chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và tu học trong các học pháp. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này có giới, sống chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và tu học trong các học pháp; đây là pháp tác thành vị hộ trì.

3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nghe nhiều, thọ trì những gì đã nghe, chất chứa những gì đã nghe. Những pháp nào sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh, những pháp ấy, vị ấy đã nghe nhiều, đã thọ trì, đã tụng đọc bằng lời, đã quán sát với ý, đã thề nhập với chánh kiến; đây là pháp tác thành vị hộ trì.

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào làm nào bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện; đây là pháp tác thành vị hộ trì.

5.Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo dễ nói, thành tựu những pháp tác thành người dễ nói, kham nhẫn và khéo chấp nhận những lời giáo giới. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào dễ nói, thành tựu những pháp tác thành người dễ nói, kham nhẫn, và khéo chấp nhận những lời giáo giới; đây là pháp tác thành vị hộ trì.

6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có những công việc gì cần phải làm, hoặc lớn, hoặc nhỏ, đối với các vị đồng Phạm Hạnh; ở đây, vị ấy khéo léo và tinh cần, thành tựu sự quán sát các phương tiện, vừa đủ để làm, vừa đủ để tổ chức. này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào, phàm có những công việc gì… vừa đủ để tổ chức; đây là pháp tác thành vị hộ trì.

7. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ưa pháp, cùng nói chuyện một cách dễ thương, hân hoan trong thắng Pháp, trong thắng Luật. Này các Tỷ-kheo, phàm Tỷ-kheo nào ưa pháp, cùng nói chuyện một cách dễ thương, hân hoan trong thắng Pháp, trong thắng Luật; đây là pháp tác thành vị hộ trì.

8. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống tinh cần tinh tấn, đoạn trừ các pháp bất thiện, làm cho đầy đủ các thiện pháp, nỗ lực, kiên trì, không bỏ rơi gánh nặng đối với các thiện pháp. Này các Tỷ-kheo, phàm Tỷ-kheo nào sống tinh cần tinh tấn, đoạn trừ các pháp bất thiện, làm cho đầy đủ các thiện pháp, nỗ lực kiên trì không bỏ rơi gánh nặng đối với các thiện pháp; đây là pháp tác thành vị hộ trì.

9. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo bếit đủ đối với các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Này các Tỷ-kheo, phàm Tỷ-kheo nào biết đủ đối với các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh; đây là pháp tác thành vị hộ trì.

10. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chánh niệm, thành tựu niệm tuệ tối thắng ức niệm, tùy niệm việc đã làm từ lâu, đã nói từ lâu. Này các Tỷ-kheo, phàm Tỷ-kheo nào chánh niệm… đã nói từ lâu; đây là pháp tác thành vị hộ trì.

11. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có trí tuệ, thành tựu với trí tuệ về sanh diệt, trí tuệ thuộc bậc Thánh, thể nhập và hướng đến chơn chánh đoạn tận khổ đau. Này các Tỷ-kheo, phẩm Tỷ-kheo nào có trí tuệ… đoạn tận khổ đau; đây là pháp tác thành vị hộ trì.

Này các Tỷ-kheo, hãy trú với vị hộ trì, chớ trú không có vị hộ trì. Này các Tỷ-kheo, đau khổ là người trú không có vị hộ trì.

Này các Tỷ-kheo, đây là mười pháp tác thành vị hộ trì.

AN 10.18 Người Bảo Hộ (Thứ Hai) Dutiyanāthasutta

TÔI NGHE NHƯ VẦY. Một thời Đức Phật trú tại gần Sāvatthī (Xá-vệ), tại Vườn Jeta (Kỳ-đà Lâm), tu viện của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Tại đó, Đức Phật gọi các Tỳ kheo: “Này các Tỳ kheo!”

“Bạch Thế Tôn,” họ đáp. Đức Phật nói điều này:

"Này các Tỳ kheo, các vị nên sống có người bảo hộ, không nên không có người bảo hộ. Sống không có người bảo hộ là khổ. Có mười phẩm chất đóng vai trò người bảo hộ. Mười phẩm chất đó là gì? Thứ nhất, một Tỳ kheo có giới đức, được chế ngự trong giới luật của Tăng đoàn, hành xử tốt đẹp và đi khất thực ở những nơi thích hợp. Thấy sự nguy hiểm trong lỗi nhỏ nhặt nhất, họ giữ gìn các học giới đã thọ nhận. Biết điều này, các Tỳ kheo—dù là thượng tọa, trung tọa, hay hạ tọa—nghĩ rằng vị Tỳ kheo đó đáng được khuyên bảo và chỉ dạy. Được đối xử với lòng tốt như vậy bởi các Tỳ kheo thượng tọa, trung tọa, và hạ tọa, vị Tỳ kheo đó chỉ có thể mong đợi sự tăng trưởng, không suy giảm. Đây là một phẩm chất đóng vai trò người bảo hộ.

