Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm Upāli

AN 10.91 Người Tìm Kiếm Dục Lạc Kāmabhogīsutta

Một thời Đức Phật trú gần Sāvatthī, tại Kỳ Viên, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, gia chủ Anāthapiṇḍika đến đảnh lễ Đức Phật rồi ngồi xuống một bên. Khi ông đã ngồi xuống, Đức Phật nói với gia chủ Anāthapiṇḍika:

"Có mười loại người tìm kiếm dục lạc này được tìm thấy trên thế gian. Mười loại nào? Thứ nhất, một người tìm kiếm dục lạc tìm kiếm của cải bằng những phương tiện phi pháp, cưỡng ép. Họ không làm cho bản thân hạnh phúc và vui vẻ, cũng không chia sẻ và tạo phước.

Tiếp theo, một người tìm kiếm dục lạc tìm kiếm của cải bằng những phương tiện phi pháp, cưỡng ép. Họ làm cho bản thân hạnh phúc và vui vẻ, nhưng không chia sẻ và tạo phước.

Tiếp theo, một người tìm kiếm dục lạc tìm kiếm của cải bằng những phương tiện phi pháp, cưỡng ép. Họ làm cho bản thân hạnh phúc và vui vẻ, và họ chia sẻ và tạo phước.

Tiếp theo, một người tìm kiếm dục lạc tìm kiếm của cải bằng cả phương tiện hợp pháp lẫn phi pháp, cả cưỡng ép lẫn không cưỡng ép. Họ không làm cho bản thân hạnh phúc và vui vẻ, cũng không chia sẻ và tạo phước.

Tiếp theo, một người tìm kiếm dục lạc tìm kiếm của cải bằng cả phương tiện hợp pháp lẫn phi pháp, cả cưỡng ép lẫn không cưỡng ép. Họ làm cho bản thân hạnh phúc và vui vẻ, nhưng không chia sẻ và tạo phước.

Tiếp theo, một người tìm kiếm dục lạc tìm kiếm của cải bằng cả phương tiện hợp pháp lẫn phi pháp, cả cưỡng ép lẫn không cưỡng ép. Họ làm cho bản thân hạnh phúc và vui vẻ, và họ chia sẻ và tạo phước.

Tiếp theo, một người tìm kiếm dục lạc tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép. Họ không làm cho bản thân hạnh phúc và vui vẻ, cũng không chia sẻ và tạo phước.

Tiếp theo, một người tìm kiếm dục lạc tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép. Họ làm cho bản thân hạnh phúc và vui vẻ, nhưng không chia sẻ và tạo phước.

Tiếp theo, một người tìm kiếm dục lạc tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép. Họ làm cho bản thân hạnh phúc và vui vẻ, và họ chia sẻ và tạo phước. Nhưng họ hưởng thụ của cải đó một cách bị trói buộc, say đắm, dính mắc, mù quáng trước những nguy hại, và không hiểu rõ sự thoát ly.

Tiếp theo, một người tìm kiếm dục lạc tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép. Họ làm cho bản thân hạnh phúc và vui vẻ, và họ chia sẻ và tạo phước. Và họ hưởng thụ của cải đó một cách không bị trói buộc, không say đắm, không dính mắc, thấy rõ những nguy hại, và hiểu rõ sự thoát ly.

Bây giờ, hãy xem xét người tìm kiếm dục lạc tìm kiếm của cải bằng những phương tiện phi pháp, cưỡng ép, và không làm cho bản thân hạnh phúc và vui vẻ, cũng không chia sẻ và tạo phước. Họ có thể bị chỉ trích trên ba cơ sở. Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện phi pháp, cưỡng ép. Đây là cơ sở chỉ trích thứ nhất. Họ không làm cho bản thân hạnh phúc và vui vẻ. Đây là cơ sở chỉ trích thứ hai. Họ không chia sẻ và tạo phước. Đây là cơ sở chỉ trích thứ ba. Người tìm kiếm dục lạc này có thể bị chỉ trích trên ba cơ sở này.

Bây giờ, hãy xem xét người tìm kiếm dục lạc tìm kiếm của cải bằng những phương tiện phi pháp, cưỡng ép, và làm cho bản thân hạnh phúc và vui vẻ, nhưng không chia sẻ và tạo phước. Họ có thể bị chỉ trích trên hai cơ sở, và được tán dương trên một cơ sở. Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện phi pháp, cưỡng ép. Đây là cơ sở chỉ trích thứ nhất. Họ làm cho bản thân hạnh phúc và vui vẻ. Đây là một cơ sở tán dương. Họ không chia sẻ và tạo phước. Đây là cơ sở chỉ trích thứ hai. Người tìm kiếm dục lạc này có thể bị chỉ trích trên hai cơ sở này, và được tán dương trên một cơ sở này.

Bây giờ, hãy xem xét người tìm kiếm dục lạc tìm kiếm của cải bằng những phương tiện phi pháp, cưỡng ép, và làm cho bản thân hạnh phúc và vui vẻ, và chia sẻ và tạo phước. Họ có thể bị chỉ trích trên một cơ sở, và được tán dương trên hai cơ sở. Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện phi pháp, cưỡng ép. Đây là một cơ sở chỉ trích. Họ làm cho bản thân hạnh phúc và vui vẻ. Đây là cơ sở tán dương thứ nhất. Họ chia sẻ và tạo phước. Đây là cơ sở tán dương thứ hai. Người tìm kiếm dục lạc này có thể bị chỉ trích trên một cơ sở này, và được tán dương trên hai cơ sở này.

Bây giờ, hãy xem xét người tìm kiếm dục lạc tìm kiếm của cải bằng cả phương tiện hợp pháp lẫn phi pháp, cả cưỡng ép lẫn không cưỡng ép, và không làm cho bản thân hạnh phúc và vui vẻ, cũng không chia sẻ và tạo phước. Họ có thể được tán dương trên một cơ sở, và bị chỉ trích trên ba cơ sở. Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép. Đây là một cơ sở tán dương. Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện phi pháp, cưỡng ép. Đây là cơ sở chỉ trích thứ nhất. Họ không làm cho bản thân hạnh phúc và vui vẻ. Đây là cơ sở chỉ trích thứ hai. Họ không chia sẻ và tạo phước. Đây là cơ sở chỉ trích thứ ba. Người tìm kiếm dục lạc này có thể được tán dương trên một cơ sở này, và bị chỉ trích trên ba cơ sở này.

Bây giờ, hãy xem xét người tìm kiếm dục lạc tìm kiếm của cải bằng cả phương tiện hợp pháp lẫn phi pháp, cả cưỡng ép lẫn không cưỡng ép, và làm cho bản thân hạnh phúc và vui vẻ, nhưng không chia sẻ và tạo phước. Họ có thể được tán dương trên hai cơ sở, và bị chỉ trích trên hai cơ sở. Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép. Đây là cơ sở tán dương thứ nhất. Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện phi pháp, cưỡng ép. Đây là cơ sở chỉ trích thứ nhất. Họ làm cho bản thân hạnh phúc và vui vẻ. Đây là cơ sở tán dương thứ hai. Họ không chia sẻ và tạo phước. Đây là cơ sở chỉ trích thứ hai. Người tìm kiếm dục lạc này có thể được tán dương trên hai cơ sở này, và bị chỉ trích trên hai cơ sở này.

Bây giờ, hãy xem xét người tìm kiếm dục lạc tìm kiếm của cải bằng cả phương tiện hợp pháp lẫn phi pháp, cả cưỡng ép lẫn không cưỡng ép, và làm cho bản thân hạnh phúc và vui vẻ, và chia sẻ và tạo phước. Họ có thể được tán dương trên ba cơ sở, và bị chỉ trích trên một cơ sở. Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép. Đây là cơ sở tán dương thứ nhất. Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện phi pháp, cưỡng ép. Đây là một cơ sở chỉ trích. Họ làm cho bản thân hạnh phúc và vui vẻ. Đây là cơ sở tán dương thứ hai. Họ chia sẻ và tạo phước. Đây là cơ sở tán dương thứ ba. Người tìm kiếm dục lạc này có thể được tán dương trên ba cơ sở này, và bị chỉ trích trên một cơ sở này.

Bây giờ, hãy xem xét người tìm kiếm dục lạc tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép, và không làm cho bản thân hạnh phúc và vui vẻ, cũng không chia sẻ và tạo phước. Họ có thể được tán dương trên một cơ sở và bị chỉ trích trên hai cơ sở. Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép. Đây là một cơ sở tán dương. Họ không làm cho bản thân hạnh phúc và vui vẻ. Đây là cơ sở chỉ trích thứ nhất. Họ không chia sẻ và tạo phước. Đây là cơ sở chỉ trích thứ hai. Người tìm kiếm dục lạc này có thể được tán dương trên một cơ sở này, và bị chỉ trích trên hai cơ sở này.

Bây giờ, hãy xem xét người tìm kiếm dục lạc tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép, và làm cho bản thân hạnh phúc và vui vẻ, nhưng không chia sẻ và tạo phước. Họ có thể được tán dương trên hai cơ sở và bị chỉ trích trên một cơ sở. Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép. Đây là cơ sở tán dương thứ nhất. Họ làm cho bản thân hạnh phúc và vui vẻ. Đây là cơ sở tán dương thứ hai. Họ không chia sẻ và tạo phước. Đây là một cơ sở chỉ trích. Người tìm kiếm dục lạc này có thể được tán dương trên hai cơ sở này, và bị chỉ trích trên một cơ sở này.

Bây giờ, hãy xem xét người tìm kiếm dục lạc tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép, và làm cho bản thân hạnh phúc và vui vẻ, và chia sẻ và tạo phước. Nhưng họ hưởng thụ của cải đó một cách bị trói buộc, say đắm, dính mắc, mù quáng trước những nguy hại, và không hiểu rõ sự thoát ly. Họ có thể được tán dương trên ba cơ sở và bị chỉ trích trên một cơ sở. Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép. Đây là cơ sở tán dương thứ nhất. Họ làm cho bản thân hạnh phúc và vui vẻ. Đây là cơ sở tán dương thứ hai. Họ chia sẻ và tạo phước. Đây là cơ sở tán dương thứ ba. Họ hưởng thụ của cải đó một cách bị trói buộc, say đắm, dính mắc, mù quáng trước những nguy hại, và không hiểu rõ sự thoát ly. Đây là một cơ sở chỉ trích. Người tìm kiếm dục lạc này có thể được tán dương trên ba cơ sở này, và bị chỉ trích trên một cơ sở này.

Bây giờ, hãy xem xét người tìm kiếm dục lạc tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép, và làm cho bản thân hạnh phúc và vui vẻ, và chia sẻ và tạo phước. Và họ hưởng thụ của cải đó một cách không bị trói buộc, không say đắm, không dính mắc, thấy rõ những nguy hại, và hiểu rõ sự thoát ly. Họ có thể được tán dương trên bốn cơ sở. Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép. Đây là cơ sở tán dương thứ nhất. Họ làm cho bản thân hạnh phúc và vui vẻ. Đây là cơ sở tán dương thứ hai. Họ chia sẻ và tạo phước. Đây là cơ sở tán dương thứ ba. Họ hưởng thụ của cải đó một cách không bị trói buộc, không say đắm, không dính mắc, thấy rõ những nguy hại, và hiểu rõ sự thoát ly. Đây là cơ sở tán dương thứ tư. Người tìm kiếm dục lạc này có thể được tán dương trên bốn cơ sở này.

Đây là mười loại người tìm kiếm dục lạc được tìm thấy trên thế gian. Người tìm kiếm dục lạc tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép, làm cho bản thân hạnh phúc và vui vẻ, chia sẻ và tạo phước, và sử dụng của cải đó một cách không bị trói buộc, không say đắm, không dính mắc, thấy rõ những nguy hại, và hiểu rõ sự thoát ly là người đứng đầu, tốt nhất, chủ yếu, cao nhất, và ưu tú nhất trong mười loại. Từ bò cái cho ra sữa, từ sữa cho ra sữa đông, từ sữa đông cho ra bơ, từ bơ cho ra ghee (ghee / bơ tinh luyện, một loại bơ đã được đun chảy và lọc bỏ cặn sữa), và từ ghee cho ra váng ghee. Và váng ghee được cho là tốt nhất trong số này.

Cũng vậy, người tìm kiếm dục lạc tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép, làm cho bản thân hạnh phúc và vui vẻ, chia sẻ và tạo phước, và sử dụng của cải đó một cách không bị trói buộc, không say đắm, không dính mắc, thấy rõ những nguy hại, và hiểu rõ sự thoát ly là người đứng đầu, tốt nhất, chủ yếu, cao nhất, và ưu tú nhất trong mười loại."

X. Phẩm Nam Cư Sĩ

(I) (91) Người Hưởng Dục

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàhapindika. Rồi nam cư sĩ Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế tôn nói với Anàthapindika đang ngồi một bên:

2. - Này Gia chủ, có mười người hưởng dục này có mặt hiện hữu ở đời. Thế nào là mười?

3. Ở đây, này Gia chủ, có hạng người hưởng dục, tầm cầu tài sản phi pháp với sứ mạnh. Sau khi tầm cầu tài sản chi pháp với sức mạnh, vị ấy không tự mình được an lạc, hân hoan, không có chia xẻ, không làm các công đức.

4. Ở đây, này Gia chủ, có hạng người hưởng dục, tầm cầu tài sản phi pháp với sức mạnh. Sau khi tầm cầu tài sản phi pháp với sức mạnh, vị ấy tự mình được an lạc, hân hoan, không có chia xẻ, không làm các công đức.

5. Ở đây, này Gia chủ, có hạng người hưởng dục, tầm cầu tài sản phi pháp với sức mạnh, sau khi tầm cầu tài sản phi pháp với sức mạnh, tự mình được an lạc, hân hoan, chia xẻ, làm các công đức.

6. Ở đây, này Gia chủ, có hạng người hưởng dục, tầm cầu tài sản đúng pháp và phi pháp với sức mạnh và không với sức mạnh. Sau khi tầm cầu tài sản đúng pháp và phi pháp với sức mạnh và không với sức mạnh, vị ấy không tự mình được an lạc, hân hoan, không có chia xẻ, không làm các công đức.

7. Ở đây, này Gia chủ, có hạng người hướng dục, tầm cầu tài sản đúng pháp và phi pháp với sức mạnh và không sức mạnh. Sau khi tầm cầu tài sản đúng pháp và phi pháp với sức mạnh và không với sức mạnh, tự mình được an lạc hân hoan, nhưng không chia xẻ, không làm các công đức. 8. Ở đây, này Gia Chủ, có hạng người hưởng dục, tầm cầu tài sản đúng pháp và phi pháp với sức mạnh và không với sức mạnh. Sau khi tầm cầu tài sản đúng pháp và phi pháp với sức mạnh và không với sức mạnh, vị ấy tự mình được an lạc, hân hoan, có chia xẻ, có làm các công đức.

9. Ở đây, này Gia chủ, có hạng người hưởng dục, tầm cầu tài sản đúng pháp không với sức mạnh; sau khi tầm cầu tài sản đúng pháp không với sức mạnh, vị ấy không tự mình được an lạc, hân hoan, không chia xẻ, không làm các công đức.

10. Ở đây, này Gia chủ, có người hưởng dục tầm cầu tải sản đúng pháp không với sức mạnh. Sau khi tầm cầu tài sản đúng pháp không với sức mạnh, vị ấy tự mình được an lạc, hân hoan, không chia xẻ, không làm các công đức.

11. Ở đây, này Gia chủ, có người hưởng dục, tầm cầu tài sản đúng pháp không với sức mạnh. Sau khi tầm cầu tài sản đúng pháp không với sức mạnh, vị ấy tự mình an lạc, hân hoan, chia xẻ, làm các công đức. Và vị này hưởng thụ các tài sản ấy với tâm tham trước, đắm say, mê loạn, không thấy sự nguy hại, không với trí tuệ xuất ly.

12. Ở đây, này Gia chủ, có người hưởng dục, tầm cầu tài sản đúng pháp không với sức mạnh. Sau khi tầm cầu tài sản đúng pháp không với sức mạnh, vị ấy tự mình an lạc, hân hoan, chia xẻ, làm các công đức. Và vị này hưởng thụ các tài sản ấy, không với tâm tham trước, không đắm say, không mê loạn, thấy sự nguy hại, với trí tuệ xuất ly.

13. Tại đây, này Gia chủ, vị hưởng dục này, tầm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh; Sau khi tầm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, vị ấy không tự mình an lạc, hân hoan, không chia xẻ, không làm các công đức. Này Gia chủ, vị hưởng dục này do ba điều bị quở trách: “Tầm cầu tài sản phi pháp, dùng sức mạnh là điều thứ nhất, bị khiển trách; không tự mình an lạc hân hoan là điều thứ hai, bị khiển trách; không chia xẻ, không làm công đức là điều thứ ba, bị khiển trách.

