Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về Upāli

AN 10.31 Với Upāli Upālisutta

Rồi Tôn giả Upāli đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và thưa với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, vì bao nhiêu lý do mà Bậc Giác Ngộ đã đặt ra các điều học (training rules / các quy tắc rèn luyện) cho các đệ tử của Ngài và tụng đọc giới bổn (monastic code / bộ giới luật của Tăng đoàn)?”

“Này Upāli, Bậc Giác Ngộ đã đặt ra các điều học cho các đệ tử của Ngài và tụng đọc giới bổn vì mười lý do. Mười lý do nào? Vì sự tốt đẹp của Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng các vị xuất gia tu học) và vì sự thoải mái của Tăng đoàn. Để kiểm soát những người khó trị và vì sự thoải mái của các Tỳ kheo thiện tâm. Để ngăn ngừa các phiền não (defilements / những trạng thái tâm tiêu cực làm ô nhiễm tâm) ảnh hưởng đến đời này và bảo vệ khỏi các phiền não ảnh hưởng đến các đời sau. Để khơi dậy niềm tin cho những người chưa có niềm tin, và tăng trưởng niềm tin cho những người đã có niềm tin. Vì sự trường tồn của Chánh pháp (true teaching / giáo pháp chân chính) và sự hỗ trợ cho sự tu tập (training / sự rèn luyện và thực hành giáo pháp). Bậc Giác Ngộ đã đặt ra các điều học cho các đệ tử của Ngài và tụng đọc giới bổn vì mười lý do này.”

IV. Phẩm Upàli Và Ananda

(I) (31) Upàli Và Giới Bổn

1. Bấy giờ có tôn giả Upàli đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Upàli bạch Thế Tôn:

2. - Bạch Thế Tôn, do duyên bao nhiêu mục đích, các học pháp thiết lập cho các đệ tử Như Lai và giới bổn Pàtimokkha được tuyên đọc?

− Này Upàli, do duyên mười mục đích, các học pháp được thiết lập cho các đệ tử Như Lai và giới bổn Pàtimokkha được tuyên đọc. Thế nào là mười?

3. Ðể tăng chúng được cực thiện, để Tăng chúng được an ổn, để chận đứng các người cứng đầu, để các thiện Tỷ-kheo được sống an ổn, để chế ngự các lậu hoặc ngay trong hiện tại, để chận đứng các lậu hoặc trong tương lai, để đem lại tịnh tín cho những người không tin, để làm tịnh tín tăng trưởng cho những người có lòng tin, để diệu pháp được tồn tại, để luật được chấp nhận.

Do duyên mười mục đích này, này Upàli, các học pháp được thiết lập cho các đệ tử Như Lai, và giới bổn Pàtimokkha được tuyên đọc.

AN 10.32 Dừng Tụng Đọc Giới Bổn Pātimokkhaṭṭhapanāsutta

“Bạch Thế Tôn, có bao nhiêu cơ sở để dừng việc tụng đọc giới bổn?”

“Này Upāli, có mười cơ sở để dừng việc tụng đọc giới bổn. Mười cơ sở nào? Một Tỳ kheo đã phạm tội bất cộng trụ (expulsion offense / tội nghiêm trọng nhất khiến Tỳ kheo bị trục xuất khỏi Tăng đoàn) đang ngồi trong hội chúng. Một cuộc thảo luận về việc ai đó có phạm tội bất cộng trụ hay không vẫn chưa kết thúc. Một người chưa thọ cụ túc giới (fully ordained / đã được truyền giới đầy đủ để trở thành Tỳ kheo) đang ngồi trong hội chúng. Một cuộc thảo luận về việc ai đó đã thọ cụ túc giới hay chưa vẫn chưa kết thúc. Một người đã từ bỏ sự tu tập đang ngồi trong hội chúng. Một cuộc thảo luận về việc ai đó đã từ bỏ sự tu tập hay chưa vẫn chưa kết thúc. Một hoạn nhân (eunuch / người có khiếm khuyết về cơ quan sinh dục hoặc không xác định rõ giới tính) đang ngồi trong hội chúng. Một cuộc thảo luận về việc ai đó có phải là hoạn nhân hay không vẫn chưa kết thúc. Một người xâm hại Tỳ kheo ni đang ngồi trong hội chúng. Một cuộc thảo luận về việc ai đó có phải là người xâm hại Tỳ kheo ni hay không vẫn chưa kết thúc. Đó là mười cơ sở để dừng việc tụng đọc giới bổn.”

