Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm Về Tâm Của Chính Mình

AN 10.51 Tâm Của Chính Mình Sacittasutta

Một thời Đức Phật trú tại Sāvatthī, trong khu vườn của Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika. Tại đó, Đức Phật gọi các Tỳ kheo: “Này các Tỳ kheo!”

“Bạch Thế Tôn,” họ đáp. Đức Phật dạy điều này:

"Này các Tỳ kheo, nếu một Tỳ kheo không khéo léo trong cách thức của tâm người khác, thì vị ấy nên tự rèn luyện: ‘Ta sẽ khéo léo trong cách thức của tâm mình.’

Và làm thế nào một Tỳ kheo khéo léo trong cách thức của tâm mình? Giả sử có một người phụ nữ hay đàn ông trẻ tuổi, thanh xuân, thích trang sức, và họ soi bóng mình trong một tấm gương trong sáng hoặc một chậu nước trong. Nếu họ thấy bất kỳ bụi bẩn hay vết nhơ nào ở đó, họ sẽ cố gắng loại bỏ nó. Nhưng nếu họ không thấy bất kỳ bụi bẩn hay vết nhơ nào ở đó, họ hài lòng với điều đó, vì họ đã có tất cả những gì họ mong muốn: ‘May mắn thay, ta thật sạch sẽ!’ Tương tự như vậy, việc kiểm tra rất hữu ích cho các thiện pháp (skillful qualities / các phẩm chất tốt lành, thiện lành) của một Tỳ kheo. ‘Ta có thường tham ái (covetous / ham muốn, thèm khát) hay không? Ta có thường tức giận hay không? Ta có thường bị tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ xâm chiếm hay không? Ta có thường bồn chồn lo lắng hay không? Ta có thường hoài nghi (doubtful / nghi ngờ) hay không? Ta có thường phẫn uất (irritable / dễ cáu kỉnh, bực bội) hay không? Ta có thường tâm ô nhiễm (corrupted in mind / tâm bị vẩn đục, không trong sạch) hay không? Ta có thường thân dao động (disturbed in body / thân thể không yên ổn) hay không? Ta có thường siêng năng hay không? Ta có thường nhập định (immersed in samādhi / tâm chìm sâu vào trạng thái tập trung cao độ) hay không?’ (Samādhi (concentration / định, sự tập trung tâm ý)).

Giả sử rằng, khi kiểm tra, một Tỳ kheo biết điều này: ‘Ta thường tham ái, tức giận, bị tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ xâm chiếm, bồn chồn lo lắng, hoài nghi, phẫn uất, tâm ô nhiễm, thân dao động, lười biếng, và không nhập định.’ Để từ bỏ những bất thiện pháp (bad, unskillful qualities / các phẩm chất xấu xa, không thiện lành) đó, vị ấy nên áp dụng nhiệt tâm (enthusiasm / lòng hăng hái) mãnh liệt, nỗ lực (effort / sự cố gắng), quyết tâm (zeal / lòng sốt sắng), mãnh lực (vigor / sức mạnh tinh thần), kiên trì (perseverance / sự bền bỉ), tỉnh thức, và tỉnh giác (situational awareness / sự nhận biết rõ ràng hoàn cảnh xung quanh). Giả sử quần áo hoặc đầu của bạn đang cháy. Để dập tắt nó, bạn sẽ áp dụng nhiệt tâm mãnh liệt, nỗ lực, quyết tâm, mãnh lực, kiên trì, tỉnh thức, và tỉnh giác. Tương tự như vậy, để từ bỏ những bất thiện pháp đó, Tỳ kheo ấy nên áp dụng nhiệt tâm mãnh liệt…

Nhưng giả sử rằng, khi kiểm tra, một Tỳ kheo biết điều này: ‘Ta thường tri túc (content / biết đủ), tâm từ (kind-hearted / lòng nhân ái), không bị tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ, tĩnh lặng (calm / yên bình), tự tin (confident / tin tưởng vào bản thân), tâm ái (loving / lòng yêu thương), tâm thanh tịnh (pure in mind / tâm trong sạch), thân không dao động, siêng năng, và nhập định.’ Dựa trên những thiện pháp đó, vị ấy nên thực hành thiền định thêm để đoạn tận các lậu hoặc (defilements / những ô nhiễm, phiền não tiềm ẩn làm rỉ chảy trong tâm)."

VI. Phẩm Tâm Của Mình

(I) (51) Tâm Của Mình (1)

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo.

− Bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

2. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo, không thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, thời cần phải nguyện rằng: “Ta sẽ thiện xảo trong hành tướng tâm của ta.” Như vậy, các Tỷ-kheo các Thầy cần phải học tập. Và này các Tỳ kheo, như thế nào, Tỷ-kheo thiện xảo trong hành tướng tâm của mình?

3. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người đàn bà hay một người đàn ông, còn trẻ, trong tuổi thanh niên, tánh ưa trang điểm, quán sát hình ảnh mặt mình trong tấm gương thanh tịnh trong sáng, hay trong một bát nước trong. Nếu thấy trên mặt có hột bụi hay dấu nhớp gì, người ấy cố gắng đoạn bụi hay dấu nhớp ấy. Nếu không thấy hột bụi hay dấu nhớp, người ấy hoan hỷ, thỏa mãn: “Thật lợi đắc cho ta! Ta thật là trong sạch! “Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát như vậy, được nhiều lợi ích trong các thiện pháp. “Có phải ta sống nhiều với tham? Có phải ta sống nhiều với không tham? Có phải ta sống nhiều với tâm có sân? Có phải ta sống nhiều vớt tâm không có sân? Có phải ta sống nhiều với hôn trầm thụy miên chi phối, hay ta sống nhiều với hôn trầm thụy miên được từ bỏ, Có phải ta sống nhiều với trạo cử, hay ta sống nhiều với không trạo cử? Có phải ta sống nhiều với nghi ngờ, hay ta sống nhiều vượt qua được nghi ngờ? Có phải ta sống nhiều với phẫn nộ, hay ta sống nhiều không bị phẫn nộ? Có phải ta sống nhiều với tâm bị ô nhiễm, hay ta sống nhiều với tâm không bị ô nhiễm? Có phải ta sống nhiều với thân nhiệt nóng, hay ta sống nhiều với thân không nhiệt nóng? Có phải ta sống nhiều với biếng nhác, hay ta sống nhiều với tinh tấn, tinh cần? Có phải ta sống nhiều với không định tĩnh, hay ta sống nhiều với định tĩnh? “

4. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo quán sát như vậy, biết rằng: “Ta sống nhiều với tâm tham; ta sống nhiều với tâm sân; ta sống nhiều với tâm bị hôn trầm thụy miên chi phối; ta sống nhiều với trạo cử; ta sống nhiều với nghi ngờ; ta sống nhiều với phẫn nộ; ta sống nhiều với tâm bị nhiễm ô; ta sống nhiều với thân nhiệt nóng; ta sống nhiều với biếng nhác; ta sống nhiều với không định tĩnh”, thời Tỷ-kheo ấy cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác để đoạn tận các pháp ác bất thiện ấy. Ví như, này các Tỷ-kheo, khi khăn bị cháy, hay khi đầu bị cháy, cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác để dập tắt khăn hay đầu ấy. Cũng vậy này Tỷ kheo, Tỷ kheo ấy cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác để đoạn tận các pháp bất thiện ấy.

5. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo quán sát như vậy biết rằng: “Ta sống nhiều với tâm không tham, ta sống nhiều với tâm không sân, ta sống nhiếu với tâm không trầm thụy miên; ta sống nhiều với tâm không trạo cử; ta sống nhiều với tâm nghi ngờ được vượt qua; ta sống nhiều với tâm không phẫn nộ; ta sống nhiều với tâm không nhiễm ô; ta sống nhiều với thân không nhiệt nóng; ta sống nhiều với tâm tinh tấn, tinh cần; ta sống nhiều với tâm định tĩnh”, thời Tỷ-kheo ấy, sau khi an trú trong các thiện pháp ấy, rồi hơn nữa cần chú tâm đoạn diệt các lậu hoặc.

AN 10.52 Với Sāriputta Sāriputtasutta

Tại đó, Tôn giả Sāriputta gọi các Tỳ kheo: “Này chư Hiền, các Tỳ kheo!”

“Thưa Hiền giả,” họ đáp. Tôn giả Sāriputta nói điều này:

"Này chư Hiền, nếu một Tỳ kheo không khéo léo trong cách thức của tâm người khác, thì vị ấy nên tự rèn luyện: ‘Ta sẽ khéo léo trong cách thức của tâm mình.’

Và làm thế nào một Tỳ kheo khéo léo trong cách thức của tâm mình? Giả sử có một người phụ nữ hay đàn ông trẻ tuổi, thanh xuân, thích trang sức, và họ soi bóng mình trong một tấm gương trong sáng hoặc một chậu nước trong. Nếu họ thấy bất kỳ bụi bẩn hay vết nhơ nào ở đó, họ sẽ cố gắng loại bỏ nó. Nhưng nếu họ không thấy bất kỳ bụi bẩn hay vết nhơ nào ở đó, họ hài lòng với điều đó, vì họ đã có tất cả những gì họ mong muốn: ‘May mắn thay, ta thật sạch sẽ!’

Tương tự như vậy, việc kiểm tra rất hữu ích cho các thiện pháp của một Tỳ kheo. ‘Ta có thường tham ái hay không? Ta có thường tức giận hay không? Ta có thường bị tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ xâm chiếm hay không? Ta có thường bồn chồn lo lắng hay không? Ta có thường hoài nghi hay không? Ta có thường phẫn uất hay không? Ta có thường tâm ô nhiễm hay không? Ta có thường thân dao động hay không? Ta có thường siêng năng hay không? Ta có thường nhập định hay không?’

