Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm Về Điều Mong Muốn

AN 10.71 Nếu Ai Mong Ước Ākaṅkhasutta

Một thời Đức Phật trú gần Sāvatthī, tại Kỳ Viên, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Tại đây, Đức Phật gọi các vị tỳ kheo: “Này các thầy tỳ kheo!”

“Bạch Thế Tôn,” họ đáp. Đức Phật dạy điều này:

"Này các thầy tỳ kheo, hãy sống theo giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức) và giới bổn Pātimokkha (monastic code / bộ quy tắc ứng xử cho tu sĩ). Hãy sống thu thúc trong giới bổn Pātimokkha (restrained by the monastic code / sống có kỷ luật theo bộ quy tắc ứng xử cho tu sĩ), có hạnh kiểm tốt đẹp và hành xứ đúng đắn (seeking alms in suitable places / đi khất thực ở những nơi phù hợp). Thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt nhất, hãy thọ trì các học giới mà các thầy đã nguyện giữ.

Một vị tỳ kheo có thể mong muốn: ‘Mong sao ta được các bạn đồng tu yêu mến và chấp thuận, kính trọng và ngưỡng mộ.’ Vậy hãy để vị ấy hoàn thiện giới đức của mình, tận tâm với tâm tịch tĩnh nội tại (inner serenity of the heart / sự yên tĩnh sâu sắc bên trong tâm), không xao lãng thiền định (absorption / trạng thái tập trung cao độ của tâm), được phú cho biện tài (discernment / khả năng phân biệt, nhận rõ), và thường xuyên ở những nơi vắng vẻ.

Một vị tỳ kheo có thể mong muốn: ‘Mong sao ta nhận được y phục, vật thực, chỗ ở, và thuốc men cùng vật dụng cho người bệnh.’ Vậy hãy để vị ấy hoàn thiện giới đức của mình, tận tâm với tâm tịch tĩnh nội tại, không xao lãng thiền định, được phú cho biện tài, và thường xuyên ở những nơi vắng vẻ.

Một vị tỳ kheo có thể mong muốn: ‘Mong sao sự phục vụ của những người mà ta thọ nhận y phục, vật thực, chỗ ở, và thuốc men cùng vật dụng cho người bệnh được nhiều quả phúc và lợi ích to lớn cho họ.’ Vậy hãy để vị ấy hoàn thiện giới đức của mình …

Một vị tỳ kheo có thể mong muốn: ‘Khi thân bằng quyến thuộc đã quá vãng tưởng nhớ đến ta với tâm tịnh tín, mong sao điều này được nhiều quả phúc và lợi ích to lớn cho họ.’ Vậy hãy để vị ấy hoàn thiện giới đức của mình …

Một vị tỳ kheo có thể mong muốn: ‘Mong sao ta biết đủ với bất kỳ loại y phục, vật thực, chỗ ở, và thuốc men cùng vật dụng cho người bệnh nào.’ Vậy hãy để vị ấy hoàn thiện giới đức của mình …

Một vị tỳ kheo có thể mong muốn: ‘Mong sao ta chịu đựng được lạnh, nóng, đói, và khát. Mong sao ta chịu đựng được sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, và các loài bò sát. Mong sao ta chịu đựng được những lời chỉ trích thô lỗ và không mong muốn. Và mong sao ta chịu đựng được những cơn đau thể xác—những cơn đau nhói, dữ dội, cấp tính, khó chịu, không vừa ý, và nguy hiểm đến tính mạng.’ Vậy hãy để vị ấy hoàn thiện giới đức của mình …

Một vị tỳ kheo có thể mong muốn: ‘Mong sao ta chế ngự được tham ái và bất mãn, và mong sao tham ái và bất mãn không chế ngự được ta. Mong sao ta sống kiểm soát được tham ái và bất mãn mỗi khi chúng khởi lên.’ Vậy hãy để vị ấy hoàn thiện giới đức của mình …

Một vị tỳ kheo có thể mong muốn: ‘Mong sao ta chế ngự được sợ hãi và kinh hoàng, và mong sao sợ hãi và kinh hoàng không chế ngự được ta. Mong sao ta sống kiểm soát được sợ hãi và kinh hoàng mỗi khi chúng khởi lên.’ Vậy hãy để vị ấy hoàn thiện giới đức của mình …

Một vị tỳ kheo có thể mong muốn: ‘Mong sao ta đạt được bốn tầng thiền (four absorptions / bốn cấp độ của thiền định)—những trạng thái thiền định hỷ lạc trong đời này, thuộc về tâm cao thượng—bất cứ khi nào muốn, một cách dễ dàng, không khó khăn.’ Vậy hãy để vị ấy hoàn thiện giới đức của mình …

Một vị tỳ kheo có thể mong muốn: ‘Mong sao ta chứng ngộ được tâm giải thoát và tuệ giải thoát vô nhiễm (undefiled freedom of heart and freedom by wisdom / sự giải thoát của tâm và sự giải thoát bằng trí tuệ, không còn bị ô nhiễm bởi phiền não) ngay trong đời này, và sống tự mình chứng ngộ do sự đoạn tận các lậu hoặc (defilements / những ô nhiễm tiềm ẩn làm rỉ chảy tâm trí).’ Vậy hãy để vị ấy hoàn thiện giới đức của mình, tận tâm với tâm tịch tĩnh nội tại, không xao lãng thiền định, được phú cho biện tài, và thường xuyên ở những nơi vắng vẻ.

‘Hãy sống theo giới đức và giới bổn Pātimokkha. Hãy sống thu thúc trong giới bổn Pātimokkha, có hạnh kiểm tốt đẹp và hành xứ đúng đắn. Thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt nhất, hãy thọ trì các học giới mà các thầy đã nguyện giữ.’ Đó là những gì Ta đã nói, và đây là lý do Ta nói điều đó."

VIII. Phẩm Ước Nguyện

(I) (71) Ước Nguyện

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn Anàthapindika. Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:

2. - Này các Tỷ-kheo, hãy sống đầy đủ giới, đầu đủ giới bổn Pàtimokkha. Hãy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập các học pháp.

Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng ta được các đồng Phạm hạnh thương mến, yêu quý, cung kính và bắt chước”. Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật, kiên trì, nội tâm tịch tĩnh, không gián đoạn Thiền định, thành tựu quán hạnh, thích sống tại các xứ không tịnh. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng ta được các vật dụng như y phục, các món ăn khất thực, sàng tọa và các dược phẩm trị bệnh”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật, kiên trì, nội tâm tịch tĩnh, không gián đoạn Thiền định, thành tựu quán hạnh, thích sống tại các trú xứ không tịnh. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng ta hưởng thọ các vật dụng như y áo, các món ăn khất thực, sàng tọa và các dược phẩm trị bệnh. Mong rằng hành động của những vị ấy tạo ra các vật dụng ấy được quả báo lớn, được lợi ích lớn”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… (như trên)… trú xứ không tịnh. Này các Tỷ kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng những bà con huyết thống với ta, khi chết và mệnh chung nghĩ (đến ta) với tâm hoan hỷ, (và nhờ vậy) được quả báo lớn, được lợi ích lớn”. Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… (như trên)… trú xứ không tịnh. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng ta biết đủ với bất cứ vật dụng gì như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh”, Tỷ-kheo ấy phải sống đầy đủ giới… trú xứ không tịnh. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng ta kham nhẫn với lạnh, nóng, đói khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, của loài bò sát, kham nhẫn những cách nói mạ ly phỉ báng, kham nhẫn các cảm thọ về thân, những cảm thọ thống khổ, khốc liệt, đau nhói, nhức nhối, không sung sướng, không thích thú, chết điếng người”, thời Tỷ-kheo ấy phải sống đầy đủ giới… trú xứ không tịnh. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng ta nhiếp phục lạc và bất lạc, chớ không để lạc, bất lạc nhiếp phục ta. Mong rằng ta sống luôn luôn nhiếp phục lạc, bất lạc được khởi lên”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… (như trên)… trú xứ không tịnh. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng ta nhiếp phục khiếp đảm và sợ hãi, chớ không phải khiếp đảm và sợ hãi nhiếp phục ta. Mong rằng ta sống luôn luôn nhiếp phục khiếp đảm và sợ hãi được khởi lên”. Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… (như trên)… trú xứ không tịnh. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng tùy theo ý muốn, không có khó khăn, không có mệt nhọc, không có phí sức, ta chứng được bốn Thiền, thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú”. Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… (như trên)… trú cứ không tịnh. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Với sự đoạn tận các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại, vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”. Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật, kiên trì nội tâm tịch tĩnh, không gián đoạn Thiền định, thành tựu quán hạnh, thích sống trong các trú xứ không tịnh.

Này các Tỷ-kheo, hãy sống đầy đủ giới hạnh, đầy đủ giới bổn, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và tu học trong các học pháp. Như vậy được nói đến, chính do duyên này được nói đến như vậy.

AN 10.72 Những Cái Gai Kaṇṭakasutta

Một thời Đức Phật trú gần Vesālī, tại Đại Lâm, trong giảng đường có mái nhọn, cùng với một số vị trưởng lão đệ tử nổi tiếng. Trong số đó có các Tôn giả Cāla, Upacāla, Kakkaṭa, Kaṭimbha, Kaṭa, Kaṭissaṅga, và các vị trưởng lão đệ tử nổi tiếng khác.