4. - Bạch Thế Tôn, có bao nhiêu trường hợp, giới bổn Pàtimokkha bị ngưng tuyên đọc?

− Này Upàli, có mười trường hợp, giới bổn Pàtimokkha bị ngưng tuyên đọc. Thế nào là mười?

5. Khi có người phạm Ba-la-di tội ngồi trong hội chúng ấy, khi thảo luận về người phạm Ba-la-di tôi chưa chấm dứt, khi có người nào thọ cụ túc giới ngồi trong hội chúng ấy, khi thảo luận về người chưa thọ cụ túc giới chưa chấm dứt, khi một người từ bỏ học pháp ngồi xuống trong hội chúng, khi cuộc thảo luận về con người từ bỏ học pháp chưa chấm dứt, khi có người thiếu nam căn còn ngồi trong hội chúng ấy, khi cuộc thảo luận về người thiếu nam căn chưa chấm dứt, khi có người “ô nhục Tỷ-kheo-ni” còn ngồi trong hội chúng ấy, khi cuộc thảo luân về người ô nhục Tỷ-kheo-ni chưa được chấm dứt.

Này Upàli, đây là mười trường hợp giới bổn Pàtimokkha bị ngưng tuyên đọc.

AN 10.33 Người Phân Xử Ubbāhikāsutta

“Bạch Thế Tôn, một Tỳ kheo cần có bao nhiêu phẩm chất để được xem là người phân xử?”

“Này Upāli, một Tỳ kheo cần có mười phẩm chất để được xem là người phân xử. Mười phẩm chất nào? Đó là khi một Tỳ kheo có giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức), thu thúc trong giới bổn, có hạnh kiểm tốt đẹp và khất thực ở những nơi thích hợp. Thấy sự nguy hiểm trong lỗi nhỏ nhặt nhất, vị ấy giữ gìn các điều học đã thọ nhận. Vị ấy đa văn (very learned / người học rộng, nghe nhiều giáo pháp), ghi nhớ và gìn giữ những gì đã học. Những giáo pháp này toàn hảo ở phần đầu, toàn hảo ở phần giữa, và toàn hảo ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú rõ ràng, mô tả một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Vị ấy đa văn về những giáo pháp như vậy, ghi nhớ chúng, tụng đọc lại, suy xét kỹ lưỡng trong tâm, và thông hiểu về mặt lý thuyết. Cả hai bộ giới bổn (Tỳ kheo và Tỳ kheo ni) đã được truyền trao cho vị ấy một cách chi tiết, được phân tích kỹ, nắm vững, thẩm định rõ ràng cả về giới luật lẫn phần giải thích đi kèm. Vị ấy kiên định và không dao động trong sự tu tập. Khi có các bên đối lập, vị ấy có khả năng thuyết phục, biện hộ, và làm cho họ đồng thuận, khiến họ thấy được quan điểm của phía kia và tin tưởng lẫn nhau. Vị ấy khéo léo trong việc nêu lên và giải quyết các vấn đề kỷ luật (disciplinary issue / sự việc tranh chấp trong Tăng đoàn cần được giải quyết theo luật). Vị ấy biết vấn đề kỷ luật là gì. Vị ấy biết vấn đề kỷ luật phát sinh như thế nào. Vị ấy biết vấn đề kỷ luật chấm dứt như thế nào. Vị ấy biết con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt vấn đề kỷ luật. Một Tỳ kheo cần có mười phẩm chất này để được xem là người phân xử.”

(II) (32) Người Ðoạn Sự

1. - Bạch Thế Tôn, một Tỷ-kheo thành tựu bao nhiêu pháp để được làm người đoạn sự viên? − Này Upàli, một Tỷ-kheo thành tựu mười pháp để được làm người đoạn sự viên. Thế nào là mười?