Giả sử rằng, khi kiểm tra, một Tỳ kheo biết điều này: ‘Ta thường tham ái, tức giận, bị tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ xâm chiếm, bồn chồn lo lắng, hoài nghi, tức giận, tâm ô nhiễm, thân dao động, lười biếng, và không nhập định.’ Để từ bỏ những bất thiện pháp đó, vị ấy nên áp dụng nhiệt tâm mãnh liệt, nỗ lực, quyết tâm, mãnh lực, kiên trì, tỉnh thức, và tỉnh giác. Giả sử quần áo hoặc đầu của bạn đang cháy. Để dập tắt nó, bạn sẽ áp dụng nhiệt tâm mãnh liệt, nỗ lực, quyết tâm, mãnh lực, kiên trì, tỉnh thức, và tỉnh giác. Tương tự như vậy, để từ bỏ những bất thiện pháp đó, Tỳ kheo ấy nên áp dụng nhiệt tâm mãnh liệt…

Nhưng giả sử rằng, khi kiểm tra, một Tỳ kheo biết điều này: ‘Ta thường tri túc, tâm từ, thoát khỏi tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ, tĩnh lặng, tự tin, tâm ái, tâm thanh tịnh, thân không dao động, siêng năng, và nhập định.’ Dựa trên những thiện pháp đó, vị ấy nên thực hành thiền định thêm để đoạn tận các lậu hoặc."

(II) (52) Tâm Của Mình (2)

1. Rồi Tôn giả Sàriputta nói với các Tỷ-kheo:

− Này chư Hiền giả!

− Thưa vâng Tôn giả.

Các Vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau: (giống như kinh trước, chỉ khác đây là tôn giả Sàriputta nói với các Tỷ-kheo).

AN 10.53 Trì Trệ Ṭhitisutta

"Này các Tỳ kheo, Ta không tán thán sự trì trệ (stagnation / sự đình đốn, không tiến triển) trong các thiện pháp, huống chi là sự suy thoái (decline / sự đi xuống, kém đi). Ta tán thán sự tăng trưởng (growth / sự phát triển, đi lên) trong các thiện pháp, không phải sự trì trệ hay suy thoái.

Và thế nào là có sự suy thoái trong các thiện pháp, không phải trì trệ hay tăng trưởng? Đó là khi một Tỳ kheo có một mức độ nhất định về niềm tin, giới (ethics / các quy tắc đạo đức), thí (generosity / sự bố thí, cho đi), trí tuệ, và biện tài (eloquence / khả năng diễn đạt lưu loát, thuyết phục). Những phẩm chất đó không trì trệ cũng không tăng trưởng trong vị ấy. Ta gọi đây là sự suy thoái trong các thiện pháp, không phải trì trệ hay tăng trưởng. Đây là cách có sự suy thoái trong các thiện pháp, không phải trì trệ hay tăng trưởng.

Và thế nào là có sự trì trệ trong các thiện pháp, không phải suy thoái hay tăng trưởng? Đó là khi một Tỳ kheo có một mức độ nhất định về niềm tin, giới, thí, trí tuệ, và biện tài. Những phẩm chất đó không suy thoái cũng không tăng trưởng trong vị ấy. Ta gọi đây là sự trì trệ trong các thiện pháp, không phải suy thoái hay tăng trưởng. Đây là cách có sự trì trệ trong các thiện pháp, không phải suy thoái hay tăng trưởng.

Và thế nào là có sự tăng trưởng trong các thiện pháp, không phải trì trệ hay suy thoái? Đó là khi một Tỳ kheo có một mức độ nhất định về niềm tin, giới, thí, trí tuệ, và biện tài. Những phẩm chất đó không trì trệ cũng không suy thoái trong vị ấy. Ta gọi đây là sự tăng trưởng trong các thiện pháp, không phải trì trệ hay suy thoái. Đây là cách có sự tăng trưởng trong các thiện pháp, không phải trì trệ hay suy thoái.

Nếu một Tỳ kheo không khéo léo trong cách thức của tâm người khác, thì vị ấy nên tự rèn luyện: ‘Ta sẽ khéo léo trong cách thức của tâm mình.’

Và làm thế nào một Tỳ kheo khéo léo trong cách thức của tâm mình? Giả sử có một người phụ nữ hay đàn ông trẻ tuổi, thanh xuân, thích trang sức, và họ soi bóng mình trong một tấm gương trong sáng hoặc một chậu nước trong. Nếu họ thấy bất kỳ bụi bẩn hay vết nhơ nào ở đó, họ sẽ cố gắng loại bỏ nó. Nhưng nếu họ không thấy bất kỳ bụi bẩn hay vết nhơ nào ở đó, họ hài lòng với điều đó, vì họ đã có tất cả những gì họ mong muốn: ‘May mắn thay, ta thật sạch sẽ!’ Tương tự như vậy, việc kiểm tra rất hữu ích cho các thiện pháp của một Tỳ kheo. ‘Ta có thường tham ái hay không? Ta có thường tức giận hay không? Ta có thường bị tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ xâm chiếm hay không? Ta có thường bồn chồn lo lắng hay không? Ta có thường hoài nghi hay không? Ta có thường phẫn uất hay không? Ta có thường tâm ô nhiễm hay không? Ta có thường thân dao động hay không? Ta có thường siêng năng hay không? Ta có thường nhập định hay không?’

Giả sử rằng, khi kiểm tra, một Tỳ kheo biết điều này: ‘Ta thường tham ái, tức giận, bị tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ xâm chiếm, bồn chồn lo lắng, hoài nghi, phẫn uất, tâm ô nhiễm, thân dao động, lười biếng, và không nhập định.’ Để từ bỏ những bất thiện pháp đó, vị ấy nên áp dụng nhiệt tâm mãnh liệt, nỗ lực, quyết tâm, mãnh lực, kiên trì, tỉnh thức, và tỉnh giác. Giả sử quần áo hoặc đầu của bạn đang cháy. Để dập tắt nó, bạn sẽ áp dụng nhiệt tâm mãnh liệt, nỗ lực, quyết tâm, mãnh lực, kiên trì, tỉnh thức, và tỉnh giác. Tương tự như vậy, để từ bỏ những bất thiện pháp đó, Tỳ kheo ấy nên áp dụng nhiệt tâm mãnh liệt…

Nhưng giả sử rằng, khi kiểm tra, một Tỳ kheo biết điều này: ‘Ta thường tri túc, tâm từ, thoát khỏi tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ, tĩnh lặng, tự tin, tâm ái, tâm thanh tịnh, thân không dao động, siêng năng, và nhập định.’ Dựa trên những thiện pháp đó, vị ấy nên thực hành thiền định thêm để đoạn tận các lậu hoặc."

(III) (53) Ðứng Một Chỗ

1. - Này các Tỷ-kheo, Ta không tán thán đứng một chỗ trong các thiện pháp, còn nói gì tổn giảm. Này các Tỷ-kheo, Ta tán thán tăng trưởng trong các thiện pháp, không đứng một chỗ, không tổn giảm. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tổn giảm trong các thiện pháp, đứng một chỗ, không tăng trưởng?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo đang cố gắng để đạt được lòng tin, giới đức, nghe nhiều, bố thí, biện tài với trí tuệ. Các pháp ấy đối với vị này đứng một chỗ, không tăng trường. Này các Tỷ-kheo, Ta gọi như vậy là tổn giảm trong các thiện pháp, đứng một chỗ, không tăng trưởng, này các Tỷ-kheo, là tổn giảm trong các thiện pháp, đứng một chỗ, không tăng trưởng. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là đứng một chỗ trong các thiện pháp, không tổn giảm, không tăng trưởng.

3. - Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cố gắng để đạt được lòng tin, giới đức, nghe nhiều, bố thí và biện tài với trí tuệ. Những pháp ấy đối với vị này, không tổn giảm, không tăng trưởng. Này các Tỷ-kheo, Ta gọi như vậy là đứng một chỗ trong các thiện pháp, không tổn giảm, không tăng trưởng. Như vậy, Này các Tỷ kheo là đứng một chỗ trong các thiện pháp, không tổn giảm, không tăng trưởng. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tăng trưởng trong các biện pháp, không đứng một chỗ, không tổn giảm.

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cố gắng để đạt được lòng tin, giới đức, nghe nhiều, bố thí và biện tài với trí tuệ. Những pháp ấy đối với vị này không đứng một chỗ, không tổn giảm. Này các Tỷ-kheo, Ta gọi như vậy là tăng trưởng trong các thiện pháp, không đứng một chỗ, không tổn giảm. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là tăng trưởng trong các thiện pháp, không đứng một chỗ, không tổn giảm.

5. Này các Tỷ-kheo, dầu Tỷ-kheo không thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, thời cần phải nguyện rằng: “Ta sẽ thiện xảo trong hành tướng tâm của ta”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo thiện xảo trong hành tướng tâm của mình? (như kinh 51, từ đoạn số 3, 4, 5).

AN 10.54 Tĩnh Lặng Samathasutta

"Này các Tỳ kheo, nếu một Tỳ kheo không khéo léo trong cách thức của tâm người khác, thì vị ấy nên tự rèn luyện: ‘Ta sẽ khéo léo trong cách thức của tâm mình.’