Lúc bấy giờ, một số người Licchavi nổi tiếng đi sâu vào Đại Lâm để yết kiến Đức Phật. Họ lái những cỗ xe sang trọng nối đuôi nhau, gây ra tiếng động kinh khủng. Bấy giờ, các vị tôn giả ấy nghĩ:

“Những người Licchavi nổi tiếng này đã đi sâu vào Đại Lâm để yết kiến Đức Phật. Họ lái những cỗ xe sang trọng nối đuôi nhau, gây ra tiếng động kinh khủng. Nhưng Đức Phật đã dạy rằng âm thanh là cái gai đối với thiền định. Chúng ta hãy đến rừng Gosiṅga Sāla. Ở đó chúng ta có thể thiền định thoải mái, không bị tiếng ồn và đám đông quấy rầy.” Rồi các vị tôn giả ấy đến rừng Gosiṅga Sāla, nơi họ thiền định thoải mái, không bị tiếng ồn và đám đông quấy rầy.

Bấy giờ Đức Phật hỏi các vị tỳ kheo:

“Này các thầy tỳ kheo, Cāla, Upacāla, Kakkaṭa, Kaṭimbha, Kaṭa, và Kaṭissaṅga ở đâu? Các vị trưởng lão đệ tử này đã đi đâu?”

Và các vị tỳ kheo kể lại cho Ngài những gì đã xảy ra.

"Tốt lắm, tốt lắm, này các thầy tỳ kheo! Đúng như các vị đại đệ tử ấy đã giải thích rất đúng đắn. Ta đã nói rằng âm thanh là cái gai đối với thiền định.

Này các thầy tỳ kheo, có mười cái gai này. Mười cái gai nào? Ưa thích hội chúng là cái gai đối với người thích sống độc cư. Chú tâm vào tịnh tướng (feature of beauty / nét khả ái, vẻ đẹp) của sự vật là cái gai đối với người tu tập thiền quán về sự bất tịnh. Xem các buổi trình diễn là cái gai đối với người đang thu thúc các giác quan. Lân la gần gũi nữ giới là cái gai đối với đời sống phạm hạnh. Âm thanh là cái gai đối với sơ thiền. Có tầm có tứ (placing the mind and keeping it connected / chủ động hướng ý nghĩ đến đối tượng và giữ sự quan sát đối tượng đó) là cái gai đối với nhị thiền. Niềm vui (rapture / hỷ, sự vui thích, phấn khởi) là cái gai đối với tam thiền. Hơi thở là cái gai đối với tứ thiền. Nhận thức (perceptions / tưởng, nhận biết-phân biệt và gắn nhãn) và cảm thọ là cái gai đối với sự chứng đắc diệt tận nhận thức và cảm thọ (cessation of perception and feeling / diệt tận định, trạng thái tâm vắng lặng hoàn toàn mọi nhận thức và cảm giác). Tham, sân, si là những cái gai.

Này các thầy tỳ kheo, hãy sống không có gai! Hãy sống thoát khỏi gai! Này các thầy tỳ kheo, hãy sống không có gai và thoát khỏi gai! Các bậc A-la-hán (perfected ones / người đã đạt được sự giải thoát hoàn toàn) sống không có gai, thoát khỏi gai, tự do và thoát khỏi gai."

(II) (72) Cây Gai

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Ðại Lâm, ở ngôi nhà có nó nhọn, với rất nhiều các Thượng tọa có danh tiếng, có danh tiếng như Tôn giả Càla, Tôn giả Upàcàla. Tôn giả Kakkata, Tôn giả Kalimbha, Tôn giả Nikata, Tôn giả Katissaha, cùng nhiều Tôn giả có danh tiếng khác.

2. Lúc bấy giờ có nhiều Licchavì có danh tiếng, có danh tiếng lớn đang cỡi các cỗ xe lộng lẫy, tranh đua cao tiếng, lớn tiếng đi vào Ðại Lâm để yết kiến Thế Tôn. Rồi các trưởng lão ấy suy nghĩ: “Có nhiều Licchavì có danh tiếng, có danh tiếng lớn đang cỡi các cỗ xe lộng lẫy, tranh đua, cao tiếng, lớn tiếng đi vào Ðại lâm để yết kiến Thế Tôn, Thế Tôn có dạy: “Tiếng ồn là cây gai cho Thiền.” Vậy chúng ta hãy đi đến Gosinga, khu rừng cây sàla. Tại đây, chúng ta có thể sống an ồn, không ồn ào, không có chen chúc.”

3. Rồi các Tôn giả ấy đi đến Gosinga, ngôi rừng các cây sàla. Tại đây, các Tôn giả ấy sống an ổn, không ồn ào, không chen chúc. Rồi Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, Càla ở đâu? Upacàla ở đâu? Kakkata ở đâu? Kalimbha ở đâu? Nikata ở đâu? Katissaha ở đâu? Này các Tỷ-kheo, các trưởng lão đệ tử ấy đi đâu?

− Ở đây bạch Thế Tôn, các Tôn giả ấy suy nhĩ như sau: “Có nhiều Licchavì có danh tiếng có danh tiếng lớn đang cỡi các cỗ xe lộng lẫy, tranh đua, cao tiếng, lớn tiếng, đi vào Ðại Lâm để yết kiến Thế Tôn, Thế Tôn có dạy: “Tiếng ồn là cây gai cho thiền”. Vậy chúng ta hãy đi đến Gosinga khu rừng cây sàla. Tại đây, chúng ta có thể sống an ổn, không ồn ào, không chen chúc”. Bạch Thế Tôn, các Tôn giả ấy đã đi đến Gosinga, khu rừng cây sàla. Tại đây, các bậc Tôn giả ấy sống an ổn, không ồn ào, không chen chúc.

4. - Lành thay, lành thay, này các Tỷ-kheo. Trả lời như các đại đệ tử đã trả lời, là trả lời một cách chơn chánh. Này các Tỷ-kheo, “Tiếng ồn là gai cho thiền”, đã được Ta nói như vậy. Này các Tỷ-kheo, có mười loại cây gai này. Thế nào là mười?

5. Với người ưa thích viễn ly, ưa thích hội chúng là cây gai. Với người chuyên chú tu tập tướng bất tịnh, tu tập tịnh tướng là cây gai. Với người phòng hộ các căn, đi xem văn nghệ trình diễn là cây gai. Với người sống Phạm hạnh, thân cận với phụ nữ là cây gai. Với người chứng Thiền thứ nhất, tiếng ồn là cây gai. Với người chứng Thiền thứ hai, tầm tứ là cây gai. Với người chứng Thiền thứ ba, hỷ là cây gai. Với người chứng Thiền thứ tư, hơi thở là cây gai. Với người đã đạt được Diệt thọ tưởng định, tưởng và thọ là cây gai. Tham là cây gai. Sân là cây gai. Si là cây gai.

Này các Tỷ-kheo, hãy sống không phải là cây gai. Này các Tỷ-kheo, hãy sống rời khỏi cây gai. Này các Tỷ-kheo, hãy sống không phải là cây gai và rời khỏi cây gai. Này các Tỷ-kheo, không có cây gai là bậc A-la-hán. Này các Tỷ-kheo, rời khỏi cây gai là bậc A-la-hán. Này các Tỷ-kheo, vị không có gai và rời khỏi cây gai là bậc A-la-hán

AN 10.73 Những Điều Đáng Ưa Thích Iṭṭhadhammasutta

"Này các thầy tỳ kheo, mười điều đáng ưa thích, đáng mong muốn, và đáng hài lòng này hiếm có trên đời. Mười điều nào? Tài sản, sắc đẹp, sức khỏe, giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức), đời sống phạm hạnh, bạn bè, học vấn, trí tuệ (wisdom / tuệ, sự hiểu biết đúng đắn), những phẩm chất tốt đẹp, và cõi trời là những điều đáng ưa thích, đáng mong muốn, và đáng hài lòng hiếm có trên đời.

Mười điều là những chướng ngại đối với mười điều đáng ưa thích, đáng mong muốn, và đáng hài lòng hiếm có trên đời này. Sự lười biếng và thiếu chủ động là chướng ngại đối với tài sản. Thiếu sự tô điểm và trang hoàng là chướng ngại đối với sắc đẹp. Hoạt động không phù hợp là chướng ngại đối với sức khỏe. Tình bạn xấu là chướng ngại đối với giới đức. Thiếu sự thu thúc các giác quan là chướng ngại đối với đời sống phạm hạnh. Sự không trung thực là chướng ngại đối với bạn bè. Không trì tụng là chướng ngại đối với học vấn. Không muốn lắng nghe và đặt câu hỏi là chướng ngại đối với trí tuệ. Thiếu sự tận tâm và xem xét lại là chướng ngại đối với những phẩm chất tốt đẹp. Thực hành sai lầm cản trở cõi trời. Mười điều này là những chướng ngại đối với mười điều đáng ưa thích, đáng mong muốn, và đáng hài lòng hiếm có trên đời này.

Mười điều nuôi dưỡng mười điều đáng ưa thích, đáng mong muốn, và đáng hài lòng hiếm có trên đời này. Sự chuyên cần và chủ động nuôi dưỡng tài sản. Sự tô điểm và trang hoàng nuôi dưỡng sắc đẹp. Hoạt động phù hợp nuôi dưỡng sức khỏe. Tình bạn tốt nuôi dưỡng giới đức. Sự thu thúc các giác quan nuôi dưỡng đời sống phạm hạnh. Sự trung thực nuôi dưỡng bạn bè. Trì tụng nuôi dưỡng học vấn. Sự ham thích lắng nghe và đặt câu hỏi nuôi dưỡng trí tuệ. Sự tận tâm và xem xét lại nuôi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp. Thực hành đúng đắn nuôi dưỡng cõi trời. Mười điều này nuôi dưỡng mười điều đáng ưa thích, đáng mong muốn, và đáng hài lòng hiếm có trên đời này."