Hơn nữa, một Tỳ kheo rất uyên bác, ghi nhớ và gìn giữ những gì đã học. Những giáo pháp này tốt đẹp ở phần đầu, tốt đẹp ở phần giữa, và tốt đẹp ở phần cuối, có ý nghĩa và văn cú rõ ràng, mô tả một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Họ rất uyên bác trong những giáo pháp như vậy, ghi nhớ chúng, củng cố chúng bằng cách tụng đọc, thẩm xét kỹ trong tâm, và thấu hiểu chúng về mặt lý thuyết. Biết điều này, các Tỳ kheo—dù là thượng tọa, trung tọa, hay hạ tọa—nghĩ rằng vị Tỳ kheo đó đáng được khuyên bảo và chỉ dạy. Được đối xử với lòng tốt như vậy bởi các Tỳ kheo thượng tọa, trung tọa, và hạ tọa, vị Tỳ kheo đó chỉ có thể mong đợi sự tăng trưởng, không suy giảm. Đây cũng là một phẩm chất đóng vai trò người bảo hộ.

Hơn nữa, một Tỳ kheo có bạn tốt, bạn đồng hành, và người thân cận tốt. Biết điều này, các Tỳ kheo—dù là thượng tọa, trung tọa, hay hạ tọa—nghĩ rằng vị Tỳ kheo đó đáng được khuyên bảo và chỉ dạy. Được đối xử với lòng tốt như vậy bởi các Tỳ kheo thượng tọa, trung tọa, và hạ tọa, vị Tỳ kheo đó chỉ có thể mong đợi sự tăng trưởng, không suy giảm. Đây cũng là một phẩm chất đóng vai trò người bảo hộ.

Hơn nữa, một Tỳ kheo dễ khuyên dạy, có những phẩm chất khiến họ dễ khuyên dạy. Họ kiên nhẫn, và tiếp nhận sự chỉ dạy một cách kính trọng. Biết điều này, các Tỳ kheo—dù là thượng tọa, trung tọa, hay hạ tọa—nghĩ rằng vị Tỳ kheo đó đáng được khuyên bảo và chỉ dạy. Được đối xử với lòng tốt như vậy bởi các Tỳ kheo thượng tọa, trung tọa, và hạ tọa, vị Tỳ kheo đó chỉ có thể mong đợi sự tăng trưởng, không suy giảm. Đây cũng là một phẩm chất đóng vai trò người bảo hộ.

Hơn nữa, một Tỳ kheo khéo léo và không mệt mỏi trong nhiều công việc khác nhau cho các bạn đồng tu, hiểu biết cách thức tiến hành để hoàn thành và sắp xếp công việc. Biết điều này, các Tỳ kheo—dù là thượng tọa, trung tọa, hay hạ tọa—nghĩ rằng vị Tỳ kheo đó đáng được khuyên bảo và chỉ dạy. Được đối xử với lòng tốt như vậy bởi các Tỳ kheo thượng tọa, trung tọa, và hạ tọa, vị Tỳ kheo đó chỉ có thể mong đợi sự tăng trưởng, không suy giảm. Đây cũng là một phẩm chất đóng vai trò người bảo hộ.

Hơn nữa, một Tỳ kheo yêu mến giáo pháp và là một niềm vui khi trò chuyện cùng, tràn đầy niềm vui trong giáo pháp và sự tu tập. Biết điều này, các Tỳ kheo—dù là thượng tọa, trung tọa, hay hạ tọa—nghĩ rằng vị Tỳ kheo đó đáng được khuyên bảo và chỉ dạy. Được đối xử với lòng tốt như vậy bởi các Tỳ kheo thượng tọa, trung tọa, và hạ tọa, vị Tỳ kheo đó chỉ có thể mong đợi sự tăng trưởng, không suy giảm. Đây cũng là một phẩm chất đóng vai trò người bảo hộ.