Và làm thế nào một Tỳ kheo khéo léo trong cách thức của tâm mình? Giả sử có một người phụ nữ hay đàn ông trẻ tuổi, thanh xuân, thích trang sức, và họ soi bóng mình trong một tấm gương trong sáng hoặc một chậu nước trong. Nếu họ thấy bất kỳ bụi bẩn hay vết nhơ nào ở đó, họ sẽ cố gắng loại bỏ nó. Nhưng nếu họ không thấy bất kỳ bụi bẩn hay vết nhơ nào ở đó, họ hài lòng với điều đó, vì họ đã có tất cả những gì họ mong muốn: ‘May mắn thay, ta thật sạch sẽ!’ Tương tự như vậy, việc kiểm tra rất hữu ích cho các thiện pháp của một Tỳ kheo. ‘Ta có sự tĩnh lặng nội tâm (samatha (serenity / sự vắng lặng của tâm, chỉ)) hay không? Ta có trí tuệ cao hơn về sự quán chiếu các pháp (adhipaññā-dhammavipassanā (higher wisdom of discernment of principles / trí tuệ cao hơn về sự quán chiếu các pháp)) hay không?’ (Adhipaññā (higher wisdom / trí tuệ vượt trội, trí tuệ cao hơn); Dhammavipassanā (discernment of principles / sự thấy rõ các pháp, minh sát pháp)).

Giả sử rằng, khi kiểm tra, một Tỳ kheo biết điều này: ‘Ta có sự tĩnh lặng nhưng không có sự quán chiếu (vipassanā (insight / tuệ quán, sự thấy rõ bản chất các pháp)).’ Dựa trên sự tĩnh lặng, vị ấy nên thực hành thiền định để có được sự quán chiếu. Sau một thời gian, vị ấy có cả sự tĩnh lặng và sự quán chiếu.

Nhưng giả sử rằng, khi kiểm tra, một Tỳ kheo biết điều này: ‘Ta có sự quán chiếu nhưng không có sự tĩnh lặng.’ Dựa trên sự quán chiếu, vị ấy nên thực hành thiền định để có được sự tĩnh lặng. Sau một thời gian, vị ấy có cả sự tĩnh lặng và sự quán chiếu.

Nhưng giả sử rằng, khi kiểm tra, một Tỳ kheo biết điều này: ‘Ta không có cả sự tĩnh lặng lẫn sự quán chiếu.’ Để có được những thiện pháp đó, vị ấy nên áp dụng nhiệt tâm mãnh liệt, nỗ lực, quyết tâm, mãnh lực, kiên trì, tỉnh thức, và tỉnh giác. Giả sử quần áo hoặc đầu của bạn đang cháy. Để dập tắt nó, bạn sẽ áp dụng nhiệt tâm mãnh liệt, nỗ lực, quyết tâm, mãnh lực, kiên trì, tỉnh thức, và tỉnh giác. Tương tự như vậy, để có được những thiện pháp đó, Tỳ kheo ấy nên áp dụng nhiệt tâm mãnh liệt… Sau một thời gian, vị ấy có cả sự tĩnh lặng và sự quán chiếu.

Nhưng giả sử rằng, khi kiểm tra, một Tỳ kheo biết điều này: ‘Ta có cả sự tĩnh lặng và sự quán chiếu.’ Dựa trên những thiện pháp đó, vị ấy nên thực hành thiền định thêm để đoạn tận các lậu hoặc.

Ta nói rằng có hai loại y phục (robes / áo cà sa): loại nên mặc và loại không nên mặc. Ta nói rằng có hai loại vật thực khất thực (almsfood / thức ăn nhận được từ việc đi khất thực): loại nên ăn và loại không nên ăn. Ta nói rằng có hai loại sàng tọa (lodging / chỗ ở, nơi nghỉ ngơi): loại nên lui tới và loại không nên lui tới. Ta nói rằng có hai loại làng mạc hay thị trấn: loại nên lui tới và loại không nên lui tới. Ta nói rằng có hai loại xứ sở: loại nên lui tới và loại không nên lui tới. Ta nói rằng có hai loại người: loại nên thân cận (frequent / gần gũi, lui tới) và loại không nên thân cận.

‘Ta nói rằng có hai loại y phục: loại nên mặc và loại không nên mặc.’ Đó là điều Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Chà, nếu bạn biết về một loại y phục: ‘Khi ta mặc y phục này, các bất thiện pháp tăng trưởng, và các thiện pháp suy giảm.’ Bạn không nên mặc loại y phục đó. Trong khi đó, nếu bạn biết về một loại y phục: ‘Khi ta mặc y phục này, các bất thiện pháp suy giảm, và các thiện pháp tăng trưởng.’ Bạn nên mặc loại y phục đó. ‘Ta nói rằng có hai loại y phục: loại nên mặc và loại không nên mặc.’ Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

‘Ta nói rằng có hai loại vật thực khất thực: loại nên ăn và loại không nên ăn.’ Đó là điều Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Chà, nếu bạn biết về một loại vật thực khất thực: ‘Khi ta ăn vật thực khất thực này, các bất thiện pháp tăng trưởng, và các thiện pháp suy giảm.’ Bạn không nên ăn loại vật thực khất thực đó. Trong khi đó, nếu bạn biết về một loại vật thực khất thực: ‘Khi ta ăn vật thực khất thực này, các bất thiện pháp suy giảm, và các thiện pháp tăng trưởng.’ Bạn nên ăn loại vật thực khất thực đó. ‘Ta nói rằng có hai loại vật thực khất thực: loại nên ăn và loại không nên ăn.’ Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

‘Ta nói rằng có hai loại sàng tọa: loại nên lui tới và loại không nên lui tới.’ Đó là điều Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Chà, nếu bạn biết về một loại sàng tọa: ‘Khi ta lui tới sàng tọa này, các bất thiện pháp tăng trưởng, và các thiện pháp suy giảm.’ Bạn không nên lui tới loại sàng tọa đó. Trong khi đó, nếu bạn biết về một loại sàng tọa: ‘Khi ta lui tới sàng tọa này, các bất thiện pháp suy giảm, và các thiện pháp tăng trưởng.’ Bạn nên lui tới loại sàng tọa đó. ‘Ta nói rằng có hai loại sàng tọa: loại nên lui tới và loại không nên lui tới.’ Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

‘Ta nói rằng có hai loại làng mạc hay thị trấn: loại nên lui tới và loại không nên lui tới.’ Đó là điều Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Chà, nếu bạn biết về một làng mạc hay thị trấn: ‘Khi ta lui tới làng mạc hay thị trấn này, các bất thiện pháp tăng trưởng, và các thiện pháp suy giảm.’ Bạn không nên lui tới loại làng mạc hay thị trấn đó. Trong khi đó, nếu bạn biết về một làng mạc hay thị trấn: ‘Khi ta lui tới làng mạc hay thị trấn này, các bất thiện pháp suy giảm, và các thiện pháp tăng trưởng.’ Bạn nên lui tới loại làng mạc hay thị trấn đó. ‘Ta nói rằng có hai loại làng mạc hay thị trấn: loại nên lui tới và loại không nên lui tới.’ Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

‘Ta nói rằng có hai loại xứ sở: loại nên lui tới và loại không nên lui tới.’ Đó là điều Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Chà, nếu bạn biết về một xứ sở: ‘Khi ta lui tới xứ sở này, các bất thiện pháp tăng trưởng, và các thiện pháp suy giảm.’ Bạn không nên lui tới loại xứ sở đó. Trong khi đó, nếu bạn biết về một xứ sở: ‘Khi ta lui tới xứ sở này, các bất thiện pháp suy giảm, và các thiện pháp tăng trưởng.’ Bạn nên lui tới loại xứ sở đó. ‘Ta nói rằng có hai loại xứ sở: loại nên lui tới và loại không nên lui tới.’ Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

‘Ta nói rằng có hai loại người: loại nên thân cận và loại không nên thân cận.’ Đó là điều Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Chà, nếu bạn biết về một người: ‘Khi ta thân cận người này, các bất thiện pháp tăng trưởng, và các thiện pháp suy giảm.’ Bạn không nên thân cận loại người đó. Trong khi đó, nếu bạn biết về một người: ‘Khi ta thân cận người này, các bất thiện pháp suy giảm, và các thiện pháp tăng trưởng.’ Bạn nên thân cận loại người đó. ‘Ta nói rằng có hai loại người: loại nên thân cận và loại không nên thân cận.’ Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy."

(VI) (54) Tịnh Chỉ

1. - Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không thiện xảo trong hành tướng tâm của người khác, thời cũng phải nguyện rằng: “Ta sẽ thiện xảo trong hành tướng tâm của ta”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo thiện xảo trong hành tướng tâm của mình?

2. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người đàn bà hay một người đàn ông, còn trẻ, trong tuổi thanh niên, ưa muốn trang điểm, quán sát hình ảnh mặt mình trong tấm gương thanh tịnh trong sáng, hay trong một bát nước trong. Nếu thấy trên mặt có một hột bụi hay dấu nhớp gì, người ấy cố gắng đoạn trừ hột bụi ấy hay dấu nhớp ấy. Nếu không thấy hột bụi hay dấu nhớp, người ấy hoan hỷ thỏa mãn: “Thật lợi đắc cho ta! Ta thật là trong sạch! “. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát như vậy được nhiều lợi ích trong các thiện pháp: “Có phải ta được lợi đắc nội tâm tịnh chỉ, hay ta không được lợi đắc nội tâm tịnh nhỉ? Có phải ta được tăng thượng tuệ pháp quán, hay không được tăng thượng tuệ pháp quán?

3. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát, biết như sau: “Ta có được nội tâm tịnh chỉ, nhưng ta không được tăng thượng tuệ pháp quán”, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi an trú nội tâm tịnh chỉ, cần phải nỗ lực để đạt cho được tăng thượng tuệ pháp quán ấy; sau một thời gian, đạt được nội tâm tịnh chỉ và được tăng thượng tuệ pháp quán.

4. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát, biết như sau: “Ta có được tăng thượng tuệ pháp quán, nhưng không có được nội tâm tịnh chỉ”, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi an trú tăng thượng tuệ pháp quán, cần phải nổ lực để đạt cho được nội tâm tịnh chỉ. Vị ấy sau một thời gian, đạt được tăng thượng tuệ pháp quán và chứng được nội tâm tịnh chỉ.

5. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát, biết như sau: “Ta không có được nội tâm tịnh chỉ. Ta không có được tăng thượng tuệ pháp quán”, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác để đạt cho được các thiện pháp. Ví như, này các Tỷ-kheo, khi khăn bị cháy hay khi đầu bị cháy, cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác để dập tắt khăn ấy hay đầu ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác để đạt cho được các thiện pháp ấy. Vị ấy trong một thời gian khác, đạt được nội tâm tịnh chỉ và đạt được tăng thượng tuệ pháp quán.

6. Nhưng này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi quan sát biết như sau: “Ta có được nội tâm tịnh chỉ, ta có được tăng thượng tuệ pháp quán”, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy sau khi an trú trong các thiện pháp ấy, cần phải nỗ lực, chú tâm để đoạn diệt các lậu hoặc nữa.

7. Này các Tỷ kheo, ta nói, Y có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng. Này các Tỳ kheo, Ta cũng nói, đồ ăn khất thực có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng. Này các Tỳ Kheo, Ta cũng nói,sàng tọa có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng… Ta cũng nói, làng, thị trấn có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng… Này các Tỳ kheo, Ta cũng nói,Quốc Ðộ có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng… Này các Tỷ kheo. Ta cũng nói, người có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng.

8. Này các Tỳ kheo, Ta nói, Y có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?

Ở đây, nếu biết được y áo nào: “Y áo này, được ta sử dụng, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tồn giảm”, thời y áo như vậy không nên sử dụng, Ở đây, nếu biết được y áo nào: “Y áo này, được ta sử dụng,các pháp bất thiện tồn giảm, các thiện pháp tăng trưởng”, thời y áo như vậy nên sử dụng.

Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, y có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên này được nói đến như vậy.

9. Này các Tỳ Kheo, Ta nói rằng, đồ ăn khất thực có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?

Ở đây, nếu biết được đồ ăn khất thực nào: “Ðồ ăn khất thực này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tồn giảm”, thời đồ ăn khất thực như vậy không nên sử dụng. Ở đây, nếu biết được đồ ăn khất thực nào: “Ðồ ăn khất thực này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tổn giảm, các thiện pháp tăng trưởng”, thời đồ ăn khất thực như vậy nên sử dụng.

Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, đồ ăn khất thực có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên này được nói đến như vậy.

10. Này các Tỳ-Kheo, Ta nói rằng, sàng tọa có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?

Ở đây, nếu biết được sàng tọa nào: “Sàng tọa này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tồn giảm”, thời sàng tọa như vậy không nên sử dụng. Ở đây, nếu biết được sàng tọa nào: “Sàng tọa này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tồn giảm, các pháp thiện tăng trưởng”, thời sàng tọa như vậy nên sử dụng.

Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, sàng tọa có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?

11.- Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, làng, thị trấn có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?

Ở đây, nếu biết được làng, thị trấn nào: “Làng, thị trấn này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện bị tổng giảm”, thời làng, thị trấn như vậy không nên sử dụng. Ở đây, nếu biết được làng, thị trấn nào: “Làng, thị trấn được ta sử dụng, các pháp thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng”, thời làng, thị trấn như vậy nên sử dụng.

Này, các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, làng, thị trấn có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên này được nói đến như vậy.’

12. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, quốc độ có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?

Ở đây, nếu biết được quốc độ nào: “Quốc độ này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tăng trưởng, các thiện pháp tồn giảm”, thời quốc độ như vậy không nên sử dụng. Ở đây, nếu biết được quốc độ nào: “Quốc độ này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tổn giảm, các thiện pháp tăng trưởng”, thời quốc độ như vậy nên sử dụng”.

Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, quốc độ có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên này được nói đến như vậy.

13. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, người có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?

Ở đây, nếu biết được người nào: “Người này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tôn giảm”, thời người như vậy không nên sử dụng. Ở đây, nếu biết được người nào: “Người này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tôn giảm, các thiện tăng trưởng”, thời người như vậy nên sử dụng Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, người có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên này được nói đến như vậy.

AN 10.55 Suy Thoái Parihānasutta

Tại đó, Tôn giả Sāriputta gọi các Tỳ kheo: “Này chư Hiền, các Tỳ kheo!”

“Thưa Hiền giả,” họ đáp. Tôn giả Sāriputta nói điều này:

“Này chư Hiền, người ta nói về một người dễ bị suy thoái, và một người không dễ bị suy thoái. Nhưng Đức Phật đã định nghĩa một người dễ bị suy thoái, và một người không dễ bị suy thoái như thế nào?”

“Thưa Hiền giả, chúng con sẵn lòng đi một quãng đường dài để học ý nghĩa của lời dạy này trước sự hiện diện của Tôn giả Sāriputta. Mong Tôn giả Sāriputta vui lòng làm rõ ý nghĩa của điều này. Các Tỳ kheo sẽ lắng nghe và ghi nhớ.”

“Vậy thì hãy lắng nghe và khéo tác ý, tôi sẽ nói.”

“Vâng, thưa Hiền giả,” họ đáp. Tôn giả Sāriputta nói điều này:

"Đức Phật đã định nghĩa một người dễ bị suy thoái như thế nào? Đó là khi một Tỳ kheo không được nghe một giáo pháp chưa từng được nghe trước đây. Vị ấy quên những giáo pháp đã được nghe. Vị ấy không thường xuyên thực hành những giáo pháp đã quen thuộc. Và vị ấy không hiểu rõ những điều chưa từng hiểu trước đây. Đó là cách Đức Phật định nghĩa một người dễ bị suy thoái.

Và Đức Phật đã định nghĩa một người không dễ bị suy thoái như thế nào? Đó là khi một Tỳ kheo được nghe một giáo pháp chưa từng được nghe trước đây. Vị ấy nhớ những giáo pháp đã được nghe. Vị ấy thường xuyên thực hành những giáo pháp đã quen thuộc. Và vị ấy hiểu rõ những điều chưa từng hiểu trước đây. Đó là cách Đức Phật định nghĩa một người không dễ bị suy thoái.

Nếu một Tỳ kheo không khéo léo trong cách thức của tâm người khác, thì vị ấy nên tự rèn luyện: ‘Ta sẽ khéo léo trong cách thức của tâm mình.’

Và làm thế nào một Tỳ kheo khéo léo trong cách thức của tâm mình? Giả sử có một người phụ nữ hay đàn ông trẻ tuổi, thanh xuân, thích trang sức, và họ soi bóng mình trong một tấm gương trong sáng hoặc một chậu nước trong. Nếu họ thấy bất kỳ bụi bẩn hay vết nhơ nào ở đó, họ sẽ cố gắng loại bỏ nó. Nhưng nếu họ không thấy bất kỳ bụi bẩn hay vết nhơ nào ở đó, họ hài lòng với điều đó, vì họ đã có tất cả những gì họ mong muốn: ‘May mắn thay, ta thật sạch sẽ!’

Tương tự như vậy, việc kiểm tra rất hữu ích cho các thiện pháp của một Tỳ kheo. ‘Sự tri túc (contentment / sự hài lòng, biết đủ) có thường được tìm thấy trong ta hay không? Tâm từ ái (kind-heartedness / lòng nhân ái) có thường được tìm thấy trong ta hay không? Sự thoát khỏi tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ có thường được tìm thấy trong ta hay không? Sự tĩnh lặng có thường được tìm thấy trong ta hay không? Niềm tin vững chắc (confidence / sự tin tưởng chắc chắn) có thường được tìm thấy trong ta hay không? Tâm bi mẫn (love / lòng thương yêu chúng sinh) có thường được tìm thấy trong ta hay không? Tâm thanh tịnh có thường được tìm thấy trong ta hay không? Niềm vui nội tâm với giáo pháp có được tìm thấy trong ta hay không? Sự tĩnh lặng nội tâm có được tìm thấy trong ta hay không? Trí tuệ cao hơn về sự quán chiếu các pháp có được tìm thấy trong ta hay không?’

Giả sử một Tỳ kheo, trong khi kiểm tra, không thấy bất kỳ phẩm chất thiện lành nào trong chính mình. Để có được chúng, vị ấy nên áp dụng nhiệt tâm mãnh liệt, nỗ lực, quyết tâm, mãnh lực, kiên trì, tỉnh thức, và tỉnh giác. Giả sử quần áo hoặc đầu của bạn đang cháy. Để dập tắt nó, bạn sẽ áp dụng nhiệt tâm mãnh liệt, nỗ lực, quyết tâm, mãnh lực, kiên trì, tỉnh thức, và tỉnh giác. Tương tự như vậy, vị ấy nên áp dụng nhiệt tâm mãnh liệt để có được những thiện pháp đó…

Giả sử một Tỳ kheo, trong khi kiểm tra, thấy một số phẩm chất thiện lành này trong chính mình, nhưng không thấy những phẩm chất khác. Dựa trên những thiện pháp mà vị ấy thấy, vị ấy nên áp dụng nhiệt tâm mãnh liệt, nỗ lực, quyết tâm, mãnh lực, kiên trì, tỉnh thức, và tỉnh giác để có được những thiện pháp mà vị ấy không thấy. Giả sử quần áo hoặc đầu của bạn đang cháy. Để dập tắt nó, bạn sẽ áp dụng nhiệt tâm mãnh liệt, nỗ lực, quyết tâm, mãnh lực, kiên trì, tỉnh thức, và tỉnh giác. Tương tự như vậy, dựa trên những thiện pháp mà vị ấy thấy, vị ấy nên áp dụng nhiệt tâm mãnh liệt để có được những thiện pháp mà vị ấy không thấy.