(III) (73) Khả Lạc

1. - Có mười pháp này khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó tìm được ở đời. Thế nào là mười?

2. Tài sản khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó tìm được ở đời, dung sắc… không bệnh… các giới đức… Phạm hạnh… các bạn bè… nhiều trí… các pháp… thiên giới, khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời.

Này các Tỷ-kheo, mười pháp khả lạc, khả lạc, khả hỷ, khả này khó tìm ở đời.

3. Này các Tỷ-kheo, đối với mười pháp khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở này, mười pháp là những chướng ngại.

4. Thụ động và không hăng hái là chướng ngại cho tài sản. Không trang sức, không tô điểm là chướng ngại cho dung sắc. Hành động không thích ứng là chướng ngại cho không bệnh. Ác bằng hữu là chướng ngại cho giới đức. Không chế ngự các căn là chướng ngại cho Phạm hạnh. Lừa dối là chướng ngại cho các bạn bè. Không học tập là chướng ngại cho nhiều trí. Không nghe, không hỏi là chướng ngại cho trí tuệ. Không có chú tâm, không có quán sát là chướng ngại cho các pháp. Tà hạnh là chướng ngại cho Thiên giới.

Này các Tỷ-kheo, đối với mười khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm ở đời này, mười pháp này là những chướng ngại.

5. Này các Tỷ-kheo, đối với mười pháp khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời này, mười pháp là những thức ăn.

6. Không thụ động, hăng hái là món ăn cho các tài sản. Trang sức, tô điểm là món ăn cho dung sắc. Hành động thích ứng là món ăn cho không bệnh. bạn bè với thiện là thức ăn cho các giới đức. Chế ngự các căn là thức ăn cho Phạm hạnh. Không có lừa dối là thức ăn cho bạn bè. Học tập là thức ăn cho trí tuệ. Chú tâm quán sát là thức ăn cho các pháp. Chánh hạnh là thức ăn cho Thiên giới.

Này các Tỷ-kheo, đối với mười pháp khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời này, mười pháp này là những thức ăn.

AN 10.74 Sự Tăng Trưởng Vaḍḍhisutta

"Này các thầy tỳ kheo, một vị thánh đệ tử tăng trưởng theo mười cách là tăng trưởng một cách cao thượng, thâu nhận những gì tinh túy và ưu việt trong đời này. Mười cách nào? Vị ấy tăng trưởng về ruộng đất, tiền bạc và ngũ cốc, vợ con, tôi tớ, người làm công, nhân viên, và gia súc. Và vị ấy tăng trưởng về niềm tin (faith / tín, sự tin tưởng vững chắc), giới hạnh, học vấn, sự rộng lượng, và trí tuệ (wisdom / tuệ, sự hiểu biết đúng đắn). Một vị thánh đệ tử tăng trưởng theo mười cách là tăng trưởng một cách cao thượng, thâu nhận những gì tinh túy và ưu việt trong đời này.

Người tăng trưởng tiền bạc, lúa thóc,
Vợ con, cùng gia súc,
Thì giàu có, danh tiếng, được kính trọng
Bởi bà con, bạn bè, cả hoàng tộc.

Khi người tăng trưởng niềm tin, giới hạnh,
Trí tuệ, và cả rộng lượng, học vấn—
Một người thiện lành như vậy thấy rõ,
Ngay đời này, vị ấy tăng trưởng cả hai."

(VI) (74) Tăng Trưởng

1. - Này các Tỷ-kheo, do tăng trưởng với mười tăng trưởng, vị Thánh đệ tử tăng trưởng Thánh tăng thưởng, nắm được tinh hoa và nắm được tối thắng của thân. Thế nào là với mười sự tăng trưởng?

2. Tăng trưởng ruộng đất, tăng trưởng tài sản lúa gạo, tăng trưởng vợ và con, tăng trưởng những người nô lệ, kẻ làm công, tăng trưởng các loài bốn chân, tăng trưởng lòng tin, tăng trưởng giới, tăng trưởng nghe nhiều, tăng trưởng thí, tăng trưởng trí tuệ.

Này các Tỷ-kheo, do tăng trưởng với mười tăng trưởng này, vị Thánh đệ tử tăng trưởng Thánh tăng trưởng, nắm được tinh hoa và nắm được tối thắng của thân.

Ai đời này tăng trưởng,
Tài sản và lúa gạo,
Tăng trưởng vợ và con,
Cùng các loài bốn chân,
Ðược danh, được kính trọng,
Như người nhiều tài sản,
Từ bà con bạn bè,
Và những người quyền thế,
Ai ở đời tăng trưởng,
Lòng tin và giới đức,
Trí tuệ và cả hai,
Bố thí và nghe nhiều,
Người như vậy là người,
Chân nhân và có mắt,
Ngay ở trong đời này,
Tăng trưởng cả hai phần.

AN 10.75 Với Migasālā Migasālāsutta

Một thời Đức Phật trú gần Sāvatthī, tại Kỳ Viên, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda vào buổi sáng, đắp y, mang bát, đến nhà nữ cư sĩ Migasālā, và ngồi vào chỗ đã soạn sẵn. Rồi nữ cư sĩ Migasālā đến gần Tôn giả Ānanda, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và thưa:

"Kính bạch Tôn giả Ānanda, làm sao chúng con có thể hiểu được giáo pháp do Đức Phật giảng dạy, khi người sống phạm hạnh và người không sống phạm hạnh đều tái sinh vào cùng một nơi trong đời sau? Cha con là Purāṇa sống độc thân, tách biệt, tránh xa hành vi tình dục thô tục. Khi ông qua đời, Đức Phật tuyên bố rằng, vì ông là bậc nhất lai (once-returner / người chỉ còn tái sinh một lần nữa vào cõi dục giới trước khi đạt Niết-bàn), ông đã tái sinh vào chúng thiên Tusita (host of joyful gods / cõi trời Đâu Suất, nơi các vị Bồ Tát thường tái sinh trước khi thành Phật). Nhưng chú của con là Isidatta không sống độc thân; ông ấy sống hạnh phúc với vợ mình. Khi ông qua đời, Đức Phật cũng tuyên bố rằng, vì ông là bậc nhất lai, ông đã tái sinh vào chúng thiên Tusita.

Làm sao chúng con có thể hiểu được giáo pháp do Đức Phật giảng dạy, khi người sống phạm hạnh và người không sống phạm hạnh đều tái sinh vào cùng một nơi trong đời sau?"

“Này chị, đúng là như vậy, Đức Phật đã tuyên bố như thế.”

Rồi Tôn giả Ānanda, sau khi nhận vật thực tại nhà Migasālā, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra về. Sau bữa ăn, khi đi khất thực về, Tôn giả Ānanda đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và kể lại những gì đã xảy ra.

"Này Ānanda, ai là nữ cư sĩ Migasālā này, một người đàn bà ngu dốt, kém cỏi, với trí tuệ của một người đàn bà? Và ai là người biết cách đánh giá các cá nhân?

Có mười hạng người này được tìm thấy trên đời. Mười hạng người nào? Lấy một người nào đó phi giới đức. Và họ không thực sự hiểu rõ tâm giải thoát và tuệ giải thoát nơi mà hành vi phi giới đức đó chấm dứt không còn dư sót. Và họ chưa từng nghe, chưa từng học, chưa hiểu thấu về mặt lý thuyết, hoặc chưa tìm thấy dù chỉ là sự giải thoát tạm thời. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ hướng đến một cảnh giới thấp hơn, không phải cảnh giới cao hơn. Họ đi đến một cảnh giới thấp hơn, không phải cảnh giới cao hơn.

Lấy một người nào đó phi giới đức. Nhưng họ thực sự hiểu rõ tâm giải thoát và tuệ giải thoát nơi mà hành vi phi giới đức đó chấm dứt không còn dư sót. Và họ đã nghe, đã học, đã hiểu thấu về mặt lý thuyết, và tìm thấy ít nhất là sự giải thoát tạm thời. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ hướng đến một cảnh giới cao hơn, không phải cảnh giới thấp hơn. Họ đi đến một cảnh giới cao hơn, không phải cảnh giới thấp hơn.

Những người hay phán xét so sánh họ, nói rằng: ‘Người này có những phẩm chất giống hệt người kia, vậy tại sao một người lại tệ hơn và một người lại tốt hơn?’ Điều này sẽ mang lại tai hại và đau khổ lâu dài cho họ.

Trong trường hợp này, người phi giới đức, nhưng thực sự hiểu rõ tâm giải thoát … và đã nghe, đã học, đã hiểu thấu về mặt lý thuyết, và tìm thấy ít nhất là sự giải thoát tạm thời thì tốt hơn và cao thượng hơn người kia. Tại sao vậy? Bởi vì dòng chảy của giáo pháp cuốn họ đi. Nhưng ai biết được sự khác biệt giữa họ ngoại trừ một bậc Giác Ngộ (Realized One / Tathāgata, người đã đạt được chân lý tối thượng)? Vì vậy, Ānanda, đừng phán xét người khác. Đừng đưa ra nhận định về người khác. Những ai phán xét người khác tự làm hại chính mình. Ta, hoặc một người như Ta, có thể đưa ra nhận định về người khác.

Lấy một người nào đó có giới đức. Nhưng họ không thực sự hiểu rõ tâm giải thoát và tuệ giải thoát nơi mà giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức) đó chấm dứt không còn dư sót. Và họ chưa từng nghe, chưa từng học, chưa hiểu thấu về mặt lý thuyết, hoặc chưa tìm thấy dù chỉ là sự giải thoát tạm thời. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ hướng đến một cảnh giới thấp hơn, không phải cảnh giới cao hơn. Họ đi đến một cảnh giới thấp hơn, không phải cảnh giới cao hơn.