2. Ở đây, này Upàli, vị Tỷ-kheo giữ giới sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầu đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp, là người nghe nhiều, thọ trì điều đã nghe, cất chứa điều đã nghe. Những pháp nào, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, tán thán Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh, những pháp như vậy, vị ấy được nghe nhiều, được thọ trì, được đọc tụng bằng lời, được quan sát với ý, được khéo léo thể nhập với chánh kiến. Cả hai giới bổn Pàtimokkha được khéo truyền đạt một cách rộng rãi, được khéo phân tích, khéo thông hiểu khéo quyết định theo kinh, theo chi tiết. Vị ấy được khéo an trú trên luật, không có dao động; có khả năng làm cho cả hai phe chống đối thông hiểu, chinh phục họ, làm cho họ thấy, làm cho họ hòa giải với nhau. Vị ấy thiện xảo trong sự sanh khởi và chấm dứt các tránh sự, biết các tránh sự, biết tránh sự sanh khởi, biết tránh sự đoạn diệt, biết con đường đưa đến tránh sự được đoạn diệt.

Thành tựu mười pháp này, này Upàli, Tỷ-kheo được xem là khả năng làm vị đoạn sự viên.

AN 10.34 Truyền Giới Cụ Túc Upasampadāsutta

“Bạch Thế Tôn, một Tỳ kheo cần có bao nhiêu phẩm chất để truyền giới cụ túc?”

“Này Upāli, một Tỳ kheo cần có mười phẩm chất để truyền giới cụ túc. Mười phẩm chất nào? Đó là khi một Tỳ kheo có giới đức, thu thúc trong giới bổn, có hạnh kiểm tốt đẹp và khất thực ở những nơi thích hợp. Thấy sự nguy hiểm trong lỗi nhỏ nhặt nhất, vị ấy giữ gìn các điều học đã thọ nhận. Vị ấy đa văn, ghi nhớ và gìn giữ những gì đã học. Những giáo pháp này toàn hảo ở phần đầu, toàn hảo ở phần giữa, và toàn hảo ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú rõ ràng, mô tả một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Vị ấy đa văn về những giáo pháp như vậy, ghi nhớ chúng, tụng đọc lại, suy xét kỹ lưỡng trong tâm, và thông hiểu về mặt lý thuyết. Cả hai bộ giới bổn (Tỳ kheo và Tỳ kheo ni) đã được truyền trao cho vị ấy một cách chi tiết, được phân tích kỹ, nắm vững, thẩm định rõ ràng cả về giới luật lẫn phần giải thích đi kèm. Vị ấy có khả năng chăm sóc người bệnh hoặc nhờ người khác làm việc đó. Vị ấy có khả năng giải quyết sự bất mãn hoặc nhờ người khác làm việc đó. Vị ấy có khả năng xua tan hối hận khi nó khởi lên. Họ có khả năng dùng như lý tác ý (apply the mind rationally / suy tư với trí tuệ) để khuyên can ai đó từ bỏ những tà kiến (misconceptions / quan điểm, hiểu biết sai lầm) đã khởi lên. Họ có khả năng khuyến khích ai đó trong tăng thượng giới (higher ethics / các tiêu chuẩn đạo đức cao hơn), tăng thượng tâm (higher mind / sự phát triển tâm định cao hơn), và tăng thượng tuệ (higher wisdom / sự phát triển trí tuệ cao hơn). Một Tỳ kheo cần có mười phẩm chất này để truyền giới cụ túc.”

(III) (33) Cụ Túc Giới

1. - Bạch Thế Tôn, thành tựu bao nhiêu pháp, một Tỷ-kheo có khả năng trao truyền cụ túc giới?

− Thành tựu mười pháp, này Upàli, vị Tỷ-kheo có khả năng trao truyền cụ túc giới. Thế nào là mười?