Này Gia chủ, vị hưởng dục này có ba điều bị quở trách.

14. Tại đây, này Gia chủ, vị hưởng dục này, tầm cầu tài sản phi pháp, dùng sức mạnh. Sau khi tầm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, vị ấy tự mình an lạc hân hoan, không chia xẻ, không làm các công đức. Này gia chủ, vị hưởng dục này có hai điều bị quở trách, và một điều được tán thán. Vị ấy tầm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh do điều thứ nhất này, bị quở trách. vị ấy tự mình an lạc, hân hoan, do một điều này được tán thán. Vị ấy không san sẻ, không làm các công đức, do điều thứ hai này, bị chỉ trích.

Vị hưởng dục này, này gia chủ, có hai điều này bị chỉ trích, và một điều này được tán thán.

15. Tại đấy, này Gia chủ, vị hưởng dục này, tầm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh. Sau khi tầm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, vị ấy tự mình an lạc, hân hoan, san sẻ và làm các công đức. Vị hưởng dục này, này Gia chủ, do một điều bị chỉ trích, do hai điều được tán thán. Vị ấy tầm cầu tài sản một cách phi pháp và dùng sức mạnh, do một điều này, bị chỉ trích. Vị ấy tự mình an lạc, hân hoan, do điều thứ nhất này được tán thán. Vị ấy chia xẻ và làm các công đức, do điều thứ hai này được tán thán.

Vị hưởng dục này, này Gia chủ, có một điều bị chỉ trích, và hai điều được tán thán.

16. Tại đây, này Gia chủ, vị hưởng dục này, tầm cầu tài sản đúng pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh. Sau khi tầm cầu tài sản đúng pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh, vị ấy không tự mình an lạc, hân hoan, không chia xẻ, không làm các công đức. Vị hưởng dục này, này gia chủ, có một điều được tán thán, có ba đièu bị chỉ trích. Vị ấy tấm cầu tài sản đúng pháp không dùng sức mạnh, do một điều này được tán thán. Vị ấy tầm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, do điều thứ nhất này bị chỉ trích. Vị ấy không tự mình an lạc, hân hoan, do điều thứ hai này bị chỉ trích. Vị ấy không chia xẻ, không làm các công đức, do điều thứ ba này bị chỉ trích.

Vị hưởng dục này, này Gia chủ, có một điều này được tán thán, và ba điều này bị chỉ trích.

17. Tại đây, này Gia chủ, người hưởng dục này, tầm cầu tài sản đúng pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh. Sau khi tầm cầu tài sản đúng pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh, vị ấy tự mình an lạc, hân hoan, chia sẻ và làm các công đức. Vị hưởng dục này, này Gia chủ, có ba điều được tán thán, và một điều bị chỉ trích. Vị ấy tầm cầu tài sản đúng pháp và không dùng sức mạnh, do điều thứ nhất này được tán thán. Vị ấy tầm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, do điều thứ nhất này bị chỉ trích. Vị ấy tự mình an lạc, hân hoan, do điều thứ hai này được tán thán. vị ấy không san sẻ, không làm các công đức đo điều thứ hai naỳ bị chỉ trích.

Vị hưởng dục này, này Gia chủ, có hai điều này được tán thán, và hai điều này bị chỉ trích.

18. Tại đây, này Gia chủ, người hưởng dục này, tầm cầu tài sản đúng pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh. Sau khi, tầm cầu tài sản đúng pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh, vị ấy tự mình an lạc, hân hoan, chia xẻ và làm các công đức. Vị hưởng dục này, này Gia chủ, có ba điều được tán thán, và một điều bị trích. Vị ấy tầm cầu tài sản đúng pháp và không dùng sức mạnh, do điều thứ nhất này được tán thán. Vị ấy tầm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, do điều thứ nhất này, bị chỉ trích. Vị ấy tự mình an lạc, hân hoan, do điều thứ hai này, được tán thán. Vị ấy chia xẻ và làm các công đức, do điều thứ ba này, được tán thán.

Vị hưởng dục này, này Gia chủ, có ba điều này được tán thán, và một điều này trích.

19. Tại đây, này Gia chủ, vị hưởng dục này, tầm cầu tài sản đúng pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tầm cầu tài sản đứng pháp và không dùng sức mạnh, vị ấy không tự mình an lạc, hân hoan, không chia xẻ và làm các công đức. vị hưởng dục này, này Gia chủ, có một điều được tán thán, và hai điều bị chỉ trích. Vị ấy tầm cầu tài sản đúng pháp và không dùng sức mạnh, do điều này được tán thán. Vị ấy không tự mình an lạc, hân hoan, và điều thứ nhất này, bị chỉ trích. Vị ấy không chia xẻ, không làm các công đức, do điều thứ hai này, bị chỉ trích.

Vị hưởng dục này, này Gia chủ, có một điều này được tán thán, và hai điều này bị chỉ trích.

20. Tại đây, này Gia chủ, người hường dục này, tầm cầu tài sản đúng pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tầm cầu tài sản đúng pháp và không dùng sức mạnh, vị ấy tự mình an lạc, hân hoan, không chia xẻ, không làm các công đức. Vị hưởng dục này, này Gia chủ, có hai điều được tán thán, và một điều bị chỉ trích. Vị ấy tầm cầu tài sản đúng pháp và không dùng sức mạnh, do điều thứ nhất này được tán thán. Vị ấy tự mình an lạc, hân hoan, do điều thứ hai này, được tán thán. vị ấy không chia xẻ, không làm các công đức, do điều thứ nhất này, bị chỉ trích.

Vị hưởng dục này, này Gia chủ, có hai điều được tán thán, và một điều bị chỉ trích.

21. Tại đây, này gia chủ, người hưởng dục này tầm cầu tài sản đúng pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tầm cầu tài sản đúng pháp và không dùng sức mạnh, vị ấy tự mình an lạc, hân hoan, chia xẻ và làm các công đức. Và người ấy thọ hưởng các tài sản ấy tham đàm, đắm say, mê loạn, không thấy sự nguy hại, không có xuất ly với trí tuệ. Người hưởng dục này, này Gia chủ, có ba điều được tán thán, và một điều bị chỉ trích. Vị ấy tầm cầu tài sản đúng pháp và không dùng sức mạnh, do điều thứ nhất này, được tán thán. Vị ấy tự mình an lạc, hân hoan, do điều thứ hai này, được tán thán. Vị ấy chia xẻ các công đức, do điều thứ ba này, được tán thán. Vị ấy thọ hưởng các tài sản ấy tham đắm, đắm say, mê loạn, không thấy sự nguy hại, không có xuất ly với trí tuệ, do một điều này bị chỉ trích

Vị hưởng dục này, này Gia chủ, có ba điều này được tán thán, và một điều này bị chỉ trích.

22. Tại đây, này Gia chủ, vị hưởng dục này, tầm cầu tài sản đúng pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tầm cầu tài sản đứng pháp và không dùng sức mạnh, vị ấy tự mình an lạc, hân hoan, chia xẻ và làm các công đức. Người ấy hưởng thọ các tài sản ấy, không có tham đắm, không có đắm say, không có mê loạn, thấy được sự nguy hại, có xuất ly với trí tuệ. Vị hưởng dục này, này Gia chủ, có bốn điều được tán thán. Vị ấy tầm cầu đúng pháp và không dùng sức mạnh, do điều thứ nhất này, được tán thán. Vị ấy tự mình an lạc, hân hoan, do điều thứ hai này, được tán thán. Vị ấy chia xẻ và làm các công đức, do điều thứ ba này, được tán thán. vị ấy thọ hưởng các tài sản ấy, không tham đắm, không có đắm say, không có mê loạn, thấy được sự nguy hại, có xuất ly với trí tuệ, do điều thứ tư này, được tán thán

Vị hưởng dục này, này Gia chủ, có bốn điều này được tán thán.

Này Gia chủ, mười hạng người hưởng dục này có mặt, hiện ở đời.

23. Trong mười hạng người hưởng dục này, này Gia củ, người hưởng dục tầm cầu tài sản đúng pháp, không dùng sức mạnh, Sau khi tầm cầu tài sản đúng pháp, không dùng sức mạnh, vị ấy tự mình an lạc, hân hoan, chia xẻ, làm các công đức, hưởng thọ các tài sản ấy, không tham đắm, không đắm say, không mê loạn thấy được sự nguy hại, có xuất ly với trí tuệ. Trong mười hạng người hưởng dục này, hạng người này là tối thượng, là tối thắng, là thượng thủ, là vô thượng, là tối tôn.

Ví như, này Gia chủ, từ con bò có sữa, từ sữa có lạc, từ lạc có sanh tô, từ sanh tô có thục tô, từ thục tô có tinh túy của thục tô, để hồ, tinh túy thục tô được xem như tối thượng ở đây. Cũng vậy, này gia chủ, trong mười hạng người hưởng dục này, vị hưởng dục này tầm cầu tài sản đúng pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tầm cầu tài sản đúng pháp và không dùng dùng sức mạnh, vị ấy tự mình an lạc, hân hoan, chia xẻ và làm các công đức, thọ hưởng các tài sản ấy, không tham đắm, không đắm say, không mê loạn, thấy được sự nguy hại, có xuất ly với trí tuệ. Hạng người này là tối thượng, tối thắng, thượng thủ, vô thượng và tối tôn.

AN 10.92 Những Mối Nguy Hiểm Bhayasutta

Bấy giờ, gia chủ Anāthapiṇḍika đến đảnh lễ Đức Phật rồi ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ông:

"Này gia chủ, khi một thánh đệ tử (noble disciple / đệ tử bậc thánh, người đã đạt được một trong các Thánh đạo Thánh quả) đã dập tắt năm mối nguy hiểm và đe dọa, có được bốn yếu tố của sự nhập lưu (factors of stream-entry / các điều kiện cần có để chứng đắc quả vị Tu-đà-hoàn), và đã thấy rõ và hiểu thấu pháp cao quý (noble system / hệ thống giáo lý cao thượng, ở đây chỉ Lý Duyên Khởi) bằng trí tuệ, vị ấy có thể, nếu muốn, tự tuyên bố về mình: ‘Ta đã chấm dứt tái sinh vào địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Ta đã chấm dứt tất cả những nơi mất mát, những nơi xấu xa, cõi đọa lạc. Ta là một người nhập lưu (stream-enterer / Tu-đà-hoàn, người đã bước vào dòng Thánh, không còn tái sinh vào các cõi khổ)! Ta không còn bị tái sinh vào cõi đọa lạc, và chắc chắn sẽ giác ngộ.’

Năm mối nguy hiểm và đe dọa nào mà vị ấy đã dập tắt? Bất cứ ai sát sinh đều tạo ra những nguy hiểm và đe dọa cả trong đời này lẫn trong các đời sau, và trải qua nỗi đau khổ và buồn phiền về tinh thần. Bất cứ ai từ bỏ sát sinh đều không tạo ra những nguy hiểm và đe dọa nào cả trong đời này lẫn trong các đời sau, và không trải qua nỗi đau khổ và buồn phiền về tinh thần. Vì vậy, mối nguy hiểm và đe dọa đó được dập tắt đối với bất cứ ai từ bỏ sát sinh.

Bất cứ ai trộm cắp … Bất cứ ai tà dâm … Bất cứ ai nói dối … Bất cứ ai dùng các chất say như bia, rượu đều tạo ra những nguy hiểm và đe dọa cả trong đời này lẫn trong các đời sau, và trải qua nỗi đau khổ và buồn phiền về tinh thần. Bất cứ ai từ bỏ dùng các chất say như bia, rượu đều không tạo ra những nguy hiểm và đe dọa nào cả trong đời này lẫn trong các đời sau, và không trải qua nỗi đau khổ và buồn phiền về tinh thần. Vì vậy, mối nguy hiểm và đe dọa đó được dập tắt đối với bất cứ ai từ bỏ dùng các chất say như bia, rượu. Đây là năm mối nguy hiểm và đe dọa mà vị ấy đã dập tắt.

Bốn yếu tố của sự nhập lưu mà vị ấy có được là gì? Đó là khi một thánh đệ tử có tịnh tín (experiential confidence / niềm tin trong sạch, không lay chuyển dựa trên kinh nghiệm thực chứng) nơi Phật (Buddha / bậc Giác Ngộ): ‘Vị Thế Tôn (Blessed One / bậc được tôn kính trên đời) đó là bậc A-la-hán (perfected / người đã hoàn thiện, đạt đến giải thoát), một vị Phật Chánh Đẳng Chánh Giác (fully awakened Buddha / bậc giác ngộ hoàn toàn và chân chính), bậc Minh Hạnh Túc (accomplished in knowledge and conduct / người có đầy đủ trí tuệ và đức hạnh), bậc Thiện Thệ (holy / bậc đã đi qua một cách tốt đẹp, không còn trở lại vòng luân hồi), bậc Thế Gian Giải (knower of the world / người hiểu biết thế gian), bậc Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu (supreme guide for those who wish to train / bậc tối cao hướng dẫn những người cần được huấn luyện), bậc Thiên Nhân Sư (teacher of gods and humans / thầy của trời và người), bậc Giác Ngộ, bậc Thế Tôn.’ Vị ấy có tịnh tín nơi Pháp (teaching / giáo lý của Đức Phật): ‘Giáo pháp được Đức Phật khéo giảng dạy—thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, mời gọi đến để thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.’ Vị ấy có tịnh tín nơi Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng các đệ tử xuất gia của Đức Phật): ‘Tăng đoàn của các đệ tử Đức Phật đang thực hành con đường tốt đẹp, chân thật, có hệ thống và đúng đắn. Tăng đoàn bao gồm bốn đôi, tám bậc Thánh. Đây là Tăng đoàn của các đệ tử Đức Phật đáng được cúng dường, đáng được tiếp đón, đáng được bố thí, đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng (supreme field of merit for the world / nơi gieo trồng công đức tốt nhất trên đời) cho thế gian.’ Và giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức) của một vị thánh đệ tử được các bậc Thánh yêu mến, không bị phá vỡ, không tì vết, không nhơ bẩn, không bị hoen ố, có tính giải thoát, được người trí tán thán, không bị hiểu lầm, và dẫn đến định (immersion / sự tập trung tâm ý). Đây là bốn yếu tố của sự nhập lưu mà vị ấy có được.

Và pháp cao quý nào mà vị ấy đã thấy rõ và hiểu thấu bằng trí tuệ? Đó là khi một thánh đệ tử suy ngẫm: ‘Cái này có, cái kia có; do cái này sinh, cái kia sinh. Cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt. Nghĩa là: Vô minh (Ignorance / sự không hiểu biết Tứ Thánh Đế) là điều kiện cho hành (choices / các hành động có chủ ý, tạo nghiệp). Hành là điều kiện cho thức (consciousness / tâm thức phân biệt). Thức là điều kiện cho danh sắc (name and form / tâm và vật chất, thân và tâm). Danh sắc là điều kiện cho lục nhập (six sense fields / sáu giác quan và đối tượng của chúng: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). Lục nhập là điều kiện cho xúc (contact / sự tiếp xúc giữa giác quan, đối tượng và thức). Xúc là điều kiện cho thọ (feeling / cảm giác dễ chịu, khó chịu hoặc trung tính). Thọ là điều kiện cho ái (craving / sự ham muốn, khát ái). Ái là điều kiện cho thủ (grasping / sự bám víu, chấp thủ). Thủ là điều kiện cho hữu (continued existence / sự tồn tại, tiến trình trở thành). Hữu là điều kiện cho sinh (rebirth / sự tái sinh). Sinh là điều kiện cho lão tử (old age and death / già và chết), sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Đó là cách toàn bộ khối khổ này phát sinh. Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư sót, hành chấm dứt. Khi hành chấm dứt, thức chấm dứt. Khi thức chấm dứt, danh sắc chấm dứt. Khi danh sắc chấm dứt, lục nhập chấm dứt. Khi lục nhập chấm dứt, xúc chấm dứt. Khi xúc chấm dứt, thọ chấm dứt. Khi thọ chấm dứt, ái chấm dứt. Khi ái chấm dứt, thủ chấm dứt. Khi thủ chấm dứt, hữu chấm dứt. Khi hữu chấm dứt, sinh chấm dứt. Khi sinh chấm dứt, lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não chấm dứt. Đó là cách toàn bộ khối khổ này chấm dứt.’ Đây là pháp cao quý mà vị ấy đã thấy rõ và hiểu thấu bằng trí tuệ.

Khi một thánh đệ tử đã dập tắt năm mối nguy hiểm và đe dọa, có được bốn yếu tố của sự nhập lưu, và đã thấy rõ và hiểu thấu pháp duyên khởi cao quý (noble cycle / vòng quay nhân duyên cao thượng) bằng trí tuệ, vị ấy có thể, nếu muốn, tự tuyên bố về mình: ‘Ta đã chấm dứt tái sinh vào địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Ta đã chấm dứt tất cả những nơi mất mát, những nơi xấu xa, cõi đọa lạc. Ta là một người nhập lưu! Ta không còn bị tái sinh vào cõi đọa lạc, và chắc chắn sẽ giác ngộ.’"