Lấy một người nào đó có giới đức. Và họ thực sự hiểu rõ tâm giải thoát và tuệ giải thoát nơi mà giới đức đó chấm dứt không còn dư sót. Và họ đã nghe, đã học, đã hiểu thấu về mặt lý thuyết, và tìm thấy ít nhất là sự giải thoát tạm thời. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ hướng đến một cảnh giới cao hơn, không phải cảnh giới thấp hơn. Họ đi đến một cảnh giới cao hơn, không phải cảnh giới thấp hơn.

Những người hay phán xét so sánh họ … Ta, hoặc một người như Ta, có thể đưa ra nhận định về người khác.

Lấy một người nào đó rất nhiều tham dục. Và họ không thực sự hiểu rõ tâm giải thoát và tuệ giải thoát nơi mà tham dục đó chấm dứt không còn dư sót. Và họ chưa từng nghe, chưa từng học, chưa hiểu thấu về mặt lý thuyết, hoặc chưa tìm thấy dù chỉ là sự giải thoát tạm thời. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ hướng đến một cảnh giới thấp hơn, không phải cảnh giới cao hơn. Họ đi đến một cảnh giới thấp hơn, không phải cảnh giới cao hơn.

Lấy một người nào đó rất nhiều tham dục. Nhưng họ thực sự hiểu rõ tâm giải thoát và tuệ giải thoát nơi mà tham dục đó chấm dứt không còn dư sót. Và họ đã nghe, đã học, đã hiểu thấu về mặt lý thuyết, và tìm thấy ít nhất là sự giải thoát tạm thời. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ hướng đến một cảnh giới cao hơn, không phải cảnh giới thấp hơn. Họ đi đến một cảnh giới cao hơn, không phải cảnh giới thấp hơn.

Những người hay phán xét so sánh họ … Ta, hoặc một người như Ta, có thể đưa ra nhận định về người khác.

Lấy một người nào đó hay cáu kỉnh. Và họ không thực sự hiểu rõ tâm giải thoát và tuệ giải thoát nơi mà sự tức giận (anger / sân hận, sự không hài lòng, bực bội) đó chấm dứt không còn dư sót. Và họ chưa từng nghe, chưa từng học, chưa hiểu thấu về mặt lý thuyết, hoặc chưa tìm thấy dù chỉ là sự giải thoát tạm thời. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ hướng đến một cảnh giới thấp hơn, không phải cảnh giới cao hơn. Họ đi đến một cảnh giới thấp hơn, không phải cảnh giới cao hơn.

Lấy một người nào đó hay cáu kỉnh. Nhưng họ thực sự hiểu rõ tâm giải thoát và tuệ giải thoát nơi mà sự tức giận đó chấm dứt không còn dư sót. Và họ đã nghe, đã học, đã hiểu thấu về mặt lý thuyết, và tìm thấy ít nhất là sự giải thoát tạm thời. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ hướng đến một cảnh giới cao hơn, không phải cảnh giới thấp hơn. Họ đi đến một cảnh giới cao hơn, không phải cảnh giới thấp hơn.

Những người hay phán xét so sánh họ … Ta, hoặc một người như Ta, có thể đưa ra nhận định về người khác.

Lấy một người nào đó bồn chồn lo lắng (restless / trạo cử, tâm không yên, dao động). Và họ không thực sự hiểu rõ tâm giải thoát và tuệ giải thoát nơi mà sự bồn chồn lo lắng đó chấm dứt không còn dư sót. Và họ chưa từng nghe, chưa từng học, chưa hiểu thấu về mặt lý thuyết, hoặc chưa tìm thấy dù chỉ là sự giải thoát tạm thời. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ hướng đến một cảnh giới thấp hơn, không phải cảnh giới cao hơn. Họ đi đến một cảnh giới thấp hơn, không phải cảnh giới cao hơn.

Lấy một người nào đó bồn chồn lo lắng. Nhưng họ thực sự hiểu rõ tâm giải thoát và tuệ giải thoát nơi mà sự bồn chồn lo lắng đó chấm dứt không còn dư sót. Và họ đã nghe, đã học, đã hiểu thấu về mặt lý thuyết, và tìm thấy ít nhất là sự giải thoát tạm thời. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ hướng đến một cảnh giới cao hơn, không phải cảnh giới thấp hơn. Họ đi đến một cảnh giới cao hơn, không phải cảnh giới thấp hơn.

Những người hay phán xét so sánh họ, nói rằng: ‘Người này có những phẩm chất giống hệt người kia, vậy tại sao một người lại tệ hơn và một người lại tốt hơn?’ Điều này sẽ mang lại tai hại và đau khổ lâu dài cho họ.

Trong trường hợp này, người bồn chồn lo lắng, nhưng thực sự hiểu rõ tâm giải thoát … và đã nghe, đã học, đã hiểu thấu về mặt lý thuyết, và tìm thấy ít nhất là sự giải thoát tạm thời thì tốt hơn và cao thượng hơn người kia. Tại sao vậy? Bởi vì dòng chảy của giáo pháp cuốn họ đi. Nhưng ai biết được sự khác biệt giữa họ ngoại trừ một bậc Giác Ngộ? Vì vậy, Ānanda, đừng phán xét người khác. Đừng đưa ra nhận định về người khác. Những ai phán xét người khác tự làm hại chính mình. Ta, hoặc một người như Ta, có thể đưa ra nhận định về người khác.

Ai là nữ cư sĩ Migasālā này, một người đàn bà ngu dốt, kém cỏi, với trí tuệ của một người đàn bà? Và ai là người biết cách đánh giá các cá nhân? Mười hạng người này được tìm thấy trên đời.

Nếu Isidatta đạt được trình độ giới đức của Purāṇa, thì Purāṇa thậm chí không thể biết được cảnh giới tái sinh của Isidatta. Và nếu Purāṇa đạt được trình độ trí tuệ của Isidatta, thì Isidatta thậm chí không thể biết được cảnh giới tái sinh của Purāṇa. Vì vậy, cả hai người đều thiếu sót ở một khía cạnh."

(V) (75) Migasàlà

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anathapindika. Rồi Tôn giả Ananda vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của nữ cư sĩ Migasàlà; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi nữ cư sĩ Migasàlà đi đến Tôn giả Ananda, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ananda rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, nữ cư sĩ Magasàlà bạch Tôn giả Ananda:

2. - Thưa Tôn giả Ananada, như thế nào cần phải hiểu pháp được Thế Tôn thuyết giảng, rằng người sống phạm hạnh và người sống không phạm hạnh cả hai sẽ đồng một chỗ thọ sanh trong đời sau? Thưa Tôn giả, phụ thân con Puràna sống phạm hạnh, sống viễn ly, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Vị ấy, khi mệnh chung được Thế Tôn trả lời: “Là bậc Nhất lai sanh với thân ở Tusita”. Còn Isidatta, cậu của con, thưa Tôn giả, sống không Phạm hạnh, tự bằng lòng với vợ mình, sau khi mệnh chung, được Thế Tôn trả lời: “Là bậc Nhất lai, sanh với thân ở Tusita”. Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Thế Tôn tuyên thuyết (nói rằng): “Cả hai, sống phạm hạnh và sống không phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai”?

− Này Chị, chính như vậy là câu trả lời của Thế Tôn.

3. Rồi Tôn giả Ananda, sau khi nhận đồ khất thực tại nhà của nữ cư sĩ Migasàlà, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi. rồi Tôn giả Ananda sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Ở đây, bạch Thế Tôn, vào buổi sáng, con đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của nữ cư sĩ Migasàlà, sau khi đến, con ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi nữ cư sĩ Migasàlà đi đến con, sau khi đến, đảnh lễ con ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn, nữ cư sĩ Magasàlà thưa với con:

− “Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Thế Tôn thuyết (nói rằng): “Cả hai sống phạm hạnh và sống không phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai. “Puràna thân phụ con, thưa Tôn giả, sống phạm hạnh, sống viễn ly, tránh xa dâm dục hạ liệt, khi mệnh chung, được Thế Tôn trả lời: “Là bậc Nhất Lai, sanh với thân ở Tusita”. Còn Isidatta, cậu của con, thưa Tôn giả, sống không Phạm hạnh, tự bằng lòng với vợ mình, sau khi mệnh chung, được Thế Tôn trả lời: “Là bậc Nhất Lai, sanh với thân ở Tusita”, Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Thế Tôn tuyên thuyết (nói rằng): “Cả hai, sống phạm hạnh và sống không phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai”? Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con nói với nữ cư sĩ Migasàlà:

− “Này Chị, chính như vậy là câu trả lời của Thế Tôn”.

− Nhưng này Ananda, ai là nữ cư sĩ Migasàlà, lại ngu si, kém thông minh, với thân như bà mẹ, với trí như bà mẹ, để có thể hiểu biết sự thắng liệt giữa các người.

Này Ananda, có mười hạng người, có mặt hiện hữu ở đời. Thế nào là mười?

4. Ở đây, này Ananda, có hạng người ác giới, không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, ác giới ấy của người ấy được diệt trừ, không có dư tàn. Người ấy không có nghe pháp, không có học nhiều, không có thể nhập với chánh kiến, không chứng được nhất thời giải thoát. Người ấy sau khi thân hoại mạnh chung, hướng về thối đọa, không về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi về thù thắng.

5. Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người ác giới, như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, ác giới ấy của người được trừ diệt, không có dư tàn. Người ấy có nghe pháp, có học nhiều, có khéo thể nhập với chánh kiến, chứng được thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, hướng về thù thắng, không hướng vê thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không đi đến thối đọa.

Ở đây, này Ananda, ai là người đo lường, đo như sau: “Những pháp ấy có mặt trong người này, những pháp ấy cũng có mặt trong người kia. Vì sao, giữa hai người ấy, một là hạ liệt, một là thù thắng?”. Nhận xét như vậy đem lại đau khổ lâu dài cho họ. Ở đây này Ananda, người này là ác giới và như vậy rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, chính ở nơi đây, ác giới ấy của người ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Với vị ấy, có nghe pháp, có học hỏi nhiều, có khéo thể nhập với chánh kiến, chứng được nhất thời giải thoát. Này Ananda, hạng người này, so sánh với hạng người trước là vì diệu hơn. Là thù thắng hơn. Vì sao? Vì dòng pháp đưa người này ra phía trước. Nhưng ai ngoài Như Lai có thể biết được sự khác biệt. Do vậy, này Ananda, chớ có làm người đo lường các hạng người. Chớ có làm sự đo lường các hạng người. Tự đào hố cho mình là người đi làm sự đo lường các hạng người. Chỉ có Ta, này Ananda, mới có thể làm sự đo lường các hạng người. Ai có thể được như Ta?

6. Ở đây, này Ananda, có hạng người có giới nhưng không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, giới ấy của người ấy được đoạn diệt, không có dư tàn. Người ấy không có nghe pháp, không có học hỏi nhiều, không có thể nhập với chánh kiến, nên không chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, hướng về thối đọa, không huớng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi đến thù thắng.

7. Nhưng ở dây này Ananda, co hạng người có giới và như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, giới ấy của người ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Vị ấy có nghe pháp, có học hỏi nhiều, và khéo thể nhập với chánh kiến, vị ấy chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa. Chỉ đi đến thù thắng, không đi đến tối đọa. Ở đây, này Ananda… chỉ có Ta, này Ananda, mới có thể làm sự đo lường các hạng người. Ai có thể được như Ta?

8. Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người có tham rất sắc sảo người ấy không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, tham ấy của người ấy được trừ diệt, không có tàn dư. Người này không có nghe pháp, không có học hỏi nhiều, không có thể nhập với chánh kiến, không có chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi đến thù thắng.

9. Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người có tham rất sắc sảo, người ấy như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, ở đây, lòng tham ấy của người ấy được trừ diệt, không cò dư tàn. Người ấy nghe pháp, học hỏi nhiều, khéo thể nhập với chánh kiến, chứng được thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân mạng chung, hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không đi đến thối đọa.

10. Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người phẫn nộ, không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, lòng phẫn nộ ấy của người ấy được trừ diệt trừ không có tàn dư. Vị ấy không có nghe pháp, không có học hỏi nhiều, không có thể nhập với chánh kiến, không chứng được thời giải thoát. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi đến thù thắng.

11. Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người có phẫn nộ và như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, lòng phẫn nộ ấy của người ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Vị ấy lại nghe pháp, học hỏi nhiều, và khéo thể nhập với chánh kiến, chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không đi đến thối đọa. Ở đây, này Ananda… chỉ có Ta, này Ananda, mới có thể làm sự đo lường các hạng người. Ai có thể dược như Ta?

12. Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người có trạo cử, nhưng không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, trạo cử của người ấy được trừ diệt không có học hỏi nhiều, không có thể nhập với chánh kiến, không chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi đến thù thắng.

13. Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người có trạo cử, và như vậy thật rõ biết tâm giải toát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, trạo cử của người ấy được trừ diệt không có tàn dư. Và vị này có nghe pháp, có học hỏi nhiều, khéo thể nhập với chánh kiến, chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không hướng về thối đọa. Ở đây, này Ananda, ai là người đo lường, đo lường như sau: “Những pháp ấy có mặt trong người này, những pháp ấy cũng có mặt trong người kia. Vì sao giữa hai người ấy, một là hạ liệt, một là thù diệu? “Nhận xét như vậy, đem lại đau khổ lâu dài cho họ. Ở đây, này Ananda, người này là trạo cử, và như vậy rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, chính ở đây, trạo cử của người ấy được trừ diệt không có dư tàn. Và vị ấy có nghe pháp, có học hỏi nhiều, có khéo thể nhập với chánh kiến, chứng được nhất thời giải thoát. Này Ananda, hạng người này so sánh với hạng người trước, là vi diệu hơn, là thù thắng hơn. Vì sao? Vì dòng pháp đưa người này ra phía trước. Nhưng ai ngoài Như Lai có thể biết được sự khác biệt. Do vậy, này Ananda, chớ có làm người đo lường các hạng người. Chớ có làm sự đo lường các hạng người. Tự đào hố cho mình là người làm sự đo lường các hạng người. Chỉ có Ta, này Ananda, mới có thể làm sự đo lường các hạng người. Ai có thể được như Ta?

Nhưng này Ananda, ai là nữ cư sĩ Migasàlà lại ngu si, kém thông minh, với thân như bà mẹ, với trí như bà mẹ, để có thể hiểu biết sự thắng liệt giữa các người?

Này Ananda, có mười hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời. Giới như thế nào, này Ananda, Puràna được thành tựu, giới ấy Isidatta chưa thành tựu. Do vậy, ở đây, Puràna có sanh thú khác với sanh thú của Isidatta. Tuệ như thế nào, này Ananda, Isidatta được thành tựu, tuệ ấy Puràna chưa thành tựu. Do vậy, ở đây, Isidatta có sanh thú khác với sanh thú của Puràna. Như vậy, này Ananda, cả hai người này đều có thể thiếu sót một chi phần.

AN 10.76 Ba Điều Tayodhammasutta

"Này các thầy tỳ kheo, nếu ba điều này không được tìm thấy, Như Lai (Realized One / Tathāgata, một danh hiệu của Đức Phật, có nghĩa là “Người đã đến như vậy” hoặc “Người đã đi như vậy”), bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác (fully awakened Buddha / người tự mình giác ngộ hoàn toàn chân lý) sẽ không xuất hiện trên thế gian, và giáo pháp cùng sự huấn luyện do Như Lai công bố sẽ không tỏa sáng trên thế gian.

Ba điều nào? Sanh, già, và chết. Nếu ba điều này không được tìm thấy, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác sẽ không xuất hiện trên thế gian, và giáo pháp cùng sự huấn luyện do Như Lai công bố sẽ không tỏa sáng trên thế gian. Nhưng vì ba điều này được tìm thấy, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác xuất hiện trên thế gian, và giáo pháp cùng sự huấn luyện do Như Lai công bố tỏa sáng trên thế gian.

Nếu không từ bỏ ba điều này, bạn không thể từ bỏ sanh, già, và chết. Ba điều nào? Tham, sân, và si. Nếu không từ bỏ ba điều này, bạn không thể từ bỏ sanh, già, và chết.

Nếu không từ bỏ ba điều này, bạn không thể từ bỏ tham, sân, và si. Ba điều nào? Thân kiến (substantialist view / sakkāya-diṭṭhi, tà kiến về một cái “ta” hay “ngã” thường hằng), hoài nghi (doubt / vicikicchā, sự nghi ngờ về Tam Bảo và con đường tu tập), và sùng tín và giáo điều (misapprehension of precepts and observances/ giới cấm thủ, sự hiểu lầm về các giới luật và sự tuân thủ). Nếu không từ bỏ ba điều này, bạn không thể từ bỏ tham, sân, và si.

Nếu không từ bỏ ba điều này, bạn không thể từ bỏ thân kiến, hoài nghi, và sùng tín và giáo điều. Ba điều nào? Không như lý tác ý (apply the mind irrationally / suy tư không với trí tuệ), đi theo con đường sai lầm, và tâm trí uể oải. Nếu không từ bỏ ba điều này, bạn không thể từ bỏ thân kiến, hoài nghi, và sùng tín và giáo điều.

Nếu không từ bỏ ba điều này, bạn không thể từ bỏ không như lý tác ý, đi theo con đường sai lầm, và tâm trí uể oải. Ba điều nào? Thất niệm (unmindfulness / sự thiếu tỉnh thức, quên mất đối tượng đang quan sát), thiếu tỉnh giác (lack of situational awareness / asampajañña, không nhận biết rõ ràng những gì đang xảy ra), và tâm tán loạn. Nếu không từ bỏ ba điều này, bạn không thể từ bỏ không như lý tác ý, đi theo con đường sai lầm, và tâm trí uể oải.

Nếu không từ bỏ ba điều này, bạn không thể từ bỏ thất niệm, thiếu tỉnh giác, và tâm tán loạn. Ba điều nào? Không muốn gặp các bậc thánh, không muốn nghe giáo pháp của các bậc thánh, và tâm hay bắt lỗi. Nếu không từ bỏ ba điều này, bạn không thể từ bỏ thất niệm, thiếu tỉnh giác, và tâm tán loạn.

Nếu không từ bỏ ba điều này, bạn không thể từ bỏ việc không muốn gặp các bậc thánh, không muốn nghe giáo pháp của các bậc thánh, và tâm hay bắt lỗi. Ba điều nào? Bồn chồn lo lắng, thiếu sự thu thúc, và hành vi phi giới đức. Nếu không từ bỏ ba điều này, bạn không thể từ bỏ việc không muốn gặp các bậc thánh, không muốn nghe giáo pháp của các bậc thánh, và tâm hay bắt lỗi.

