Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về các Trưởng Lão Tỳ Kheo

AN 10.81 Với Bāhuna Vāhanasutta (Kinh Vāhana)

Một thời Đức Phật trú gần Campā, bên bờ hồ sen Gaggarā. Khi ấy, Tôn giả Bāhuna đến gặp Đức Phật, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên và thưa:

“Bạch Thế Tôn, Như Lai (Realized One / bậc đã giác ngộ chân lý, đã đến và đi như các vị Phật quá khứ) đã thoát khỏi bao nhiêu pháp, để Ngài sống ly tham (detached / không còn tham ái, tách rời khỏi sự dính mắc), giải thoát (liberated / thoát khỏi khổ đau và ràng buộc), với tâm vô hạn lượng (mind free of limits / tâm không còn bị giới hạn bởi phiền não)?”

“Này Bāhuna, Như Lai đã thoát khỏi mười pháp, do đó Ngài sống ly tham, giải thoát, với tâm vô hạn lượng. Mười pháp ấy là gì? Sắc (form / hình thể vật chất, một trong năm uẩn)… thọ (feeling / cảm giác dễ chịu, khó chịu hay trung tính, một trong năm uẩn)… nhận thức (perceptions / tưởng, nhận biết-phân biệt và gắn nhãn, một trong năm uẩn)… hành (choices / ý chí, sự tạo tác của tâm, các hoạt động có chủ ý của thân, khẩu, ý, một trong năm uẩn)… thức (consciousness / sự biết của tâm đối với đối tượng, một trong năm uẩn)… tái sanh (rebirth / sự sinh lại trong vòng luân hồi)… già (old age / sự suy yếu của thân thể do tuổi tác)… chết (death / sự chấm dứt của mạng sống)… khổ (suffering / sự đau đớn, bất toại nguyện, một sự thật cao quý)… phiền não (defilements / những trạng thái tâm tiêu cực làm ô nhiễm tâm như tham, sân, si)… Giả như có hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng. Dù nó mọc lên và lớn lên trong nước, nó vẫn vươn lên khỏi mặt nước và đứng đó không dính nước. Cũng vậy, Như Lai đã thoát khỏi mười pháp ấy, do đó Ngài sống ly tham, giải thoát, với tâm vô hạn lượng.”

IX. Phẩm Trưởng Lão

(I) (81) Bàhuna

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Campá, trên bờ hồ Gaggarà. Rồi Tôn giả Bàhuna đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Bàhuna bạch Thế Tôn:

− Từ bao nhiêu pháp, Như Lai sống xuất ly, ly hệ, giải thoát với tâm không hạn cuộc.

2. - Từ mười pháp, này Bàhuna, Như Lai sống xuất ly, ly hệ. giải thoát với tâm không hạn cuộc. Thế nào là mười?

3. Từ sắc, này Bàhuna, Như Lai sống xuất ly, ly hệ, giải thoát với tâm không hạn cuộc. Từ thọ, này Bàhuna… Từ tưởng, này Bàhuna… Từ các hành, này Bàhuna… Từ thức, này Bàhuna… Từ sanh, này Bàhuna… Từ già, này Bàhuna…Từ chết, này Bàhuna…Từ các khổ này Bàhuna… Từ các phiền não, này Bàhuna, Như Lai sống xuất ly, ly hệ, giải thoát với tâm không hạn cuộc.

4. Ví như, này Bàhuna, hoa sen xanh, hay hoa sen hồng, hay hoa sen trắng, sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên mặt nước và đứng, không có dính nước. Cũng vậy, này Bàhuna, từ mười pháp này, Như Lai sống xuất ly, ly hệ, giải thoát với tâm không hạn cuộc.

AN 10.82 Với Ānanda Ānandasutta (Kinh Ānanda)

Khi ấy, Tôn giả Ānanda đến gặp Đức Phật, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Đức Phật dạy:

"Này Ānanda, một vị tỳ kheo không có Niềm tin thì hoàn toàn không thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ hay trưởng thành trong giáo pháp và giới luật (teaching and training / lời dạy của Đức Phật và các quy tắc rèn luyện) này.

Một vị tỳ kheo không có giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức) thì hoàn toàn không thể…

ít học thì hoàn toàn không thể…

khó khuyên dạy thì hoàn toàn không thể…

có bạn xấu thì hoàn toàn không thể…

lười biếng thì hoàn toàn không thể…

mất Tỉnh thức thì hoàn toàn không thể…

thiếu sự biết đủ thì hoàn toàn không thể…

có ước muốn xấu xa thì hoàn toàn không thể…

tà kiến (wrong view / cái thấy sai lầm, không đúng chân lý) thì hoàn toàn không thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ hay trưởng thành trong giáo pháp và giới luật này.

Một vị tỳ kheo có mười phẩm chất này thì hoàn toàn không thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ hay trưởng thành trong giáo pháp và giới luật này.

Một vị tỳ kheo có Niềm tin thì hoàn toàn có thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ hay trưởng thành trong giáo pháp và giới luật này.

Một vị tỳ kheo có giới đức thì hoàn toàn có thể…

học nhiều và ghi nhớ giáo pháp thì hoàn toàn có thể…

dễ khuyên dạy thì hoàn toàn có thể…

có bạn tốt thì hoàn toàn có thể…

Siêng năng thì hoàn toàn có thể…

có Tỉnh thức thì hoàn toàn có thể…

biết đủ thì hoàn toàn có thể…

ít mong muốn thì hoàn toàn có thể…

chánh kiến (right view / cái thấy đúng đắn, phù hợp chân lý) thì hoàn toàn có thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ hay trưởng thành trong giáo pháp và giới luật này.

Một vị tỳ kheo có mười phẩm chất này thì hoàn toàn có thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ hay trưởng thành trong giáo pháp và giới luật này."

(II) (82) Ananda

1. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn với Tôn giả Ananda đang ngồi một bên:

2. - Này Abada, Tỷ-kheo nào không có lòng tin, sẽ được tăng trưởng, lớn mạnh, lớn rộng trong pháp luật này, sự kiện này không xảy ra. Này Ananda, Tỷ-kheo nào ác giới… không nghe pháp… khó nói… làm bạn với ác… biếng nhác… thất niệm… không biết đủ… ác dục… này Ananda, Tỷ-kheo nào có tà kiến sẽ được tăng trưởng lớn mạnh, lớn rộng trong pháp luật này, sự kiện không xảy ra. Này Ananda, Tỷ-kheo nào thành tựu mười pháp này, sẽ được tăng trưởng, lớn mạnh, lớn rộng trong Pháp và Luật này, sự kiện này có xảy ra.

3. Này Ananda, Tỷ-kheo nào có lòng tin, sẽ được tăng trưởng, lớn mạnh, lớn rộng trong Pháp và Luật này, sự kiện này có xảy ra, Này Ananda, Tỷ-kheo nào có giới… nghe pháp, thọ trì điều đã nghe… dễ nói… làm bạn với thiện… tinh thần, tinh tấn… trú niệm… biết đủ… ít dục… Này Ananda, Tỷ-kheo nào có chánh tri kiến, sẽ được tăng trưởng, lớn mạnh, lớn rộng trong Pháp và Luật này, sự kiện này có xảy ra.

Này Anada, Tỷ-kheo nào thành tựu mười pháp này sẽ được tăng trưởng, lớn mạnh, lớn rộng trong Pháp và Luật này, sự kiện này có xảy ra.

AN 10.83 Với Puṇṇiya Puṇṇiyasutta (Kinh Puṇṇiya)

Khi ấy, Tôn giả Puṇṇiya đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và thưa:

“Bạch Thế Tôn, do nhân gì, duyên gì mà đôi khi Như Lai cảm thấy có cảm hứng thuyết pháp, và những lúc khác thì không?”

"Này Puṇṇiya, khi một vị tỳ kheo có Niềm tin nhưng không đến gần, Như Lai không cảm thấy có cảm hứng thuyết pháp. Nhưng khi một vị tỳ kheo có Niềm tin và đến gần, Như Lai cảm thấy có cảm hứng thuyết pháp.

Khi một vị tỳ kheo có Niềm tin và đến gần, nhưng không đảnh lễ… họ đảnh lễ, nhưng không đặt câu hỏi… họ đặt câu hỏi, nhưng không chủ động lắng nghe giáo pháp… họ chủ động lắng nghe giáo pháp, nhưng không ghi nhớ giáo pháp đã nghe… họ ghi nhớ giáo pháp đã nghe, nhưng không suy ngẫm ý nghĩa của giáo pháp đã ghi nhớ… họ suy ngẫm ý nghĩa của giáo pháp đã ghi nhớ, nhưng, vì không hiểu ý nghĩa và giáo pháp, họ không thực hành tương ứng… họ thực hành tương ứng, nhưng họ không phải là người nói hay và phát âm không tốt. Giọng nói của họ không trau chuốt, rõ ràng, mạch lạc và không diễn tả được ý nghĩa… Họ là người nói hay, phát âm tốt, nhưng họ không khuyến giáo, khích lệ, làm phấn chấn và truyền cảm hứng cho các bạn đồng tu. Như Lai không cảm thấy có cảm hứng thuyết pháp.

Nhưng khi một vị tỳ kheo có Niềm tin, đến gần, đảnh lễ, đặt câu hỏi, chủ động lắng nghe giáo pháp, ghi nhớ giáo pháp, suy ngẫm ý nghĩa, thực hành tương ứng, có giọng nói tốt, và khích lệ các bạn đồng tu, Như Lai cảm thấy có cảm hứng thuyết pháp. Khi một người có mười phẩm chất này, Như Lai cảm thấy hoàn toàn có cảm hứng thuyết pháp."

(III) (83) Punniya

1. Rồi Tôn giả Punniya đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Punniya bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, có khi Thế Tôn thuyết pháp, có khi Thế Tôn không thuyết pháp?