(II) (32) Sợ Hãi Và Hận Thù

1. Bấy giờ có gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn, … Thế Tôn nói với Gia chủ Anàthapindika đang ngồi xuống một bên.

2. - Này Gia chủ, khi nào vị Thánh đệ tử làm cho lắng dịu năm sợ hãi hận thù, thành tựu bốn chi phần Dự lưu, khéo thấy, khéo thể nhập Thánh lý với trí tuệ; nếu vị ấy muốn, có thể tự trả lời với mình rằng: “Ta đã đoạn tận địa ngục; ta đã đoạn tận bàng sanh; ta đã đoạn tận ngạ quỷ; Ta đã đoạn tận các cõi dữ, ác thú, đọa xứ; ta đã chứng Dự lưu, không còn bị đọa lạc, quyết chắc cứu cánh được giác ngộ.” Thế nào là năm sợ hãi hận thù được làm cho lắng dịu?

3. Này Gia chủ, sát sanh, do duyên sát sanh tạo ra sợ hãi hận thù ngay trong hiện tại, tạo ra sợ hãi hận thù trong tương lai, khiến tâm cảm thọ khổ ưu. Người từ bỏ sát sanh, không tạo ra sợ hãi hận thù trong hiện tại, không tạo ra sợ hãi hận thù ngay trong tương lai, không khiến tâm cảm thọ khổ ưu. Người từ bỏ sát sanh, làm lắng dịu sợ hãi hận thứ này.

4. Này Gia chủ, lấy của không cho… tà hạnh trong các dục… nói láo… đắm say trong rượu men, rượu nấu; do duyên đắm say trong rượu men, rượu nấu, tạo ra sợ hãi hận ngay trong hiện tại, tạo ra sợ hãi hận thù trong tương lai, khiến cảm thọ khổ ưu về tâm. Người từ bỏ không đắm say trong rượu men, rượu nấu, không tạo ra sợ hãi thù hận ngay hiện tại, tạo ra sợ hãi hận thù trong tương lai, không khiến cảm thọ khổ ưu về tâm. Với người từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu, như vậy sợ hãi hận thù này được lắng dịu.

Năm sợ hãi hận thù này được lắng dịu. Thế nào là thành tựu bốn Dự lưu phần?

5. - Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật.

Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế tôn. Vị ấy thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp: “Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người tri tự mình giác hiểu”. Vị ấy thành tựu tịnh tín bất động đối với chúng Tăng: “Diệu hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Trực hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; ứng lý hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử thế Tôn đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được đảng lễ, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời.” Vị ấy thành tựu với những giới được các bậc Thánh ái kính, không bị phá hủy, không bị bể vụn, không bị điểm chấm, không bị uế nhiễm đưa đến giải thoát, được bậc trí tán thán, không bị chấp trước, đưa đến Thiền định.

Ðây là thành tựu bốn chi phần Dự lưu này. Thế nào Thánh chánh lý được khéo thấy, khéo thể nhập với trí tuệ?

6. - Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử quán sát như sau: “Do cái này có, cái kia có. Do cái này sanh, cái kia sanh. Do cái này không có, cái kia không có. Do cái này diệt, cái kia diệt. Tức là do duyên vô minh, có các hành. Do duyên các hành có thức. Do duyên thức có danh sắc. Do duyên danh sắc có sáu nhập. Do duyên sáu nhập có xúc. do duyên xúc có thọ. Do duyên thọ có ái. Do duyên ái có thủ. Do duyên thủ có hữu. do duyên hữu có sanh. Do duyên sanh có già chết, sầu, bi, khổ, ưu não. Như vậy, là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này. Do vô minh diệt không có dư tàn, nên các hành. Do các hành diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu nhập diệt. Do sáu nhập diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già chết sầu bi khổ ưu não diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này diệt. Ðây là Thánh lý được khéo thấy và khéo thể nhập với trí tuệ.”

Này Gia chủ, khi nào với vị Thánh đệ tử, năm sợ hãi hận thủ này được lắng dịu, bốn Dự lưu phần này được thành tựu, và Thánh lý này được khéo thấy và khéo thể nhập với trí tuệ, thời nếu muốn, vị ấy có thể tự mình trả lời về mình rằng: “Ta đã đoạn tận địa ngục; ta đã đoạn tận bàng sanh; ta đã đoạn tận ngạ quỷ; ta đã đoạn tận cõi dữ, ác thú, đọa xứ; ta đã chứng được Dự lưu, không còn bị đọa lạc, quyết chắc chứng đạt cứu cánh giác ngộ.”

AN 10.93 Quan Điểm Của Ông Là Gì? Kiṁdiṭṭhikasutta

Một thời Đức Phật trú gần Sāvatthī, tại Kỳ Viên, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.

Bấy giờ, gia chủ Anāthapiṇḍika rời Sāvatthī vào giữa ngày để đến gặp Đức Phật. Rồi ông nghĩ: “Đây không phải là lúc thích hợp để gặp Đức Phật, vì Ngài đang nhập thất. Và đây cũng không phải là lúc thích hợp để gặp các vị Tỳ-khưu đáng kính, vì họ đang nhập thất. Sao mình không đến thăm tu viện của các du sĩ ngoại đạo (wanderers of other religions / những người tu hành theo các tôn giáo khác ngoài Phật giáo)?”

Rồi ông đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo. Lúc đó, các du sĩ ngoại đạo đang tụ tập, gây náo động, một sự ồn ào khủng khiếp khi họ ngồi nói chuyện về đủ loại câu chuyện thấp kém (low topics / những chủ đề vô ích, không đưa đến giải thoát).

Họ thấy Anāthapiṇḍika từ xa đi tới, liền bảo nhau: “Xin quý vị hãy im lặng, đừng gây tiếng động. Gia chủ Anāthapiṇḍika, một đệ tử của Sa-môn Cồ-đàm (ascetic Gotama / nhà tu khổ hạnh Gotama, tên gọi Đức Phật bởi những người ngoại đạo), đang đến tu viện của chúng ta. Ông ấy thuộc nhóm cư sĩ áo trắng (white-clothed lay disciples / đệ tử tại gia mặc y phục trắng) của Sa-môn Cồ-đàm, người đang trú tại Sāvatthī. Những vị tôn giả như vậy thích sự yên tĩnh, được giáo dục để giữ yên tĩnh, và tán thán sự yên tĩnh. Hy vọng nếu ông ấy thấy hội chúng của chúng ta yên tĩnh, ông ấy sẽ thấy thích hợp để đến gần.”

Rồi các du sĩ ngoại đạo đó im lặng. Sau đó, Anāthapiṇḍika đến gần họ, và trao đổi lời chào hỏi với các du sĩ. Khi những lời chào hỏi và cuộc trò chuyện lịch sự kết thúc, ông ngồi xuống một bên. Các du sĩ nói với ông: “Thưa gia chủ, xin cho biết, quan điểm của Sa-môn Cồ-đàm là gì?”

“Thưa quý vị, tôi không biết tất cả các quan điểm của Ngài.”

“Vậy thì, vì có vẻ như ông không biết tất cả các quan điểm của Sa-môn Cồ-đàm, xin cho biết, quan điểm của các vị Tỳ-khưu là gì?”

“Thưa quý vị, tôi không biết tất cả các quan điểm của các vị Tỳ-khưu.”

“Vậy thì, vì có vẻ như ông không biết tất cả các quan điểm của Sa-môn Cồ-đàm hay của các vị Tỳ-khưu, xin cho biết, thưa gia chủ, quan điểm của ông là gì?”

“Thưa quý vị, không khó để tôi giải thích quan điểm của mình. Nhưng xin quý vị tôn giả hãy giải thích xác tín của mình trước. Sau đó, sẽ không khó để tôi giải thích quan điểm của mình.”

Khi ông nói vậy, một trong các du sĩ nói với ông: “Vũ trụ là thường hằng. Chỉ có điều này là sự thật, ngoài ra đều vô ích. Đó là kiến (view / quan điểm, tà kiến hoặc chánh kiến) của tôi, thưa gia chủ.”

Một du sĩ khác nói: “Vũ trụ là không thường hằng. Chỉ có điều này là sự thật, ngoài ra đều vô ích. Đó là kiến của tôi, thưa gia chủ.”

Một du sĩ khác nói: “Vũ trụ là hữu biên …” … “Vũ trụ là vô biên …” … “Sinh mạng và thân thể là một …” … “Sinh mạng và thân thể là khác nhau …” … “Một Như Lai (A realized one / bậc đã đạt đến chân lý, ở đây chỉ người đã giác ngộ) sau khi chết vẫn tồn tại …” … “Một Như Lai sau khi chết không còn tồn tại …” … “Một Như Lai sau khi chết vừa tồn tại vừa không tồn tại …” … “Một Như Lai sau khi chết không tồn tại cũng không không tồn tại. Chỉ có điều này là sự thật, ngoài ra đều vô ích. Đó là kiến của tôi, thưa gia chủ.”

Khi điều này được nói, Anāthapiṇḍika nói: "Thưa quý vị, đối với vị tôn giả đã nói: ‘Vũ trụ là thường hằng. Chỉ có điều này là sự thật, ngoài ra đều vô ích. Đó là kiến của tôi, thưa gia chủ.’ Quan điểm này của vị ấy hoặc phát sinh từ sự không như lý tác ý (apply the mind irrationally / suy tư không với trí tuệ) của chính vị ấy, hoặc bị điều kiện hóa bởi lời nói của người khác. Nhưng quan điểm đó là được tạo tác, bị điều kiện hóa, được lựa chọn, duyên sinh. Bất cứ điều gì được tạo tác, bị điều kiện hóa, được lựa chọn, và duyên sinh đều là vô thường (impermanent / không bền vững, luôn thay đổi). Và cái gì vô thường thì là khổ (suffering / sự đau khổ, khôngสมหวัง). Điều mà vị ấy bám víu và chấp giữ chỉ là khổ.

Đối với vị tôn giả đã nói: ‘Vũ trụ là không thường hằng. Chỉ có điều này là sự thật, ngoài ra đều vô ích. Đó là kiến của tôi, thưa gia chủ.’ Quan điểm này của vị ấy hoặc phát sinh từ sự không như lý tác ý của chính vị ấy, hoặc bị điều kiện hóa bởi lời nói của người khác. Nhưng quan điểm đó là được tạo tác, bị điều kiện hóa, được lựa chọn, duyên sinh. Bất cứ điều gì được tạo tác, bị điều kiện hóa, được lựa chọn, và duyên sinh đều là vô thường. Và cái gì vô thường thì là khổ. Điều mà vị ấy bám víu và chấp giữ chỉ là khổ.

Đối với vị tôn giả đã nói: ‘Vũ trụ là hữu biên …’ … ‘Vũ trụ là vô biên …’ … ‘Sinh mạng và thân thể là một …’ … ‘Sinh mạng và thân thể là khác nhau …’ … ‘Một Như Lai sau khi chết vẫn tồn tại …’ … ‘Một Như Lai sau khi chết không còn tồn tại …’ … ‘Một Như Lai sau khi chết vừa tồn tại vừa không tồn tại …’ … ‘Một Như Lai sau khi chết không tồn tại cũng không không tồn tại. Chỉ có điều này là sự thật, ngoài ra đều vô ích. Đó là kiến của tôi, thưa gia chủ.’ Quan điểm này của vị ấy hoặc phát sinh từ sự không như lý tác ý của chính vị ấy, hoặc bị điều kiện hóa bởi lời nói của người khác. Nhưng quan điểm đó là được tạo tác, bị điều kiện hóa, được lựa chọn, duyên sinh. Bất cứ điều gì được tạo tác, bị điều kiện hóa, được lựa chọn, và duyên sinh đều là vô thường. Và cái gì vô thường thì là khổ. Điều mà vị ấy bám víu và chấp giữ chỉ là khổ."

Khi ông nói vậy, các du sĩ nói với ông: “Thưa gia chủ, mỗi chúng tôi đã giải thích xác tín của mình. Xin cho biết, thưa gia chủ, quan điểm của ông là gì?”

“Thưa quý vị, bất cứ điều gì được tạo tác, bị điều kiện hóa, được lựa chọn, và duyên sinh đều là vô thường. Và cái gì vô thường thì là khổ. Và cái gì là khổ thì không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi. Đó là kiến của tôi, thưa quý vị.”

“Thưa gia chủ, bất cứ điều gì được tạo tác, bị điều kiện hóa, được lựa chọn, và duyên sinh đều là vô thường. Và cái gì vô thường thì là khổ. Điều mà ông bám víu và chấp giữ chỉ là khổ.”

“Thưa quý vị, bất cứ điều gì được tạo tác, bị điều kiện hóa, được lựa chọn, và duyên sinh đều là vô thường. Và cái gì vô thường thì là khổ. Và tôi đã thực sự thấy rõ bằng chánh trí tuệ (right wisdom / trí tuệ đúng đắn) rằng cái gì là khổ thì không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi. Và tôi thực sự hiểu rõ sự thoát ly khỏi đó.”

Khi điều này được nói, các du sĩ ngồi im lặng, kinh ngạc, vai rũ xuống, cúi đầu, chán nản, không nói nên lời. Thấy vậy, Anāthapiṇḍika đứng dậy khỏi chỗ ngồi. Ông đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và thuật lại cho Đức Phật tất cả những gì họ đã thảo luận.

“Lành thay, lành thay, gia chủ! Đó là cách ông nên bác bỏ những kẻ ngu muội đó một cách hợp lý và hoàn toàn theo thời gian.”

Sau đó, Đức Phật đã giáo huấn, khuyến khích, khích lệ và truyền cảm hứng cho gia chủ Anāthapiṇḍika bằng một bài pháp thoại (Dhamma talk / bài giảng về giáo lý), sau đó Anāthapiṇḍika đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ, và đi nhiễu quanh Đức Phật một cách kính cẩn trước khi rời đi.

Rồi, không lâu sau khi Anāthapiṇḍika rời đi, Đức Phật nói với các vị Tỳ-khưu: “Này các Tỳ-khưu, ngay cả một vị Tỳ-khưu đã xuất gia một trăm năm trong giáo pháp và luật (teaching and training / giáo lý và giới luật) này cũng sẽ bác bỏ những du sĩ ngoại đạo đó một cách hợp lý và hoàn toàn như gia chủ Anāthapiṇḍika đã làm.”

(III) (93) Kiến

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại khu vườn Anàthapindika. Bấy giờ có gia chủ Anàthapindika, vào buổi sáng thật sớm đi ra hỏi Sàvatthi để yết kiến Thế Tôn. Rồi gia chủ Anàthapindika suy nghĩ: “Nay không phải thời để yết kiến Thế Tôn. Thế Tôn đang Thiền tịnh. Cũng không phải thời để yến kiến các vị Tỷ-kheo đang tu tập về ý, các Tỷ-kheo tu tập về ý đang Thiền tịnh. Vậy ta hãy đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo”. Vậy gia chủ Anàthapindika đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo.

2. Lúc bấy giờ, các du sĩ ngoại đạo đang ngồi hội họp, đang tụ họp ồn ào, cao tiếng, lớn tiếng bàn luận những vấn đề phù phiếm. các du sĩ ngoại đạo ấy thấy gia chủ Anàthapindika từ xa đi đến, khi thấy vậy liền dặn dò bảo với nhau: “Hãy bớt ồn ào, các Tôn giả chớ có làm ồn, các tôn giả. Gia chủ Anàthapindika này đang đến, một đệ tử của Sa-môn Gotama, trong những đệ tử của Sa-môn Gotama có gia đình mặc áo trắng ở Sàvatthi, gia chủ Anàthapindika là một trong những vị ấy. Các vị ấy ít ưa ồn ào, được huấn luyện trong ít ồn ào, tán thán ít ồn ào. Nếu vị ấy thấy hội chúng ít ồn ào, vị ấy có thể nghĩ đến thăm ở đây”. Rồi các du sĩ ngoại đạo ấy giữ im lặng.

3. Rồi Gia chủ Anàthapinidika đi đến các du sĩ đạo ấy, sau khi đến, nói lên với các du sĩ ngoại đạo ấy những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Các du sĩ ngoại đạo ấy nói với Gia chủ Anàthapidika đang ngồi một bên:

− Này Gia chủ, hãy nói lên Sa-môn Gatama có kiến gì?

− Thưa các Tôn giả, tôi không biết tất cả kiến của Thế Tôn.

− Này Gia chủ, Gia chủ có thể không biết tất cả kiến của Sa-môn Gotama. Nhưng này Gia chủ, hãy nói các Tỷ-kheo có kiến gì?