Nếu không từ bỏ ba điều này, bạn không thể từ bỏ bồn chồn lo lắng, thiếu sự thu thúc, và hành vi phi giới đức. Ba điều nào? Không có niềm tin (faithlessness / asaddhiya, thiếu lòng tin vào những điều đáng tin), không rộng lượng, và lười biếng. Nếu không từ bỏ ba điều này, bạn không thể từ bỏ bồn chồn lo lắng, thiếu sự thu thúc, và hành vi phi giới đức.

Nếu không từ bỏ ba điều này, bạn không thể từ bỏ không có niềm tin, không rộng lượng, và lười biếng. Ba điều nào? Sự coi thường, khó khuyên bảo, và có bạn xấu. Nếu không từ bỏ ba điều này, bạn không thể từ bỏ không có niềm tin, không rộng lượng, và lười biếng.

Nếu không từ bỏ ba điều này, bạn không thể từ bỏ sự coi thường, khó khuyên bảo, và có bạn xấu. Ba điều nào? Không xấu hổ (lack of conscience / ahirika, không biết hổ thẹn với tội lỗi), không sợ điều ác (imprudence / anottappa, không biết ghê sợ hậu quả của việc ác), và sao nhãng (negligence / pamāda, sự lơ là, không chú tâm). Nếu không từ bỏ ba điều này, bạn không thể từ bỏ sự coi thường, khó khuyên bảo, và có bạn xấu.

Này các thầy tỳ kheo, người không xấu hổ và không sợ điều ác thì sẽ sao nhãng. Khi bạn sao nhãng, bạn không thể từ bỏ sự coi thường, khó khuyên bảo, và có bạn xấu. Khi bạn có bạn xấu, bạn không thể từ bỏ không có niềm tin, không rộng lượng, và lười biếng. Khi bạn lười biếng, bạn không thể từ bỏ bồn chồn lo lắng, thiếu sự thu thúc, và hành vi phi giới đức. Khi bạn phi giới đức, bạn không thể từ bỏ việc không muốn gặp các bậc thánh, không muốn nghe giáo pháp của các bậc thánh, và tâm hay bắt lỗi. Khi bạn có tâm hay bắt lỗi, bạn không thể từ bỏ thất niệm, thiếu tỉnh giác, và tâm tán loạn. Khi tâm bạn tán loạn, bạn không thể từ bỏ không như lý tác ý, đi theo con đường sai lầm, và tâm trí uể oải. Khi tâm bạn uể oải, bạn không thể từ bỏ thân kiến, hoài nghi, và sùng tín và giáo điều. Khi bạn có hoài nghi, bạn không thể từ bỏ tham, sân, và si. Nếu không từ bỏ tham, sân, và si, bạn không thể từ bỏ sanh, già, và chết.

Sau khi từ bỏ ba điều này, bạn có thể từ bỏ sanh, già, và chết. Ba điều nào? Tham, sân, và si. Sau khi từ bỏ ba điều này, bạn có thể từ bỏ sanh, già, và chết.

Sau khi từ bỏ ba điều này, bạn có thể từ bỏ tham, sân, và si. Ba điều nào? Thân kiến, hoài nghi, và sùng tín và giáo điều. Sau khi từ bỏ ba điều này, bạn có thể từ bỏ tham, sân, và si.

Sau khi từ bỏ ba điều này, bạn có thể từ bỏ thân kiến, hoài nghi, và sùng tín và giáo điều. Ba điều nào? Như lý tác ý (apply the mind rationally / suy tư với trí tuệ), đi theo con đường đúng đắn, và tâm trí không uể oải. Sau khi từ bỏ ba điều này, bạn có thể từ bỏ thân kiến, hoài nghi, và sùng tín và giáo điều.

Sau khi từ bỏ ba điều này, bạn có thể từ bỏ như lý tác ý, đi theo con đường đúng đắn, và tâm trí không uể oải. Ba điều nào? Tỉnh thức (mindfulness / niệm, sự chú tâm, không quên đối tượng), tỉnh giác, và tâm không tán loạn. Sau khi từ bỏ ba điều này, bạn có thể từ bỏ như lý tác ý, đi theo con đường đúng đắn, và tâm trí không uể oải.

Sau khi từ bỏ ba điều này, bạn có thể từ bỏ tỉnh thức, tỉnh giác, và tâm không tán loạn. Ba điều nào? Muốn gặp các bậc thánh, muốn nghe giáo pháp của các bậc thánh, và tâm không hay bắt lỗi. Sau khi từ bỏ ba điều này, bạn có thể từ bỏ tỉnh thức, tỉnh giác, và tâm không tán loạn.

Sau khi từ bỏ ba điều này, bạn có thể từ bỏ việc muốn gặp các bậc thánh, muốn nghe giáo pháp của các bậc thánh, và tâm không hay bắt lỗi. Ba điều nào? Không bồn chồn lo lắng, có sự thu thúc, và hành vi có giới đức. Sau khi từ bỏ ba điều này, bạn có thể từ bỏ việc muốn gặp các bậc thánh, muốn nghe giáo pháp của các bậc thánh, và tâm không hay bắt lỗi.

Sau khi từ bỏ ba điều này, bạn có thể từ bỏ không bồn chồn lo lắng, có sự thu thúc, và hành vi có giới đức. Ba điều nào? Có niềm tin, rộng lượng, và siêng năng (energetic / tấn, sự nỗ lực, tinh tấn). Sau khi từ bỏ ba điều này, bạn có thể từ bỏ không bồn chồn lo lắng, có sự thu thúc, và hành vi có giới đức.

Sau khi từ bỏ ba điều này, bạn có thể từ bỏ có niềm tin, rộng lượng, và siêng năng. Ba điều nào? Không coi thường, dễ khuyên bảo, và có bạn tốt. Sau khi từ bỏ ba điều này, bạn có thể từ bỏ có niềm tin, rộng lượng, và siêng năng.

Sau khi từ bỏ ba điều này, bạn có thể từ bỏ không coi thường, dễ khuyên bảo, và có bạn tốt. Ba điều nào? Có xấu hổ, có sợ điều ác, và không sao nhãng (siêng năng (diligent / appamāda, sự không lơ là, tinh tấn)). Sau khi từ bỏ ba điều này, bạn có thể từ bỏ không coi thường, dễ khuyên bảo, và có bạn tốt.

Này các thầy tỳ kheo, người có xấu hổ và sợ điều ác thì sẽ siêng năng (không sao nhãng). Khi bạn siêng năng (không sao nhãng), bạn có thể từ bỏ sự coi thường, khó khuyên bảo, và có bạn xấu. Khi bạn có bạn tốt, bạn có thể từ bỏ không có niềm tin, không rộng lượng, và lười biếng. Khi bạn siêng năng, bạn có thể từ bỏ bồn chồn lo lắng, thiếu sự thu thúc, và hành vi phi giới đức. Khi bạn có giới đức, bạn có thể từ bỏ việc không muốn gặp các bậc thánh, không muốn nghe giáo pháp của các bậc thánh, và tâm hay bắt lỗi. Khi bạn không có tâm hay bắt lỗi, bạn có thể từ bỏ thất niệm, thiếu tỉnh giác, và tâm tán loạn. Khi tâm bạn không tán loạn, bạn có thể từ bỏ không như lý tác ý, đi theo con đường sai lầm, và tâm trí uể oải. Khi tâm bạn không uể oải, bạn có thể từ bỏ thân kiến, hoài nghi, và sùng tín và giáo điều. Khi bạn không có hoài nghi, bạn có thể từ bỏ tham, sân, và si. Sau khi từ bỏ tham, sân, và si, bạn có thể từ bỏ sanh, già, và chết."

(VI) (76) Không Thể Tăng Trưởng

1. - Này các Tỷ-kheo, nếu ba pháp không có mặt ở đời, thời Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không xuất hiện ở đời và Pháp, Luật được Như Lai thuyết giảng không được nêu rõ ở đời. Thế nào là ba?

2. Sanh, già và chết. Này các Tỷ-kheo, nếu ba pháp này không hiện hữu ở đời, thời Như Lai, bậc A-lahán, Chánh Ðẳng Giác không xuất hiện ở đời, và Pháp, Luật do Như Lai thuyết giảng không được nêu rõ ở đời. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, ba pháp này có mặt ở đời, do vậy Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, do vậy, Pháp, Luật do Như Lai thuyết giảng được nêu rõ ở đời.

3. Này các Tỷ-kheo, không đoạn tận ba pháp thời không có thể đoạn tận sanh, thời không có thể đoạn tận già, thời không có thể đoạn tận chết. Thế nào là ba?

4. Không đoạn tận tham, không đoạn tận sân, không đoạn tận si. Do không đoạn tận ba pháp này, không có thể đoạn tận sanh, không có thể đoạn tận già, không có thể đoạn tận chết.

5. Này các Tỷ-kheo, do không đoạn tận ba pháp, thời không có thể đoạn tận tham, không có thể đoạn tận sân, không có thể đoạn tận si. Thế nào là ba?

6. Không đoạn tận thân kiến, không đoạn tận nghi, không đoạn tận giới cấm thủ. Do không đoạn tận ba pháp này, này các Tỷ-kheo, không có thể đoạn tận tham, không có thể đoạn tận sân, không có thể đoạn tận si.

7. Này các Tỷ-kheo, do không đoạn tận ba pháp, không có thể đoạn tận thân kiến, không có thể đoạn tận nghi, không có thể đoạn tận giới cấm thủ. Thế nào là ba?

8. Không đoạn tận phi như lý tác ý, không đoạn tận tu tập tà đạo, không đoạn tận tánh thụ động. Do không đoạn tận ba pháp này, này các Tỷ-kheo, không có thể đoạn tận thân kiến, không có thể đoạn tận nghi, không có thể đọan tận giới cấm thủ.