2.- Này Punniya, Tỷ-kheo có lòng tin, không đi đến yết kiến, Như Lai không có thuyết pháp. Khi nào, này Punniya, Tỷ-kheo có lòng tin, đi đến yết kiến, như vậy Thế Tôn thuyết pháp. Và này Punniya, Tỷ-kheo có lòng tin, có đi đến yết kiến, nhưng không có hầu hạ… có hầu hạ nhưng không hỏi… có hỏi nhưng không có lóng tai nghe pháp… có lóng tai nhưng nghe pháp, nhưng sau khi, không thọ trì pháp… sau khi nghe, có thọ trì pháp, nhưng không suy nghĩ ý nghĩa các pháp đã được thọ trì… suy nghĩ ý nghĩa các pháp đã được thọ trì, nhưng không có sau khi biết ý nghĩa, sau khi biết pháp, thực hành pháp đúng pháp… sau khi biết ý nghĩa, sau khi biết pháp, có thực hành pháp đúng pháp, nhưng không nói thiện, phát ngôn thiện, thành tựu các lời tao nhã, nói lên ý nghĩa phân biệt rõ ràng… khéo nói, khéo phát ngôn, thành tựu các lời tao nhả, nói lên ý nghĩa phân biệt rõ ràng, nhưng không có thuyết trình, không có khích lệ, không có làm cho phấn chấn, không có làm cho hoan hỷ các vị đồng Phạm hạnh, cho đến như vậy, Như lai không thuyết pháp.

3. Và này Punniya, Tỷ-kheo có lòng tin, có đi đến yết kiến, có hầu hạ, có hỏi, có lóng tai nghe; sau khi nghe, có thọ trì pháp, có suy nghĩ ý nghĩa các pháp đã được thọ trì; sau khi biết ý nghĩa, sau khi biết pháp, có thực hành pháp đúng pháp, khéo nói, khéo phát ngôn, thành tựu các lời tao nhã, nói lên ý nghĩa phân biệt rõ ràng và có thuyết trình, có khích lệ, có làm cho phấn chấn, có làm cho hoan hỷ các vị đồng Phạm hạnh, cho đến như vậy Như Lai có thuyết pháp.

Thành tựu mười pháp này, này Punniya Như Lai thế nào cũng thuyết pháp.

AN 10.84 Tuyên Bố Byākaraṇasutta (Kinh Tuyên Bố)

Tại đó, Tôn giả Mahāmoggallāna (Đại Mục Kiền Liên) nói với các vị tỳ kheo: “Thưa các Hiền giả, các tỳ kheo!”

“Thưa Hiền giả,” họ đáp. Tôn giả Mahāmoggallāna nói điều này:

"Hãy xét một vị tỳ kheo tuyên bố chứng ngộ: ‘Tôi hiểu rằng: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.”’ Vị ấy bị Như Lai, hoặc một trong các đệ tử của Ngài là người có các tầng thiền định (absorptions / các trạng thái tập trung cao độ của tâm), thiện xảo trong các chứng đắc (attainments / những thành tựu tâm linh), trong tâm của người khác, và trong cách thức của tâm người khác, truy vấn, gạn hỏi và thẩm tra. Bị thẩm tra theo cách này, vị ấy bị mắc kẹt hoặc lạc lối. Vị ấy rơi vào suy vong và tai họa.

Như Lai hoặc một trong các đệ tử của Ngài thấu hiểu tâm của vị ấy và điều tra: 'Tại sao vị tôn giả này lại tuyên bố chứng ngộ, nói rằng:

“Tôi hiểu rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’?”’

Họ hiểu rằng:

'Vị tôn giả này dễ cáu kỉnh, và thường sống với tâm đầy Tức giận. Nhưng tâm đầy Tức giận có nghĩa là sự suy thoái trong giáo pháp và giới luật do Như Lai công bố.

Vị tôn giả này hay gây gổ…

dễ khinh miệt…

hay coi thường…

ganh tị…

keo kiệt…

gian xảo…

lừa dối…

Vị tôn giả này có ước muốn xấu xa, và thường sống với tâm đầy ham muốn. Nhưng tâm đầy ham muốn có nghĩa là sự suy thoái trong giáo pháp và giới luật do Như Lai công bố.

Khi vẫn còn nhiều việc phải làm, vị tôn giả này đã dừng lại giữa chừng sau khi đạt được một vài thành tựu nhỏ nhặt không đáng kể. Nhưng dừng lại giữa chừng có nghĩa là sự suy thoái trong giáo pháp và giới luật do Như Lai công bố.’

Một vị tỳ kheo hoàn toàn không thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ, hay trưởng thành trong giáo pháp và giới luật này nếu không từ bỏ mười phẩm chất này. Một vị tỳ kheo hoàn toàn có thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ, hay trưởng thành trong giáo pháp và giới luật này sau khi từ bỏ mười phẩm chất này."

(VI) (84) Nói Lên Chánh Trí

1. Ở đây, Tôn giả Mahàmoggallàna gọi các Tỷ-kheo:

− Này các hiền giả Tỷ-kheo.

− Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahàmoggallàna. Tôn giả Mahàmoggallàna nói như sau:

2. - Ở đây, này các Hiền giả, Tỷ-kheo nói lên chánh trí: “Tôi rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa””. Rồi Như Lai hay đệ tử Như Lai, là vị hành thiền, thiện xảo trong thiền chứng, thiện xảo trong tâm người khác, thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, thẩm vấn, gạn hỏi, thảo luận. Vị ấy bị Như Lai hay đệ tử Như Lai, những vị hành thiền, thiện xảo trong thiền chứng, thiện xảo trong tâm người khác, thẩm vấn, gạn hỏi, thảo luận, rơi vào trong trống rỗng (sa mạc), rơi vào trong rối ren (rừng rậm), rơi vào trong bế tắc, rơi vào trong bất hạnh, rơi vào trong bế tắc và bất hạnh. Như Lai hay đệ tử Như Lai, những vị hành thiền, thiện xảo trong tâm người khác, thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, thiện xảo trong hành tướng tâm người khác tâm mình, tác ý đến tâm của người ấy như sau: “Như thế nào, Tôn giả này nói lên chánh trí: “Tôi rõ biết rằng: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.”? “Như Lai hay đệ tử Như Lai, những vị hành thiền, thiện xảo trong thiền chứng, thiện xảo trong tâm người khác, thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, với tâm mình biết rõ tâm người ấy như sau: “Có phẫn nộ là Tôn giả này, sống nhiều với tâm bị phẫn nộ thấm nhuần. Với tâm bị phẫn nộ thấm nhuần, nghĩa là tổn giảm trong Pháp Luật do Như Lai thuyết giảng. Có hiềm hận là Tôn giả này… có gièm pha là Tôn giả này… có não hại là Tôn giả này… có tật đố là Tôn giả này… có xan tham là Tôn giả này… có lừa đảo là Tôn giả này… có man trá là Tôn giả này… có ác dục là Tôn giả này… có thất niệm là Tôn giả này… Dầu cho còn nhiều việc (cao thượng hơn) cần phải làm thêm, tuy có chứng được thù thắng nhưng chỉ là phần nhỏ lại đứng lại giữa đường; đứng lại giữa đường này nghĩa là tổn giảm trong Pháp Luật do Như Lai thuyết giảng.”

3. Tỷ-kheo ấy, chư Hiền, do không đoạn tận mười pháp này, đi đến được tăng trưởng, lớn mạnh, lớn rộng trong Pháp và Luật này, sự kiện này không xảy ra. Tỷ-kheo ấy, này chư Hiền, do đoạn tận mười pháp này, đi đến được tăng trưởng lớn mạnh, lớn rộng trong Pháp và Luật này, sự kiện này có xảy ra.

AN 10.85 Kẻ Khoe Khoang Katthīsutta (Kinh Kẻ Khoe Khoang)

Một thời Tôn giả Mahācunda (Đại Ca Chiên Diên) trú tại xứ Cetī, ở Sahajāti. Tại đó, ngài nói với các vị tỳ kheo: “Thưa các Hiền giả, các tỳ kheo!”

“Thưa Hiền giả,” họ đáp. Tôn giả Mahācunda nói điều này:

"Hãy xét một vị tỳ kheo khoe khoang và tự phụ về thành tựu của mình: ‘Tôi nhập và xuất sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, và tứ thiền. Và tôi nhập và xuất không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, và phi tưởng phi phi tưởng xứ. Và tôi nhập và xuất diệt thọ tưởng định (cessation of perception and feeling / trạng thái thiền định nơi nhận thức và cảm giác tạm thời chấm dứt).’

Vị ấy bị Như Lai, hoặc một trong các đệ tử của Ngài là người có các tầng thiền định, thiện xảo trong các chứng đắc, trong tâm của người khác, và trong cách thức của tâm người khác, truy vấn, gạn hỏi và thẩm tra. Bị thẩm tra theo cách này, vị ấy bị mắc kẹt hoặc lạc lối. Vị ấy rơi vào suy vong và tai họa.

Như Lai hoặc một trong các đệ tử của Ngài thấu hiểu tâm của vị ấy và điều tra: ‘Tại sao vị tôn giả này lại khoe khoang và tự phụ về thành tựu của mình, nói rằng: “Tôi nhập và xuất sơ thiền… và diệt thọ tưởng định.”’

Họ hiểu rằng, 'Từ lâu, hành vi của vị tôn giả này đã bị phá vỡ, ô uế, lốm đốm và hoen ố. Hành vi và cách cư xử của vị ấy không nhất quán. Vị tôn giả này không có giới đức, và việc không có giới đức có nghĩa là sự suy thoái trong giáo pháp và giới luật do Như Lai công bố.

Vị tôn giả này không có Niềm tin, và việc thiếu Niềm tin có nghĩa là sự suy thoái…

Vị tôn giả này ít học và không thực hành, và việc ít học có nghĩa là sự suy thoái…

Vị tôn giả này khó khuyên dạy, và việc khó khuyên dạy có nghĩa là sự suy thoái…

Vị tôn giả này có bạn xấu, và bạn xấu có nghĩa là sự suy thoái…

Vị tôn giả này lười biếng, và sự lười biếng có nghĩa là sự suy thoái…

Vị tôn giả này mất Tỉnh thức, và việc mất Tỉnh thức có nghĩa là sự suy thoái…

Vị tôn giả này gian dối, và sự gian dối có nghĩa là sự suy thoái…

Vị tôn giả này nặng nề, và việc nặng nề có nghĩa là sự suy thoái…

Vị tôn giả này thiếu Trí tuệ, và việc thiếu Trí tuệ có nghĩa là sự suy thoái trong giáo pháp và giới luật do Như Lai công bố.’