Nhưng giả sử một Tỳ kheo, trong khi kiểm tra, thấy tất cả những phẩm chất thiện lành này trong chính mình. Dựa trên tất cả những thiện pháp này, vị ấy nên thực hành thiền định thêm để đoạn tận các lậu hoặc."

(V) (55) Tổn Giảm

1. Ở đây, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỷ-kheo:

− Này chư Hiền Tỷ-kheo.

− Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau:

2. - Có người bản tánh tổn giảm, có người bản tánh là không tổn giảm, này chư Hiền, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào này chư Hiền, người bản tánh là tổn giảm được Thế Tôn nói đến? Cho đến như thế nào, này chư Hiền, người bản tánh là không tổn giảm được Thế Tôn nói đến?

− Thưa Hiền giả, chúng tôi đi từ xa đến để được hiểu rõ ý nghĩa lời nói này từ Tôn giả Sàriputta. Lành thay, nếu ý nghĩa lời nói này được Tôn giả Sàriputta nói lên. Sau khi nghe Tôn giả Sàriputta, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.

− Vậy này chư Hiền, hãy nghe và khéo tác ý, ta sẽ nói:

− Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tông giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau:

− Cho đến như thế nào, này chư Hiền, người bản tánh là tổng giảm được Thế Tôn nói đến?

3. Ở đây, này chư Hiền, Tỷ-kheo không nghe pháp chưa được nghe, và pháp đã được nghe đi đến bị quên; các pháp trước kia tâm đã có cảm xúc, những pháp ấy không được hiện hành, và không thức tri những pháp không được thức tri. Cho đến như vậy, này chư Hiền, người bản tánh là tổn giảm được Thế Tôn nói đến. Nhưng này chư Hiền, cho đến như thế nào, này chư Hiền, người bản tánh là không tổn giảm được Thế Tôn nói đến?

4. Ở đây, này chư Hiền, Tỷ-kheo nghe pháp chưa được nghe, và các thiện pháp được nghe không có quên đi. Và những pháp nào trước kia tâm đã có cảm xúc, những pháp ấy được hiện hành, và thức tri những pháp chưa được thức tri. Cho đến như vậy, này chư Hiền, là người bản tánh không bị tổn giảm được Thế Tôn nói đến.

5. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo không thiện xảo, trong hành tướng tâm của người khác, thời cũng phải nguyện rằng: “Ta sẽ thiện xảo trong hành tướng tâm của ta”. Như vậy, này chư Hiền, chư Hiền cần phải học tập. Và này chư Hiền, thế nào là Tỷ-kheo thiện xảo trong hành tướng tâm của mình?

6. Ví như, này chư Hiền, một người đàn bà hay một người đàn ông, còn trẻ, trong tuổi thanh niên, tánh ưa trang điểm, quán sát hình ảnh mặt của mình trong tấm gương thanh tịnh trong sáng, hay trong một bát nước trong, nếu thấy trên mặt có hột bụi hay dấu nhớp gì, người ấy cố gắng đoạn trừ hột bụi hay dấy nhớp ấy. Nếu không thấy hột bụi hay dấu nhớp người ấy hoan hỷ thỏa mãn: “Thật lợi đắc cho ta! Trong ta thật là trong sạch! “. Cũng vậy, này chư Hiền, Tỷ-kheo có quán sát như vậy, được nhiều lợi ích trong các thiện pháp: “Có phải ta sống nhiều với không tham, không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta sống nhiều với tâm không sân? Không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta sống nhiều với hôn trầm thụy miên đã từ bỏ? Không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta sống nhiều với không trạo cử? Không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta sống nhiều với nghi ngờ đã được vượt qua? Không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta sống nhiều với không phẫn nộ? Không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta sống nhiều với tâm không nhiễm ô? Không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta có được nội tâm pháp hỷ? Không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta đã được nội tâm an chỉ? Không biết trong ta có pháp này hay không có? Có phải ta đã có được tối thắng tuệ pháp quán? Không biết trong ta có pháp này hay không có? “

7. Này chư Hiền, nếu vị Tỷ-kheo trong khi quán sát, không thấy có trong tự ngã tất cả thiện pháp này, thời Tỷ-kheo ấy cần phải quyết định ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác, để có được tất cả thiện pháp này. Ví như, này chư Hiền, khi khăn bị cháy hay khi đầu bị cháy, cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác, để dập tắt khăn ấy hay đầu ấy. Cũng vậy, này chư Hiền, Tỷ-kheo ấy cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dũng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác, để có được tất cả thiện pháp này.

8. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát, thấy trong tự ngã có một số thiện pháp và không thấy có một số thiện pháp, thời này chư Hiền, đối với các thiện pháp nào vị ấy thấy có trong tự ngã, vị ấy an trú trong các thiện pháp ấy. Ðối với các thiện pháp nào, vị ấy không thấy có trong tự ngã, vị ấy cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác để có được tất cả thiện pháp này. Ví như, này chư Hiền, khi khăn bị cháy hay khi đầu bị cháy, cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác để dập tắt khăn ấy hay đầu ấy. Cũng vậy, này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo, trong khi quán sát, thấy trong tự ngã có một số thiện pháp, thời an trú trong các thiện pháp ấy. Còn đối với các thiện pháp vị ấy không thấy trong tự ngã, vị ấy cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác để có được các thiện pháp ấy.

9. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát, thấy tất cả pháp này đều có trong tự ngã, thời này chư Hiền, Tỷ-kheo ấy sau khi an trú trong tất cả thiện pháp này, cần phải nỗ lực chú tâm để đoạn diệt các lậu hoặc.

AN 10.56 Nhận Thức (Thứ Nhất) Paṭhamasaññāsutta

“Này các Tỳ kheo, mười nhận thức (perceptions / tưởng, nhận biết-phân biệt và gắn nhãn) này, khi được tu tập và làm cho sung mãn, thì có quả lớn, lợi ích lớn. Chúng đưa đến bất tửkết thúc nơi bất tử. Mười nhận thức đó là gì? Nhận thức về sự bất tịnh (Bất tịnh tưởng (perception of ugliness / nhận thức về sự không trong sạch, không đẹp đẽ của thân)), nhận thức về cái chết (Tử tưởng (perception of death / nhận thức về sự chết)), nhận thức về sự ghê tởm của thức ăn (Aahāre paṭikūlasaññā (perception of repulsiveness of food / nhận thức về sự đáng ghê của vật thực)), nhận thức về sự không ham thích đối với toàn thế gian (Sabbaloke anabhiratasaññā (perception of dissatisfaction with the whole world / nhận thức về sự không vui thích trong tất cả thế giới)), nhận thức về sự vô thường (Aniccasaññā (perception of impermanence / nhận thức về tính không bền vững, luôn thay đổi)), nhận thức về khổ trong vô thường (Anicce dukkhasaññā (perception of suffering in impermanence / nhận thức về sự đau khổ trong cái vô thường)), và nhận thức về vô ngã trong khổ (Dukkhe anattasaññā (perception of not-self in suffering / nhận thức về tính không có tự ngã, không có cái tôi thường hằng trong sự đau khổ)), nhận thức về sự từ bỏ (Pahānasaññā (perception of giving up / nhận thức về sự đoạn trừ, buông bỏ)), nhận thức về sự phai nhạt (Virāgasaññā (perception of fading away / nhận thức về sự ly tham, nhạt phai ham muốn)), và nhận thức về sự chấm dứt (Nirodhasaññā (perception of cessation / nhận thức về sự diệt tận khổ đau, Niết-bàn)). Mười nhận thức này, khi được tu tập và làm cho sung mãn, thì có quả lớn, lợi ích lớn. Chúng đưa đến bất tử và kết thúc nơi bất tử.”

(VI) (56) Tưởng (1)

1. - Này các Tỷ-kheo, mười tưởng này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến quả lớn, lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh. Thế nào là mười?

2. Tưởng bất tịnh, tưởng chết, tưởng nhàm chán trong các món ăn, tưởng không hoan hỷ đối với tất cả thế giới, tưởng vô thường, tưởng khổ trên vô thường, tưởng vô ngã trên khổ, tưởng đoạn tận, tưởng ly tham, tưởng đoạn diệt.

Này các Tỷ-kheo, mười tưởng này, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến quả lớn, lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh.