2. Ở đây, này Upàli, Tỷ-kheo có giới, sống được chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp, là người nghe nhiều, thọ trì điều đã được nghe, cất chứa điều đã được nghe… khéo thông hiểu, khéo quyết định, theo kinh, theo chi tiết. Vị ấy có khả năng nuôi dưỡng bệnh nhân hay khiến người nuôi dưỡng, có khả năng làm cho tịnh chỉ bất mãn hay khiến tịnh chỉ bất mãn, có khả năng đoạn trừ đúng pháp ác tác khởi lên, có khả năng phân biệt chỉ trích tà kiến khởi lên, có khả năng khích lệ trong tăng thượng giới, có khả năng khích lệ trong tăng thượng tâm, có khả năng khích lệ trong tăng thượng tuệ.

Thành tựu mười pháp này, này Upàli, một Tỷ-kheo có khả năng trao duyên truyền cụ túc giới.

AN 10.35 Nương Tựa Nissayasutta

“Bạch Thế Tôn, một Tỳ kheo cần có bao nhiêu phẩm chất để cho phép sự nương tựa (dependence / sự bảo trợ và hướng dẫn của một vị thầy Tỳ kheo đối với đệ tử)?”

“Này Upāli, một Tỳ kheo cần có mười phẩm chất để cho phép sự nương tựa. Mười phẩm chất nào? Đó là khi một Tỳ kheo có giới đức … Vị ấy đa văn … Cả hai bộ giới bổn (Tỳ kheo và Tỳ kheo ni) đã được truyền trao cho vị ấy một cách chi tiết, được phân tích kỹ, nắm vững, thẩm định rõ ràng cả về giới luật lẫn phần giải thích đi kèm. Vị ấy có khả năng chăm sóc người bệnh hoặc nhờ người khác làm việc đó. Vị ấy có khả năng giải quyết sự bất mãn hoặc nhờ người khác làm việc đó. Vị ấy có khả năng xua tan hối hận khi nó khởi lên. Họ có khả năng dùng như lý tác ý để khuyên can ai đó từ bỏ những tà kiến đã khởi lên. Họ có khả năng khuyến khích ai đó trong tăng thượng giới, tăng thượng tâm, và tăng thượng tuệ. Một Tỳ kheo cần có mười phẩm chất này để cho phép sự nương tựa.”

(VI) (34) Y Chỉ Sa Di

1. - Thành tựu bao nhiêu pháp, bạch Thế Tôn, một Tỷ-kheo có thể trao truyền y chỉ,…có khả năng nuôi dưỡng Sa-di?

− Thành tựu mười pháp, này Upàli, này Upàli, một Tỷ-kheo có thể trao tuyền y chỉ…có khả năng nuôi dưỡng Sa-di. Thế nào là mười?

2. Ở đây, này Upàli, vị Tỷ-kheo có giới…chấp nhận và học tập trong các học pháp. Là vị nghe nhiều… khéo thể nhập với chánh kiến. Cả hai giới bổn Pàtimokkha, khéo truyền đạt một cách rộng rãi, khéo phân tích, khéo thông hiểu, khéo quyết định, theo kinh, theo chi tiết. Vị ấy có khả năng nuôi dưỡng nhân hay khiến người nuôi dưỡng; có khả năng làm cho tịnh chỉ bất mãn hay khiến người khác tịnh chỉ bất mãn; có khả năng đoạn trừ đúng pháp ác tác khởi lên; có khả năng phân tích chỉ trích tà kiến khởi lên; có khả năng khích lệ trong tăng thượng giới; có khả năng khích lệ trong tăng thượng tâm; có khả năng khích lệ trong tăng thượng tuệ.

Thành tựu mười pháp này, này Upàli., một Tỷ-kheo có khả năng nuôi dưỡng Sa-di.

AN 10.36 Sa Di Sāmaṇerasutta

“Bạch Thế Tôn, một Tỳ kheo cần có bao nhiêu phẩm chất để được một Sa di (novice / người tập sự xuất gia, chưa thọ giới Tỳ kheo) phục vụ?”