Hơn nữa, một Tỳ kheo sống với siêng năng được khơi dậy để từ bỏ các pháp bất thiện và thực hành các pháp thiện. Họ mạnh mẽ, kiên trì mạnh mẽ, không lười biếng khi phát triển các pháp thiện. Biết điều này, các Tỳ kheo—dù là thượng tọa, trung tọa, hay hạ tọa—nghĩ rằng vị Tỳ kheo đó đáng được khuyên bảo và chỉ dạy. Được đối xử với lòng tốt như vậy bởi các Tỳ kheo thượng tọa, trung tọa, và hạ tọa, vị Tỳ kheo đó chỉ có thể mong đợi sự tăng trưởng, không suy giảm. Đây cũng là một phẩm chất đóng vai trò người bảo hộ.

Hơn nữa, một Tỳ kheo biết đủ với bất kỳ loại y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men cùng vật dụng cho người bệnh nào. Biết điều này, các Tỳ kheo—dù là thượng tọa, trung tọa, hay hạ tọa—nghĩ rằng vị Tỳ kheo đó đáng được khuyên bảo và chỉ dạy. Được đối xử với lòng tốt như vậy bởi các Tỳ kheo thượng tọa, trung tọa, và hạ tọa, vị Tỳ kheo đó chỉ có thể mong đợi sự tăng trưởng, không suy giảm. Đây cũng là một phẩm chất đóng vai trò người bảo hộ.

Hơn nữa, một Tỳ kheo có tỉnh thức. Họ có sự tỉnh thức và nhận biết cao độ, và có thể nhớ lại và gợi lại những gì đã nói và làm từ lâu. Biết điều này, các Tỳ kheo—dù là thượng tọa, trung tọa, hay hạ tọa—nghĩ rằng vị Tỳ kheo đó đáng được khuyên bảo và chỉ dạy. Được đối xử với lòng tốt như vậy bởi các Tỳ kheo thượng tọa, trung tọa, và hạ tọa, vị Tỳ kheo đó chỉ có thể mong đợi sự tăng trưởng, không suy giảm. Đây cũng là một phẩm chất đóng vai trò người bảo hộ.

Hơn nữa, một Tỳ kheo có trí tuệ. Họ có trí tuệ về sự sinh diệt, một trí tuệ cao thượng, thâm nhập, và dẫn đến sự đoạn tận hoàn toàn khổ đau. Biết điều này, các Tỳ kheo—dù là thượng tọa, trung tọa, hay hạ tọa—nghĩ rằng vị Tỳ kheo đó đáng được khuyên bảo và chỉ dạy. Được đối xử với lòng tốt như vậy bởi các Tỳ kheo thượng tọa, trung tọa, và hạ tọa, vị Tỳ kheo đó chỉ có thể mong đợi sự tăng trưởng, không suy giảm. Đây cũng là một phẩm chất đóng vai trò người bảo hộ.

Các vị nên sống có người bảo hộ, không nên không có người bảo hộ. Sống không có người bảo hộ là khổ. Đây là mười phẩm chất đóng vai trò người bảo hộ."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Các Tỳ kheo hoan hỷ, tín thọ lời Đức Phật dạy.

(VIII) (18) Vị Hộ Trì (2)

1. - Này các Tỷ-kheo, hãy trú với vị hộ trì, chớ trú không có vị hộ trì. Ðau khổ, này các Tỷ-kheo, là người trú không có vị hộ trì. Này các Tỷ-kheo, có mười pháp tác thành vị hộ trì này. thế nào là mười?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là người có giới… chấp nhân và học tập trong các hoc pháp, nghĩ rằng: “Thật sự có giới là Tỷ-kheo này. Vị này trú, được bảo vệ với sự bảo vệ của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ oai nghi cha1nh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp”. Các trưởng lão Tỷ-kheo nghĩ đến Tỷ-kheo ấy đáng nói đến, đáng được giáo giới… Các trung niên Tỷ-kheo… Các tân học Tỷ-kheo nghĩ đến Tỷ-kheo ấy đáng được nói đến, đáng được giác giới. Với vị ấy, được các trưởng lão thương tưởng, được các trung niên thương tưởng, được các tân học thương tượng, chờ đợi là sự lớn mạnh trong các thiện pháp, không phải là sự tổn giảm, đây là pháp tác thành vị hộ trì. 3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo. Tỷ-kheo là vị nghe nhiều… khéo thông đạt nhờ chánh kiến, nghĩ rằng: “Thật sự Tỷ-kheo này là vị nghe nhiều, thọ trì những gì đã nghe, chất chứa những gì đã nghe. Những pháp ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Những pháp ấy, vị ấy đã nghe nhiều, đã thọ trì, đã tụng đọc bằng lời, đã quán sát bằng ý, khéo thông đạt nhờ chánh kiến”. Các trưởng lão Tỷ-kheo… Các trung niên Tỷ-kheo… Các tân học Tỷ-kheo nghĩ đến Tỷ-kheo ấy đáng được nói đến, đáng được giáo giới. Với vị ấy, được các trưởng lão thương tưởng, được các trung niên thương tưởng, được các tân học thương tưởng, chờ đợi là sự lớn mạnh trong các thiện pháp, không phải là sự tổn giảm. Ðây là pháp tác thành sự hộ trì.