Giả sử một người bạn nói với người bạn khác: ‘Này bạn thân mến, khi bạn cần tiền để trả một khoản nào đó, cứ hỏi tôi và tôi sẽ đưa cho.’ Rồi khi đến hạn trả một khoản nào đó, người bạn đó nói với bạn mình: ‘Tôi cần một ít tiền, bạn thân mến ạ. Cho tôi một ít đi.’ Người kia sẽ nói: ‘Vậy thì, bạn thân mến, đào ở đây.’ Người này đào ở đó, nhưng không tìm thấy gì. Người này sẽ nói: ‘Bạn đã nói dối tôi, bạn thân mến, bạn đã nói những lời sáo rỗng khi bảo tôi đào ở đây.’ Người kia sẽ nói: ‘Bạn thân mến, tôi không nói dối hay nói những lời sáo rỗng. Vậy thì, đào ở đây.’ Người này cũng đào ở đó, nhưng không tìm thấy gì. Người này sẽ nói: ‘Bạn đã nói dối tôi, bạn thân mến, bạn đã nói những lời sáo rỗng khi bảo đào ở đây.’ Người kia sẽ nói: ‘Bạn thân mến, tôi không nói dối hay nói những lời sáo rỗng. Vậy thì, đào ở đây.’ Người này cũng đào ở đó, nhưng không tìm thấy gì. Người này sẽ nói: ‘Bạn đã nói dối tôi, bạn thân mến, bạn đã nói những lời sáo rỗng khi bảo đào ở đây.’ Người kia sẽ nói: ‘Bạn thân mến, tôi không nói dối hay nói những lời sáo rỗng. Nhưng tôi đã bị điên, tôi đã mất trí.’

Cũng vậy, hãy xét một vị tỳ kheo khoe khoang và tự phụ về thành tựu của mình: ‘Tôi nhập và xuất sơ thiền… và diệt thọ tưởng định.’

Vị ấy bị Như Lai, hoặc một trong các đệ tử của Ngài… Bị thẩm tra theo cách này, vị ấy bị mắc kẹt hoặc lạc lối. Vị ấy rơi vào suy vong và tai họa.

Như Lai hoặc một trong các đệ tử của Ngài thấu hiểu tâm của vị ấy và điều tra: ‘Tại sao vị tôn giả này lại khoe khoang và tự phụ về thành tựu của mình, nói rằng: “Tôi nhập và xuất sơ thiền… và diệt thọ tưởng định.”’

Họ hiểu rằng, 'Từ lâu, hành vi của vị tôn giả này đã bị phá vỡ, ô uế, lốm đốm và hoen ố. Hành vi và cách cư xử của vị ấy không nhất quán. Vị tôn giả này không có giới đức, và việc không có giới đức có nghĩa là sự suy thoái trong giáo pháp và giới luật do Như Lai công bố.

Vị tôn giả này không có Niềm tin…

ít học và không thực hành…

khó khuyên dạy…

có bạn xấu…

lười biếng…

mất Tỉnh thức…

gian dối…

nặng nề…

Vị tôn giả này thiếu Trí tuệ, và việc thiếu Trí tuệ có nghĩa là sự suy thoái trong giáo pháp và giới luật do Như Lai công bố.’

Một vị tỳ kheo hoàn toàn không thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ, hay trưởng thành trong giáo pháp và giới luật này nếu không từ bỏ mười phẩm chất này. Một vị tỳ kheo hoàn toàn có thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ, hay trưởng thành trong giáo pháp và giới luật này sau khi từ bỏ mười phẩm chất này."

(V) (85) Khoe Khoang

1. Một thời, Tôn giả Mahàcunda trú giữa dân chúng Cetì, tại Sahajati. Tại đây, Tôn giả Mahàcunda bảo các Tỷ-kheo:

− Này chư Hiền Tỷ-kheo!

− Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahàcunda. Tôn giả Mahàcunda nói như sau:

2. - Ở đây, này chư Hiền, Tỷ-kheo là hạng khoe khoang, khoa trương những chứng đắc của mình: “Tôi chứng nhập, tôi xuất ly sơ thiền. Tôi chứng nhập, tôi xuất ly thiền thư hai. Tôi chứng nhập, tôi xuất ly thiền thứ ba. Tôi chứng nhập, tôi xuất ly thiền thư tư. Tôi chứng nhập, tôi xuất ly Không vô biên xứ. Tơi chứng nhập, tôi xuất ly Thức vô biên xứ. Tôi chứng nhập, tôi xuất ly Vô sở hữu xứ. Tôi chứng nhập, tôi xuất ly Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Tôi chứng nhập, tôi xuất ly Diệt thọ tưởng định.” Như Lai hay đệ tử Như Lai là bậc Thánh hiền, thiện xảo trong thiền chứng, thiện xảo trong tâm người khác, thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, thẩm vấn, gạn hỏi, thảo luận. Vị ấy khi bị Như Lai hay đệ tử Như Lai là những bậc hành thiền, thiện xảo trong thiền chứng, thiện xảo trong tâm người khác, thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, thẩm vấn, gạn hỏi, thảo luận, rơi vào trống không, rơi vào rối ren, rơi vào bế tắc, rơi vào bất hạnh, rơi vào bế tắc và bất hạnh. Như Lai hay đệ tử Như lai, những vị hành thiền… thiện xảo trong hành tướng tâm của người khác, với tâm của mình tác ý đến tâm của người ấy như sau: “Như thế nào, Tôn giả này khoe khoang, khoa trương những chứng đắc của mình: “Tôi chứng nhập, tôi xuất ly Thiền thứ nhất… tôi chứng nhập, tôi xuất ly Diệt thọ tưởng định.” Như Lai hay đệ tử Như Lai, những vị hành thiền… thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, với tâm mình rõ biết tâm người ấy như sau: “Ðã lâu rồi, Tôn giả này có những hành động phá nát, có những hành động bể vụn, có những hành động chấm đen, có những hành động uế nhiễm, có những hành động không phù hợp, có những tập quán không phù hợp trong các giới luật. Phá giới là Tôn giả này, và phá giới nghĩa là tổn giảm trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng. Không có lòng tin là Tôn giả này, và không có lòng tin, nghĩa là tổn giảm trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng. Nghe ít là Tôn giả này, theo tà hạnh, học ít nghĩa là tổng giảm trong Pháp Luật do Như Lai thuyết giảng. Khó nói là Tôn giả này, và tánh khó nói… do Như Lai thuyết giảng. Bạn bè với ác là Tôn giả này, và tánh bạn bè với ác… biếng nhác là Tôn giả này, và tánh biếng nhác… thất niệm là do Tôn giả này, và tánh thất niệm… do Như Lai thuyết giảng. Gian xảo là Tôn giả này, và tánh gian xảo… khó nuôi dưỡng là Tôn giả này, và tánh khó nuôi dưỡng… ác tuệ là tôn giả naỳ, và tánh ác tuệ có nghĩa là tổn giảm trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.””

3. Ví như, này chư Hiền, một người bạn nói với người của mình: “Này Bạn, khi nào Bạn cần đến tài sản, hãy xin tôi tài sản và tôi sẽ cho Bạn tài sản.” Người bạn kia khi cần đến tài sản liền nói với người bạn như sau: “Này Bạn, nay tôi cần đến tài sản, hãy cho tôi tài sản”. Vị ấy trả lời như sau: “Vậy này Bạn, hãy đào ở đây”. Vị kia tại đấy đào lên và không tìm được gì. Vị kia nói: “Này Bạn, Bạn đã nói láo với tôi. Này Bạn, Bạn đã nói những lời trống rỗng với tôi.” “Hãy đào ở đây”. Vị ấy nói: “Này Bạn, tôi không nói láo với Bạn. Tôi không nói những lời trống rỗng với Bạn. Vậy này Bạn, hãy đào ở đây”. Vị kia tại đấy đào lên và không tìm được gì. Vị kia nói: “Này Bạn, Bạn đã nói láo với tôi. Này Bạn, Bạn đã nói những lời trống rỗng với tôi”. “Hãy đào ở đây”. Vị ấy nói: “Này Bạn, tôi không nói láo với Bạn. Tôi không nói những lời trống rỗng. Vậy này Bạn, hãy đào ở đây”. Vị kia tại đấy đào lên và không tìm được gì. Vị kia nói: “Này Bạn, Bạn đã nói láo với tôi. Bạn đã nói những lời trống rỗng với tôi”. “Hãy đào ở đây”. Vị kia nói: “Này Bạn, tôi không nói láo với Bạn. Tôi không nói những lời trống rỗng với Bạn nhưng tôi bị điên loạn, tâm tôi bị đảo lộn. Cũng vậy, này chư Hiền, Tỷ-kheo là hạng khoe khoang, khoa trương những chứng đắc của mình: “Tôi chứng nhập, Tôi xuất ly sơ thiền…Thiền thứ hai… thiền thứ ba… Thiền thứ tư… Không vô biên xứ…Thức vô biên xứ… vô sở hữu xứ… Phi trưởng phi phi trưởng xứ… Tôi chứng nhập, tôi xuất ly Diệt thọ tưởng định”. Như Lai hay đệ tử Như Lai là bậc hành thiền, thiện xảo trong thiền chứng, thiện xảo trong tâm người khác, thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, thẩm vấn, gạn hỏi, thảo luận. Vị ấy, khi bị Như Lai hay đệ tử Như Lai là những bậc hành thiền… thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, thẩm vấn, gạn hỏi, thảo luận, rơi vào trống không, rơi vào rối ren, rơi và o bế tắc, rơi vào bất hạnh, rơi vào bế tắc và bất hạnh. Như Lai hay đệ tử Như Lai, những bậc hành thiền… thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, với tâm của mình, tác ý đến tâm của người khác, với tâm của mình, tác ý đến tâm của người ấy như sau: “Như thế nào, Tôn giả này khoa trương, khoe khoang, những chứng đắc của mình: “Tôi chứng nhập và xuất ly sơ thiền… tôi chứng nhập và xuất ly diệt thọ tưởng định”. Như Lai hay đệ tử Như Lai, những vị hành thiền… thiện xảo trong hành tướng tâm của người khác như sau: “Ðã lâu rồi, Tôn giả này có những hành động phá nát, có những hành động bể vụn, có những hành động chấm đen, có những hành động uế nhiễm, có những hành động không phù hợp, có những tập quán không phù hợp trong cắc giới. Phá giới là Tôn giả, và phá giới có nghĩa là tổn giảm trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng. Không có lòng tin là Tôn giả này và tánh không có lòng tin… nghe ít là Tôn giả này và tánh nghe ít… khó nói là Tôn giả này, và tánh khó nói… bạn bè với ác là Tôn giả này và tánh làm bạn với ác…biếng nhác là Tôn giả này, và tánh biếng nhác… thất niệm là Tôn giả này và tánh thất niệm… gian xảo là Tôn giả này và tánh gian xảo… khó nuôi dưỡng là Tôn giả này và tánh khó nuôi dưỡng… Ác tuệ là Tôn giả này và tánh ác tuệ là tổn giảm trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.”