− Thưa các Tôn giả, tôi không biết tất cả kiến của các Tỷ-kheo.

− Này Gia chủ, Gia chủ có thể không biết tất cả kiến của Sa-môn Gotama, Gia chủ có thể không biết tất cả kiến của các Tỷ-kheo. Vậy này Gia chủ, hãy nói về kiến của gia chủ.

− Thưa các Tôn giả, thật không khó gì để chúng tôi trả lời về kiến của chúng tôi. Nhưng các Tôn hãy trả lời về kiến của các Tôn giả trước. Rồi sau thật không khó gì để chúng tôi trả lời về kiến của chúng tôi.

4. Khi được nói vậy, một du sĩ ngoại đạo nói với gia chủ Anàthapindika: “Thường còn là thể giới. Kiến này là sự thật. Kiến nào khác là hư vọng. Này Gia chủ, như vậy là kiến của tôi”. Một du sĩ ngoại đạo khác nói với gia chủ Anàthapindika: “Vô thường là thế giới. Kiến này là sự thật. Kiến nào khác là hư vọng. Như vậy là kiến của tôi.” Rồi một du sĩ ngoại đạo khác nói với gia chủ Anàthapindika: “Có biên tế là thế giới… không có biên tế là thế giới… mạng sống và thân thể là một… mạng sống và thân thể là khác… Như Lai có tồn tại sau khi chết… Như Lai không có tồn tại sau khi chết… Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết… Như Lai không có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Kiến này là sự thật. Kiến nào khác là hư vọng. Này Gia chủ, như vậy là kiến của tôi”.

5. Khi nghe nói vậy, gia chủ Anàthapindika nói với các du sĩ ngoại đạo ấy:

− Thưa các Tôn giả, Tôn giả nào nói như sau: “Thường còn là thế giới. Kiến này là sự thật. Kiến nào khác là hư vọng. Này Gia chủ, như vậy là kiến của tôi”. Kiến này của Tôn giả ấy, hoặc nhân tự mình tác ý không hợp lý, hay do duyên nghe tiếng người khác nói. Kiến ấy như vậy được sanh được tác thành (hữu vi) do tâm suy tư, do duyên khởi lên. Và cái gì được sanh, được tác thành, do tâm suy tư, do duyên khởi lên, cái ấy là vô thường; cái gì vô thường, cái ấy là khổ; cái (khổ) ấy, Tôn giả chấp trước (dính vào); cái (khổ) ấy, Tôn giả chấp nhận. Thưa các Tôn giả, Tôn giả nào nói như sau: “Vô thường là thế giới này… có biên tế là thế giới này… không biên tế là thế giới này…sinh mạng và thân thể là một… sinh mạng và thân thể là khác… Như Lai có tồn tại sau khi chết… Như Lai không tồn tại sau khi chết… Như Lai không có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Kiến này là sự thật. Kiến nào khác là hư vọng. Này Gia chủ, như vậy là kiến của tôi”. Kiến này của Tôn giả ấy, hoặc nhân tự mình tác ý không hợp lý, hoặc do duyên nghe tiếng người khác nói. kiến như vậy được sanh, được tác thành, do tâm suy tư, do duyên khởi lên. Và cái gì được sanh, được tác thành, do tâm suy tư, do duyên khởi lên, cái ấy là vô thường; cái gì vô thường, cái ấy là khổ; cái (khổ) ấy, Tôn giả chấp trước; cái khổ ấy Tôn giả chấp nhận. 6. Khi được nói vậy, các du sĩ ngoại đạo ấy nói với gia chủ Anàthapindika:

− Này Gia chủ, tất cả kiến của chúng tôi đã được nói lên. Này Gia chủ, hãy nói lên kiến của gia chủ là gì?

− Thưa các Tôn giả, phàm cái gì được sanh, được tác thành do tâm suy tư, do duyên được khởi lên, cái ấy là vô thường. Cái gì vô thường, cái ấy là khổ. Cái gì là khổ, cái ấy là “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.” Tôi có kiến như vậy, thưa các Tôn giả.

− Này Gia chủ, phàm cái gì được sanh, được tác thành, do tâm suy tư, do duyên được khởi lên, cái ấy là vô thường. Cái gì vô thường, cái ấy là khổ. Cái gì là khổ, cái ấy, này Gia chủ, Gia chủ lại chấp trước, cái ấy, này Gia chủ, Gia chủ lại chấp nhận.

Thưa các Tôn giả, phàm cái gì được sanh, được tác thành, do tâm suy tư, do duyên được khởi lên, cái ấy là vô thường. Cái gì vô thường, cái ấy là khổ. Cái gì khổ, cái ấy là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Như vậy là như thật khéo thấy với chánh trí tuệ. Và tư nơi khổ ấy, tôi như thật rõ biết sự xuất ly hơn thế nữa. Khi nghe nói như vậy, các du sĩ ngoại đạo ấy ngồi im lặng, hoang mang, thụt vai, cúi đầu, sững sờ, không nói lên lời.

7. Rồi gia chủ Anàthapinika, sau khi biết các du sĩ ngoại đạo ấy im lặng, hoang mang, thụt vai, cúi đầu, sững sờ, không nói lên lời, tư chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế tôn rồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, gia chủ Anàthapindika, câu chuyện với các du sĩ ngoại đạo ấy như thế nào thuật lại tất cả cho Thế Tôn rõ:

− “Lành thay, lành thay, này Gia chủ. Như vậy, này Gia chủ, những kẻ ngu si ấy thường cần phải được bác bỏ với sự khéo bác bỏ nhờ Chánh pháp”. Rồi Thế Tôn với một bài pháp thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ Gia chủ Anàthapindika. Rồi Gia chủ Anàthapindika, sau khi được Thế Tôn với bài pháp thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

8. Rồi Thế Tôn, sau khi gia chủ Anàthapindika ra đi không bao lâu, bảo các vị Tỷ-kheo:

− Tỷ-kheo nào dầu đã được đầy đủ 100 năm an cư mùa mưa trong Pháp và Luật này, vị ấy cần phải như vậy, thường thường bác bỏ các du sĩ ngoại đạo, với sự khéo bác bỏ nhờ Chánh pháp, như gia chủ Anàhtapindika đã khéo bác bỏ.

AN 10.94 Với Vajjiyamāhita Vajjiyamāhitasutta

Một thời Đức Phật trú gần Campā, bên bờ hồ sen Gaggarā.

Bấy giờ, gia chủ Vajjiyamāhita rời Sāvatthī vào giữa ngày để đến gặp Đức Phật. Rồi ông nghĩ: “Đây không phải là lúc thích hợp để gặp Đức Phật, vì Ngài đang nhập thất. Và đây cũng không phải là lúc thích hợp để gặp các vị Tỳ-khưu đáng kính, vì họ đang nhập thất. Sao mình không đến thăm tu viện của các du sĩ ngoại đạo?”

Rồi ông đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo. Lúc đó, các du sĩ ngoại đạo đang tụ tập, gây náo động, một sự ồn ào khủng khiếp khi họ ngồi nói chuyện về đủ loại câu chuyện thấp kém.

Họ thấy Vajjiyamāhita từ xa đi tới, liền bảo nhau: “Xin quý vị hãy im lặng, đừng gây tiếng động. Gia chủ Vajjiyamāhita, một đệ tử của Sa-môn Cồ-đàm, đang đến tu viện của chúng ta. Ông ấy thuộc nhóm cư sĩ áo trắng của Sa-môn Cồ-đàm, người đang trú gần Campā. Những vị tôn giả như vậy thích sự yên tĩnh, được giáo dục để giữ yên tĩnh, và tán thán sự yên tĩnh. Hy vọng nếu ông ấy thấy hội chúng của chúng ta yên tĩnh, ông ấy sẽ thấy thích hợp để đến gần.”

Rồi các du sĩ ngoại đạo đó im lặng. Sau đó, Vajjiyamāhita đến gần họ, và trao đổi lời chào hỏi với các du sĩ ở đó. Khi những lời chào hỏi và cuộc trò chuyện lịch sự kết thúc, ông ngồi xuống một bên. Các du sĩ nói với ông:

“Có thật vậy không, thưa gia chủ? Sa-môn Cồ-đàm có chỉ trích tất cả các hình thức khổ hạnh (mortification / sự hành hạ thân xác để tu tập) không? Ngài có lên án và chỉ trích một cách dứt khoát những người tu khổ hạnh nhiệt thành sống khắc khổ không?”

“Không, thưa quý vị, Đức Phật không chỉ trích tất cả các hình thức khổ hạnh. Ngài cũng không lên án và chỉ trích một cách dứt khoát những người tu khổ hạnh nhiệt thành sống khắc khổ. Đức Phật chỉ trích những gì đáng chỉ trích, và tán dương những gì đáng tán dương. Khi làm vậy, Ngài là người nói sau khi đã phân tích vấn đề, và không phiến diện về điểm này.”

Khi ông nói vậy, một trong các du sĩ nói với ông: “Khoan đã, gia chủ! Sa-môn Cồ-đàm mà ông ca ngợi là một người chủ trương đoạn diệt, không đưa ra tuyên bố.”

“Về điểm này, tôi cũng xin trả lời các vị tôn giả một cách hợp lý. Đức Phật đã tuyên bố ‘Điều này là thiện (skillful / thiện lành, tốt đẹp, có ích)’ và ‘Điều này là bất thiện (unskillful / không thiện lành, xấu xa, có hại)’. Vì vậy, khi nói đến điều gì là thiện và bất thiện, Đức Phật có đưa ra tuyên bố. Ngài không phải là người chủ trương đoạn diệt, không đưa ra tuyên bố.”

Khi điều này được nói, các du sĩ ngồi im lặng, kinh ngạc, vai rũ xuống, cúi đầu, chán nản, không nói nên lời. Thấy vậy, Vajjiyamāhita đứng dậy khỏi chỗ ngồi. Ông đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và thuật lại cho Đức Phật tất cả những gì họ đã thảo luận.

"Lành thay, lành thay, gia chủ! Đó là cách ông nên bác bỏ những kẻ ngu muội đó một cách hợp lý và hoàn toàn theo thời gian. Này gia chủ, Ta không nói rằng tất cả các khổ hạnh đều nên được thực hành. Nhưng Ta cũng không nói rằng không có khổ hạnh nào nên được thực hành. Ta không nói rằng tất cả các giới luật (observances / những điều cần tuân thủ) đều nên được tuân giữ. Nhưng Ta cũng không nói rằng không có giới luật nào nên được tuân giữ. Ta không nói rằng tất cả các nỗ lực (efforts / sự cố gắng, tinh tấn) đều nên được thử. Nhưng Ta cũng không nói rằng không có nỗ lực nào nên được thử. Ta không nói rằng mọi thứ đều nên được từ bỏ. Nhưng Ta cũng không nói rằng không có gì nên được từ bỏ. Ta không nói rằng ông nên được giải thoát với tất cả các loại tự do. Nhưng Ta cũng không nói rằng ông không nên được giải thoát với bất kỳ loại tự do nào.

Khi thực hành một số khổ hạnh nhất định, các pháp bất thiện tăng trưởng trong khi các pháp thiện suy giảm. Ta nói rằng ông không nên thực hành những khổ hạnh đó. Khi thực hành một số khổ hạnh nhất định, các pháp bất thiện suy giảm trong khi các pháp thiện tăng trưởng. Ta nói rằng ông nên thực hành những khổ hạnh đó.

Khi tuân giữ một số giới luật nhất định, các pháp bất thiện tăng trưởng trong khi các pháp thiện suy giảm. Ta nói rằng ông không nên tuân giữ những giới luật đó. Khi tuân giữ một số giới luật nhất định, các pháp bất thiện suy giảm trong khi các pháp thiện tăng trưởng. Ta nói rằng ông nên tuân giữ những giới luật đó.

Khi thử một số nỗ lực nhất định, các pháp bất thiện tăng trưởng trong khi các pháp thiện suy giảm. Ta nói rằng ông không nên thử những nỗ lực đó. Khi thử một số nỗ lực nhất định, các pháp bất thiện suy giảm trong khi các pháp thiện tăng trưởng. Ta nói rằng ông nên thử những nỗ lực đó.

Khi từ bỏ một số thứ nhất định, các pháp bất thiện tăng trưởng trong khi các pháp thiện suy giảm. Ta nói rằng ông không nên từ bỏ những thứ đó. Khi từ bỏ một số thứ nhất định, các pháp bất thiện suy giảm trong khi các pháp thiện tăng trưởng. Ta nói rằng ông nên từ bỏ những thứ đó.

Khi được giải thoát với một số loại tự do nhất định, các pháp bất thiện tăng trưởng trong khi các pháp thiện suy giảm. Ta nói rằng ông không nên được giải thoát với những loại tự do đó. Khi được giải thoát với một số loại tự do nhất định, các pháp bất thiện suy giảm trong khi các pháp thiện tăng trưởng. Ta nói rằng ông nên được giải thoát với những loại tự do đó."

Sau khi Vajjiyamāhita được Đức Phật giáo huấn, khuyến khích, khích lệ và truyền cảm hứng bằng một bài pháp thoại, ông đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ, và đi nhiễu quanh Đức Phật một cách kính cẩn trước khi rời đi.

Rồi, không lâu sau khi Vajjiyamāhita rời đi, Đức Phật nói với các vị Tỳ-khưu: “Này các Tỳ-khưu, ngay cả một vị Tỳ-khưu lâu ngày ít bụi trong mắt (ý nói người có trí tuệ, ít phiền não) trong giáo pháp và luật này cũng sẽ bác bỏ những du sĩ ngoại đạo đó một cách hợp lý và hoàn toàn như gia chủ Vajjiyamāhita đã làm.”

(IV) (94) Vajjiyamahita

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Campà trên bờ ao Gaggarà. Rồi gia chủ Vajjiyamàhita, vào buổi sáng sớm đi ra khỏi Campà, đến yết kiến Thế Tôn. rồi gia chủ Vajjiyamàhita suy nghĩ: “Nay không phải thời để yết kiến Thế tôn, Thế Tôn đang thiền tịnh. Cũng không phải thời để yết kiến các Tỷ-kheo đang tu tập về ý, các Tỷ-kheo đang tu tập về ý đang thiền tịnh. Vậy hãy đi đến khu vườn các tu sĩ ngoại đạo” Rồi gia chủ Vajjiyamàhita đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo.

2. Lúc bấy giờ, các du sĩ ngoại đạo đang ngồi hội họp đang tụ họp, ồn ào, cao tiếng, lớn tiếng bàn luận những vấn đề phù phiếm. các du sĩ ngoại đạo ấy thấy gia chủ Vajjiyamàhita từ xa đi đến, khi thấy vậy, liền dặn dò bảo với nhau: “Hãy bớt ồn ào, các tôn giả, chớ làm ồn, các Tôn giả, gia chủ Vajjiyamàhita này đang đến, một đệ tử của Sa-mô Gotama, có gia đình mặt trắng ở Campà. Gia chủ Vajjiyamàhita là một trong những vị ấy, các vị ấy ưa ít ồn ào, được huấn luyện trong ít ồn ào, tán thán ít ồn ào. Nếu vị ấy thấy hội chúng ít ồn ào, vị ấy có thể nghĩ đến thăm ở đây.” Rồi các du sĩ ngoại đạo ấy giữ im lặng. 3. Rồi gai chủ Vajjiyamàhita đi đến các du sĩ ngoại đạo ấy; sau khi đến, nói lên với các du sĩ ngoại đạo ấy những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Các di sĩ ngoại đạo ấy nói với gia chủ Vajjiyamàhita đang ngồi một bên:

− Có đúng sự thật chăng này Gia chủ, sa-môn Gotama chỉ trích mọi khổ hạnh, nhất hướng bài bác, chống đôí mọi khổ hạnh, mọi nếp sống kham khổ?

− Thưa các tôn giả, Thế Tôn không chỉ trích mọi khổ hạnh, không nhất hướng bài bác chống đối mọi khổ hạnh, mọi nếp sống kham khổ. Thưa các Tôn giả, Thế tôn chỉ trích cái gì đáng chỉ trích, tán thán cái gì đáng tán thán. Thưa các Tôn giả, Thế Tôn chỉ trích cái gì đáng chỉ trích, tán thán cái gì đáng tán thán, như vậy Thế Tôn là người phân tích luận, không phải là người nhất hướng luận (nói một chiều).

4. Ðược nói vậy, một du sĩ nói với gia chủ Vajjiyamàhita: “Thôi chờ ở đây, này Gia chủ, Gia chủ tán thán Sa-môn Gotama và Sa-môn Gotama là người hư vô, một người không bao giờ có định nghĩa rõ ràng.