AN 10.57 Nhận Thức (Thứ Hai) Dutiyasaññāsutta

“Này các Tỳ kheo, mười nhận thức này, khi được tu tập và làm cho sung mãn, thì có quả lớn, lợi ích lớn. Chúng đưa đến bất tử và kết thúc nơi bất tử. Mười nhận thức đó là gì? Nhận thức về sự vô thường, nhận thức về vô ngã (Anattasaññā (perception of not-self / nhận thức về tính không có tự ngã, không có cái tôi thường hằng)), nhận thức về cái chết, nhận thức về sự ghê tởm của thức ăn, nhận thức về sự không ham thích đối với toàn thế gian, nhận thức về bộ xương (Aṭṭhikasaññā (perception of a skeleton / nhận thức về hình ảnh bộ xương)), nhận thức về tử thi bị dòi bọ rúc rỉa (Puḷavakasaññā (perception of a worm-infested corpse / nhận thức về tử thi đầy dòi)), nhận thức về tử thi tái xanh (Vinīlakasaññā (perception of a livid corpse / nhận thức về tử thi có màu xanh tím)), nhận thức về tử thi nứt vỡ (Vicchiddakasaññā (perception of a split open corpse / nhận thức về tử thi bị rách, nứt toác)), và nhận thức về tử thi sình trương (Uddhumātakasaññā (perception of a bloated corpse / nhận thức về tử thi phồng lên)). Mười nhận thức này, khi được tu tập và làm cho sung mãn, thì có quả lớn, lợi ích lớn. Chúng đưa đến bất tử và kết thúc nơi bất tử.”

(VII) (57) Tưởng (2)

1. - Này các Tỷ-kheo, có mười tưởng này, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến quả lớn, lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh. Thế nào là mười?

2. Tưởng vô thường, tưởng vô ngã, tưởng chết, tưởng nhàm chán trong các món ăn, tưởng không hoan hỷ đối với tất cả thế giới, tưởng xương, tưởng trùng ăn, tưởng xanh bầm, tưởng nứt nẻ, tưởng trương phồng.

Này các Tỷ-kheo, mười tưởng này được tụ tập, được làm cho sung mãn, đưa đến quả lớn, lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh.

AN 10.58 Cội Rễ Mūlakasutta

“Này các Tỳ kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo (wanderers of other religions / những người tu hành theo các tôn giáo khác không phải Phật giáo) hỏi: ‘Thưa chư Hiền, tất cả các phápcội rễ là gì? Điều gì sinh khởi từ đâu chúng? Nguồn gốc của chúng là gì? Nơi hội tụ của chúng là gì? Đầu não của chúng là gì? Người cai quản của chúng là gì? Người giám sát của chúng là gì? Cốt lõi của chúng là gì? Đỉnh cao của chúng là gì? Kết thúc cuối cùng của chúng là gì?’ Các vị sẽ trả lời họ như thế nào?”

“Giáo pháp của chúng con lấy Đức Phật làm gốc, lấy Đức Phật làm người dẫn đường, lấy Đức Phật làm nơi nương tựa. Bạch Thế Tôn, mong Đức Phật vui lòng làm rõ ý nghĩa của điều này. Các Tỳ kheo sẽ lắng nghe và ghi nhớ.”

“Vậy thì, này các Tỳ kheo, hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” họ đáp. Đức Phật nói điều này:

“Này các Tỳ kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi: ‘Thưa chư Hiền, tất cả các pháp có cội rễ là gì? Điều gì sinh khởi từ đâu chúng? Nguồn gốc của chúng là gì? Nơi hội tụ của chúng là gì? Đầu não của chúng là gì? Người cai quản của chúng là gì? Người giám sát của chúng là gì? Cốt lõi của chúng là gì? Đỉnh cao của chúng là gì? Kết thúc cuối cùng của chúng là gì?’ Các vị nên trả lời họ: ‘Thưa chư Hiền, tất cả các pháp đều bắt nguồn từ dục (Chanda (desire / ý muốn, ước muốn làm)). Chúng được sinh khởi bởi tác ý (Manasikāra (attention / sự chú tâm, tác ý)). Xúc (Phassa (contact / sự chạm, tiếp xúc)) là nguồn gốc của chúng. Thọ (Vedanā (feeling / cảm giác, cảm thọ)) là nơi hội tụ của chúng. Định (Samādhi (concentration / định, sự tập trung tâm ý)) là đầu não của chúng. Tỉnh thức (Sati (mindfulness / niệm, sự nhớ, tỉnh thức)) là người cai quản của chúng. Trí tuệ (Paññā (wisdom / trí tuệ)) là người giám sát của chúng. Giải thoát (Vimutti (liberation / sự giải thoát)) là cốt lõi của chúng. Chúng đạt đến đỉnh cao là bất tử (Amata (deathless / bất tử)). Và Niết-bàn (Nibbāna (extinguishment / Niết-bàn)) là kết thúc cuối cùng của chúng.’ Khi bị các du sĩ ngoại đạo chất vấn, đó là cách các vị nên trả lời họ.”

(VIII) (58) Lấy Căn Bản Nơi Thế Tôn

1. - Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo có thể hỏi như sau: “Này chư Hiền, tất cả pháp lấy gì làm căn bản? Tất cả pháp lấy gì làm sanh khởi? Tất cả pháp lấy gì làm tập khởi? Tất cả pháp lấy gì làm chỗ quy tụ? Tất cả pháp lấy gì làm thượng thủ? Tất cả pháp lấy gì làm tăng thượng? Tất cả pháp lấy gì làm tối thượng? Tất cả pháp lấy gì làm lõi cây? Tất cả pháp lấy gì làm chỗ thể nhập? Tất cả pháp lấy gì làm cứu cánh? “Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy như thế nào?

− Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, pháp lấy Thế Tôn làm căn bổn, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm nương tựa… Thật lành thay, bạch Thế Tôn, nếu nghĩa của lời nói này được Thế Tôn nói lên! Sau khi nghe Thế Tôn nói, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.

− Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

2. - Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi như sau: “Này chư Hiền, tất cả pháp lấy gì làm căn bản? Tất cả pháp lấy gì làm sanh khởi? Tất cả pháp lấy gì làm tập khởi? Tất cả pháp lấy gì làm chỗ quy tụ? Tất cả pháp lấy gì làm thượng thủ? Tất cả pháp lấy gì làm tăng thượng? Tất cả pháp lấy gì làm tối thượng? Tất cả pháp lấy gì làm lõi cây? Tất cả pháp lấy gì làm chỗ thể nhập? Tất cả pháp lấy gì làm cứu cánh? “

Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy có thể trả lời như sau: “Tất cả pháp lấy dục làm căn bản, Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ quy tụ. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây. Tất cả pháp lấy bất tử làm chỗ thể nhập. Tất cả pháp lấy Niết-bản làm cứu cánh.”

Này các Tỷ-kheo, được hỏi vậy, các Thầy có thể trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy như vậy.

AN 10.59 Xuất Gia Pabbajjāsutta

"Vậy các thầy nên tu tập như sau: ‘Tâm của chúng ta sẽ được củng cố như khi chúng ta mới xuất gia (going forth / từ bỏ đời sống thế tục để tu hành), và các pháp bất thiện đã sinh khởi sẽ không chiếm hữu tâm chúng ta. Tâm của chúng ta sẽ được củng cố trong các nhận thức về vô thường, vô ngã, bất tịnh và sự nguy hại (Ādīnavasaññā (perception of drawbacks / nhận thức về những điều bất lợi, nguy hiểm)). Biết điều gì là công bằng và không công bằng trên thế gian, tâm của chúng ta sẽ được củng cố trong nhận thức đó. Biết sự tiếp diễn và sự chấm dứt của hiện hữu trên thế gian, tâm của chúng ta sẽ được củng cố trong nhận thức đó. Biết sự sinh khởi và sự chấm dứt của thế gian, tâm của chúng ta sẽ được củng cố trong nhận thức đó. Tâm của chúng ta sẽ được củng cố trong các nhận thức về sự từ bỏ, sự phai nhạt và sự chấm dứt.’ Đó là cách các thầy nên tu tập.

Khi tâm của các thầy được củng cố trong mười nhận thức này, các thầy có thể mong đợi một trong hai kết quả: giác ngộ (Aññā (final knowledge / thắng trí, sự hiểu biết cuối cùng)) ngay trong đời này, hoặc nếu còn dư sót, thì chứng quả Bất Lai (non-return / anāgāmitā, tầng thánh thứ ba, không còn trở lại cõi dục)."

(IX) (59) Xuất Gia

1. - Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập như sau:

2. “Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập như khi xuất gia; các pháp bất thiện được sanh không có chinh phục tâm và tồn tại; tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng vô thường; tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng vô ngã; tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng bất tịnh; tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng nguy hại; sau khi biết được thế giới thăng bằng và không thăng bằng, tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng ấy. Sau khi biết được thế giới sanh khởi và đoạn diệt, tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng ấy. Sau khi biết được thế giới tập khởi và chấm dứt, tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng ấy; tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng đoạn tận; tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng ly tham, và tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng đoạn diệt.”

Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.

3. Khi nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo được tâm thực hành tích tập như khi xuất gia, và các pháp bất thiện sanh khởi không chinh phục tâm và an trú, và tâm được thực hành tích tập với tưởng vô thường, và tâm được thực hành tích tập với tưởng vô ngã, và tâm được thực hành tích tập với tưởng nguy hại; sau khi biết thế giới thăng bằng và không thăng bằng, tâm được thực hành tích tập với tưởng ấy; sua khi biết thế giới sanh khởi và đoạn diệt, tâm được thực hành tích tập với tưởng ấy. Sau khi biết thế giới tập khởi và chấm dứt, tâm được thực hành tích tập với tưởng ấy; tâm được thực hành tích tập với tưởng đoạn tận; tâm được thực hành tích tập với tưởng ly tan rã tham; tâm được thực hành tích tập với tưởng đoạn diệt.

Ðối với vị ấy, một trong hai quả này được chờ đợi, chánh trí ngay trong hiện tại hay nếu có dư y, chứng được Bất hoàn.