4. Tỷ-kheo ấy, này chư Hiền, không đoạn tận mười pháp này sẽ tăng trưởng, lớn mạnh, lớn rộng trong Pháp và Luật này, sự kiện này không xảy ra Tỷ-kheo ấy, này chư Hiền, sau khi đoạn tận mười pháp này, sẽ được tăng trưởng, lớn mạnh, lớn rộng trong Pháp và Luật này, sự kiện này có xảy ra.

AN 10.86 Tự Đánh Giá Quá Cao Adhimānasutta (Kinh Tự Mãn)

Một thời Tôn giả Mahākassapa (Đại Ca Diếp) trú gần thành Rājagaha (Vương Xá), tại Veluvana (Trúc Lâm), nơi các con sóc được cho ăn. Tại đó, ngài nói với các vị tỳ kheo: “Thưa các Hiền giả, các tỳ kheo!”

“Thưa Hiền giả,” họ đáp. Tôn giả Mahākassapa nói điều này:

"Hãy xét một vị tỳ kheo tuyên bố chứng ngộ: ‘Tôi hiểu rằng: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.”’ Vị ấy bị Như Lai, hoặc một trong các đệ tử của Ngài là người có các tầng thiền định, thiện xảo trong các chứng đắc, trong tâm của người khác, và trong cách thức của tâm người khác, truy vấn, gạn hỏi và thẩm tra. Bị thẩm tra theo cách này, vị ấy bị mắc kẹt hoặc lạc lối. Vị ấy rơi vào suy vong và tai họa.

Như Lai hoặc một trong các đệ tử của Ngài thấu hiểu tâm của vị ấy và điều tra: ‘Tại sao vị tôn giả này lại tuyên bố chứng ngộ, nói rằng: “Tôi hiểu rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’?”’

Họ hiểu rằng, 'Vị tôn giả này adhimāna (overestimation / tự đánh giá quá cao bản thân, ngã mạn về những gì mình chưa đạt được) và cho đó là sự thật. Vị ấy nhận thức rằng mình đã đạt được những gì chưa đạt, làm được những gì chưa làm, và thành tựu những gì chưa thành tựu. Và vị ấy tuyên bố chứng ngộ do tự đánh giá quá cao:

“Tôi hiểu rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’”’

Như Lai hoặc một trong các đệ tử của Ngài thấu hiểu tâm của vị ấy và điều tra: 'Tại sao vị tôn giả này lại tự đánh giá quá cao bản thân và cho đó là sự thật? Tại sao vị ấy nhận thức rằng mình đã đạt được những gì chưa đạt, làm được những gì chưa làm, và thành tựu những gì chưa thành tựu? Và tại sao vị ấy lại tuyên bố chứng ngộ do tự đánh giá quá cao:

“Tôi hiểu rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’”’

Họ hiểu rằng, ‘Vị tôn giả này rất uyên bác, ghi nhớ và gìn giữ những gì đã học. Những giáo lý này thiện ở đoạn đầu, thiện ở đoạn giữa, và thiện ở đoạn cuối, có ý nghĩa và văn cú rõ ràng, mô tả một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Vị ấy rất uyên bác trong những giáo lý như vậy, ghi nhớ chúng, tụng đọc chúng, quán xét chúng trong tâm, và hiểu chúng trên lý thuyết. Do đó, vị tôn giả này tự đánh giá quá cao bản thân và cho đó là sự thật. …’

Họ hiểu rằng, 'Vị tôn giả này tham lam, và thường sống với tâm đầy tham lam. Tâm đầy tham lam có nghĩa là sự suy thoái trong giáo pháp và giới luật do Như Lai công bố.

Vị tôn giả này có Tức giận…

Tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ…

Bồn chồn lo lắng…

nghi ngờ…

Vị tôn giả này thích thú công việc. Vị ấy yêu thích nó và muốn tận hưởng nó…

Vị tôn giả này thích thú nói chuyện…

ngủ…

hội chúng…

Khi vẫn còn nhiều việc phải làm, vị tôn giả này đã dừng lại giữa chừng sau khi đạt được một vài thành tựu nhỏ nhặt không đáng kể. Dừng lại giữa chừng có nghĩa là sự suy thoái trong giáo pháp và giới luật do Như Lai công bố.’

Một vị tỳ kheo hoàn toàn không thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ, hay trưởng thành trong giáo pháp và giới luật này nếu không từ bỏ mười phẩm chất này. Một vị tỳ kheo hoàn toàn có thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ, hay trưởng thành trong giáo pháp và giới luật này sau khi từ bỏ mười phẩm chất này."

(VI) (86) Câu Hỏi Về Chánh Trí

1. Một thời, Tôn giả Mahàkassapa ở tại Ràjagaha (Vương Xá), Trúc Lâm, tại vườn nuôi dưỡng các con sáo. Tại đấy, Tôn giả Kassapa gọi các Tỷ-kheo:

− Này chư Hiền Tỷ-kheo − Thưa vâng Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahàkassapa. Tôn giả Mahàkassapa nói như sau:

2. - Ở đây, này chư Hiền Tỷ-kheo nói lên chánh tri, nói rằng: “Tôi biết rõ như sau: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa””. Như Lai hay đệ tử Như Lai, những vị hành thiền, thiện xảo trong thiện chứng, thiện xảo trong tâm người khác, thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, thẩm vấn, gạn hỏi, thảo luận. Vị ấy khi bị Như Lai, hay đệ tử Như Lai, là những vị hành thiền… thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, thẩm vấn, gạn hỏi, thảo luận, rơi vào trống không, rơi vào bối rối, rơi vào bế tắc, rơi vào bất hạnh, rơi vào bế tắc và bất hạnh. Như Lai hay đệ tử Như Lai, là những vị hành thiền… thiền xảo trong hành tường tâm của người khác, với tâm của mình, tác ý đến tâm người ấy như sau: “Như thế nào, vị Tôn giả này nói lên chánh trí, nói rằng: “Tôi rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa””. Như Lai hay đệ tử Như Lai, là những bậc hành thiền… thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, với tâm của mình, biết được tâm người ấy như sau: “Tăng thượng mạn la Tôn giả này, xem tăng thượng mạn của mình như là sự thật, chưa chứng đạt tưởng rằng đã chứng đạt, chưa làm tưởng rằng đã làm, chưa chứng đắc tưởng rằng đã chứng đắc, với tăng thượng mạn đã tuyên bố về chánh trí”, nói rằng: “Tôi rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa””. Như Lai hay đệ tử Như Lai là những vị hành thiền… thiện xảo trong hành tướng tâm của người khác, với tâm của mình, tác ý đến tâm người ấy: “Dựa trên gì, Tôn giả này tăng thượng mạn, xem tăng thượng mạn của mình như là sự thật, chưa chứng đạt tưởng rằng đã chứng đạt… chưa chứng đắc tưởng rằng đã chứng đắc, với tăng thượng mạn, đã tuyên bố về chánh trí”, nói rằng: “Tôi rõ biết: “Sanh đã tận… không còn trở lui trạng thái này nữa””? “. Như lai hay đệ tử Như Lai, là những vị hành thiền… thiện xảo trong hành tường tâm của người khác, với tâm của mình biết được tâm của người ấy: “Nghe nhiều là Tôn giả này, thọ trì điều đã nghe, cất chứa điều đã nghe. những pháp nào sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, tán thán đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn trong sạch, những pháp như vậy, vị ấy nghe nhiều, thọ trì điều được nghe, thọ trì đọc tụng bằng lời, với ý khéo quán sát, khéo thể nhập, với chánh kiến. Do vậy, Tôn giả này, tăng thượng mạn, xem tăng thượng mạn của mình như là sự thật, chưa chứng đạt tưởng rằng đã chứng đạt, chưa làm tưởng rằng đã làm, chưa chứng đắc tưởng rằng đã chứng đắc, với tăng thượng mạn, đã tuyên bố về chánh trí, nói rằng: “Tôi rõ biết: “Sanh đã tận… không còn trở lui trạng thái này nữa””. Như Lai hay đệ tử Như Lai là những vị hành thiền… thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, như vậy với tâm của mình, biết rõ tâm của người ấy: “Tham là Tôn giả này, sống nhiều với tâm bị tham chi phối, và bị tham chi phối nghĩa là tổn giảm trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng. Sân là vị Tôn giả này, sống nhiều với tâm bị sân chi phối, và bị sân…Hôn trầm thụy miên là vị Tôn giả này và sống nhiều với tâm bị hôn trầm thụy miên chi phối, và bị hôn trầm thụy miên chi phối nghĩa là tổn giảm… Trạo cử là tôn giả này, và vị ấy sống nhiều với tâm bị trạo cử chi phối, và tâm bị trạo cử chi phối nghĩa là tổn giảm… Nghi là vị Tôn giả này, sống nhiều với tâm bị nghi hoặc chi phối… ưa thích công việc là vị Tôn giả này, thích thú công việc, chuyên chú trong thích thú công việc, và ưa thích công việc nghĩa là tổn giảm trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng. Ưa thích nói chuyện là Tôn giả này, thích thú nói chuyện, chuyên chú trong thích thú nói chuyện, thích thú nói chuyện là tổn giảm trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng. Ưa thích ngủ nghỉ là Tôn giả này, thích thú ngủ nghỉ, và tánh thích thú ngủ nghỉ nghĩa là tổn giảm trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng. Ưa thích hội chúng, là vị Tôn giả này, thích thú hội chúng, chuyên chú ưa thích hội chúng, ưa thích hội chúng có nghĩa là tổn giảm trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng. Thất niệm là vị Tôn giả này, đối với các Pháp cao thượng chỉ được phần nhỏ, dầu cho có chứng được thù thắng nhưng chỉ là phần nhỏ, lại đứng lại giữa đường; đứng lại giữa đường, có nghĩa là tổn giảm trong Pháp Luật do Như Lai thuyết giảng.”