9. Này các Tỷ-kheo, do không đoạn tận ba pháp, không có thể đoạn tận phi như lý tác ý, không có thể đoạn tận đoạn tu tập tà đạo, không có thể đoạn tận tánh thụ động. Thế nào là ba?

10. Không đoạn tận vọng niệm, không đoạn tận không tỉnh giác, không đoạn tận tâm loạn động. Do không đoạn tận ba pháp này, này các Tỷ-kheo, không có thể đoạn tận phi như lý tác ý, không có thể đoạn tận tu tập tà đạo, không có thể đoạn tận tánh thụ động.

11. Này các Tỷ-kheo, do không đoạn tận ba pháp, không có thể đoạn tận vọng niệm, không có thể đoạn không tỉnh giác, không có thể đoạn tận tâm loạn động. Thế nào là ba?

12. Không đoạn tận không muốn yết kiến các bậc Thánh, không đoạn tận không muốn nghe Thánh pháp, không đoạn tận bới lông tìm vết. Do không đoạn tận ba pháp này, này các Tỷ-kheo, không có thể đoạn tận vọng niệm, không có thể đoạn tận không tỉnh giác, không có thể đoạn tận tâm loạn động. 13. Này các Tỷ-kheo, do không đoạn tận ba pháp, không có thể đoạn tận không muốn yết kiến các bậc Thánh, không có thể đoạn tận không muốn nghe Thánh pháp, không có thể đoạn tận bới lông tìm vết. Thế nào là ba?

14. Không đoạn tận trạo cử, không tận không chế ngự, không đoạn tận ác giới. Do không đoạn tận ba pháp này, này các Tỷ-kheo, không có thể đoạn tận không muốn yết kiến các bậc Thánh, không có thể đoạn tận không muốn nghe Thánh pháp, không có thể đoạn tận tâm bới lông tìm vết.

15. Này các Tỷ-kheo, do không đoạn tận ba pháp, không có thể đoạn tận trạo cử, không có thể đoạn tận không chế ngự, không có thể đoạn tận ác giới. Thế nào là ba?

16. Không đoạn tận không có lòng tin, không đoạn tận xan tham, không đoạn tận biếng nhác, do không đoạn tận ba pháp này, này cá Tỷ-kheo, không có thể đoạn tận trạo cử, không có thể đoạn tận không chế ngự, không có thể đoạn tận ác giới.

17. Này các Tỷ-kheo, do không đoạn tận ba pháp, không có thể đoạn tận không có lòng tin, không có thể đoạn tận xan tham, không có thể đoạn tận biếng nhác. Thế nào là ba?

18. Không đoạn tận không cung kính, không đoạn tận khó nói, không đoạn tận ác bằng hữu. Do không đoạn tận ba pháp này, này các Tỷ-kheo, không có thể đoạn tận không có lòng tin, không có thể đoạn tận xan tham, không có thể đoạn tận biếng nhác.

19. Này các Tỷ-kheo, do không đoạn tận ba pháp, không có thể đoạn tận không cung kính, không có thể đoạn tận khó nói, không có thể đoạn tận ác bằng hữu. Thế nào là ba?

20. Không đoạn tận không xấu hổ, không đoạn tận không sợ hãi, không đoạn tận phóng dật, do ba pháp này không đoạn tận, này các Tỷ-kheo, không có thể đoạn tận không cung kính, không có thể đoạn tận khó nói, không có thể đoạn tận ác bằng hữu.

21. Người này không có xấu hổ, này các Tỷ-kheo, không có sợ hãi, có phóng dật. Người ấy do phóng dật, không có thể đoạn tận không cung kính, không có thể đoạn tận khó nói, không có thể tận ác bằng hữu. Người ấy do ác bằng hữu, không có thể đoạn tận không có lòng tin, không có thể đoạn tận xan tham, không có thể đoạn tận biếng nhác. Vị ấy do biếng nhác, không có thể đoạn tận trạo cử, không có thể đoạn tận không chế ngự, không có thể đoạn tận ác giới. Vị ấy do ác giới, không có thể đoạn tận không ưa yết kiến các bật Thánh, không có thể đoạn tận không ưa nghe Thánh pháp, không có thể đoạn tận bới lông tìm yết. Vị ấy do bới lông tìm vết, không có thể đoạn tận vông niệm, không có thể đoạn tận không có tỉnh giác, không có thể đoạn động tâm loạn động. Vị ấy do tâm loạn động, không có thể đoạn tận phi như lý tác ý, không có thể đoạn tận tu tập tà đạo, không có thể đoạn tận tánh thụ động. Vị ấy do tâm thụ động, không có thể đoạn tận thân kiến, không có thể đoạn tận nghi, không có thể đoạn tận giới cấm thủ. Vị ấy do nghi hoặc, không có thể đoạn tận tham, không có thể đoạn tận sân, không có thể đoạn tận si. Vị ấy do không đoạn tận tham, không đoạn tận sân, không đoạn tận si, không có thể đoạn tận sanh, không có thể đoạn tận giá, không có thể đoạn tận chết.

22. Do đoạn tận ba pháp, này các Tỷ-kheo, có thể đoạn tận sanh, có thể đoạn tận già, có thể đoạn tận chết. Thế nào là ba?

23. Do đoạn tận tham, do đoạn tận sân, do đoạn tận si, do đoạn tận ba pháp này, này các Tỷ-kheo, có thể đoạn tận sanh, có thể đoạn tận già, có thể đoạn tận chết.

24. Này các Tỷ-kheo, do ba pháp được đoạn tận, có thể đoạn tận tham, có thể đoạn tận sân, có thể đoạn tận si. Thế nào là ba?

25. Do đoạn tận thân kiến, do đoạn tận nghi do đoạn tận giới cấm thủ, do đoạn tận ba pháp này, này các Tỷ-kheo, có thể đoạn tận tham, có thể đoạn tận sân, có thể đoạn tận si.

26. Này các Tỷ-kheo, do ba pháp được đoạn tận, có thể đoạn tận thân kiến, có thể đoạn tận nghi, có thể đoạn tận giới cấm thủ. Thế nào là ba?

27. Do đoạn tận phi như lý tác ý, do đoạn tận thực hành tà đạo, do đoạn tận tánh thụ động, do đoạn tận ba pháp này, này các Tỷ-kheo, có thể đoạn tận thân kiến, có thể đoạn tận nghi, có thể đoạn tận giới cấm thủ.

28. Này các Tỷ-kheo, do đoạn tận ba pháp, có thể đoạn tận phi như lý tác ý, có thể đoạn tận thực hành tà đạo, có thể đoạn tận tánh thụ động. Thế nào là ba?

29. Do đoạn tận vọng niệm, do đoạn tận không tỉnh giác, do đoạn tận tâm loạn động, do đoạn tận ba pháp, này các Tỷ-kheo, có thể đoạn tận phi như lý tác ý, có thể đoạn tận không tỉnh giác, có thể đoạn tận tánh thụ động.

30. Này các Tỷ-kheo, do đoạn tận ba pháp, có thể đoạn tận vọng niệm, có thể đoạn tận không tỉnh giác, có thể đoạn tận tâm loạn động. Thế nào là ba?

31. Do đoạn tận không muốn yết kiến các bậc Thánh, do đoạn tận không muốn nghe Thánh pháp, do đoạn tận bới lông tìm vết, do đoạn tận ba pháp này, này các Tỷ-kheo, có thể đoạn tận vọng niệm, có thể đoạn tận không tỉnh giác, có thể đoạn tận tâm loạn động.

32. Này các Tỷ-kheo, do đoạn tận ba pháp, có thể đoạn tận không muốn yết kiến các bậc Thánh, có thể đoạn tận không muốn nghe Chánh pháp, có thể đoạn tận bới lông tìm vết. Thế nào là ba?

33. Do đoạn tận trạo cử, do đoạn tận không chế ngự, do đoạn tận ác giới, do đoạn tận ba pháp này, này các Tỷ-kheo, đoạn tận không muốn nghe Thánh pháp, có thể đoạn tận bới lông tìm vết.

34. Này các Tỷ-kheo, do đoạn tận ba pháp, có thể đoạn tận trạo cử, có thể đoạn tận không chế ngự, có thể đoạn tận ác giới. Thế nào là ba?

35. Do đoạn tận không có lòng tin, do đoạn tận xan tham, do đoạn tận biếng nhác, do đoạn tận ba pháp này, này các Tỷ-kheo, có thể đoạn tận trạo cử, có thể đoạn tận không chế ngự, có thể đoạn tận ác giới.

36. Này các Tỷ-kheo, do đoạn tận ba pháp, có thể đoạn tận không có lòng tin, có thể đoạn tận xan tham, có thể đoạn tận biếng nhác. Thế nào là ba?

37. Do đoạn tận không cung kính, do đoạn tận khó nói, do đoạn tận ác bằng hữu, do đoạn tận ba pháp này, này các Tỷ-kheo, có thể đoạn tận không có lòng tin, có thể đoạn tận xan tham, có thể đoạn tận biếng nhác.

38. Này các Tỷ-kheo, do đoạn tận ba pháp, có thể đoạn tận không cung kính, có thể đoạn tận khó nói, có thể đoạn tận ác bằng hữu. Thế nào là ba?