AN 10.60 Với Girimānanda Girimānandasutta

Một thời Đức Phật trú tại Sāvatthī, trong khu vườn của Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Girimānanda bị bệnh, đau đớn, bệnh nặng. Khi ấy, Tôn giả Ānanda đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và thưa với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, Tôn giả Girimānanda bị bệnh, đau đớn, bệnh nặng. Bạch Thế Tôn, xin Ngài hãy đến thăm Tôn giả Girimānanda vì lòng từ mẫn.”

"Ānanda, nếu con đọc cho Tỳ kheo Girimānanda mười nhận thức này, có thể sau khi nghe chúng, bệnh của ông ấy sẽ thuyên giảm ngay tại chỗ.

Mười nhận thức đó là gì? Nhận thức về vô thường, vô ngã, bất tịnh, sự nguy hại, sự từ bỏ, sự phai nhạt, sự chấm dứt, sự không ham thích đối với toàn thế gian, nhận thức về sự vô thường của tất cả các pháp hữu vi (Sabbasaṅkhāresu aniccasaññā (perception of the impermanence of all conditioned phenomena / nhận thức về tính vô thường của tất cả các pháp do duyên hợp)), và niệm hơi thở (Ānāpānasati (mindfulness of breathing / sự chú tâm vào hơi thở ra vào)). (Pháp hữu vi (conditioned phenomena / các sự vật, hiện tượng được tạo tác bởi các điều kiện, không thường hằng)).

Và thế nào là nhận thức về vô thường? Đó là khi một Tỳ kheo đi đến một nơi hoang dã, hoặc gốc cây, hoặc một túp lều trống, và quán chiếu như sau: ‘Sắc, thọ, tưởng, hành, thức (form, feeling, perception, choices, consciousness / năm nhóm yếu tố cấu thành con người và kinh nghiệm, còn gọi là ngũ uẩn) là vô thường.’ Và như vậy, vị ấy thiền quán sát vô thường trong năm thủ uẩn (five grasping aggregates / năm nhóm yếu tố bị chấp thủ, gây ra khổ đau). Đây gọi là nhận thức về vô thường.

Và thế nào là nhận thức về vô ngã? Đó là khi một Tỳ kheo đi đến một nơi hoang dã, hoặc gốc cây, hoặc một túp lều trống, và quán chiếu như sau: ‘Mắt và cảnh sắc, tai và âm thanh, mũi và mùi hương, lưỡi và vị nếm, thân và xúc chạm, ý và ý tưởng là vô ngã.’ Và như vậy, vị ấy thiền quán sát vô ngã trong sáu nội ngoại xứ (six interior and exterior sense fields / sáu giác quan bên trong và sáu đối tượng giác quan bên ngoài). Đây gọi là nhận thức về vô ngã.

Và thế nào là nhận thức về bất tịnh? Đó là khi một Tỳ kheo quán sát thân này từ lòng bàn chân trở lên, từ ngọn tóc trở xuống, bao bọc bởi da và đầy những thứ dơ bẩn. ‘Trong thân này có tóc đầu, lông mình, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy xương, thận, tim, gan, cơ hoành, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, thức ăn chưa tiêu, phân, mật, đờm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, dầu nhờn, nước bọt, nước mũi, dịch khớp, nước tiểu.’ Và như vậy, vị ấy thiền quán sát bất tịnh trong thân này. Đây gọi là nhận thức về bất tịnh.

Và thế nào là nhận thức về sự nguy hại? Đó là khi một Tỳ kheo đi đến một nơi hoang dã, hoặc gốc cây, hoặc một túp lều trống, và quán chiếu như sau: ‘Thân này có nhiều đau khổ và nhiều nguy hại. Vì thân này bị nhiều loại bệnh tật hành hạ, như sau: Bệnh mắt, tai trong, mũi, lưỡi, thân, đầu, tai ngoài, miệng, răng, và môi. Ho, hen suyễn, viêm mũi, viêm, sốt, đau dạ dày, ngất xỉu, kiết lỵ, đau bụng, dịch tả, bệnh phong, nhọt, chàm, lao, động kinh, mụn rộp, ngứa, ghẻ, đậu mùa, ghẻ lở, xuất huyết, tiểu đường, trĩ, mụn trứng cá, và loét. Những bệnh tật phát sinh từ sự rối loạn của mật, đờm, gió, hoặc sự kết hợp của chúng. Những bệnh tật do thay đổi thời tiết, do không tự chăm sóc bản thân, do gắng sức quá độ, hoặc do kết quả của nghiệp quá khứ. Lạnh, nóng, đói, khát, đại tiện, và tiểu tiện.’ Và như vậy, vị ấy thiền quán sát sự nguy hại trong thân này. Đây gọi là nhận thức về sự nguy hại.

Và thế nào là nhận thức về sự từ bỏ? Đó là khi một Tỳ kheo không dung thứ một ý nghĩ về dục vọng, ác ý, hoặc tàn nhẫn đã khởi lên, và vị ấy không dung thứ bất kỳ bất thiện pháp nào đã khởi lên, mà từ bỏ chúng, loại bỏ chúng, tiêu diệt chúng, và xóa bỏ chúng. Đây gọi là nhận thức về sự từ bỏ.

Và thế nào là nhận thức về sự phai nhạt? Đó là khi một Tỳ kheo đi đến một nơi hoang dã, hoặc gốc cây, hoặc một túp lều trống, và quán chiếu như sau: ‘Đây là sự bình yên; đây là sự cao thượng—nghĩa là, sự lắng dịu của tất cả các hành (Hành (activities / saṅkhāra, các pháp hữu vi, các hiện tượng được tạo tác, bao gồm cả ý chí và các hoạt động tâm lý khác)), sự xả bỏ tất cả các chấp thủ (Chấp thủ (attachments / upādāna, sự bám víu, dính mắc)), sự đoạn tận của ái dục (Ái dục (craving / taṇhā, sự khao khát, ham muốn)), ly tham (Virāga (dispassion / sự ly tham)), Niết-bàn.’ Đây gọi là nhận thức về sự phai nhạt.

Và thế nào là nhận thức về sự chấm dứt? Đó là khi một Tỳ kheo đi đến một nơi hoang dã, hoặc gốc cây, hoặc một túp lều trống, và quán chiếu như sau: ‘Đây là sự bình yên; đây là sự cao thượng—nghĩa là, sự lắng dịu của tất cả các hành, sự xả bỏ tất cả các chấp thủ, sự đoạn tận của ái dục, sự chấm dứt (Nirodha (cessation / sự diệt)), Niết-bàn.’ Đây gọi là nhận thức về sự chấm dứt.

Và thế nào là nhận thức về sự không ham thích đối với toàn thế gian? Đó là khi một Tỳ kheo sống từ bỏ và không bám víu vào sự lôi cuốn và chấp thủ đối với thế gian, sự cố chấp trong tâm, sự khăng khăng và các khuynh hướng ngủ ngầm (Khuynh hướng ngủ ngầm (underlying tendencies / anusaya, những phiền não tiềm ẩn, chưa bị nhổ bật gốc rễ)). Đây gọi là nhận thức về sự không ham thích đối với toàn thế gian.

Và thế nào là nhận thức về sự vô thường của tất cả các pháp hữu vi? Đó là khi một Tỳ kheo kinh sợ, ghê tởm và chán ngán tất cả các pháp hữu vi. Đây gọi là nhận thức về sự vô thường của tất cả các pháp hữu vi.

Và thế nào là niệm hơi thở? Đó là khi một Tỳ kheo đi đến một nơi hoang dã, hoặc gốc cây, hoặc một túp lều trống, ngồi xuống kiết già, giữ thân thẳng, và thiết lập tỉnh thức trước mặt. Chỉ tỉnh thức, vị ấy thở vào. Tỉnh thức, vị ấy thở ra. Thở vào dài, vị ấy biết: ‘Tôi đang thở vào dài.’ Thở ra dài, vị ấy biết: ‘Tôi đang thở ra dài.’ Khi thở vào ngắn, vị ấy biết: ‘Tôi đang thở vào ngắn.’ Thở ra ngắn, vị ấy biết: ‘Tôi đang thở ra ngắn.’ Vị ấy thực hành như sau: ‘Tôi sẽ thở vào cảm nhận toàn thân.’ Vị ấy thực hành như sau: ‘Tôi sẽ thở ra cảm nhận toàn thân.’ Vị ấy thực hành như sau: ‘Tôi sẽ thở vào làm lắng dịu thân hành.’ (Thân hành (physical process / kāyasaṅkhāra, các hoạt động liên quan đến thân, ở đây là hơi thở)). Vị ấy thực hành như sau: ‘Tôi sẽ thở ra làm lắng dịu thân hành.’ Vị ấy thực hành như sau: ‘Tôi sẽ thở vào cảm nhận niềm vui.’ Vị ấy thực hành như sau: ‘Tôi sẽ thở ra cảm nhận niềm vui.’ Vị ấy thực hành như sau: ‘Tôi sẽ thở vào cảm nhận an ổn.’ Vị ấy thực hành như sau: ‘Tôi sẽ thở ra cảm nhận an ổn.’ Vị ấy thực hành như sau: ‘Tôi sẽ thở vào cảm nhận tâm hành.’ (Tâm hành (mental processes / cittasaṅkhāra, các hoạt động của tâm, ở đây là thọ và tưởng)). Vị ấy thực hành như sau: ‘Tôi sẽ thở ra cảm nhận tâm hành.’ Vị ấy thực hành như sau: ‘Tôi sẽ thở vào làm lắng dịu tâm hành.’ Vị ấy thực hành như sau: ‘Tôi sẽ thở ra làm lắng dịu tâm hành.’ Vị ấy thực hành như sau: ‘Tôi sẽ thở vào cảm nhận tâm.’ Vị ấy thực hành như sau: ‘Tôi sẽ thở ra cảm nhận tâm.’ Vị ấy thực hành như sau: ‘Tôi sẽ thở vào làm tâm hoan hỷ.’ Vị ấy thực hành như sau: ‘Tôi sẽ thở ra làm tâm hoan hỷ.’ Vị ấy thực hành như sau: ‘Tôi sẽ thở vào định tâm.’ Vị ấy thực hành như sau: ‘Tôi sẽ thở ra định tâm.’ Vị ấy thực hành như sau: ‘Tôi sẽ thở vào giải thoát tâm.’ Vị ấy thực hành như sau: ‘Tôi sẽ thở ra giải thoát tâm.’ Vị ấy thực hành như sau: ‘Tôi sẽ thở vào quán sát vô thường.’ Vị ấy thực hành như sau: ‘Tôi sẽ thở ra quán sát vô thường.’ Vị ấy thực hành như sau: ‘Tôi sẽ thở vào quán sát sự phai nhạt.’ Vị ấy thực hành như sau: ‘Tôi sẽ thở ra quán sát sự phai nhạt.’ Vị ấy thực hành như sau: ‘Tôi sẽ thở vào quán sát sự chấm dứt.’ Vị ấy thực hành như sau: ‘Tôi sẽ thở ra quán sát sự chấm dứt.’ Vị ấy thực hành như sau: ‘Tôi sẽ thở vào quán sát sự từ bỏ.’ Vị ấy thực hành như sau: ‘Tôi sẽ thở ra quán sát sự từ bỏ.’ Đây gọi là niệm hơi thở.