3. Tỷ-kheo ấy, này chư Hiền, không đoạn tận mười pháp này, sẽ được tăng trưởng, lớn mạnh, lớn rộng trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, sự kiện này không xảy ra. Tỷ-kheo ấy, này chư Hiền, đoạn tận mười pháp này, sẽ được tăng trưởng lớn mạnh, lớn rộng trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, sự kiện này có xảy ra.

AN 10.87 Các Vấn Đề Giới Luật Nappiyasutta (Kinh Không Đáng Yêu Mến)

Khi ấy, Đức Phật nói với các vị tỳ kheo về tỳ kheo Kalandaka:

“Này các tỳ kheo!”

“Bạch Thế Tôn,” họ đáp. Đức Phật nói điều này:

"Thứ nhất, một vị tỳ kheo nêu lên các vấn đề về giới luật và không tán dương việc giải quyết các vấn đề về giới luật. Phẩm chất này không đưa đến sự quý mến, tôn trọng, kính trọng, hòa hợp và đoàn kết.

Hơn nữa, một vị tỳ kheo không muốn rèn luyện, và không tán dương việc chấp nhận sự rèn luyện. …

Hơn nữa, một vị tỳ kheo có ước muốn xấu xa, và không tán dương việc từ bỏ các ước muốn. …

Hơn nữa, một vị tỳ kheo cáu kỉnh, và không tán dương việc từ bỏ Tức giận. …

Hơn nữa, một vị tỳ kheo chê bai người khác, và không tán dương việc từ bỏ sự chê bai. …

Hơn nữa, một vị tỳ kheo gian xảo, và không tán dương việc từ bỏ sự gian xảo. …

Hơn nữa, một vị tỳ kheo lừa dối, và không tán dương việc từ bỏ sự lừa dối. …

Hơn nữa, một vị tỳ kheo không chú tâm đến giáo pháp, và không tán dương việc chú tâm đến giáo pháp. …

Hơn nữa, một vị tỳ kheo không ở nơi ẩn dật (retreat / sự lui về nơi yên tĩnh để tu tập), và không tán dương việc ở nơi ẩn dật. …

Hơn nữa, một vị tỳ kheo không hiếu khách với các bạn đồng tu, và không tán dương sự hiếu khách. Phẩm chất này không đưa đến sự quý mến, tôn trọng, kính trọng, hòa hợp và đoàn kết.

Dù một vị tỳ kheo như vậy có thể mong muốn: ‘Giá như các bạn đồng tu của tôi sẽ tôn kính, quý trọng, đề cao và sùng mộ tôi!’ Nhưng họ không tôn kính, quý trọng, đề cao và sùng mộ vị ấy. Tại sao vậy? Bởi vì các bạn đồng tu có hiểu biết của họ thấy rằng vị ấy chưa từ bỏ những phẩm chất xấu xa, bất thiện đó.

Giả sử một con ngựa con hoang dã mong muốn: ‘Giá như con người đặt ta vào chỗ của ngựa thuần chủng, cho ta ăn thức ăn của ngựa thuần chủng, và chăm sóc ta như ngựa thuần chủng.’ Nhưng con người sẽ không đặt nó vào chỗ của ngựa thuần chủng, cho nó ăn thức ăn của ngựa thuần chủng, hay chăm sóc nó như ngựa thuần chủng. Tại sao vậy? Bởi vì con người có hiểu biết thấy rằng nó chưa từ bỏ những trò ma mãnh, lừa gạt, mưu mẹo và giả vờ của nó. Cũng vậy, dù một vị tỳ kheo như vậy có thể mong muốn: ‘Giá như các bạn đồng tu của tôi sẽ tôn kính, quý trọng, đề cao và sùng mộ tôi!’ Nhưng họ không tôn kính, quý trọng, đề cao và sùng mộ vị ấy. Tại sao vậy? Bởi vì các bạn đồng tu có hiểu biết của họ thấy rằng vị ấy chưa từ bỏ những phẩm chất xấu xa, bất thiện đó.

Tiếp theo, một vị tỳ kheo không nêu lên các vấn đề về giới luật và tán dương việc giải quyết các vấn đề về giới luật. Phẩm chất này đưa đến sự quý mến, tôn trọng, kính trọng, hòa hợp và đoàn kết.

Hơn nữa, một vị tỳ kheo muốn rèn luyện, và tán dương việc chấp nhận sự rèn luyện. …

Hơn nữa, một vị tỳ kheo có ít mong muốn, và tán dương việc từ bỏ các mong muốn. …

Hơn nữa, một vị tỳ kheo không cáu kỉnh, và tán dương việc từ bỏ Tức giận. …

Hơn nữa, một vị tỳ kheo không chê bai người khác, và tán dương việc từ bỏ sự chê bai. …

Hơn nữa, một vị tỳ kheo không gian xảo, và tán dương việc từ bỏ sự gian xảo. …

Hơn nữa, một vị tỳ kheo không lừa dối, và tán dương việc từ bỏ sự lừa dối. …

Hơn nữa, một vị tỳ kheo chú tâm đến giáo pháp, và tán dương việc chú tâm đến giáo pháp. …

Hơn nữa, một vị tỳ kheo ở nơi ẩn dật, và tán dương việc ở nơi ẩn dật. …

Hơn nữa, một vị tỳ kheo hiếu khách với các bạn đồng tu, và tán dương sự hiếu khách. Phẩm chất này đưa đến sự quý mến, tôn trọng, kính trọng, hòa hợp và đoàn kết.

Dù một vị tỳ kheo như vậy có thể không bao giờ mong muốn: ‘Giá như các bạn đồng tu của tôi sẽ tôn kính, quý trọng, đề cao và sùng mộ tôi!’ Nhưng họ vẫn tôn kính, quý trọng, đề cao và sùng mộ vị ấy. Tại sao vậy? Bởi vì các bạn đồng tu có hiểu biết của họ thấy rằng vị ấy đã từ bỏ những phẩm chất xấu xa, bất thiện đó.

Giả sử một con ngựa thuần chủng tốt không bao giờ mong muốn: ‘Giá như con người đặt ta vào chỗ của ngựa thuần chủng, cho ta ăn thức ăn của ngựa thuần chủng, và chăm sóc ta như ngựa thuần chủng.’ Nhưng con người vẫn sẽ đặt nó vào chỗ của ngựa thuần chủng, cho nó ăn thức ăn của ngựa thuần chủng, và chăm sóc nó như ngựa thuần chủng. Tại sao vậy? Bởi vì con người có hiểu biết thấy rằng nó đã từ bỏ những trò ma mãnh, lừa gạt, mưu mẹo và giả vờ của nó.

Cũng vậy, dù một vị tỳ kheo như vậy có thể không bao giờ mong muốn: ‘Giá như các bạn đồng tu của tôi sẽ tôn kính, quý trọng, đề cao và sùng mộ tôi!’ Nhưng họ vẫn tôn kính, quý trọng, đề cao và sùng mộ vị ấy. Tại sao vậy? Bởi vì các bạn đồng tu có hiểu biết của họ thấy rằng vị ấy đã từ bỏ những phẩm chất xấu xa, bất thiện đó."

(VII) (87) Tỷ Kheo Kàlaka

1. Tại đấy, nhân việc của Tỷ-kheo Kàlaka Thế tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo.

− Vâng bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:

2. - Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ưa thích kiện tụng, không tán thán làm lắng dịu các cuộc kiện tụng. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ưa thích kiện tụng, không tán thán làm lắng dịu các cuộc kiện tụng, pháp này không đưa đến thân ái, không đưa đến kính trọng, không đưa đến bắt chước (được làm quen), không đưa đến hòa đồng, không đưa đến nhất trí.

3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo không ưa học tập, không tán thán chấp nhận các học pháp. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không ưa học tập, không tán thán chấp nhận các học pháp, pháp này không đưa đến thân ái… không đưa đến nhất trí.

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ác dục, không tán thán nhiếp phục ác dục. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ác dục, không tán thán nhiếp phục ác dục, pháp này không đưa đến thân ái… không đưa đến nhất trí.

5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phẫn nộ không tán thán nhiếp phục phẫn nộ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phẫn nộ, không tán thán nhiếp phục phẫn nộ, pháp này không đưa đến thân ái… không đưa đến nhất trí.

6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo gièm pha không tán thán nhiếp phục gièm pha. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo gièm pha, không tán thán nhiếp phục gièm pha, pháp này không đưa đến thân ái… không đưa đến nhất trí.

7. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo lừa đảo, không tán thán nhiếp phục lừa đảo. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo lừa đảo, không tán thán nhiếp phục lừa đảo, pháp này không đưa đến thân ái… không đưa đến nhất trí.

8. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo man trá không tán thán nhiếp phục man trá. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo man trá, không tán thán nhiếp phục man trá, pháp này không đưa đến thân ái… không đưa đến nhất trí.

9. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tánh không vâng theo Chánh pháp, tánh tán thán vâng theo Chánh pháp. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tánh không vâng theo Chánh pháp, tánh không tán thán vâng theo Chánh pháp, pháp này không đưa đến thân ái… không đưa đến nhất trí.

10. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không thiền tịnh, không tán thán thiền tịnh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không thiền tịnh, không tán thán thiền tịnh, pháp này không đưa đến thân ái… không đưa đến nhất trí.

11. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có tiếp đón các vị đồng Phạm hạnh, không tán thán việc đón tiếp tốt đẹp. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có tiếp đón tốt đẹp các vị đồng Phạm hạnh, không tán thán việc tiếp đón tốt đẹp, pháp này không đưa đến thân ái… không đưa đến nhất trí.

12. Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo như vậy, nếu có ước muốn nào khởi lên: “Ôi mong rằng các vị đồng phạm hạnh cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường tôi”, nhưng các vị đồng Phạm hạnh không có cung kính, không có tôn trọng, không có đảnh lễ cúng đường vị ấy. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì rằng các vị đồng Phạm hạnh có trí quán thấy các pháp ác bất thiện không được đoạn tận trong vị ấy.

13. Ví như, này các Tỷ-kheo, có loại ngựa không thuần phục, dầu cho có khởi lên ý muốn như sau: “Mong rằng loài Người sẽ đặt ta trong vị trí của con ngựa đã được thuần thục, cho ta ăn với các đồ ăn dành cho con ngựa thuần phục, điều phục ta với sự điều phục dành cho con ngựa thuần thục”. Nhưng loài Người không đặt nó trong vị trí của con ngựa thuần thục, không cho nó ăn trong vị trí của con ngựa thuần thục, không điều phục nó với sự điều phục dành cho con ngựa thuần thục. Vì sao? Vì những người có trí thấy rõ được những tánh hạ liệt, sự lừa đảo, giả dối, xảo trá, xảo quyệt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo như vậy, nếu có ước muốn nào khởi lên: “Ôi mong rằng các vị đồng Phạm hạnh cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng đường ta”, nhưng các vị đồng Phạm hạnh không có cung kính, không có tôn trọng, không có đảnh lễ, không có cúng dường vị ấy. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì rằng các vị đồng Phạm hạnh có trí quán thấy các pháp ác bất thiện không được đoạn tận trong vị ấy.

14. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không ưa thích kiện tụng, tán thán làm lắng dịu các cuộc kiện tụng. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không ưa thích kiện tụng, tán thán làm lắng dịu các cuộc kiện tụng. Pháp này đưa đến thân ái, đưa đến kính trọng, đưa đến muốn làm quen, đưa đến hòa đồng, đưa đến nhất trí.

15. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ưa thích họa tập, tán thán chấp nhận học pháp. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ưa thích học tập, tán thán chấp nhận học pháp. Pháp này đưa đến thân ái… đưa đến nhất trí.

16. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ít dục, tán thán nhiếp phục các dục. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ít dục, tán thán nhiếp nhục phục các dục. Pháp này đưa đến nhất trí.

17. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không phẫn nộ, tán thán nhiếp phục phẫn nộ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không phẫn nộ, tán thán nhiếp phục phẫn nộ. Pháp này đưa đến thân ái… đưa đến nhất trí.

18. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không gièm pha, tán thán nhiếp phục gièm pha. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không gièm pha, tán thán nhiếp phục gièm pha. Pháp này đưa đến thân ái… đưa đến nhất trí.

19. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không lừa đảo, tán thán nhiếp phục lừa đảo. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không lừa đảo, tán thán nhiếp phục lừa đảo. Pháp này đưa đến thân ái… đưa đến nhất trí.

20. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không man trá, tán thán nhiếp phục man trá. Này cá Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không man trá, tán thán nhiếp phục man trá. Pháp này đưa đến thân ái… đưa đến nhất trí.

21. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vâng theo Chánh pháp, tán thán vâng theo Chánh pháp. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vâng theo Chánh pháp, tán thán vâng theo Chánh pháp. Pháp này đưa đến thân ái… đưa đến nhất trí.

22. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thiền tịnh, tán thán thiền tịnh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thiền tịnh, tán thán thiền tịnh. Pháp này đưa đến thân ái… đưa đến nhất trí. 23. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tiếp đón tốt đẹp các vị đồng phạm hạnh, tán thán việc tiếp đón tốt đẹp các vị đồng Phạm hạnh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tiếp đón tốt đẹp các vị đồng Phạm hạnh, tán thán việc tiếp đón tốt đẹp các vị đồng Phạm hạnh. Pháp này đưa đến thân ái… đưa đến nhất trí.

24. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy, nếu không có ước muốn nào khởi lên: “Ôi mong rằng các vị đồng Phạm hạnh cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường ta”, nhưng các vị đồng Phạm hạnh cũng vẫn cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường vị ấy. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì rằng các vị đồng Phạm hạnh có trí quán thấy các pháp ác bất thiện đã được tận nơi vị ấy.

25. Ví như, này các Tỷ-kheo, một con ngựa thuần phục, dầu cho không khởi lên ý muốn như sau: “Mong rằng loài Người sẽ đặt ta trong vị trí của con ngựa đã thuần thục, cho ta ăn với các đồ ấm dành cho con ngựa thuần thục, điều phục ta với điều phục dành cho ngựa thuần thục”. Nhưng loài Người vẫn đặt nó trong vị trí của con ngựa thuần thục, điều phục. Vì sao? Vì những người có trí thấy rõ được những tánh hạ liệt, gian dối, giả dối, xảo trá, xảo quyệt của nó đã được đoạn tận. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo với Tỷ-kheo như vậy, nếu không có khơi lên ước muốn: “Ôi mong rằng các vị đồng Phạm hạnh cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường ta”, nhưng các vị đồng Phạm hạnh vẫn cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường vị ấy. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, các vị đồng Phạm hạnh có trí thấy rằng các pháp ác bất thiện ấy đã được tận nơi vị ấy.

AN 10.88 Kẻ Mắng Nhiếc Akkosakasutta (Kinh Kẻ Mắng Nhiếc)

“Này các tỳ kheo, bất kỳ tỳ kheo nào mắng nhiếc và xúc phạm các bạn đồng tu của mình, chỉ trích các bậc thánh (noble ones / những người đã đạt được các cấp độ giác ngộ), chắc chắn sẽ rơi vào một trong mười tai họa này. Mười tai họa đó là gì? Họ không đạt được những gì chưa đạt được. Những gì họ đã đạt được sẽ mất đi. Họ không trau dồi những phẩm chất tốt đẹp của mình. Họ đánh giá quá cao những phẩm chất tốt đẹp của mình, hoặc sống đời phạm hạnh không hài lòng, hoặc phạm một tội lỗi xấu xa, hoặc mắc một bệnh nặng, hoặc trở nên điên loạn và mất trí. Họ cảm thấy hoang mang khi chết. Và khi thân xác tan rã, sau khi chết, họ tái sanh vào đọa xứ, ác thú, địa ngục. Bất kỳ tỳ kheo nào mắng nhiếc và xúc phạm các bạn đồng tu của mình, chỉ trích các bậc thánh, chắc chắn sẽ rơi vào một trong mười tai họa này.”

(VIII) (88) Tai Nạn

1. - Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo nào mạ ly, khiến trách, nhiếc mắng các vị Thánh và những vị đồng Phạm hạnh, thật sự không thể không xảy ra được, không thể không có lúc để vị ấy khỏi phải gặp một trong mười tai nạn này. Thế nào là mười?

2. Không chứng đắc điều chưa được chứng đắc, điều đã chứng đắc bị thối thất, không được sáng suốt đối với diệu pháp, tăng thượng mạn trong diệu pháp, sống Phạm hạnh không được hoan hỷ, vi phạm một uế tội, cảm xúc bệnh nặng, đạt đến điên cuồng loạn tâm, khi chết bị bất tỉnh (hôn mê), hay sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào mạ lỵ, khiến trách, nhiếc mắng các vị Thánh và những vị đồng Phạm hạnh, thật sự không thể không xảy ra được, không thể không có lúc để vị ấy phải gặp một trong mười tai nạn này.

AN 10.89 Với Kokālika Kokālikasutta (Kinh Kokālika)

Khi ấy, tỳ kheo Kokālika đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và thưa: “Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sāriputta (Xá Lợi Phất) và Moggallāna (Mục Kiền Liên) có ước muốn xấu xa. Các ngài đã bị ước muốn xấu xa chi phối.”

“Đừng nói vậy, Kokālika! Đừng nói vậy, Kokālika! Hãy có Niềm tin vào Sāriputta và Moggallāna, họ là những vị tỳ kheo tốt.”

Lần thứ hai, Kokālika thưa với Đức Phật: “Dù con có Niềm tin và tin tưởng vào Đức Phật, nhưng Sāriputta và Moggallāna có ước muốn xấu xa. Các ngài đã bị ước muốn xấu xa chi phối.”

“Đừng nói vậy, Kokālika! Đừng nói vậy, Kokālika! Hãy có Niềm tin vào Sāriputta và Moggallāna, họ là những vị tỳ kheo tốt.”

Lần thứ ba, Kokālika thưa với Đức Phật: “Dù con có Niềm tin và tin tưởng vào Đức Phật, nhưng Sāriputta và Moggallāna có ước muốn xấu xa. Các ngài đã bị ước muốn xấu xa chi phối.”

“Đừng nói vậy, Kokālika! Đừng nói vậy, Kokālika! Hãy có Niềm tin vào Sāriputta và Moggallāna, họ là những vị tỳ kheo tốt.”

Rồi Kokālika từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ và đi nhiễu quanh Đức Phật theo chiều bên phải một cách kính trọng, trước khi rời đi. Không lâu sau khi ông ta rời đi, thân thể ông ta nổi lên những mụn nhọt bằng hạt cải. Những mụn nhọt lớn dần bằng hạt đậu xanh, rồi hạt đậu gà, rồi hạt táo ta, rồi quả táo ta, rồi quả kha tử, rồi quả táo rừng chưa chín, rồi quả táo rừng chín. Cuối cùng chúng vỡ ra, mủ và máu chảy ròng ròng. Ông ta chỉ nằm trên lá chuối như một con cá bị trúng độc.

Khi ấy, vị trời Tudu tự tại đến gặp Kokālika, và đứng giữa hư không, nói với ông ta: “Này Kokālika, hãy có Niềm tin vào Sāriputta và Moggallāna, họ là những vị tỳ kheo tốt.”

“Ngài là ai, thưa Hiền giả?”

“Ta là vị trời Tudu tự tại.”

“Chẳng phải Đức Phật đã tuyên bố ông là bậc bất lai (non-returner / người không còn tái sanh vào cõi dục) sao? Vậy chính xác thì ông đang làm gì ở đây? Hãy xem ông đã lạc lối đến mức nào!”

Rồi Tudu nói với Kokālika bằng kệ:

"Người ta sinh ra
có cái búa trong miệng.
Kẻ ngu tự cắt mình bằng nó
khi nói lời ác độc.