“Này Upāli, một Tỳ kheo cần có mười phẩm chất để được một Sa di phục vụ. Mười phẩm chất nào? Đó là khi một Tỳ kheo có giới đức … Vị ấy đa văn … Cả hai bộ giới bổn (Tỳ kheo và Tỳ kheo ni) đã được truyền trao cho vị ấy một cách chi tiết, được phân tích kỹ, nắm vững, thẩm định rõ ràng cả về giới luật lẫn phần giải thích đi kèm. Vị ấy có khả năng chăm sóc người bệnh hoặc nhờ người khác làm việc đó. Vị ấy có khả năng giải quyết sự bất mãn hoặc nhờ người khác làm việc đó. Vị ấy có khả năng xua tan hối hận khi nó khởi lên. Họ có khả năng dùng như lý tác ý để khuyên can ai đó từ bỏ những tà kiến đã khởi lên. Họ có khả năng khuyến khích ai đó trong tăng thượng giới, tăng thượng tâm, và tăng thượng tuệ. Một Tỳ kheo cần có mười phẩm chất này để được một Sa di phục vụ.”

?

AN 10.37 Chia Rẽ Tăng Đoàn Saṁghabhedasutta

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về ‘sự chia rẽ Tăng đoàn’. Sự chia rẽ Tăng đoàn được định nghĩa như thế nào?”

“Này Upāli, đó là khi một Tỳ kheo giải thích điều không phải là giáo pháp thành giáo pháp, và điều là giáo pháp thành không phải là giáo pháp. Họ giải thích điều không phải là sự tu tập thành sự tu tập, và điều là sự tu tập thành không phải sự tu tập. Họ giải thích điều không được Bậc Giác Ngộ nói và tuyên bố thành điều được Bậc Giác Ngộ nói và tuyên bố, và điều được Bậc Giác Ngộ nói và tuyên bố thành điều không được Bậc Giác Ngộ nói và tuyên bố. Họ giải thích điều không được Bậc Giác Ngộ thực hành thành điều được Bậc Giác Ngộ thực hành, và điều được Bậc Giác Ngộ thực hành thành điều không được Bậc Giác Ngộ thực hành. Họ giải thích điều không được Bậc Giác Ngộ quy định thành điều được Bậc Giác Ngộ quy định, và điều được Bậc Giác Ngộ quy định thành điều không được Bậc Giác Ngộ quy định. Dựa trên mười cơ sở này, họ tách riêng và đi con đường riêng của mình. Họ tự mình thực hiện các yết ma (legal acts / các thủ tục Tăng sự chính thức của Tăng đoàn) và tự mình tụng đọc giới bổn. Đó là cách sự chia rẽ Tăng đoàn được định nghĩa.”

(V) (35) Phá Hòa Hợp Tăng

1. - Phá hòa hợp tăng, phá hòa hợp tăng, bạch Thế Tôn được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn là phá hòa hợp Tăng?

2. - Ở đây, này Upáli, các Tỷ-kheo thuyết phi pháp là pháp; thuyết pháp là phi pháp; thuyết phi luật là luật; thuyết luật là phi luật; thuyết điều Như Lai không nói, không thuyết, là điều Như Lai nói, Như Lai thuyết; thuyết điều Như Lai có nói, có thuyết, là điều Như Lai không nói, không thuyết; thuyết điều Như Lai thường không sở hành là điều Như Lai thường sở hành; thuyết điều Như Lai thường sở hành là điều Như Lai không thường sở hành; thuyết điều Như Lai không chế đặt là điều Như Lai chế đặt; thuyết điều Như Lai có chế đặt là điều Như Lai không có chế đặt.

Chính do mười sự này, họ phá hoại, họ chia rẽ, họ hành bất động yết-ma, họ tuyên đọc giới bốn Pátimokkha khác biệt. Cho đến như vậy, này Upàli, là chúng Tăng bị phá hoại.

AN 10.38 Hòa Hợp Tăng Đoàn Saṁghasāmaggīsutta

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về ‘sự hòa hợp Tăng đoàn’. Sự hòa hợp Tăng đoàn được định nghĩa như thế nào?”