39. Do đoạn tận không xấu hổ, do đoạn tận không sợ hãi, do đoạn tận phóng dật, do đoạn tận ba pháp này, này các Tỷ-kheo, có thể đoạn tận khó nói, có thể đoạn tận ác bằng hữu. 40. Này các Tỷ-kheo, người này có xấu hổ có sợ hãi, có phóng dật. Người ấy do không phóng dật, có thể đoạn tận không cung kính, có thể đoạn tận khó nói, có thể đoạn tận ác bằng hữu. Người ấy do thiện bằng hữu, có thể đoạn tận không có lòng tin, có thể đoạn tận xan tham, có thể đoạn tận biếng nhác. Người ấy do tinh cần tinh tấn, có thể đoạn tận trạo cử, có thể đoạn tận không chế ngự, có thể đoạn tận ác giới. Người ấy do giới đức, có thể đoạn tận không muốn yết kiến các bậc Thánh, có thể đoạn tận không muốn nghe Thánh pháp, có thể đoạn tận bới lông tìm vết. Người ấy do không bới lông tìm vết, có thể đoạn tận vọng niệm, có thể đoạn tận không tỉnh giác, có thể đoạn tận tâm không loạn động. Người ấy do tâm không loạn động, có thể đoạn tận phi như ly tác ý, có thể đoạn tận tu tập tà đạo, có thể đoạn tận tâm thụ động. Người ấy do tâm không thụ đông, có thể đoạn tận thân kiến, có thể đoạn tận nghi, có thể đoạn tận giới cấm thủ. Người ấy do không có nghi hoặc, có thể đoạn tận tham, có thể đoạn tận sân, có thể đoạn tận si. Vị ấy do đoạn tận tham, do đoạn tận sâu, do đoạn tận si, có thể đoạn tận sanh, có thể đoạn tận già, có thể đoạn tận chết.

AN 10.77 Con Quạ Kākasutta

“Này các thầy tỳ kheo, con quạ có mười phẩm chất xấu. Mười phẩm chất nào? Chúng thô lỗ và trơ tráo, tham ăn và phàm tục, tàn nhẫn và không thương xót, yếu đuối và ồn ào, thất niệm và ham tích trữ. Con quạ có mười phẩm chất xấu này. Tương tự như vậy, một vị tỳ kheo xấu có mười phẩm chất xấu này. Mười phẩm chất nào? Vị ấy thô lỗ và trơ tráo, tham ăn và phàm tục, tàn nhẫn và không thương xót, yếu đuối và ồn ào, thất niệm và ham tích trữ. Một vị tỳ kheo xấu có mười phẩm chất xấu này.”

(VII)(77) Con Quạ

1.- Này các Tỷ-kheo, con quạ thành tựu với mười tà pháp. Thế nào là mười?

2. Ngạo nghể, hung hãn, cường dục, ăn lớn, độc ác, không từ bi, khiếp nhược, giọng chót tai, vọng niệm và cất chứa tài sản.

Này các Tỷ-khao, con quạ thành tựu với mười tà pháp này.

3. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị ác Tỷ-kheo thành tựu với mười tà pháp. Thế nào là mười?

4. Ngạo nghễ, hung hãn, cường dục, ăn lớn, đọc ác, không từ bi, khiếp nhược, giọng chói tai, vọng niệm và cất chứa tài sản.

Này các Tỷ-kheo, vị ác Tỷ-kheo thành tựu với mười tà pháp này.

AN 10.78 Những Người Ni-kiền-tử Nigaṇṭhasutta

“Này các thầy tỳ kheo, những người tu khổ hạnh Ni-kiền-tử (Jains / Nigaṇṭha, một trường phái triết học và tôn giáo cổ ở Ấn Độ, cùng thời với Đức Phật) có mười phẩm chất xấu. Mười phẩm chất nào? Họ không có niềm tin và phi giới đức, không xấu hổ và không sợ điều ác, và tận tâm với những người không chân thật. Họ tự tôn vinh mình và hạ thấp người khác. Họ chấp chặt vào quan điểm của mình, nắm giữ chúng một cách cứng nhắc, và không chịu từ bỏ. Họ lừa dối, có những mong muốn xấu xa và bạn bè xấu. Những người tu khổ hạnh Ni-kiền-tử có mười phẩm chất xấu này.”

(VIII)(78) Ni Kiền Tử

1.- Này các Tỷ-kheo, các Ni-kiền tử (Niganthàputta) thành tựu với mười tà pháp. Thế nào là mười?

2. Không có lòng tin, này các Tỷ-kheo, là các Ni-kiền tử. Ác giới, này các Tỷ-kheo, là các Ni-kiền tử. Không có xấu hổ, này các Tỷ-kheo, là các Ni-kiền tử. Không có sợ hãi, này các Tỷ-kheo, là các Ni-kiền tử. Không làm bạn các bậc Chân nhân, này các Tỷ-kheo, là các Ni-kiền tử. Khen mình chê người, này các Tỷ-kheo, là các Ni-kiền tử. Chấp thủ các vấn đề hiện tại, không từ bỏ những gì đã chấp thủ, này các Tỷ-kheo, là các Ni-kiền tử. Gian xảo, này các Tỷ-kheo, là các Ni-kiền tử. Ác dục, này các Tỷ-kheo, là các Ni-kiền tử. Theo tà kiến, này các Tỷ-kheo, là các Ni-kiền tử.

Này các Tỷ-kheo, thành tựu với mười tà pháp này là các Ni-kiền tử.

AN 10.79 Những Cơ Sở Để Oán Hận Āghātavatthusutta

“Này các thầy tỳ kheo, có mười cơ sở để oán hận (resentment / āghāta, sự căm ghét, thù hằn). Mười cơ sở nào? Nghĩ rằng: ‘Họ đã làm điều sai trái với tôi,’ bạn nuôi dưỡng oán hận. Nghĩ rằng: ‘Họ đang làm điều sai trái với tôi’ … ‘Họ sẽ làm điều sai trái với tôi’ … ‘Họ đã làm điều sai trái với người tôi yêu quý’ … ‘Họ đang làm điều sai trái với người tôi yêu quý’ … ‘Họ sẽ làm điều sai trái với người tôi yêu quý’ … ‘Họ đã giúp đỡ người tôi không thích’ … ‘Họ đang giúp đỡ người tôi không thích’ … Nghĩ rằng: ‘Họ sẽ giúp đỡ người tôi không thích,’ bạn nuôi dưỡng oán hận. Bạn tức giận vô cớ. Đây là mười cơ sở để oán hận.”

(IX) (79) Những Trường Hợp Hiềm Hận.

1. - Này các Tỷ-kheo, có mười trường hợp hiềm hận. Thế nào là mười?

2. Hiềm hận được kết thành, khi nghĩ rằng: “Nó đã làm hại ta”. Hiềm hận được kết thành, khi nghĩ rằng: “Nó đang làm hại ta”. Hiềm hận được kết thành, khi nghĩ rằng: “Nó sẽ làm hại tận. Hiềm hận được kết thành, khi nghĩ rằng: “Nó đã hại người ta yêu, người ta mến…” “Nó đang hại người ta yêu, hại người ta mến…” “Nó sẽ hại người ta yêu, người ta mến”. Hiềm hận được kết thành, khi nghĩ rằng: “Nó đã làm lợi cho người ta yêu, người ta mến”. Hiềm hận được kết thành, khi nghĩ rằng: “Nó đang làm lợi cho người ta không yêu, người ta không mến”. Hiềm hận được kết thành, khi nghĩ rằng: “Nó sẽ làm lợi cho người ta không yêu, người ta không mến”. Làm cho vị ấy tức giận không có lý do.

Này các Tỷ-kheo, có mười trường hợp hiềm hận này.

AN 10.80 Loại Bỏ Oán Hận Āghātapaṭivinayasutta

“Này các thầy tỳ kheo, có mười phương pháp này để loại bỏ oán hận. Mười phương pháp nào? Nghĩ rằng: ‘Họ đã làm hại tôi, nhưng tôi có thể làm gì được chứ?’ bạn loại bỏ oán hận. Nghĩ rằng: ‘Họ đang làm hại tôi …’ … ‘Họ sẽ làm hại tôi …’ … ‘Họ đã làm hại người tôi yêu quý …’ … ‘Họ đang làm hại người tôi yêu quý …’ ‘Họ sẽ làm hại người tôi yêu quý …’ … Họ đã giúp đỡ người tôi không thích …’ … ‘Họ đang giúp đỡ người tôi không thích …’ … Nghĩ rằng: ‘Họ sẽ giúp đỡ người tôi không thích, nhưng tôi có thể làm gì được chứ?’ bạn loại bỏ oán hận. Và bạn không tức giận vô cớ. Đây là mười cách để loại bỏ oán hận.”

(X) (80) Nhiếp Phục Hiềm Hận

1. - Này các Tỷ-kheo, có mười nhiếp phục hiềm hận này, Thế nào là mười?

2.-Hiềm hận được nhiếp phục, khi nghĩ rằng: “Nó đã làm hại tôi, nhưng lợi ích từ đâu đến khi nghĩ như vậy? “Hiềm hận được nhiếp phục, khi nghĩ rằng: “Nó đang làm hại ta, nhưng lợi ích từ đâu đến khi nghĩ như vậy. “Hiềm hận được nhiếp phục khi nghĩ rằng: “Nó sẽ làm hại ta, nhưng lợi ích từ đâu đến khi ta nghĩ như vậy? . “Hiềm hận được nhiếp phục, khi nghĩ rằng: “Nó đã làm hại người ta yêu, người ta mến… Nó đang làm hại người ta yêu… người ta mến… Nó sẽ làm hại người ta yêu, người ta mến, nhưng lợi ích từ đâu đến khi nghĩ như vậy? Không làm cho vị ấy tức giận không có lý do.

Này các Tỷ-kheo, có mười trường hợp nhiếp phục được hiềm hận.