− Ở đây, thưa các tôn giả, tôi nói với các Tôn giả, tôi nói với các Tôn giả đúng pháp: “đây là thiện, thưa các Tôn giả, Thế Tôn đã định nghĩa. Ðây là bất thiện, thưa các Tôn giả, Thế Tôn đã định nghĩa. Ðây là thiện, đây là bất thiện, Thế tôn đã định nghĩa. Thế tôn là người có định nghĩa rõ ràng. Thế Tôn không phải là người chủ trương hư vô, không phải là người không có định nghĩa rõ ràng”. Khi được nói vậy, các du sĩ ấy im lặng, hoang mang, thụt vai, cúi đầu, sững sờ, không nói nên lời.

5. Rồi gia chủ Vajjiyamàhita, sau khi biết các du sĩ ngoại đạo ấy im lặng, hoang mang, thụt cai, cúi đầu, sững sờ không nói nên lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, gia chủ Vajjiyamàhita, câu chuyện với các du sĩ ngoại đạo như thế nào, tất cả đều thuật lại cho Thế Tôn rõ.

6. - Lành thay, lành thay, này Gia chủ, những kẻ ngu si ấy thường thường cần phải được bác bỏ với sự khéo bác bỏ nhờ Chánh pháp. Này Gia chủ, Ta không nói rõ rằng, tất cả khổ hạnh cần phải hành trì. Này Gia chủ, Ta cũng không nói rằng tất cả sự chấp trì cần phải được chấp trì. Này Gia chủ, Ta cũng không nói rằng tất cả sự chấp trì không nên chấp trì. Này Gia chủ, Ta cũng không nói rằng tất cả sự tinh cần phải tinh cần. Này Gia chủ, ta cũng không nói rằng, tất cả sự tinh cần không nên tinh cần. Này Gia chủ, Ta cũng không nói rằng, tất cả sự từ bỏ nên từ bỏ. Này Gia chủ, Ta cũng không nói rằng tất cả sự từ bỏ không nên từ bỏ. Này Gia chủ, Ta cũng không nói rằng tất cả sự giải thoát nên giải thoát. Này Gia chủ, Ta cũng không nói rằng, tất cả sự giải thoát không nên giải thoát.

7. Này Gia chủ, phàm hành trì khổ hạnh nào, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm, khổ hạnh ấy, Ta nói, không nên hành trì. Nhưng này Gia chủ, phàm hành trì khổ hạnh nào, cá pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng, khổ hạnh ấy Ta nói nên hành trì. Này Gia chủ, phàm chấp trì nào, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm, chấp trì ấy, Ta nói, không nêm chấp hành. Phàm chấp hành chấp trì nào, các pháp bất thiện tổn giảm, các thiện pháp tăng trưởng, thời chấp hành ấy, Ta nói nên chấp trì. Này Gia chủ, phàm tinh cần nào được tinh cấn, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm, thời tinh cần ấy, Ta nói rằng, không nên tinh tấn. Phàm tinh cần nào được tinh tấn, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng, thời tinh cần ấy, Ta nói nên tinh tấn. Này Gia chủ, phàm từ bỏ từ bỏ nào, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm, thời từ bỏ ấy, Ta nói, không nên từ bỏ. Phàm từ bỏ từ bỏ nào, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng, thời từ bỏ ấy, Ta nói, nên từ bỏ. Này Gia chủ, phàm giải thoát sự giải thoát nào, các pháp bất thiện tăng trưởng, các thiện pháp tổn giảm, thời giải thoát ấy, Ta nói, không nên giải thoát. Phàm giải thoát giải thoát nào, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng, thời giải thoát ấy, Ta nói nên giải thoát. Rồi gia chủ Vajjiyamàhita sau khi được thế Tôn với một pháp thoại thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

8, Rồi Thế Tôn, sau khi gia chủ Vajjiyamàhita ra đi không bao lâu, bảo các Tỷ-kheo:

− Phàm Tỷ-kheo nào, đã lâu ngày với trần cầu ít trong Pháp và Luật này, vị ấy hãy như vậy bài bác các du sĩ ngoại đạo với sự khéo bài bác nhờ Chánh pháp, như gia chủ Vajjiyamàhita đã làm.

AN 10.95 Với Uttiya Uttiyasutta

Bấy giờ, du sĩ Uttiya đến gặp Đức Phật và trao đổi lời chào hỏi với Ngài.

Khi những lời chào hỏi và cuộc trò chuyện lịch sự kết thúc, ông ngồi xuống một bên và nói với Đức Phật: “Thưa ngài Gotama, có đúng là: ‘Vũ trụ là thường hằng. Chỉ có điều này là sự thật, ngoài ra đều vô ích’ không?”

“Điều này chưa được Ta tuyên bố, Uttiya.”

“Vậy có đúng là: ‘Vũ trụ là không thường hằng. Chỉ có điều này là sự thật, ngoài ra đều vô ích’ không?”

“Điều này chưa được Ta tuyên bố, Uttiya.”

“Vậy có đúng là: ‘Vũ trụ là hữu biên …’ … ‘Vũ trụ là vô biên …’ … ‘Sinh mạng và thân thể là một …’ … ‘Sinh mạng và thân thể là khác nhau …’ … ‘Một Như Lai sau khi chết vẫn tồn tại …’ … ‘Một Như Lai sau khi chết không còn tồn tại …’ … ‘Một Như Lai sau khi chết vừa tồn tại vừa không tồn tại …’ … ‘Một Như Lai sau khi chết không tồn tại cũng không không tồn tại. Chỉ có điều này là sự thật, ngoài ra đều vô ích’ không?”

“Điều này chưa được Ta tuyên bố, Uttiya.”

"Khi được hỏi về tất cả những điểm này, ngài Gotama nói rằng chúng chưa được Ngài tuyên bố.

Vậy chính xác thì điều gì đã được ngài Gotama tuyên bố?"

“Uttiya, Ta dạy các đệ tử của Ta từ sự chứng ngộ của chính Ta để thanh lọc chúng sinh, để vượt qua sầu muộn và khóc than, để chấm dứt đau đớn và buồn khổ, để chấm dứt vòng luân hồi khổ đau, và để chứng ngộ Niết-bàn (extinguishment / sự chấm dứt khổ đau, trạng thái giải thoát cuối cùng).”

“Nhưng khi ngài Gotama dạy theo cách này, toàn bộ thế giới có được cứu độ, hay một nửa, hay một phần ba?” Nhưng khi ông nói điều này, Đức Phật vẫn im lặng.

Bấy giờ, Tôn giả Ānanda nghĩ: “Du sĩ Uttiya có thể có tà kiến (harmful misconception / quan điểm sai lầm có hại) rằng: ‘Khi Sa-môn Cồ-đàm được hỏi câu hỏi vô cùng quan trọng này, Ngài lại ngập ngừng không trả lời. Ngài không thể làm được!’ Điều đó sẽ gây tai hại và đau khổ lâu dài cho ông ta.”

Rồi Tôn giả Ānanda nói với du sĩ Uttiya: "Này Tôn giả Uttiya, tôi sẽ cho ngài một ví dụ. Vì nhờ ví dụ mà một số người có trí hiểu được ý nghĩa của những gì được nói. Giả sử có một thành trì biên giới của nhà vua với bờ lũy, tường thành và cổng vòm kiên cố, và một cổng duy nhất. Và nó có một người gác cổng tinh tường, có năng lực và khôn khéo. Người ấy ngăn chặn người lạ và cho người quen vào. Khi đi vòng quanh đường tuần tra, người ấy không thấy một lỗ hổng hay khe nứt nào trên tường, dù chỉ nhỏ đủ để một con mèo chui qua. Người ấy không biết có bao nhiêu sinh vật ra vào thành trì. Nhưng người ấy biết rằng bất kỳ sinh vật lớn nào ra vào thành trì, tất cả chúng đều đi qua cổng này.

Cũng vậy, Như Lai không bận tâm liệu toàn bộ thế giới có được cứu độ bằng cách này, hay một nửa, hay một phần ba. Nhưng Như Lai biết rằng bất cứ ai được cứu độ khỏi thế gian—dù trong quá khứ, tương lai, hay hiện tại—tất cả đều đã từ bỏ năm triền cái (five hindrances / năm chướng ngại tinh thần: tham dục, sân hận, hôn trầm-thụy miên, trạo cử-hối quá, nghi), những ô nhiễm của tâm làm suy yếu trí tuệ. Họ đã thiết lập vững chắc tâm mình trong Tứ Niệm Xứ (four kinds of mindfulness meditation / bốn lĩnh vực quán niệm: thân, thọ, tâm, pháp). Và họ đã thực sự phát triển thất giác chi (seven awakening factors / bảy yếu tố giác ngộ: niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả). Đó là cách họ được cứu độ khỏi thế gian, trong quá khứ, tương lai, hay hiện tại. Uttiya, ngài vừa hỏi Đức Phật cùng một câu hỏi như trước đây nhưng theo một cách khác. Đó là lý do tại sao Ngài không trả lời."

(V) (95) Uttiya

1 Bấy giờ có du sĩ ngoại đạo Uttiya đi đến Thế Tôn; sau khi đến nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, du sĩ Uttiya nói với Thế Tôn:

− Thưa Tôn giả Gotama, có phải Tôn giả chủ trương thế giới là vô thường. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng?

− Này Uttiya. Ta không có nói như sau: “Thế giới là vô thường. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng”.

− Này Tôn giả Gotama, có phải thế giới là có biên tế…thế giới là không biên tế… sinh mạng và thân thể là một… sinh mạng và thân thể là khác… Như Lai có tồn tại sau chết… Như Lai không có tồn tại sau khi chết… Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết… Như Lai không tồn tại và không tại sau khi chết. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng?

− Này Uttiya, Ta không có nói như sau: “Như Lai không tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng”.

2- Thưa Tôn giả Gotama, có phải thế giới là vô thường, kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng? Ðược hỏi vậy, Thế Tôn trả lời: “Này Uttiya, Ta không có nói: “Thế giới là vô thường. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng.”

− Thưa Tôn giả Gotama, có phải thế giới là vô thường? … có phải thế giới là có biên tế? … có phải thế giới không có biên tế? … có phải sinh mạng và thân thể là một? … có phải sing mạng và thân thể là khác? … có phải Như Lai có tồn tại sau khi chết? … có phải Như Lai không có tồn tại sau khi chết? … có phải Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau chết? … có phải Như Lai không tồn tại và không tồn tại sao khi chết? Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng? Ðược hỏi vậy, Thế Tôn trả lời: “Này Uttiya, Ta không có nói: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết. Kiến này là sự thật. Kiến nào khác là hư vọng.”

− Vậy cái gì được Tôn giả Gotama nói lên?

− Với thắng trí, này Uttiya, Ta thuyết pháp cho các đệ tử để họ được thanh tịnh, để sầu bi được vượt qua, để khổ ưu dược chấm dứt, đế chánh lý được chứng đạt, để Niết-bàn dược chứng ngộ.

− “Nếu Tôn giả Gotama thuyết pháp cho các đệ tử để họ được thanh tịnh… để Niết-bàn được chứng ngộ”, thời do vậy, cả thế giới này sẽ đi ra khỏi, hay chỉ có một nữa, hay chỉ có một phần ba? Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn im lặng.

3. Rồi Tôn giả Ananda suy nghĩ như sau: “Chớ có để cho du sĩ Uttiya có ác tà kiến rằng: “Sa-môn Gotama khi được nghe ta hỏi câu hỏi tối ư quan trọng lại tránh né, không có trả lời, không dám trả lời, và như vậy là bất hạnh, là đau khổ lau dài cho du sĩ Uttiya.” Rồi Tôn giả Ananda nói với du sĩ Uttiya:

4.- Vậy này Uttiya, Ta sẽ dùng một ví dụ, chính nhờ ví dụ, ở đây một số người có trí có thể hiểu được ý nghĩa của lời nói. Ví như, này Hiền giả Uttiya, ngôi thành biên địa của vua với những nền móng vững chắc, với các thành lũy thác canh vững chắc, và chỉ có một cửa vào. Tại đây, người giữ cửa là người sáng suốt, thông minh, có trí, ngăn chận những người không quen biết, cho vào những người quen biết. Khi đi tuần trên con đường chạy vòng quanh thành trì ấy, người ấy có thể không thấy một kẻ hở trong thành hay lỗ trống thành lớn cho đến một con mèo có thể chui qua. Người ấy có thể không biết được: “Từng ấy loài hữu tình đã đi vào hay đi ra thành này, nhưng điều này cho biết: “Những loài hữu tình thô lớn nào đi vào hay đi ra thành này”, tất cả chúng phải đi vào hay đi ra ngang qua cửa thành này. Cũng vậy, này Hiền giả Uttiya, đối với Như Lai, không phải là một vấn đề quan trọng (câu hỏi này của Thầy) là có phải toàn thế giới do vậy được thoát ra khỏi hay nữa phần thế giới, hay là một phần ba? Những điều Như Lai nói là như sau: “Những ai đã được thoát ra khỏi thế giới, hay đang được thoát ra, hay sẽ thoát ra, tất cả những vị ấy, sau khi đoạn tận năm triền cái, những pháp làm ô nhiểm tâm, làm yếu ớt trí tuệ, với tâm khéo an trú trên Bốn niệm xứ; sau khi như thật tu tập Bảy giác chi, như vậy các vị ấy đã thoát khỏi, đang thoát khỏi, sẽ thoát khỏi thế giới. Này Hiền giả Uttiya, về câu hỏi mà Thầy đã hỏi Thế Tôn đứng trên một lập trường khác. Ðó là lý do tại sao Thế Tôn không trả lời câu hỏi ấy cho Thầy?

AN 10.96 Với Kokanada Kokanudasutta

Một thời Tôn giả Ānanda trú gần Rājagaha, tại Tu viện Suối Nước Nóng. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda thức dậy lúc rạng đông và đến suối nước nóng để tắm. Sau khi tắm xong và lên khỏi mặt nước, ngài đứng mặc một y để làm khô chân tay. Du sĩ Kokanada cũng thức dậy lúc rạng đông và đến suối nước nóng để tắm.

Ông thấy Tôn giả Ānanda từ xa đi tới và nói với ngài: “Ai ở đây vậy, thưa tôn giả?”

“Tôi là một Tỳ-khưu, thưa tôn giả.”

“Thuộc nhóm Tỳ-khưu nào?”

“Thuộc nhóm các vị Sa-môn Thích tử (đệ tử của dòng họ Thích Ca).”

“Tôi muốn hỏi tôn giả về một điểm, nếu ngài có thời gian để trả lời.”

“Xin cứ hỏi, thưa tôn giả. Khi nghe xong tôi sẽ biết.”

“Đây có phải là quan điểm của ngài không: ‘Vũ trụ là thường hằng. Chỉ có điều này là sự thật, ngoài ra đều vô ích’?”

“Đó không phải là quan điểm của tôi, thưa tôn giả.”

“Vậy đây có phải là quan điểm của ngài không: ‘Vũ trụ là không thường hằng. Chỉ có điều này là sự thật, ngoài ra đều vô ích’?”

“Đó không phải là quan điểm của tôi, thưa tôn giả.”

“Vậy đây có phải là quan điểm của ngài không: ‘Vũ trụ là hữu biên …’ … ‘Vũ trụ là vô biên …’ … ‘Sinh mạng và thân thể là một …’ … ‘Sinh mạng và thân thể là khác nhau …’ … ‘Một Như Lai sau khi chết vẫn tồn tại …’ … ‘Một Như Lai sau khi chết không còn tồn tại …’ … ‘Một Như Lai sau khi chết vừa tồn tại vừa không tồn tại …’ … ‘Một Như Lai sau khi chết không tồn tại cũng không không tồn tại. Chỉ có điều này là sự thật, ngoài ra đều vô ích’?”

“Đó không phải là quan điểm của tôi, thưa tôn giả.”

“Vậy, thưa ngài, ngài không biết cũng không thấy sao?”

“Không phải vậy, thưa tôn giả. Tôi có biết và có thấy.”

"Khi được hỏi về tất cả những điểm này, ngài nói đó không phải là quan điểm của ngài.

Vậy mà khi được hỏi liệu ngài có không biết không thấy không, ngài lại nói: ‘Không phải vậy, thưa tôn giả. Tôi có biết và có thấy.’ Vậy chúng tôi nên hiểu ý nghĩa của lời tuyên bố này như thế nào?"

"‘Vũ trụ là thường hằng. Chỉ có điều này là sự thật, ngoài ra đều vô ích:’ đó là một tà kiến. ‘Vũ trụ là không thường hằng. Chỉ có điều này là sự thật, ngoài ra đều vô ích:’ đó là một tà kiến. ‘Vũ trụ là hữu biên …’ … ‘Vũ trụ là vô biên …’ … ‘Sinh mạng và thân thể là một …’ … ‘Sinh mạng và thân thể là khác nhau …’ … ‘Một Như Lai sau khi chết vẫn tồn tại …’ … ‘Một Như Lai sau khi chết không còn tồn tại …’ … ‘Một Như Lai sau khi chết vừa tồn tại vừa không tồn tại …’ … ‘Một Như Lai sau khi chết không tồn tại cũng không không tồn tại. Chỉ có điều này là sự thật, ngoài ra đều vô ích:’ đó là một tà kiến.