“Này Upāli, đó là khi một Tỳ kheo giải thích điều không phải là giáo pháp thành không phải là giáo pháp, và điều là giáo pháp thành giáo pháp. Họ giải thích điều không phải là sự tu tập thành không phải là sự tu tập, và điều là sự tu tập thành sự tu tập. Họ giải thích điều không được Bậc Giác Ngộ nói và tuyên bố thành điều không được Bậc Giác Ngộ nói và tuyên bố, và điều được Bậc Giác Ngộ nói và tuyên bố thành điều được Bậc Giác Ngộ nói và tuyên bố. Họ giải thích điều không được Bậc Giác Ngộ thực hành thành điều không được Bậc Giác Ngộ thực hành, và điều được Bậc Giác Ngộ thực hành thành điều được Bậc Giác Ngộ thực hành. Họ giải thích điều không được Bậc Giác Ngộ quy định thành điều không được Bậc Giác Ngộ quy định, và điều được Bậc Giác Ngộ quy định thành điều được Bậc Giác Ngộ quy định. Dựa trên mười cơ sở này, họ không tách riêng và đi con đường riêng của mình. Họ không tự mình thực hiện các yết ma hay tự mình tụng đọc giới bổn. Đó là cách sự hòa hợp Tăng đoàn được định nghĩa.”

(VI) (36) Hòa Hợp Tăng

1. - Tăng hòa hợp, Tăng hòa hợp. Bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là Tăng hòa hợp?

2. - Ở đây, này Upàli, các Tỷ-kheo thuyết phi pháp là phi pháp; thuyết pháp là pháp; thuyết luật là luật; thuyết phi luật là phi luật; thuyết điều Như Lai không nói, không thuyết, là điều Như Lai không nói, không thuyết; thuyết điều Như Lai có nói, có thuyết là điều Như Lai có nói, có thuyết; điều Như Lai thường không sở hành là điều Như Lai thường không sở hành; thuyết điều Như Lai thường sở hành là điều Như Lai thường sở hành; thuyết điều Như Lai không chế đặt là điều Như Lai không chế đặt; thuyết điều Như Lai có chế đặt là điều Như Lai có chế đặt.

Với mười sự này, các Tỷ-kheo không phá hoại, các Tỷ-kheo không chia rẽ, các Tỷ-kheo không hành bất cộng yết-ma, các Tỷ-kheo không tuyên đọc giới bổn Pàtimkkha khác biệt. Cho đến như vậy, này Upàli, là Tăng chúng được hòa hợp.

AN 10.39 Với Ānanda (Thứ Nhất) Paṭhamaānandasutta

Rồi Tôn giả A Nan đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và thưa với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về ‘sự chia rẽ Tăng đoàn’. Sự chia rẽ Tăng đoàn được định nghĩa như thế nào?”

“Này A Nan, đó là khi một Tỳ kheo giải thích điều không phải là giáo pháp thành giáo pháp … và điều được Bậc Giác Ngộ quy định thành điều không được Bậc Giác Ngộ quy định. Dựa trên mười cơ sở này, họ tách riêng và đi con đường riêng của mình. Họ tự mình thực hiện các yết ma và tự mình tụng đọc giới bổn. Đó là cách sự chia rẽ Tăng đoàn được định nghĩa.”

“Nhưng bạch Thế Tôn, người chia rẽ một Tăng đoàn hòa hợp tạo ra điều gì?”

“Họ tạo ra một tội lỗi kéo dài một kiếp (eon / một đơn vị thời gian rất dài trong vũ trụ quan Phật giáo).”

“Nhưng bạch Thế Tôn, tội lỗi kéo dài một kiếp là gì?”

"Họ bị thiêu đốt trong địa ngục (hell / cảnh giới khổ đau cùng cực) một kiếp, này A Nan.

Người gây chia rẽ ở lại một kiếp
trong cảnh khổ (place of loss / các cõi tái sinh bất hạnh, đau khổ), trong địa ngục.
Chống lại giáo pháp,
thiên vị phe phái, họ phá hoại nơi nương tựa.
Sau khi gây chia rẽ Tăng đoàn hòa hợp,
họ bị thiêu đốt trong địa ngục một kiếp."

(VII) (37) Phá Hòa Hợp Tăng

(Tôn giả Ananda hỏi câu hỏi tương tợ và được câu trả lời tương tợ như kinh 25).