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện, nghĩ rằng: “Thật sự Tỷ-kheo này làm bạn với hiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện”. Các Tỷ-kheo trưởng lão… Các tân học Tỷ-kheo ấy đáng được nói đến, đáng được giáo giới. Với vị ấy… tác thành vị hộ trì.

5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo dễ nói, thành tựu những pháp tác thành người dễ nói, kham nhẫn và khéo chấp nhận những lời giáo giới nghĩ rằng: “Thật sự Tỷ-kheo này, dễ nói, thành tựu những pháp tác thành người dễ nói, kham nhẫn và khéo chấp nhận những lời giáo giới”. Các Tỷ-kheo trưởng lão… Các trung niên Tỷ-kheo… Các tân học Tỷ-kheo nghĩ đến Tỷ-kheo ấy đáng được nói đến, đáng được giáo giới. Với vị ấy… tác thành vị hộ trì.

6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, phàm có những công việc gì cần phải làm hoặc lớn hoặc nhỏ, đối với các đồng Phạm hạnh, ở đây vị ấy khéo léo và tinh cần, thành tựu suy tư đến các phương tiện vừa đủ để làm, vừa đủ để tổ chức. Các trưởng lão Tỷ-kheo… Các trung niên Tỷ-niên… Các tân học Tỷ-kheo nghĩ đến Tỷ-kheo ấy đáng được nói đến, đáng được giáo giới… Ðây là pháp tác thành vị hộ trì.

7. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ưa pháp, cùng nói chuyên, một cách dễ thương, hân hoan trong thắng Pháp, thắng Luật nghĩ rằng: “Thật sự vị Tỷ-kheo này ưa Pháp, cùng nói chuyện một cách dễ thương, hân hoan trong thắng Pháp, Thắng Luật”. Các trưởng lão Tỷ-kheo… Các trung niên Tỷ-kheo… Các tân học Tỷ-kheo nghĩ đến Tỷ-kheo ấy đáng được nói đến, đáng được giáo giới… tác thành vị hộ trì.

8. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ưa sống tinh cần, tinh tấn, đoạn trừ các pháp bất thiện, làm cho đầy đủ các thiện pháp, nỗ lực, kiên trì, không bỏ rơi gánh nặng đối với các thiện pháp, nghĩ rằng: “Thật sự Tỷ-kheo này sống tinh cần, tinh tấn, đoạn trừ các pháp bất diệt, làm cho đầy đủ các thiện pháp, nỗ lực, kiên trì, không bỏ rơi gánh nặng đối với các thiện pháp”. Các trưởng lão Tỷ-kheo… Các trung niên Tỷ-kheo ấy đáng được nói đến, đáng được giáo giới… tác thành vị hộ trì.

9. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết đủ với các vật dụng như y, ẩm thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, nghĩ rằng: “Thật sự Tỷ-kheo này biết đủ với các vật dụng như y, ẩm thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh”. Các Tỷ-kheo trưởng lão… nghĩ đến Tỷ-kheo ấy đáng được nói đến, đáng được giáo giới… tác thành vị hộ trì.

10. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chánh niệm, thành tựu tuệ tối thắng, ức niệm, tùy niệm việc đã làm, đã nói từ lâu, nghĩ rằng: “Thật sự Tỷ-kheo này chánh niệm, thành tựu tuệ tối thắng… đã làm, đã nói từ lâu”. Các Tỷ-kheo trưởng lão… Các trung niên Tỷ-kheo… Các tân học Tỷ-kheo ấy đáng được nói đến, đáng được giáo giới… tác thành vị hộ trì.

11. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, thể nhập Thánh quyết trạch, đưa đến chọn chánh đoạn diệt khổ đau, nghĩ rằng: “Thật sự Tỷ-kheo này có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, thể nhập Thánh quyết trạch đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau”. Các Tỷ-kheo trưởng lão nghĩ đến Tỷ-khoe đáng được nói đến, đáng được giáo giới. Các trung niên Tỷ-khoe nghĩ đến Tỷ-khoe ấy được nói đến, đáng được giáo giới. Các tân học Tỷ-kheo ấy đáng được nói đến, đáng được giáo giới. Với vị ấy được các trưởng lão thương tưởng, được các trung niên thương tưởng, được các tân họ thương tưởng, chờ đợi là sự lớn mạnh trong các thiện pháp, không phải là sự tổn giảm. Ðây là pháp tác thành vị họ trì.

Này các Tỷ-khoe, hãy trú có vị hộ trì, chớ trú không có vị hộ trì. Ðau khổ, này các Tỷ-khoe, là người trú không có vị hộ trì.

Này các Tỷ-khoe, đây là mười pháp tác thành vị hộ trì.

AN 10.19 Trú Xứ Của Bậc Thánh (Thứ Nhất) Paṭhamaariyāvāsasutta

“Có mười trú xứ của bậc Thánh này, nơi các bậc Thánh trong quá khứ, hiện tại, và tương lai an trú. Mười trú xứ đó là gì? Một Tỳ kheo đã từ bỏ năm yếu tố, được phú cho sáu yếu tố, có một sự bảo vệ duy nhất, có bốn sự hỗ trợ, đã loại bỏ các kiến giải riêng biệt về chân lý, đã hoàn toàn từ bỏ sự tìm kiếm, có những ý định thanh tịnh, đã làm lắng dịu tiến trình thân thể, và tâm được giải thoát tốt đẹp cùng được giải thoát tốt đẹp bằng trí tuệ. Đây là mười trú xứ của bậc Thánh, nơi các bậc Thánh trong quá khứ, hiện tại, và tương lai an trú.”

(IX) (19) Thánh Cư (1)

1. - Này các Tỷ-kheo, có mặt Thánh cư này, với những Thánh cư này, các bậc Thánh đã sống, đang sống và sẽ sống. Thế nào là mười?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đoạn tận năm chi phần, thành tựu sáu chi phần, hộ trì một sự, đầy đủ bốn y cứ, trừ khử sự thật cá nhân, đã đoạn tận hoàn toàn các tầm cầu, các tư duy không có uế trược, thân hành được khinh an, tâm được khéo giải thoát, tuệ được khéo giải thoát.

Này các Tỷ-kheo, đây là mười Thánh cư, với những Thánh cư này, các bậc Thánh đã sống, đang sống và sẽ sống.

AN 10.20 Trú Xứ Của Bậc Thánh (Thứ Hai) Dutiyaariyāvāsasutta

Một thời Đức Phật trú tại xứ Kuru, gần thị trấn Kammāsadamma của người Kuru. Tại đó, Đức Phật gọi các Tỳ kheo:

"Có mười trú xứ của bậc Thánh này, nơi các bậc Thánh trong quá khứ, hiện tại, và tương lai an trú. Mười trú xứ đó là gì? Một Tỳ kheo đã từ bỏ năm yếu tố, sở hữu sáu yếu tố, có một sự bảo vệ duy nhất, có bốn sự hỗ trợ, đã loại bỏ các kiến giải riêng biệt về chân lý, đã hoàn toàn từ bỏ sự tìm kiếm, có những ý định không tỳ vết, đã làm lắng dịu tiến trình thân thể, và tâm được giải thoát tốt đẹp cùng được giải thoát tốt đẹp bằng trí tuệ.

Và thế nào là một Tỳ kheo đã từ bỏ năm yếu tố? Đó là khi một Tỳ kheo đã từ bỏ dục tham, tức giận, tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ, tâm bất an và hối tiếc, và hoài nghi. Đó là cách một Tỳ kheo đã từ bỏ năm yếu tố.