Tôi biết và thấy phạm vi của các xác tín, phạm vi của các cơ sở cho quan điểm, sự cố chấp vào quan điểm, sự ám ảnh bởi quan điểm, nguồn gốc của quan điểm, và sự nhổ bật các quan điểm. Biết và thấy như vậy, tại sao tôi lại nói: ‘Tôi không biết cũng không thấy?’ Tôi có biết và có thấy."

“Tên của tôn giả là gì? Và ngài được biết đến như thế nào trong số các bạn đồng tu (spiritual companions / những người bạn cùng tu hành)?”

“Thưa tôn giả, tên tôi là Ānanda. Và đó là cách tôi được biết đến trong số các bạn đồng tu của mình.”

“Trời ơi! Tôi không hề biết mình đang tham vấn một bậc thầy vĩ đại như Tôn giả Ānanda! Nếu tôi biết ngài là ai, tôi đã không nói nhiều như vậy. Xin Tôn giả Ānanda hãy tha thứ cho tôi.”

(VI) (96) Kokanuda

1. Một thời, Tôn giả Ananda trú ở Ràjagaha, tại suối nước nóng Tapodàràma. Rồi Tôn giả Ananda khi đêm vừa mới sáng, thức dậy đi đến Tapodàràma để rửa tay chân. Rửa tay chân xong, ở Tapodà, sau khi ra khỏi, Tôn giả đứng đắp một y để phơi tay chân cho khô. Bấy giờ có tu sĩ Kokanuda, khi đêm vừa mới sáng, thức dậy đi đến Tapodà để rửa tay chân. Du sĩ Kokanuda thấy Tôn giả Ananda từ xa đi đến, sau khi thấy, nói với Tôn giả Ananda:

− Hiền giả là ai?

− Thưa Hiền giả, tôi là Tỷ-kheo.

− Này Hiền già, thuộc về các Tỷ-kheo nào?

− Là Sa-môn Thích tử.

− Này Hiền giả, Hiền giả chúng tôi muốn hỏi Hiền giả một vài vấn đề.

− Nếu Hiền giả cho tôi cơ hội để trả lời câu hỏi, thì nay Hiền giả, hãy hỏi đi. Sau khi nghe, chúng tôi sẻ được biết.

2. - Thưa Hiền giả, có phải: “Thế giới là thường còn. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng, kiến là như vậy.” Có phải không Hiền giả?

− Thưa Hiền giả, tôi không có kiến như vậy: “Thế giới là thường còn. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng.”

− Vậy có phải: “Thế giới là vô thường. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng”? Kiến là như vậy, có phải không Hiền giả?

− Thưa Hiền giả, tôi không có kiến như vầy: “Thế giới là vô thường, kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng:

− Có phải thưa Hiền giả: “Thế giới là có biên tế… “Thế giới là không biên tế… “Sinh mạng và thân thể là một… “Sinh mạng và thân thể là khác… “Như Lai có tồn tại sau khi chết… “Như Lai không tồn tại sau khi chết… “Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết… “Như Lai không có tồn tại và không tồn tại sau khi chết… Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng”? Kiến là như vậy, có phải không thưa Hiền giả?

− Thưa Hiền giả, tôi không có kiến như vầy: “Như Lai không có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng”.

− Vậy thưa Hiền giả, Hiền giả không biết, Hiền giả không thấy.

− Thưa Hiền giả, không phải tôi không hết, không phải tôi không thấy. Thưa Hiền giả, tôi có biết, tôi có thấy.

3. - Có phải thưa Hiền giả, “Thế giới là thường còn. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng”? Ðược hỏi vậy, Hiền giả nói: “Thưa Hiền giả, tôi không có kiến như vậy: “Thế giới là thường còn. Kiến này là sự thật, kiến nào là khác là hư vọng”. Có phải thưa Hiền giả: “Thế giới là vô thường. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng”? … “Thế giới là có biên tế… Thế giới là vô biên… “Sinh mạng và thân thể là một… Sinh mạng và thân thể là khác… “Như Lai có tồn tại sau khi chết… “Như Lai không có tồn tại sau khi chết… “Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết… “Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng”? Ðược hỏi vậy, Hiền giả nói: “Thưa Hiền giả, tôi không có kiến như vầy: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng””? Vậy thưa Hiền giả: “Hiền giả không biết, Hiền giả không thấy? “Ðược hỏi vậy, Hiền giả nói: “Thưa Hiền giả, không phải tôi không biết, không phải tôi không thấy. Thưa Hiền giả: tôi có biết, tôi có thấy”. Vậy thưa hiền giả, “cần phải hiểu như thế nào, ý nghĩa lời nói này? “

4. - “Thế giới là thường còn. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng”. Thưa Hiền giả, đây là tà kiến. “Thế giới là vô thường. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng”. Thưa Hiền giả, đây là tà kiến. “Thế giới có biên tế… “Thế giới không biên tế… “Sinh mạng và thân thể là một… “Sinh mạng và thân thể là khác… “Như Lai có tồn tại sau khi chết… “Như Lai không có tồn tại sau khi chết… “Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết… “Như Lai có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng”. Thưa Hiền giả, đây là tà kiến. Thưa hiền giả, xa cho đến như vậy là các tà kiến. Xa cho đến như vậy là kiến xứ, kiến trú, kiến triền phược, kiến khởi, kiến diệt, tôi có biết điều ấy, tôi có thấy điều ấy. Do tôi có biết điều ấy, tôi có thấy diều ấy, làm sao tôi lại trả lời : “Tôi không biết, tôi không thấy”! Thưa Hiền giả: “Tôi có biết, tôi có thấy”.

− Hiền giả tên là gì? Và như thế nào các vị đồng Phạm hạnh biết Hiền giả?

− Thưa Hiền giả, Ananda là tên của tôi. Và các vị đồng Phạm hạnh biết tôi là Ananda.

− Ôi tôi đang nói chuyện với Tôn giả Ðại sư, mà tôi không biết là Tôn giả Ananda. Nếu chúng tôi biết là Tôn giả Ananda, tôi đã không nói nhiều như vậy, mong Tôn giả Ananda tha lỗi cho.

AN 10.97 Xứng Đáng Nhận Lễ Vật Cúng Dường Āhuneyyasutta

"Này các Tỷ-kheo, một vị Tỷ-kheo có mười phẩm chất thì xứng đáng được cúng dường (āhuneyya / xứng đáng được cúng dường), xứng đáng được nghênh đón, xứng đáng nhận vật phẩm cúng dường, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng ở đời. Mười phẩm chất ấy là gì?

Đó là khi một vị Tỷ-kheo có giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức), được hộ trì bởi sự thu thúc của giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa (Pātimokkha saṁvarasaṁvuto / được hộ trì bởi sự thu thúc của giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa), có đầy đủ oai nghi và nơi hành xứ thích hợp, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt nhất, chấp nhận và thực hành các học giới.

Vị ấy nghe nhiều, học rộng, ghi nhớ những gì đã nghe, tích lũy những gì đã nghe. Những giáo pháp nào tốt đẹp ở phần đầu, tốt đẹp ở phần giữa, tốt đẹp ở phần cuối, có ý nghĩa và văn cú rõ ràng, trình bày đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch; vị ấy học rộng những giáo pháp như vậy, ghi nhớ chúng, quen thuộc qua lời đọc tụng, quán xét bằng ý, và khéo thông suốt bằng chánh kiến.

Vị ấy có bạn lành, người đồng hành tốt, người thân cận tốt.

Vị ấy có chánh kiến, có được cái thấy đúng đắn.

Vị ấy chứng được các loại thần thông khác nhau: một thân hiện thành nhiều thân, nhiều thân hiện thành một thân; hiện hình, biến mất; đi ngang qua vách, qua tường, qua núi không bị trở ngại như đi qua hư không; độn thổ trồi lên như ở trong nước; đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết già bay giữa hư không như loài chim có cánh; chạm đến và rờ nắn mặt trăng mặt trời với bàn tay, những vật có đại thần lực, đại uy lực như vậy. Vị ấy có thể điều khiển thân mình cho đến cõi Phạm thiên.

Với thiên nhĩ thông (dibbasota / thiên nhĩ thông, tai nghe được âm thanh cõi trời) thanh tịnh, siêu nhân, vị ấy nghe được cả hai loại âm thanh, của chư thiên và của loài người, dù xa hay gần.

Vị ấy biết tâm chúng sinh khác, sau khi đã thấu hiểu chúng bằng tâm của mình. Vị ấy biết tâm có tham là ‘tâm có tham’, tâm không có tham là ‘tâm không có tham’. Vị ấy biết tâm có sân… tâm không có sân … tâm có si … tâm không có si … tâm co rút… tâm tán loạn… tâm quảng đại… tâm không quảng đại… tâm hữu thượng… tâm vô thượng … tâm có định … tâm không có định … tâm giải thoát… Vị ấy biết tâm chưa giải thoát là ‘tâm chưa giải thoát’.

Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, nghĩa là, một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời; nhiều kiếp thế giới hoại, nhiều kiếp thế giới thành, nhiều kiếp thế giới hoại rồi thành. Vị ấy nhớ: ‘Tại nơi đó, ta có tên như thế này, dòng họ như thế kia, hình dáng như thế này, và đó là thức ăn của ta. Đây là cách ta cảm nhận khổ và lạc, và đó là cách đời sống của ta kết thúc. Khi ta mệnh chung từ nơi đó, ta được tái sinh ở một nơi khác. Ở đó, ta cũng có tên như thế này, dòng họ như thế kia, hình dáng như thế này, và đó là thức ăn của ta. Đây là cách ta cảm nhận khổ và lạc, và đó là cách đời sống của ta kết thúc. Khi ta mệnh chung từ nơi đó, ta được tái sinh ở đây.’ Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ của mình, với các tướng trạng và chi tiết.

Với thiên nhãn thôngthanh tịnh, siêu nhân, vị ấy thấy các chúng sinh chết đi và sinh lại — hèn hạ và cao sang, đẹp đẽ và xấu xí, ở cõi lành hay cõi dữ. Vị ấy hiểu rõ chúng sinh tái sinh như thế nào tùy theo nghiệp của họ. ‘Những chúng sinh thân mến này đã làm điều xấu qua thân, khẩu, và ý. Họ phỉ báng các bậc Thánh; họ có tà kiến; và họ đã chọn hành động theo tà kiến đó. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ tái sinh vào cõi khổ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Tuy nhiên, những chúng sinh thân mến này đã làm điều tốt qua thân, khẩu, và ý. Họ không bao giờ phỉ báng các bậc Thánh; họ có chánh kiến; và họ đã chọn hành động theo chánh kiến đó. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ tái sinh vào cõi lành, thiên giới.’ Và như vậy, với thiên nhãn thông thanh tịnh, siêu nhân, vị ấy thấy các chúng sinh chết đi và sinh lại—hèn hạ và cao sang, đẹp đẽ và xấu xí, ở cõi lành hay cõi dữ. Vị ấy hiểu rõ chúng sinh tái sinh như thế nào tùy theo nghiệp của họ.

Vị ấy chứng ngộ tâm giải thoát không còn lậu hoặc và tuệ giải thoát ngay trong đời này. Và vị ấy sống, đã tự mình chứng ngộ với thắng trí do sự đoạn tận các lậu hoặc.

Một vị Tỷ-kheo có mười phẩm chất này thì xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được nghênh đón, xứng đáng nhận vật phẩm cúng dường, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng ở đời."

(VII) (97) Ðáng Ðảnh Lễ

1. - Thành tựu mười pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được đảnh lễ, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời. Thế nào là muời? 2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có giới sống chế ngự với sự chế ngự cửa giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong học pháp.

3. Là vị nghe nhiều, thọ trì điều đã nghe, cất chứa điều đã nghe. Các pháp nào sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, tán thán đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh, các pháp như vậy nghe hiểu, được thọ trì, được tụng đọc bằng lời, được quán sát với ý, được khéo thể nhập với chánh kiến.

4. Là người bạn với thiện, là thân hữu với thiện thiết với thiện.

5. Có chánh kiến, thành tựu chánh tri kiến.

6. Chứng được nhiều loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình, biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi, như đi ngang qua hư không; độn thổ, trồi lên qua đất liền như ở trong nước; đi trong nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết già du hành trên hư không như con chim; với bàn tay chạm rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy, có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên.

7. Có thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân, có thể nghe hai loại tiếng chư thiên và Loài Người, xa và gần.

8. Sau khi đi sâu vào tâm của chúng sanh, của lời Người với tâm của mình, vị ấy được biết như sau: “Tâm có tham biết là tâm có tham; tâm không tham biết là tâm không tham.” “Tâm có sân biết là tâm có sân; tâm không sân biết là tâm không sân.” “Tâm có si biết là tâm có si; tâm không si biết biết là tâm không si.” “Tâm chuyên chú biết là tâm chuyên chú; tâm tán loạn biết là tâm tán loạn; “Ðại hành tâm biết là đại hành tâm, không phải đạt hành tâm, biết là không phải đại hành tâm.” “tâm chưa vô thượng biết là tâm vô thượng.” “Tâm Thiền định biết là tâm không Thiền định.” “Tâm giải thoát biết là tâm tâm giải thoát; tâm không giải thoát biết là tâm không giải thoát.”

9. Vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều loại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, đồ ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh tại chỗ nạo. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, đồ ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ở đây”. Như vậy, ta nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.

10. Vị ấy với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, biết trí tuệ về sanh tử của chúng sanh, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Này các Hiền giả, những vị này, làm những ác hạnh về thân, ngữ và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những vị này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Hiền giả, còn những chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, ngữ và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy, vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sang, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ.

11. Do đoạn tận các lậu hoặc, vị ấy ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ chứng đạt, và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, thành tựu mười pháp này vị Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được đảnh lễ, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời.

AN 10.98 Một Vị Tỷ-kheo Trưởng Lão Therasutta

"Này các Tỷ-kheo, một vị Tỷ-kheo trưởng lão có mười phẩm chất thì sống thoải mái ở bất cứ vùng nào vị ấy ở. Mười phẩm chất ấy là gì?

Vị ấy là trưởng lão, có tuổi hạ cao, xuất gia đã lâu.

Vị ấy có giới đức, được hộ trì bởi sự thu thúc của giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa, có đầy đủ oai nghi và nơi hành xứ thích hợp, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt nhất, chấp nhận và thực hành các học giới.

Vị ấy nghe nhiều, học rộng, ghi nhớ những gì đã nghe, tích lũy những gì đã nghe. Những giáo pháp nào tốt đẹp ở phần đầu, tốt đẹp ở phần giữa, tốt đẹp ở phần cuối, có ý nghĩa và văn cú rõ ràng, trình bày đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch; vị ấy học rộng những giáo pháp như vậy, ghi nhớ chúng, quen thuộc qua lời đọc tụng, quán xét bằng ý, và khéo thông suốt bằng chánh kiến.

Cả hai bộ giới Pātimokkha đã được truyền trao đầy đủ cho vị ấy, được phân tích kỹ lưỡng , được thực hành thuần thục, được quyết đoán rõ ràng từng điều khoản và chi tiết.

Vị ấy có khả năng giải quyết các vấn đề kỷ luật đã phát sinh .

Vị ấy yêu thích giáo pháp, nói lời dễ mến, có niềm vui lớn trong Thắng pháp và Luật.

Vị ấy biết đủ với bất kỳ loại y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men vật dụng cho người bệnh nào.

Vị ấy có oai nghi khi đi tới và lui, và khi ngồi trong nhà dân thì thu thúc các căn.

Vị ấy chứng được bốn tầng thiền—là sự trú thoải mái ngay trong hiện tại, thuộc về tâm cao thượng—muốn là được, không khó khăn, không mệt nhọc.

Vị ấy chứng ngộ tâm giải thoát không còn lậu hoặc và tuệ giải thoát ngay trong đời này. Và vị ấy sống, đã tự mình chứng ngộ với thắng trí do sự đoạn tận các lậu hoặc.

Một vị Tỷ-kheo trưởng lão có mười phẩm chất này thì sống thoải mái ở bất cứ vùng nào vị ấy ở."

(VIII) (98) Vị Trưởng Lão

1. Thành tựu mười pháp này, này các Tỷ-kheo, vị trưởng lão tại địa phương bài vị ấy trú, vị ấy trú an ổn. Thế nào là mười?