(VIII) (38) Quả Của Phá Hòa Hợp Tăng

1. - Phá hoại Tăng hòa hợp, đem lại kết quả gì?

2. - Này Ananda, đem lại tội ác kéo dài đến một kiếp.

3. - Bạch Thế Tôn, tội ác gì kéo dài một kiếp?

4. - Này Ananda, bị nấu trong địa ngục một kiếp.

Kẻ phá hòa hợp Tăng
Bị rơi vào đọa xứ,
Bị rơi vào địa ngục
Kéo dài đến một kiếp;
Ưa thích sự bất hòa,
An trú trên phi pháp,
An ổn các khố ách,
Lại xa lìa, từ bỏ;
Ai phá sự hòa hợp,
Của Tăng chúng Tỷ-kheo,
Trong một kiếp, người ấy,
Bị địa ngục nung nấu.

AN 10.40 Với Ānanda (Thứ Hai) Dutiyaānandasutta

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về ‘sự hòa hợp Tăng đoàn’. Sự hòa hợp Tăng đoàn được định nghĩa như thế nào?”

“Này A Nan, đó là khi một Tỳ kheo giải thích điều không phải là giáo pháp thành không phải là giáo pháp, và điều là giáo pháp thành giáo pháp. Họ giải thích điều không phải là sự tu tập thành không phải là sự tu tập, và điều là sự tu tập thành sự tu tập. Họ giải thích điều không được Bậc Giác Ngộ nói và tuyên bố thành điều không được Bậc Giác Ngộ nói và tuyên bố, và điều được Bậc Giác Ngộ nói và tuyên bố thành điều được Bậc Giác Ngộ nói và tuyên bố. Họ giải thích điều không được Bậc Giác Ngộ thực hành thành điều không được Bậc Giác Ngộ thực hành, và điều được Bậc Giác Ngộ thực hành thành điều được Bậc Giác Ngộ thực hành. Họ giải thích điều không được Bậc Giác Ngộ quy định thành điều không được Bậc Giác Ngộ quy định, và điều được Bậc Giác Ngộ quy định thành điều được Bậc Giác Ngộ quy định. Dựa trên mười cơ sở này, họ không tách riêng và đi con đường riêng của mình. Họ không tự mình thực hiện các yết ma hay tự mình tụng đọc giới bổn. Đó là cách sự hòa hợp Tăng đoàn được định nghĩa.”

“Nhưng bạch Thế Tôn, người tạo ra sự hòa hợp trong một Tăng đoàn bị chia rẽ tạo ra điều gì?”

“Họ tạo ra phước báu thiêng liêng.”

“Nhưng phước báu thiêng liêng là gì?”

"Họ hưởng niềm vui ở cõi trời (heaven / cảnh giới của chư thiên, nơi hưởng phước báu và hạnh phúc) một kiếp, này A Nan.

Tăng đoàn hòa hợp là hạnh phúc,
cũng như sự ủng hộ người hòa hợp.
Đứng vững trên giáo pháp,
ưa thích hòa hợp, họ không phá hoại nơi nương tựa nào.
Sau khi tạo hòa hợp trong Tăng đoàn,
họ hưởng vui ở cõi trời một kiếp."

(XI) (39) Hòa Hợp Tăng

(Ananda hỏi cùng một câu hỏi như ở kinh 36 và được trả lời tương tợ)

(X) (40) Quả Do Hòa Hợp Tăng Ðưa Lại

1.- Bạch Thế Tôn, với chúng Tăng bị phá, làm cho hòa hợp lại, đem đến kết quả gì?

2. - Này Ananda, đem đến phạm công đức!

3. - Bạch Thế Tôn, thế nào là phạm công đức?

4. - Này Ananda, trong một kiếp, được sống hoan hỷ ở Thiên giới.

Sống an lạc là người,
Làm hòa hợp chúng Tăng;
Sống an lạc là người,
Giúp chúng Tăng hòa hợp;
Ưa thích sự hòa hợp,
An trú trên Chánh pháp.
Ai khiến cho chúng Tăng,
Ðược sống trong hòa hợp,
Trong một kiếp, người ấy
Sống hoan hỷ Thiên giới.