Khi ông khen người đáng chê,
hay chê người đáng khen,
ông tự rước lấy vận rủi bằng miệng mình:
ông sẽ không bao giờ tìm thấy hạnh phúc theo cách đó.

Vận rủi khi chơi xúc xắc là chuyện nhỏ,
nếu tất cả những gì ông mất là tiền bạc
và tất cả những gì ông sở hữu, ngay cả chính mình.
Điều thực sự là vận rủi khủng khiếp
là căm ghét các bậc thánh.

Trong hơn hàng hà sa số năm,
và thêm hàng hà sa số năm nữa,
kẻ phỉ báng các bậc thánh sẽ xuống địa ngục,
vì đã hướng những lời nói và ý nghĩ xấu xa đến các ngài."

Rồi tỳ kheo Kokālika chết vì bệnh đó. Ông ta đã tái sanh vào địa ngục Sen Hồng (Paduma niraya) vì lòng oán hận đối với Sāriputta và Moggallāna.

Khi ấy, vào cuối đêm, vị Phạm Thiên Sahampati xinh đẹp, chiếu sáng toàn bộ Jetavana (Kỳ Viên Tịnh Xá), đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, đứng sang một bên, và thưa: “Bạch Thế Tôn, tỳ kheo Kokālika đã qua đời. Ông ta đã tái sanh vào địa ngục Sen Hồng vì lòng oán hận đối với Sāriputta và Moggallāna.”

Đó là những gì vị Phạm Thiên Sahampati đã nói. Rồi vị ấy đảnh lễ và đi nhiễu quanh Đức Phật theo chiều bên phải một cách kính trọng, trước khi biến mất ngay tại đó.

Rồi, khi đêm đã qua, Đức Phật kể lại cho các vị tỳ kheo tất cả những gì đã xảy ra.

Khi ngài nói điều này, một trong các vị tỳ kheo hỏi Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, tuổi thọ trong địa ngục Sen Hồng là bao lâu?”

“Rất dài, này tỳ kheo. Không dễ để tính được bao nhiêu năm, bao nhiêu trăm hay ngàn hay trăm ngàn năm nó kéo dài.”

“Nhưng bạch Thế Tôn, có thể đưa ra một ví dụ được không?”

“Có thể,” Đức Phật nói.

“Giả sử có một xe bò của xứ Kosala chở hai mươi hộc hạt mè. Và cứ sau mỗi trăm năm, có người lấy đi một hạt từ đó. Bằng cách này, xe bò của xứ Kosala chở hai mươi hộc hạt mè sẽ hết nhanh hơn một đời sống trong địa ngục Abbuda (A Phù Đà). Này, hai mươi đời sống trong địa ngục Abbuda bằng một đời sống trong địa ngục Nirabbuda (Ni La Phù Đà). Hai mươi đời sống trong địa ngục Nirabbuda bằng một đời sống trong địa ngục Ababa (A Ba Ba). Hai mươi đời sống trong địa ngục Ababa bằng một đời sống trong địa ngục Aṭaṭa (A Tra Tra). Hai mươi đời sống trong địa ngục Aṭaṭa bằng một đời sống trong địa ngục Ahaha (A Ha Ha). Hai mươi đời sống trong địa ngục Ahaha bằng một đời sống trong địa ngục Sen Vàng (Kumuda). Hai mươi đời sống trong địa ngục Sen Vàng bằng một đời sống trong địa ngục Hương Thơm (Sogandhika). Hai mươi đời sống trong địa ngục Hương Thơm bằng một đời sống trong địa ngục Sen Xanh (Uppalaka). Hai mươi đời sống trong địa ngục Sen Xanh bằng một đời sống trong địa ngục Sen Trắng (Puṇḍarīka). Hai mươi đời sống trong địa ngục Sen Trắng bằng một đời sống trong địa ngục Sen Hồng (Paduma). Tỳ kheo Kokālika đã tái sanh vào địa ngục Sen Hồng vì lòng oán hận đối với Sāriputta và Moggallāna.”

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Rồi Đấng Thiện Thệ, Bậc Đạo Sư, nói tiếp:

"Người ta sinh ra
có cái búa trong miệng.
Kẻ ngu tự cắt mình bằng nó
khi nói lời ác độc.

Khi ông khen người đáng chê,
hay chê người đáng khen,
ông tự rước lấy vận rủi bằng miệng mình:
ông sẽ không bao giờ tìm thấy hạnh phúc theo cách đó.

Vận rủi khi chơi xúc xắc là chuyện nhỏ,
nếu tất cả những gì ông mất là tiền bạc
và tất cả những gì ông sở hữu, ngay cả chính mình.
Điều thực sự là vận rủi khủng khiếp
là căm ghét các bậc thánh.

Trong hơn hàng hà sa số năm,
và thêm hàng hà sa số năm nữa,
kẻ phỉ báng các bậc thánh sẽ xuống địa ngục,
vì đã hướng những lời nói và ý nghĩ xấu xa đến các ngài."

(IX) (89) Tỷ Kheo Kokàlika

1. Bấy giờ có Tỷ-kheo Kokàlika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Kokàlika bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Sàriputta và Moggallàna là ác dục, bị ác dục chinh phục.

− Này Kokàlika, chớ có nói vậy! Này Kokàlika, chớ có nói vậy. Này Kokàlika, tâm hãy tịnh tín đối với Sariputta và Moggallàna. Hiền thiện là Sàriputta và Moggallàna.

Lần thứ hai, Tỷ-kheo Kokàlika bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, dầu Thế Tôn có lòng tin và tin tưởng, đối với con Sàriputta và Moggallàna là ác dục, bị ác dục chinh phục.”

− Này Kokàlika, chớ có nói vậy! Này Kokàlika, chớ có nói vậy. Này Kokàlika, tâm hãy tịnh tín đối với Sáriputta và Moggallàna. Hiền thiện là Sàriputta và Moggallàna. − Này Kokàlika, chớ có nói vậy! Này Kokàlika, chớ có nói vậy. Này Kokàlikaa, tâm hãy tịnh tín đối với Sàripuuta và Moggallàna. Hiền thiện là Sàriputta và Moggallàna.

Lần thứ ba, Tỷ-kheo Kokàlika bạch Thế Tôn: … Hiền thiện là Sàriputta và Moggallàna.

2. Rồi Tỷ-kheo Kokàlika từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Thế Tôn rồi đi ra. Tỷ-kheo Kokàlika ra đi không bao lâu, toàn thân củ Tỷ-kheo Kokàlika nổi lên những mụt to bằng hạt cải: sau khi lớn bằng hạt cải, chúng lớn lên bằng hột đậu; sau khi lớn lên bằng hột đậu, chúng lớn lên bằng hạt đậu lớn; sau khi lớn bằng hột đậu lớn, chúng lớn lên bằng hòn sỏi; sau khi lớn bằng hòn sỏi Kolatthi, chúng lớn lên bằng hột táo; sau khi lớn lên bằng hột táo, chúng lớn lên bằng trái Amala (A-malặc); sau khi lớn lên bằng trái Amala, chúng lớn lên bằng trái dưa (trái vilva); sau khi lớn lên bằng trái dưa vilva, chúng lớn lên bằng trái billa (trái dưa đã chín); sau khi lớn lên bằng trái billa, chúng bị phá vỡ, mủ và máu chảy ra. Tại đây, nó nằm trên lá chuối, như con cá ăn phải đồ độc.

3. Lúc ấy có độc giác Phạm thiên Tudu đi đến Tỷ-kheo Kokàlika, sau khi đến, đứng trên hư không và nói với Tỷ-kheo Kokàlika:

− Này Kokàlika, hãy đặt tâm tịnh tín nơi Sàriputta và Moggallàna! Hiền thiện là Sàriputta và Moggallàna.

− Ông là ai?

− Ta là độc giác Phạm thiên Tudu.

− Thưa Hiền giả, có phải Hiền giả là người được Thế Tôn trả lời là đã chứng Bất lai? Sao người lại đến đây? Hãy xem như thế nào người đã lầm lạc trong vấn đề này.

Rồi độc giác Phạm thiện Tudu nói lên với Tỷ-kheo Kokàlika bài kệ này:

Con người được sanh ra,
Sanh với búa trong miệng,
Người ngu nói điều xấu,
Là tự chém vào mình.
Ai khen người đáng chê,
Ai chê người đáng khen,
Ðều chất chứa bất hạnh,
Do từ miệng tạo thành,
Và chính do bất hạnh,
Nên không được an lạc.
Nhỏ thay, bất hạnh này,
Chính do cờ bạc sanh,
Khiến tài sản tiêu hao,
Bất hạnh này lớn hơn,
Không những mất tất cả,
Lại mất cả tự mình,
Là người khởi ác ý
Ðối với chư Thiện Thệ.
Ai chỉ trích bậc Thánh,
Với lời, với ác ý,
Trải qua trăm ngàn thời,
Với ni-ra-bu-đa,
Còn thêm ba mươi sáu,
Với năm a-bu-đa,
Còn thêm ba mươi sáu,
Với năm a-bu-đa,
Phải sanh vào địa ngục
Chịu khổ đau tại đấy.

4. Rồi Tỷ-kheo Kokàlika, do chứng bệnh ấy mệnh chung. Sau khi chết, Tỷ-kheo Kokàlika sanh vào địa ngục sen hồng vì tâm khởi ác ý đối với Sàriputta và Moggallàna. Rồi Phạm thiên Sahampati, sau khi đêm gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên, đứng một bên, Phạm thiên Sahampati bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Kokàlika đã mệnh chung. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Kokàlika mệnh chung, phải sanh vào địa ngục sen hồng, vì tâm khởi ác ý đối với Sàriputta và Moggallàna”. Phạm thiên Sahampati nói như vậy. Nói như vậy xong, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Thế Tôn rồi biến mất tại chỗ.

5. Rồi Thế Tôn, sau khi đêm đã qua, bảo các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, đêm nay Phạm thiên Sahampati khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên, đứng một bên, này các Tỷ-kheo, Phạm thiên Sahampati thưa với Ta: “Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Kokàlika đã mệnh chung “, “Bạch Thế Tôn Tỷ-kheo Kokàika đã mệnh chung, phải sanh vào địa ngục sen hồng, vì tâm khởi ác ý đối với Sàripuuta và Moggallàna”. Này các Tỷ-kheo, Phạm thiên Sahampati nói như vậy. Nói như vậy xong, đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về Ta rồi biến mất tại chỗ.