2. Vị trưởng lão đã lâu ngày được biết đến, xuất gia đã lâu ngày có giới… chấp nhận và học hỏi trong các học pháp; là vị nghe nhiều… khéo thể nhập với chánh kiến; cả hai giới bổn Pàtimokkha được khéo truyền đạt một cách rộng rãi, được khéo phân tích, khéo thông hiểu, khéo quốc doanh theo kinh, theo chi tiết, vị ấy thiện xảo trong sự sanh khởi và chấm dứt các tránh sự, ưa thích pháp; dùng lời ái ngữ, hết sức hân hoan trong thắng pháp, thắng luật; biết đủ với bất cứ vật dụng nào nhận được như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh; dễ mến, khéo chế ngự trong khi đi tới đi lui, khi ngồi trong nhà; chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức bốn Thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú; do đoạn diệt các lậu hoặc, vị ấy ngay trong hiện tại, với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

Thành tựu mười pháp này, các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trưởng lão trú tại địa phương nào, tại địa phương nào, sống được an ổn.

AN 10.99 Với Upāli Upālisutta

Bấy giờ, Tôn giả Upāli đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và nói với Ngài: “Bạch Thế Tôn, con muốn thường xuyên lui tới những trú xứ xa xôi hẻo lánh trong rừng núi.”

"Upāli, những trú xứ xa xôi hẻo lánh trong rừng núi rất thử thách. Khó để duy trì sự độc cư (seclusion / sống một mình, xa lánh) và khó tìm thấy niềm vui trong đó. Sống một mình, rừng núi dường như cướp đi tâm trí của một vị Tỳ-khưu không nhập định. Nếu ai đó nói rằng: ‘Mặc dù ta không có định, ta sẽ thường xuyên lui tới những trú xứ xa xôi hẻo lánh trong rừng núi.’ Con có thể đoán rằng họ sẽ chìm xuống hoặc trôi giạt (ý nói thất bại trong tu tập).

Giả sử có một hồ nước lớn, và một con voi đực cao bảy hoặc tám thước tay đi tới. Nó sẽ nghĩ: ‘Sao mình không lao xuống hồ này và nô đùa trong khi rửa tai và lưng? Sau khi tắm và uống nước xong, mình sẽ lên khỏi mặt nước và đi bất cứ đâu mình muốn.’ Và nó đã làm đúng như vậy. Tại sao vậy? Bởi vì thân hình to lớn của nó chạm được đáy sâu.

Rồi một con thỏ hoặc một con mèo đi tới. Chúng sẽ nghĩ: ‘Có gì khác biệt giữa ta và một con voi đực đâu? Sao mình không lao xuống hồ này và nô đùa trong khi rửa tai và lưng? Sau khi tắm và uống nước xong, mình sẽ lên khỏi mặt nước và đi bất cứ đâu mình muốn.’ Chúng nhảy xuống hồ một cách hấp tấp, không suy nghĩ. Con có thể đoán rằng chúng sẽ chìm xuống hoặc trôi giạt. Tại sao vậy? Bởi vì thân hình nhỏ bé của chúng không chạm được đáy sâu. Nếu ai đó nói rằng: ‘Mặc dù ta không có định, ta sẽ thường xuyên lui tới những trú xứ xa xôi hẻo lánh trong rừng núi.’ Con có thể đoán rằng họ sẽ chìm xuống hoặc trôi giạt.

Giả sử có một cậu bé đang chơi đùa trong nước tiểu và phân của chính mình. Con nghĩ sao, Upāli? Đó có phải là một trò chơi hoàn toàn ngu ngốc không?"

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

“Sau một thời gian, cậu bé đó lớn lên và các giác quan của nó trưởng thành. Nó theo đó chơi những trò chơi trẻ con như đồ chơi cày, đánh khăng, nhào lộn, chong chóng, đồ chơi đo lường, xe đồ chơi, và cung đồ chơi. Con nghĩ sao, Upāli? Những trò chơi như vậy có tốt hơn những gì nó đã làm trước đây không?”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

“Sau một thời gian, cậu bé đó lớn lên và các giác quan của nó trưởng thành hơn nữa. Nó theo đó tự giải trí, được cung cấp và trang bị năm loại kích thích giác quan (five kinds of sensual stimulation / ngũ dục, năm đối tượng của ham muốn giác quan: sắc, thanh, hương, vị, xúc). Những hình ảnh được nhận biết bởi mắt, đáng ưa thích, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan và khêu gợi. Những âm thanh được nhận biết bởi tai … Những mùi hương được nhận biết bởi mũi … Những vị được nhận biết bởi lưỡi … Những xúc chạm được nhận biết bởi thân, đáng ưa thích, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan và khêu gợi. Con nghĩ sao, Upāli? Những trò chơi như vậy có tốt hơn những gì nó đã làm trước đây không?”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

"Nhưng rồi một Như Lai xuất hiện trên thế gian, bậc A-la-hán, một vị Phật Chánh Đẳng Chánh Giác, bậc Minh Hạnh Túc, bậc Thiện Thệ, bậc Thế Gian Giải, bậc Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, bậc Thiên Nhân Sư, bậc Giác Ngộ, bậc Thế Tôn. Ngài đã tự mình chứng ngộ thế giới này—với chư thiên, Ma vương, và các vị trời, chúng sinh này với các Sa-môn và Bà-la-môn, chư thiên và loài người—và Ngài làm cho người khác biết đến. Ngài tuyên thuyết một giáo lý thiện ở đoạn đầu, thiện ở đoạn giữa, và thiện ở đoạn cuối, có ý nghĩa và văn cú rõ ràng. Và Ngài tiết lộ một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và trong sạch.

Một gia chủ nghe giáo lý đó, hoặc con của một gia chủ, hoặc một người tái sinh trong một gia đình tốt. Họ có niềm tin nơi Như Lai và suy ngẫm: ‘Đời sống tại gia thì chật chội, đầy bụi bặm, còn đời sống xuất gia thì rộng rãi. Không dễ cho người sống tại gia để sống đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và trong sạch, như vỏ ốc được đánh bóng. Sao ta không cạo bỏ râu tóc, mặc y phấn tảo (y màu vàng đất), và xuất gia từ đời sống tại gia để sống không nhà?’

Sau một thời gian, họ từ bỏ một tài sản lớn hay nhỏ, và một gia đình lớn hay nhỏ. Họ cạo bỏ râu tóc, mặc y phấn tảo, và xuất gia từ đời sống tại gia để sống không nhà.

Sau khi đã xuất gia, họ thực hành sự học tập và đời sống của các Tỳ-khưu. Họ từ bỏ sát sinh, từ bỏ gậy và kiếm (tượng trưng cho bạo lực). Họ có lòng xấu hổ (scrupulous / hirī, sự hổ thẹn tội lỗi) và nhân từ, sống đầy lòng trắc ẩn đối với tất cả chúng sinh.

Họ từ bỏ trộm cắp. Họ chỉ lấy những gì được cho, và chỉ mong đợi những gì được cho. Họ giữ mình trong sạch bằng cách không trộm cắp.

Họ từ bỏ phi phạm hạnh (unchastity / hành vi không trong sạch). Họ sống phạm hạnh, tách biệt, tránh xa hành vi tình dục thấp kém.

Họ từ bỏ nói dối. Họ nói sự thật và giữ vững sự thật. Họ trung thực và đáng tin cậy, và không lừa dối thế gian bằng lời nói của mình.

Họ từ bỏ lời nói chia rẽ. Họ không lặp lại ở một nơi những gì họ nghe ở nơi khác để chia rẽ mọi người với nhau. Thay vào đó, họ hòa giải những người bị chia rẽ, ủng hộ sự đoàn kết, vui thích trong sự hòa hợp, yêu mến sự hòa hợp, nói những lời thúc đẩy sự hòa hợp.

Họ từ bỏ lời nói thô ác. Họ nói một cách dịu dàng, dễ nghe, đáng yêu, đi vào lòng người, lịch sự, dễ mến và dễ chịu đối với mọi người.

Họ từ bỏ lời nói vô nghĩa. Lời nói của họ hợp thời, đúng sự thật, và có ý nghĩa, phù hợp với giáo pháp và luật. Họ nói những điều vào đúng thời điểm, có giá trị, hợp lý, ngắn gọn, và lợi ích.

Họ không làm hại cây cỏ và hạt giống. Họ ăn một bữa mỗi ngày, không ăn vào ban đêm và vào thời điểm không thích hợp. Họ không xem các buổi trình diễn múa, hát, và âm nhạc. Họ không trang điểm và tô điểm bản thân bằng vòng hoa, hương thơm, và phấn sáp. Họ không dùng giường cao và sang trọng. Họ không nhận vàng bạc, ngũ cốc sống, thịt sống, phụ nữ và các cô gái, nô tỳ nam nữ, dê và cừu, gà và lợn, voi, bò, ngựa đực và ngựa cái, ruộng đất. Họ không chạy việc và đưa tin; mua bán; gian lận trong cân, kim loại, hoặc đo lường; hối lộ, gian trá, lừa đảo, và hai mặt; cắt xẻo, giết người, bắt cóc, cướp bóc, trộm cắp, và bạo lực.

Họ biết đủ với y phục để che thân và vật thực khất thực để nuôi bụng. Bất cứ nơi nào họ đi, họ chỉ mang theo những thứ này. Họ giống như một con chim: bất cứ nơi nào nó bay, đôi cánh là gánh nặng duy nhất của nó. Cũng vậy, một vị Tỳ-khưu biết đủ với y phục để che thân và vật thực khất thực để nuôi bụng. Bất cứ nơi nào họ đi, họ chỉ mang theo những thứ này. Khi họ có toàn bộ phạm vi thánh giới (noble ethics / giới hạnh cao thượng) này, họ trải nghiệm một niềm hạnh phúc không bị chê trách bên trong mình.

Khi họ thấy một hình ảnh bằng mắt, họ không bị cuốn vào tướng chung và tướng riêng (features and details / các đặc điểm tổng quát và chi tiết của đối tượng). Nếu nhãn căn (faculty of sight / giác quan mắt) không được kiểm soát, những phẩm chất bất thiện xấu xa của tham ái và ưu phiền (covetousness and displeasure / sự thèm muốn và không hài lòng) sẽ trở nên áp đảo. Vì lý do này, họ thực hành sự thu thúc, bảo vệ nhãn căn, và đạt được sự thu thúc đối với nó. Khi họ nghe một âm thanh bằng tai … Khi họ ngửi một mùi hương bằng mũi … Khi họ nếm một vị bằng lưỡi … Khi họ cảm thấy một xúc chạm bằng thân … Khi họ biết một ý niệm bằng tâm, họ không bị cuốn vào tướng chung và tướng riêng. Nếu tâm căn không được kiểm soát, những phẩm chất bất thiện xấu xa của tham ái và ưu phiền sẽ trở nên áp đảo. Vì lý do này, họ thực hành sự thu thúc, bảo vệ tâm căn, và đạt được sự thu thúc đối với nó. Khi họ có sự thu thúc các giác quan cao thượng (noble sense restraint / sự kiểm soát các giác quan một cách cao thượng) này, họ trải nghiệm một niềm vui không bị ô nhiễm bên trong mình.

Họ hành động với tỉnh giác (situational awareness / sự nhận biết rõ ràng trong mọi hành động) khi đi ra và đi vào; khi nhìn về phía trước và sang bên; khi co và duỗi chân tay; khi mang y bát; khi ăn, uống, nhai, và nếm; khi đi tiểu và đại tiện; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, và giữ im lặng.

Khi họ có toàn bộ phạm vi thánh giới này, sự thu thúc các giác quan cao thượng này, và sự chánh niệm (mindfulness / sự chú tâm, tỉnh giác) và tỉnh giác cao thượng này, họ lui tới một trú xứ hẻo lánh—một khu rừng hoang, gốc cây, ngọn đồi, khe núi, hang núi, nghĩa địa, khu rừng, ngoài trời, đống rơm. Đến một khu rừng hoang, hoặc gốc cây, hoặc một túp lều trống, họ ngồi xuống xếp bằng, giữ thân thẳng, và thiết lập chánh niệm trước mặt.

Từ bỏ tham ái (covetousness / sự thèm muốn) đối với thế gian, họ thiền định với một trái tim thoát khỏi tham ái, thanh lọc tâm khỏi tham ái. Từ bỏ tức giận (ill will / sân hận) và ác ý, họ thiền định với một tâm thoát khỏi tức giận, đầy lòng trắc ẩn đối với tất cả chúng sinh, thanh lọc tâm khỏi tức giận. Từ bỏ tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ (dullness and drowsiness / hôn trầm và thụy miên), họ thiền định với một tâm thoát khỏi tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ, quán tưởng ánh sáng (perceiving light / nhận biết ánh sáng, một phương pháp đối trị hôn trầm thụy miên), tỉnh thức và nhận biết, thanh lọc tâm khỏi tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ. Từ bỏ tâm bất an và hối tiếc (restlessness and remorse / trạo cử và hối quá), họ thiền định không bồn chồn, tâm họ bình yên bên trong, thanh lọc tâm khỏi tâm bất an và hối tiếc. Từ bỏ nghi (doubt / sự hoài nghi, không chắc chắn), họ thiền định đã vượt qua nghi, không do dự về các phẩm chất thiện, thanh lọc tâm khỏi nghi.

Họ từ bỏ năm triền cái này, những ô nhiễm của tâm làm suy yếu trí tuệ. Rồi, hoàn toàn ly dục, ly các pháp bất thiện, họ nhập và trú trong sơ thiền (first absorption / tầng thiền thứ nhất), có niềm vui (rapture / hỷ) và an ổn (bliss / lạc) sinh ra từ sự ly dục, trong khi có tầm có tứ (placing the mind and keeping it connected / chủ động hướng ý nghĩ đến đối tượng và giữ sự quan sát đối tượng đó).

Con nghĩ sao, Upāli? Trạng thái này có tốt hơn những gì họ đã có trước đây không?"

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

"Khi các đệ tử của Ta thấy phẩm chất này bên trong mình, họ thường xuyên lui tới những trú xứ xa xôi hẻo lánh trong rừng núi. Nhưng cho đến nay họ vẫn chưa đạt được mục tiêu của mình.

Hơn nữa, khi tầm và tứ lắng dịu, một vị Tỳ-khưu nhập và trú trong nhị thiền (second absorption / tầng thiền thứ hai), có niềm vui và an ổn sinh ra từ định, với nội tĩnh nhất tâm (internal clarity and mind at one / sự trong sáng bên trong và tâm hợp nhất), không tầm không tứ (without placing the mind or keeping it connected/ không có sự hướng ý nghĩ đến đối tượng nào hay duy trì sự quan sát đối tượng nào). Con nghĩ sao, Upāli? Trạng thái này có tốt hơn những gì họ đã có trước đây không?"

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

"Khi các đệ tử của Ta thấy phẩm chất này bên trong mình, họ thường xuyên lui tới những trú xứ xa xôi hẻo lánh trong rừng núi. Nhưng cho đến nay họ vẫn chưa đạt được mục tiêu của mình.

Hơn nữa, với sự phai nhạt của niềm vui, một vị Tỳ-khưu nhập và trú trong tam thiền (third absorption / tầng thiền thứ ba). Họ thiền định với xả (equanimity / trạng thái quân bình của tâm, không vui không buồn), tỉnh thức và nhận biết, tự mình cảm nhận sự an ổn mà các bậc Thánh tuyên bố: ‘Với tâm xả và tỉnh thức, người ấy trú trong an ổn.’ Con nghĩ sao, Upāli? Trạng thái này có tốt hơn những gì họ đã có trước đây không?"

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

"Khi các đệ tử của Ta thấy phẩm chất này bên trong mình, họ thường xuyên lui tới những trú xứ xa xôi hẻo lánh trong rừng núi. Nhưng cho đến nay họ vẫn chưa đạt được mục tiêu của mình.

Hơn nữa, từ bỏ lạc và khổ, và chấm dứt hỷ và ưu trước đây, một vị Tỳ-khưu nhập và trú trong tứ thiền (fourth absorption / tầng thiền thứ tư), không khổ không lạc, với xả niệm thanh tịnh (pure equanimity and mindfulness / tâm xả và tỉnh thức hoàn toàn trong sạch). …" …

“Hơn nữa, hoàn toàn vượt qua nhận thức (perceptions / tưởng, nhận biết-phân biệt và gắn nhãn) về hình sắc, với sự chấm dứt nhận thức về sự đối ngại, không tập trung vào nhận thức về sự đa dạng, nhận biết rằng ‘không gian là vô biên’, một vị Tỳ-khưu nhập và trú trong Không Vô Biên Xứ (dimension of infinite space / cõi thiền định nơi không gian là vô biên). Con nghĩ sao, Upāli? Trạng thái này có tốt hơn những gì họ đã có trước đây không?”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

"Khi các đệ tử của Ta thấy phẩm chất này bên trong mình, họ thường xuyên lui tới những trú xứ xa xôi hẻo lánh trong rừng núi. Nhưng cho đến nay họ vẫn chưa đạt được mục tiêu của mình.