Và thế nào là một Tỳ kheo sở hữu sáu yếu tố? Đó là khi một Tỳ kheo, khi thấy một cảnh sắc bằng mắt, không vui cũng không buồn. Vị ấy giữ tâm xả (equanimous / trạng thái quân bình, không dao động của tâm), tỉnh thức và nhận biết. Nghe một âm thanh bằng tai … Ngửi một mùi hương bằng mũi … Nếm một vị bằng lưỡi … Cảm nhận một sự xúc chạm bằng thân … Biết một ý niệm bằng ý, vị ấy không vui cũng không buồn. Vị ấy giữ tâm xả, tỉnh thức và nhận biết. Đó là cách một Tỳ kheo sở hữu sáu yếu tố.

Và thế nào là một Tỳ kheo có một sự bảo vệ duy nhất? Đó là khi tâm của Tỳ kheo được bảo vệ bởi sự tỉnh thức. Đó là cách một Tỳ kheo có một sự bảo vệ duy nhất.

Và thế nào là một Tỳ kheo có bốn sự hỗ trợ? Sau khi thẩm xét, một Tỳ kheo sử dụng một số thứ, chịu đựng một số thứ, tránh né một số thứ, và loại bỏ một số thứ. Đó là cách một Tỳ kheo có bốn sự hỗ trợ.

Và thế nào là một Tỳ kheo đã loại bỏ các kiến giải riêng biệt về chân lý? Các vị sa môn và bà la môn khác nhau có những kiến giải riêng biệt khác nhau về chân lý. Ví dụ: vũ trụ là thường hằng, hay không thường hằng, là hữu biên, hay vô biên; linh hồn và thân xác là một, hay chúng là khác nhau; sau khi chết, một bậc giác ngộ vẫn tồn tại, hay không còn tồn tại, hay vừa tồn tại vừa không tồn tại, hay không tồn tại cũng không không tồn tại. Một Tỳ kheo đã xua tan, loại bỏ, vứt bỏ, từ chối, buông bỏ, từ bỏ, và từ khước tất cả những điều này. Đó là cách một Tỳ kheo đã loại bỏ các kiến giải riêng biệt về chân lý.

Và thế nào là một Tỳ kheo đã hoàn toàn từ bỏ sự tìm kiếm? Đó là khi họ đã từ bỏ tìm kiếm các dục lạc, tìm kiếm sự hiện hữu (continued existence / bhava, sự tồn tại) tiếp diễn, và tìm kiếm một đời sống phạm hạnh (với mục đích sai lầm). Đó là cách một Tỳ kheo đã hoàn toàn từ bỏ sự tìm kiếm.

Và thế nào là một Tỳ kheo có những ý định không tỳ vết? Đó là khi một Tỳ kheo đã từ bỏ những ý định về dục lạc, ác ý, và sự tàn nhẫn. Đó là cách một Tỳ kheo có những ý định không tỳ vết.

Và thế nào là một Tỳ kheo đã làm lắng dịu tiến trình thân thể? Đó là khi, từ bỏ an ổn (pleasure / lạc) và khổ, và chấm dứt niềm vui và ưu phiền trước đó, họ nhập và an trú trong tứ thiền (fourth absorption / tầng thiền thứ tư), không khổ không an ổn, với xả và niệm thanh tịnh. Đó là cách một Tỳ kheo đã làm lắng dịu tiến trình thân thể (kāyasaṅkhāra, các hoạt động của thân, bao gồm hơi thở).

Và thế nào là một Tỳ kheo tâm được giải thoát tốt đẹp? Đó là khi tâm của Tỳ kheo được giải thoát khỏi tham, sân, và si. Đó là cách một Tỳ kheo tâm được giải thoát tốt đẹp.

Và thế nào là một Tỳ kheo được giải thoát tốt đẹp bằng trí tuệ? Đó là khi một Tỳ kheo hiểu rằng: ‘Tôi đã từ bỏ tham, sân, và si, cắt đứt chúng tận gốc rễ, làm cho chúng như một gốc cây thốt nốt bị chặt, xóa bỏ chúng, để chúng không thể khởi sinh trong tương lai.’ Đó là cách tâm của một Tỳ kheo được giải thoát tốt đẹp bằng trí tuệ.

Này các Tỳ kheo, dù trong quá khứ, tương lai, hay hiện tại, tất cả các bậc Thánh đều an trú trong mười trú xứ của bậc Thánh này. Đây là mười trú xứ của bậc Thánh, nơi các bậc Thánh trong quá khứ, hiện tại, và tương lai an trú."