6. Khi nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, lâu dài bao nhiêu, là tuổi thọ ở địa ngục sen hồng?

− Này Tỷ-kheo, tuổi thọ ở địa ngục sen hồng, rất khó mà tính được. Có chừng ấy năm, hay có chừng ấy trăm năm, hay có chừng ấy ngàn năm, hay có chừng ấy trăm ngàn năm.

− Bạch Thế tôn, có thể cho một ví dụ được chăng?

− Có thể được, này Tỷ-kheo, một cỗ xe chở hai mươi cân kosala chở đầy hột mẻ. Rồi một người cứ sau một trăm năm, một trăm năm, một trăm năm lấy lên một hột mè. Mau hơn này Tỷ-kheo là cỗ xe chở hai mươi cân kosala chở đầy hột mè, do phương pháp này, đi đến tận sạch, không còn gì nữa, cũng chưa đủ là một abbuda địa ngục. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi abbuda địa ngục là bằng một Nirabbuda địa ngục. Ví như này Tỷ kheo hai mươi nirabbuda địa ngục bằng một ababà địa ngục. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi ababà địa ngục bằng một ahaha địa ngục. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi ahaha địa ngục là bằng một atato địa ngục. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi atato địa ngục bằng một kumodo địa ngục. Ví như này Tỷ-kheo, hai mươi kumodo địa ngục là bằng một sogandhika địa ngục. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi sogandhika địa ngục bằng một uppalako địa ngục. Ví như, này Tỷ-kheo hai mươi uppalako địa ngục bằng một pundarika địa ngục. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi pundarika địa ngục bằng một paduma địa ngục . Này Tỷ kheo, TYỷ kheo Kokàlika phải sanh vào địa ngục paduma (sen hồng), vì khởi lên ác ý đối với Sàriputta và Moggallàna.

Thế Tôn nói như vậy. Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc đạo Sư lại nói thêm:

Con người được sanh ra
Sanh với búa trong miệng,
Người ngu nói điều xẩu,
Là tự chém vào mình.
Ai khen người đáng chê,
Ai chê người đáng khen,
Ðều chất chứa bất hạnh,
Do từ miệng tạo thành,
Và chính do bất hạnh,
Nên không được an lạc
Nhỏ thay bất hạnh này,
Chính do cờ bạc sanh,
Khiến do cờ bạc sanh,
Khiến tài sản tiêu hao,
Bất hạnh này lớn hơn,
Không những mất tất cả,
Lại mất cả tự mình.
Là người khởi ác ý,
Ðối với chư Thiện thệ.
Ai chỉ trích bậc Thánh,
Với lời, với ác ý,
Trải qua trăm ngàn thời,
Với ni-rab-bu-da,
Còn thêm ba mươi sáu,
Với năm a-bu-đa,
Phải sanh vào địa ngục,
Chịu khổ đau tại đấy.

AN 10.90 Các Năng Lực Của Người Đã Đoạn Tận Lậu Hoặc Khīṇāsavabalasutta (Kinh Các Lực Của Bậc Lậu Tận)

Khi ấy, Tôn giả Sāriputta đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ngài:

“Này Sāriputta, một vị tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc (cankers, taints, outflows / những ô nhiễm sâu kín làm cho chúng sanh trôi lăn trong vòng sanh tử, gồm dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu) có bao nhiêu năng lực để có thể tuyên bố: ‘Các lậu hoặc của tôi đã đoạn tận.’”

"Bạch Thế Tôn, một vị tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc có mười năng lực để có thể tuyên bố: ‘Các lậu hoặc của tôi đã đoạn tận.’ Mười năng lực đó là gì? Thứ nhất, một vị tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc đã thấy rõ bằng chánh Trí tuệ tất cả các pháp hữu vi (conditioned things / những sự vật, hiện tượng do duyên sinh, có điều kiện) là thực sự vô thường (impermanent / không bền vững, luôn thay đổi). Đây là một năng lực mà một vị tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc dựa vào để tuyên bố: ‘Các lậu hoặc của tôi đã đoạn tận.’

Hơn nữa, một vị tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc đã thấy rõ bằng chánh Trí tuệ rằng các dục lạc (sensual pleasures / sự hưởng thụ qua các giác quan) thực sự giống như một hố than hồng. Đây là một năng lực mà một vị tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc dựa vào để tuyên bố: ‘Các lậu hoặc của tôi đã đoạn tận.’

Hơn nữa, tâm của một vị tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc hướng về, nghiêng về, xuôi về sự viễn ly (seclusion / sự xa lánh, thoát ly). Vị ấy ẩn dật, yêu thích sự xuất ly (renunciation / sự từ bỏ đời sống thế tục, ham muốn), và đã hoàn toàn loại trừ các ảnh hưởng phiền não. Đây là một năng lực mà một vị tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc dựa vào để tuyên bố: ‘Các lậu hoặc của tôi đã đoạn tận.’

Hơn nữa, một vị tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc đã phát triển tốt đẹp bốn loại thiền quán niệm (Tứ Niệm Xứ / four foundations of mindfulness / bốn lĩnh vực quán niệm: thân, thọ, tâm, pháp). Đây là một năng lực mà một vị tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc dựa vào để tuyên bố: ‘Các lậu hoặc của tôi đã đoạn tận.’

Hơn nữa, một vị tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc đã phát triển tốt đẹp bốn chánh cần (Tứ Chánh Cần / four right efforts / bốn sự cố gắng chân chánh: ngăn ngừa ác pháp chưa sanh, đoạn trừ ác pháp đã sanh, làm sanh khởi thiện pháp chưa sanh, duy trì thiện pháp đã sanh). … bốn như ý túc (Tứ Như Ý Túc / four bases of psychic power / bốn nền tảng của năng lực siêu nhiên: dục, tấn, tâm, quán) … năm căn (Ngũ Căn / five faculties / năm năng lực tinh thần: Niềm tin, Siêng năng, Tỉnh thức, định tĩnh, Trí tuệ) … năm lực (Ngũ Lực / five powers / năm sức mạnh tinh thần, là sự phát triển của Ngũ Căn) … bảy giác chi (Thất Giác Chi / seven factors of enlightenment / bảy yếu tố dẫn đến giác ngộ: Tỉnh thức, trạch pháp, Siêng năng, Niềm vui, khinh an, định tĩnh, xả) … bát chánh đạo (Bát Chánh Đạo / noble eightfold path / con đường tám nhánh dẫn đến giải thoát: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định). Đây là một năng lực mà một vị tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc dựa vào để tuyên bố: ‘Các lậu hoặc của tôi đã đoạn tận.’

Một vị tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc có mười năng lực này để có thể tuyên bố: ‘Các lậu hoặc của tôi đã đoạn tận.’"

(X) (90) Những Sức Mạnh

1. Bấy giờ có Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Sàriputta đang ngồi xuống một bên:

− Này Sàriputta, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, có bao nhiêu sức mạnh? Thành tựu với những sức mạnh ấy. Tỷ-kheo đã đoạn tận các lâu hoặc tự nhận biết sự đoạn diệt các lậu hoặc: “Các lậu hoặc đã được đoạn tận nơi ta”

− Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, có mười sức mạnh. Thành tựu với những sức mạnh ấy, Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc, tự nhận biết sự đoạn diệt các lậu hoặc: “Các lậu hoặc đã được đoạn tận nơi ta”. Thế nào là mười?

2. Ở đây, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc, đã khéo như thật thấy với chánh trí tuệ, các hành là vô thường. Bạch thế Tôn, Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc, đã khéo thấy như thật với chánh trí tuệ, tất cả các hành là vô thường. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc đã khéo thấy như thật với chánh trí tuệ, tất cả các hành là vô thường. Bạch Thế Tôn, đây là sức mạnh của Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc. Dựa trên sức mạnh này, Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc tự nhận biết sự đoạn tận diệt các hoặc: “Các lậu hoặc đã được tận nơi ta.”

3. Lại nữa, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc đã khéo thấy như thật với chánh trí tuệ, các dục được ví như hố than hừng. Bạch thế Tôn, Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc, đã khéo thấy như thật với chánh trí tuệ, các dục được ví như hố than hừng. Bạch Thế Tôn, đây là sức mạnh của Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc. do sức mạnh này, Tỷ kheo đoạn tận các lậu hoặc tự nhận biết sự đoạn diệt các lậu hoặc: “Các lậu hoặc đã được đoạn tận nơi ta.”

4. Lại nữa, bạch Thế tôn, Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc, với tâm hướng về viễn ly, thiên về viễn ly, xuôi về viễn ly, trú vào viễn ly, ưa thích xuất ly, chấm dứt hoàn toàn các pháp làm trú xứ cho các lậu hoặc. Bạch Thế Tôn, … đây là sức mạnh của Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc… “… được đoạn tận nơi ta.”

5. Lại nữa, bạch thế Tôn, Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc tu tập, khéo tu tập Bốn niệm xứ. Bạch Thế tôn, Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc tu tập, khéo tu tập Bốn niệm xứ. Bạch Thế tôn đây là sức mạnh của tỷkhoe đoạn tận các lậu hoặc… “… đã được đoạn tận nơi ta.”

6. Lại nữa, bạch thế Tôn, Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc khéo tu tập Bốn chánh cần… tu tập khéo tu tập Bốn như ý túc… tu tập, khéo tu tập Năm căn… tu tập, khéo tu tập Năm lực… tu tập, khéo tu tập Bảy giác chi… tu tập, khéo tu tập Thánh đạo tám ngành. Bạch Thế Tôn, Tỷ kheo đoạn tận các lậu hoặc tu tập, khéo tu tập Thánh đạo tám ngành. Bạch Thế Tôn, đây là sức mạnh của tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc. Do sức mạnh này, Tỷ kheo đoạn tận các lậu hoặc tự nhận biết sự đoạn diệt các lậu hoặc: “Các lậu hoặc được đoạn tận nơi ta.”

Bạch Thế Tôn, có mười sức mạnh này của Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc. Thành tựu những lực này, Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc nhận biết sự đoạn tận diệt các lậu hoặc: “Các lậu hoặc đã được đoạn tận nơi ta”.