Hơn nữa, hoàn toàn vượt qua Không Vô Biên Xứ, nhận biết rằng ‘thức là vô biên’, một vị Tỳ-khưu nhập và trú trong Thức Vô Biên Xứ (dimension of infinite consciousness / cõi thiền định nơi thức là vô biên). …" …

“Hoàn toàn vượt qua Thức Vô Biên Xứ, nhận biết rằng ‘không có gì cả’, họ nhập và trú trong Vô Sở Hữu Xứ (dimension of nothingness / cõi thiền định nơi không có gì cả). …” …

“Hoàn toàn vượt qua Vô Sở Hữu Xứ, nhận biết rằng ‘đây là thanh tịnh, đây là cao thượng’, họ nhập và trú trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ (dimension of neither perception nor non-perception / cõi thiền định nơi nhận thức không phải có cũng không phải không). Con nghĩ sao, Upāli? Trạng thái này có tốt hơn những gì họ đã có trước đây không?”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

"Khi các đệ tử của Ta thấy phẩm chất này bên trong mình, họ thường xuyên lui tới những trú xứ xa xôi hẻo lánh trong rừng núi. Nhưng cho đến nay họ vẫn chưa đạt được mục tiêu của mình.

Hơn nữa, hoàn toàn vượt qua Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, họ nhập và trú trong Diệt Thọ Tưởng Định (cessation of perception and feeling / trạng thái thiền định nơi nhận thức và cảm thọ đều chấm dứt). Và, sau khi thấy bằng trí tuệ, các lậu hoặc của họ chấm dứt.

Con nghĩ sao, Upāli? Trạng thái này có tốt hơn những gì họ đã có trước đây không?"

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

“Khi các đệ tử của Ta thấy phẩm chất này bên trong mình, họ thường xuyên lui tới những trú xứ xa xôi hẻo lánh trong rừng núi. Và họ đã đạt được mục tiêu của mình. Thôi nào, Upāli, hãy ở lại với Tăng đoàn. Nếu con ở lại với Tăng đoàn, con sẽ được thoải mái.”

(IX) (99) Upàli

1. Bấy giờ có Tôn gia Upàli đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Upàli bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, con muốn sống trong rừng núi cao nguyên, tại các trú xứ xa vắng.

2. Này Upàli, không dễ dàng là sống tại các rừng núi cao nguyên, các trú xứ xa vắng, kk1 là đời sống viễn ly, khó ưa thích là đời sống độc cư. Ta nghĩ rằng: “Các ngôi rừng làm loạn ý Tỷ-kheo chưa được Thiền định, tôi sẽ sống tại các rừng núi cao nguyên, tại các trú xứ xa vắng”, thời người ấy được chờ đợi như sau: “Vị ấy sẽ chìm xuống (đáy) hay nổi lên (mặt nước)”.

3. Ví như, này Upàli, một hồ nước lớn, có con voi lớn đi đến, bảy thước hay tám thước cao. Con voi ấy suy nghĩ: “Ta hãy lặn vào hồ nước này, rồi chơi trò chơi rửa tai, rồi chơi trò chơi rửa lưng; sau khi chơi trò rửa tai, sau khi chơi trò chơi rửa lưng, sau khi tắm, sau khi uống nước, sau khi từ hồ bước lên, ta đi chỗ nào ta muốn”. Rồi con voi ấy lặn vào hồ nước ấy, có thể chơi trò chơi rửa tai, có thể chơi trò chơi rửa lưng, sau khi chơi trò chơi rửa tai, sau khi chơi trò rửa lưng, sau khi tắm, sau khi uống nước, sau khi từ hồ bước lên, nó đi chỗ nào nó muốn. VÌ sao? Vì tự ngã to lớn tìm được chân đứng trong chỗ nước. Rồi có con thỏ hay con mèo đến, nó suy nghĩ: “Ta là ai, con voi lớn là ai? Vậy ta sau khi lặn xuống hồ nước này, có thể chơi trò chơi rửa tai, có thể chơi trò chơi rửa lưng; sau khi chơi trò chơi rửa tai, sau khi chơi trò chơi rửa lưng, sau khi tắm, sau khi uống nước, sau khi từ hồ bước lên, ta sẽ đi chỗ nào ta muốn”. Rồi con voi ấy lặn vào hồ nước ấy, có thể chơi trò chơi rửa tai, sau khi chơi trò chơi rửa lưng, sau khi tắm, sau khi uống nước, sau khi từ hồ bước lên, nó đi chỗ nào nó muốn. Vì sao? Vì tự ngã to lớn tìm được chân đứng trong chỗ nước. Rồi có con thỏ hay con mèo đến, nó suy nghĩ: “Ta là ai, con voi lớn là ai? Vậy ta sau khi lặn xuống hồ nước này, có thể chơi trò chơi rửa tai, có thể chơi trò chơi rửa lưng; sau khi chơi trò chơi rửa tai, sau khi chơi trò chơi rửa lưng, sau khi tắm, sau khi uống nước, sau khi từ hồ bước lên, ta sẽ đi chỗ nào ta muốn”. Rồi nó nhảy vào hồ nước ấy lập tức, không có tính toán. Với nó, được chờ đợi rằng: “Nó sẽ chìm hay nổi trên mặt nước” Vì sao? Này Upàli, vì tự ngã nhỏ bé không tìm được chân đứng trong nước sâu. Cũng vậy, này Upàli, ai nói rằng: “Dầu tôi không được định, tôi sẽ sống trong các rừng núi cao nguyên, tại các trú xứ xa vắng: “. Với vị ấy, được chờ đợi rằng: “Nó sẽ chìm xuống hay nổi trên mặt nước”.

4. Ví như: này Upàli, một đứa trẻ, còn nhỏ, còn yếu, nằm ngửa, chơi với phân và nước tiểu của mình. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli, trò chơi con nít này có thiệt là toàn diện đầy đủ không?

− Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.

− Này Upàli, đứa con nít ấy, sau một thời gian, sau khi lớn lên, sau khi các căn được thuần thục, có được các đồ chơi của những con nít, như trẻ con chơi, khăng, chơi nhảy lộn nhào, chơi chong chóng, chơi với đồ đong bằng lá, chơi xe con, chơi cung nhỏ, và nó chơi với những đồ chơi ấy. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli, trò chơi này so sánh với trò chơi trước, có đi đến thù diệu hơn, thù thắng hơn?

− Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.

− Rồi này Upàli, đứa trẻ ấy, sau một thời gian, sau khi lớn lên, sau khi các cắn được thuần thục, thọ hưởng đầy đủ năm món dục lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, kích thúc lòng dục, hấp dẫn, với các tiếng do tai nhận thức… với các hương do mũi nhận thức… với các vị do lưởi nhận thức… với các xúc do thân cảm giác, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, kích thích lòng dục, hấp dẫn. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli, trò chơi này, so sánh với các trò chơi trước có thù diệu hơn, thù thắng hơn không?

− Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.

5. Ở đây, này Upàli, Như Lai xuất hiện ở đồi, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi tự chứng ngộ với thắng trí, tuyên bố cho biết về thế giới này, các chư Thiên, các ma, các Phạm thiên, với chúng Sa-Môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, nêu rõ phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Người gia chủ, hay con người gia chủ hay một người tái sanh trong một gia đình khác nghe Pháp ấy, sau khi nghe Pháp, vị ấy sanh lòng tin vào Như Lai. Vị ấy thành tựu với lòng tin ấy, suy xét như sau: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời, đời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho một người sống ở giai đoạn có thể sống theo phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy xuất gia như vậy, thọ lãnh đầy đủ sự học tập và nếp sống của các Tỷ-kheo. Sau khi đoạn tận sát sanh, sống từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Sau khí đoạn tận lấy của không cho, vị ấy sống từ bỏ lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự mình sống thanh tịnh không có trộm cướp. Sau khi đoạn tận không Phạm hạnh, vị ấy sống Phạm hạnh, sống đời sống viễn ly, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Sau khi đoạn tận nói láo, vị ất sống từ bỏ nói láo, nói lời chơn thật, nói lời liên hệ đến chân thật, vững chắc đáng tin cậy, không lường gạt lời hứa đối với đời. Sau khi đoạn tận nói hai lưỡi, vị ấy sống từ bỏ nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đi nói đến chỗ kia để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy, vị ấy sống kết hợp những kẻ bị chia rẽ, tăng trưởng những kẻ đã hòa hợp, ưa thích hòa hợp, thích thú hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp. Sau khi đoạn tận lời nói độc ác, vị ấy sống từ bỏ lời nói độc ác; những lời nói không lỗi lầm, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, thích ý nhiều người, vị ấy nói những lời như vậy. Sau khi đoạn tận nói lời phù phiếm, vị ấy sống từ bỏ nói lời phù phiếm, nói lời đúng thời, nói lời chân thật, nói lời có ý nghĩa, nói lời về Chánh pháp, nói lời về Luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời thuận lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi. Vị ấy sống từ bỏ làm hại các hột giống và các loại cây cỏ; dùng mỗi ngày một bữa, từ bỏ ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời; từ bỏ đi xem múa, hát, nhạc, diễn kịch, từ bỏ trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dâu thoa và các thời trang, từ bỏ dùng giường cao và giường lớn, từ bỏ nhận vàng và bạc, từ bỏ nhận các hạt sống, từ bỏ nhận thịt sống, từ bỏ nhận đàn bà, con gái; từ bỏ nhận nô tỳ gái và trai; từ bỏ nhận cừu và dê; từ bỏ nhận gia cầm và heo; từ bỏ nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái; từ bỏ nhận ruộng nương đất đai; từ bỏ việc phái người làm môi giới, hoặc tự mình làm môi giới, từ bỏ buôn bán; từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường; từ bỏ các tà hạnh, như hối lộ, gian trá, lừa đảo; từ bỏ làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bứt đoạt, trộm cắp, cướp phá. Vị ấy, biết đủ, bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi đến chỗ nào cũng mang theo. Cũng như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh; cũng vậy, vị ấy bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi đến chỗ nào cũng mang theo. Vị ấy thành tựu với thành tựu giới uẩn này, nội tâm cảm thọ sự an lạc không có phạm lỗi.

6. Vị ấy, khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng rei6ng. những nguyên nhân gì, vì nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khỏi lên, vị ấy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thật hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thật hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy thành tựu Thánh hộ trì các căn này, nên hưởng lạc thọ nội tâm, không có xen lẫn.

7. Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay; khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai nuốt đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác. Vị ấy thành tựu với Thánh giới uẩn này, thành tựu với Thánh hộ trì các căn này, thành tựu với Thánh chánh niệm tỉnh giác này, chọn một trú xứ thanh vắng như rừng, gốc cây, khe đá, hang đá, bãi tha ma, khu rừng xa vắng, ngoài trời, đống rơm. Vị ấy đi đến rừng hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, ngồi kiết-già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy, sau khi đoạn tận tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm khỏi tham ái. Sau khi đoạn tận sân, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Sau khi đoạn tận hôn trầm thụy miên, sống với tâm thoát ly hồn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, vị ấy gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Sau khi đoạn tận trạo hối, sống không trạo hối, với nội tâm trầm lặng, vị ấy gột rửa hết tâm trạo cử hối tiếc. Sau khi đoạn tận nghi ngờ, vị ấy sống thoát ly nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.

8. Vị ấy sau khi đoạn tận năm triền cái này, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm hèn yếu trí tuệ, ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Vì sao, này Upàli, có phải sự an trú này, sánh với các an trú trước, được thù diệu hơn, thù thắng hơn?

− Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.

− Này Upàli, các đệ tử của Ta, thấy được Pháp này trong tự ngã, sống tại các rừng núi cao nguyên, các trú xứ xa vắng, cho đến khi mục đích của mình chưa đạt, thời họ vẫn trú (tại các chỗ ấy), (hay như mục đích của mình chưa đạt, tức là định chưa đạt; thời không sống trong rừng núi cao nguyên tại các trú xứ xa vắng).

9. Lại nữa, này Upàli, Tỷ-kheo làm cho tịnh chỉ tầm và tứ… chứng đạt và an trú Thiền thứ hai. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli, có phải sự an trú này, sánh với những an trú trước, được thù diệu hơn, được thù thắng hơn?

− Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.

− Này Upàli, các đệ từ của Ta, khi quán thấy Pháp này trên tự ngã, họ mới đến ở các rừng núi cao nguyên, các trú xứ xa vắng. Họ sẽ không trú nếu mục đích của mình chưa đạt được.

10. Lại nữa, này Upàli, Tỷ-kheo ly hỷ… chứng và trú Thiền thứ ba. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli, có phải sự an trú này, sánh với những an trú trước, được thù diệu hơn, được thù thắng hơn?

− Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.

− Này Upàli, các đệ từ của Ta, khi quán thấy Pháp này trên tự ngã, họ mới đến ở các rừng núi, cao nguyên, các trú xứ xa vắng. Họ sẽ không trú nếu mục đích của mình chưa đạt được.

11. Lại nữa, này Upàli, Tỷ-kheo đoạn lạc… chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli… chưa đạt được…? …

12. Lại nữa, này Upàli, Tỷ-kheo vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt các tưởng đối ngại, không tác ý đến các tưởng sai biệt, nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng đạt và an trú Không vô biên xứ. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli…? … mục đích của mình chưa đạt được.

13. Lại nữa, này Upàli, Tỷ-kheo vượt qua một cách hoàn toàn Không vô biên xứ, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli…? … mục đích của mình chưa đạt được.

Lại nữa, này Upàli, Tỷ-kheo vượt qua một cách hoàn toàn Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có sở hữu”, chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứù. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli…? … mục đích của mình chưa đạt được.

Lại nữa, này Upàli, Tỷ-kheo vượt qua một cách hoàn toàn Vô sở hữu xứ, nghĩ rằng: “Ðây là tịch tịnh, đây là thù diệu”, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli, có phải sự an trú này sanh với các an trú trước, được thù diệu hơn, được thù thắng hơn?

− Thưa có vậy, bạch Thế Tôn… mục đích của mình chưa đạt được.

14. Lại nữa, này Upàli, Tỷ-kheo sau khi vượt qua một cách hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định, vị ấy sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn tận. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli, có phải sự an trú này sánh với các an trú trước, được thù diệu hơn, được thù thắng hơn?

− Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.

− Này Upàli, các đệ tử của Ta, sau khi quán thấy Pháp này trên tự ngã đã đến ở trong các rừng núi cao nguyên, tại các trú xứ xa vắng, họ không trú nếu mục đích của mình chưa đạt được.

Vậy này Upàli, Thầy hãy sống giữa chúng Tăng. Sống giữa chúng Tăng, Thầy sẽ được an ổn.

AN 10.100 Không Thể Abhabbasutta

"Này các Tỳ-khưu, không từ bỏ mười điều, các ông không thể chứng đắc A-la-hán quả (perfection / sự hoàn thiện, trạng thái giải thoát cuối cùng). Mười điều nào? Tham lam (greed / lòng ham muốn), tức giận (hate / sân hận), si mê (delusion / sự mê mờ, không sáng suốt), phẫn nộ (anger / sự giận dữ), hiềm hận (acrimony / sự cay nghiệt, oán giận), gièm pha (disdain / sự khinh miệt, coi thường), khinh thường (contempt / sự coi rẻ), ganh tỵ (jealousy / sự đố kỵ), keo kiệt (stinginess / sự bủn xỉn), và kiêu mạn (conceit / sự tự cao tự đại). Không từ bỏ mười điều này, các ông không thể chứng đắc A-la-hán quả.

Sau khi từ bỏ mười điều, các ông có thể chứng đắc A-la-hán quả. Mười điều nào? Tham lam, tức giận, si mê, phẫn nộ, hiềm hận, gièm pha, khinh thường, ganh tỵ, keo kiệt, và kiêu mạn. Sau khi từ bỏ mười điều này, các ông có thể chứng đắc A-la-hán quả."

(X) (100) Không Thể Tăng Trưởng

1. Này các Tỷ-kheo, không đoạn tận mười pháp này, không có thể chứng ngộ quả A-la-hán. Thế nào là mười?

2. Tham, sân, si, phẫn nộ, hiềm hận, gièm pha, não hại, tật đố, xan tham, mạn. Không đoạn tận mười pháp này, này các Tỷ-kheo, không có thể chứng ngộ quả A-la-hán.

3. Ðoạn tận mười pháp này, này các Tỷ-kheo, có thể chứng ngộ quả A-la-hán. Thế nào là mười?

4. Tham, sân, si, phẫn nộ, hiềm hận, gièm pha, não hại, tật đố, xan tham, mạn.

Ðoạn tận mười pháp này, này các Tỷ-kheo, có thể chứng ngộ quả A-la-hán.