(X) (20) Thánh Cư (2)

1. Một thời, Thế Tôn trú giữa dân chúng Kuru tại một thị trấn của dân tộc Kuru gọi là Kammàsadhama. Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo… Thế Tôn nói như sau:

2. - Này các Tỷ-kheo, có mười Thánh cư này, với những Thánh cư này, các vị Thánh đã sống, đang sống, và sẽ sống. Thế nào là mười?

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đoạn tận năm chi phần, thành tựu sáu chi phần, hộ trì một sự, đầy đủ bốn y cứ, trừ khử sự thật cá nhân, đã đoạn tận hoàn toàn các tầm cầu, các tư duy không có uế trược, thân hành được khinh an, tâm được khéo giải thoát, tuệ được giải thoát.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đã đoạn tận năm chi phần?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đoạn tận dục tham, đoạn tận sân, đoạn tận hôn trầm thụy miên, đoạn tận trao hối, đoạn tận nghi. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đoạn tận năm chi phần.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo thành tựu sáu chi phần?

5. Ở đây, này các Tỷ kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc không có hân hoan, không có thất vọng, trú xa chánh niệm tỉnh giác; khi tai nghe tiếng… khi mũi ngửi hương… khi lưỡi nếm vị… khi thân cảm xúc, khi ý biết pháp, không có hân hoan, không có thất vọng, trú xa, chánh niệm tỉnh giác. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo thành tựu sáu chi phần.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo hộ trì một sự?

6. Ở đây, này các Tỷ-kheo thành tựu với tâm được niệm hộ trì. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hộ trì một sự. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đầy đủ bốn y cứ? 7. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có đắn đo thân cận một sự, có đắn đo kham nhẫn một sự, có đắn đo tránh né một sự, có đắn đo trừ khử một sự. Như vậy này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ bốn y cứ.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo trừ khử sự thật cá nhân?

8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, đối với những sự sai biệt phổ thông được các Sa-môn, Bà-la-môn phổ thông chấp nhận, như: “Thế nào là thường còn, thế giới là không thường còn; thế giới có giới hạn, thế giới không giới hạn, sinh mạng với thân thể là một, sinh mạng với thân thể là khác; Như Lai có tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại sau khi chết; Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại và không và không không tồn tại sau khi chết” Tất cả những tin tưởng được trừ diệt, trừ bỏ, xả bỏ, quăng bỏ giải tỏa, đoạn tận, từ bỏ Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo trừ khử những sự thật cá nhân.

Và này các Tỷ-kheo, như thế là Tỷ-kheo đã được tận hoàn toàn các tầm cầu?

9. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã đoạn tận dục tầm cầu, đã đoạn tận hữu tầm cầu, Phạm hạnh tầm cầu được khinh an. Như vậy, này Tỷ-kheo, Là Tỷ-kheo đã đoạn tận hoàn toàn các tầm cầu.

Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Ty-kheo các tư duy không có uế trược?

10. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Ty-kheo đã đoạn tận dục tư duy, đã đoạn tận sân tư duy, đã đoạn tận hại tư duy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là các tư duy không có uế trược.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo tâm hành được khinh an?

11. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đoạn khổ, đoạn lạc chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng đạt và an trú Thiền Thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tâm hành được khinh an.

Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo tâm được giải thoát?

12. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tâm được giải thoát khỏi tham, tâm được giải thoát khỏi sân, tâm được giải thoát khỏi si. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo được tâm khéo giải thoát.

Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo với tuệ khéo giải thoát?

13. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết rằng: “Tham ái đã được đoạn tận nơi ta, được chặt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây tàla, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai” rõ biết rằng: “Sân đã được đoạn tận nơi ta… trong tương lai”, rõ biết rằng: “Si đã được đoạn tận nơi ta, được chặt đứt từ gốc rễ, làm cho thân cây tàla, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. “Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo với tuệ khéo giải thoát.

14. Này các Tỷ-kheo, tất cả những vị Thánh nào trong quá khứ đã sống theo Thánh cư, tất cả những vị ấy đã sống theo mười Thánh cư này. Này các Tỷ-kheo, tất cả những vị Thánh nào trong tương lai sẽ sống theo Thánh cư, tất cả những vị ấy sẽ sống theo mười Thánh cư này. Này các Tỷ-kheo, tất cả những vị Thánh nào trong hiện tại sống theo Thánh cư, tất cả những vị ấy đang sống theo mười Thánh cư này.

Này các Tỷ-kheo, đây là mười Thánh cư mà các vị Thánh đã sống đang sống, và sẽ sống.