Nếu con đọc cho Tỳ kheo Girimānanda mười nhận thức này, có thể sau khi nghe chúng, bệnh của ông ấy sẽ thuyên giảm ngay tại chỗ."

Khi ấy, Tôn giả Ānanda, sau khi học mười nhận thức này từ chính Đức Phật, đã đến gặp Tôn giả Girimānanda và đọc lại chúng. Sau khi Tôn giả Girimānanda nghe mười nhận thức này, bệnh của ngài đã thuyên giảm ngay tại chỗ. Và như vậy, ngài đã bình phục khỏi cơn bệnh đó.

(X) (60) Girimananda

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn của ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Girimànanda bị bịnh, khổ đau, bị trọng bịnh. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

2. - Tôn giả Girimànanda, bạch Thế Tôn, bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Lành thay, nếu Thế Tôn đi đến Tôn giả Girimànanda, vì lòng từ mẫn.

− Này Ananda, nếu Thầy đi đến Tỷ-kheo Girimànanda và đọc lên mười tưởng, thời sự kiện này có thể xảy ra: Tỷ-kheo Girimànanda sau khi được nghe mười tưởng bệnh của vị ấy có thể được thuyên giảm ngay lập tức! Thế nào là mười?

3. Tưởng vô thường, tưởng vô ngã, tưởng bất tịnh, tưởng nguy hại, tưởng đoạn tận tưởng từ bỏ, tưởng đoạn diệt, tưởng nhàm chán đối với tất cả thế giới, tưởng vô thường trong tất cả hành, tưởng niệm hơi thở vô hơi thở ra. Và này Ananda, thế nào là tưởng vô thường?

4. Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo đi đến ngôi rừng, hay đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, quán sát như sau: “Sắc là vô thường, thọ là vô thường, tưởng là vô thường, hành là vô thường, thức là vô thường.” Như vậy vị ấy trú, tùy quán vô thường, trong năm thú uẩn này. Này Ananda, đây gọi là tưởng vô thường. Và này Ananda, thế nào là tưởng vô ngã?

5. Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo đi đến khu rừng hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, quán sát như sau: “Mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã; tai là vô ngã, các tiếng là vô ngã; mũi là vô ngã, các hương là vô ngã; lưỡi là vô ngã, các vị là vô ngã; thân là vô ngã, xúc là vô ngã; ý là vô ngã, các pháp là vô ngã.” Này Ananda, đây gọi là tưởng vô ngã. Và này, Ananda thế nào là tưởng bất tịnh?

6. Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo quán sát thân này từ bàn chân trở lên, từ đỉnh tóc trở xuống, được da bao bọc, đầy những vật bất tịnh sai biệt như: “Trong thân này có tóc, lông, móng, răng, da, thịt, dây gân, xương, tủy, thận, quả tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm (niêm dịch), mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mũi, nước ở khớp xương, nước tiểu”. Như vậy, vị ấy trú quán bất tịnh trong thân này. Này Ananda, đây gọi là tưởng bất tịnh. Và này Ananda, thế nào là tưởng nguy hại?

7. Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, quán sát như sau: “Nhiều khổ là thân này, nhiều dự nguy hại. Như vậy trong thân này, nhiều lợi bệnh khởi lên. Ví như bệnh đau mắt, bệnh đau về tai, bệnh đau mũi, bệnh đau lưỡi, bệnh đau thân, bệnh đau đầu, bệnh đau vành tai, bệnh đau miệng, bệnh đau răng, bệnh ho, bệnh suyễn, bệnh sổ mũi, bệnh sốt, bệnh già yếu, bệnh đau yếu, bệnh đau bụng, bất tỉnh, kiết lỵ, bệnh đau bụng quặn, bệnh thổ tả, bệnh hủi, bệnh ung nhọt, bệnh ghẻ lở, bệnh ho lao, bệnh trúng gió, bệnh da, bệnh ngứa, bệnh da đóng vảy, bệnh hắc lào lang ben, bệnh ghẻ, bệnh huyết đảm (mật trong máu), bệnh đái đường, bệnh trĩ, bệnh mụt nhọt, bệnh ung nhọt ung loét, các bệnh khởi lên do mật, bênh khởi lên từ đàm, niêm dịch, các bệnh khởi lên từ gió; bệnh do hòa hợp các thể dịch sinh ra; cắc bệnh do thời tiết sinh ra, cắc bệnh do làm việc quá độ sanh, các bệnh do sự trùng hợp các sự kiên; các bệnh do nghiệp thuần thục, lạnh, nóng, đói khát, đại tiện, tiểu tiện”. Như vậy, vị ấy sống, quán sự nguy hại trong thân này. Này Ananda, đây gọi là các tưởng nguy hại. Và này Ananda, thế nào là tưởng đoạn tận?

8. Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo, không có chấp nhận dục tầm đã sanh, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, đi đến không sanh trưởng; không có chấp nhận sân tầm đã sanh, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, đi đến không sanh trưởng; không có chấp nhận hại tầm… đã sanh…; không có chấp nhận các ác bất thiện pháp tiếp tục khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, đi đến không sanh trưởng. Này Ananda, đây được gọi tưởng đoạn tận. Và này Ananda, thế nào là từ bỏ?

9. Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, suy xét như sau: “Ðây là an tịnh, đây là thù thắng, tức là sự an chỉ tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, Niết bàn. Và này Ananda, thế nào là tưởng đoạn diệt?

10. Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, suy xét như sau: “Ðây là an tịnh, đây là thù thắng, tức là sự an chỉ tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, Niết bàn”. Và này Ananda, thế nào là tưởng không ưa thích trong tất cả thế giới?

11. Ở đây, này Ananda, phàm ở đời có những chấp thủ phương tiện, tâm quyết định, thiên kiến, tùy miên nào, Tỷ-kheo từ bỏ chúng, không ưa thích, không chấp thủ. Này Ananda, đây gọi là tưởng không hoan hỷ đối với tất cả thế giới. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tưởng vô thường trong tất cả hành?

12. Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo bực phiền, xấu hổ, nhàm chán đối với tất cả hành. Này Ananda, đây gọi là vô thường trong tất cả hành. Và này Ananda, thế nào là tưởng niệm hơi thở vào, hơi thở ra?

13. Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo đi đến khu rừng hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, ngồi kiết-già, lưng thẳng, để niệm trước mặt. Chánh niệm, vị ấy thở vô; chánh niệm, vị ấy thở ra. Thở vô dài, vị ấy rõ biết: “Tôi thở vô dài”. Thở ra dài, vị ấy rõ biết: “Tôi thở ra dài”, Hay thở vô ngắn, vị ấy rõ biết “Tôi thở vô ngắn”; hay thở ra ngắn, vị ấy rõ biết: “Tôi thở ra ngắn”. “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác toàn thân tội sẽ thở ra”, vị ấy tập “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra,” vị ấy tập. “Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác về tâm, Tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Quán vô thường, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán vô thường, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Quán ly tham, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán ly tham, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. Này Ananda, đó là niệm hơi thở vô, hơi thở ra.

14. Này Ananda, nếu Thầy đi đến Tỷ-kheo Girimànanda và đọc lên mười tưởng này, sự kiện này có xảy ra: Tỷ-kheo Girimànanda, sau khi nghe mười tưởng này, bệnh của vị ấy được thuyên giảm ngay lập tức”.

15. Rồi Tôn giả Ananda, sau khi học thuộc từ Thế Tôn mười tưởng này, đi đến Tôn giả Girimànanda, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Girimànanda mười tưởng này. Và Tôn giả Girimànanda, sau khi nghe mười tưởng này, bệnh của vị ấy được thuyên giảm ngay lập tức. Tôn giả Girimànanda, được thoát khỏi bệnh ấy. Ðược đoạn tận như vậy là chứng bệnh ấy của Tôn giả Girimànanda.