Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về Nghi Lễ Paccorohaṇī (Từ Bỏ)

AN 10.113 Các Nguyên Tắc Xấu (Thứ Nhất) Paṭhamaadhammasutta

"Này các Tỳ kheo, các thầy nên biết những pháp ác (bad principles / các nguyên tắc xấu, các pháp bất thiện) cùng với những quả ác (bad results / kết quả xấu, hậu quả bất thiện). Và các thầy nên biết những pháp thiện (good principles / các nguyên tắc tốt, các pháp thiện) cùng với những quả thiện (good results / kết quả tốt, hậu quả thiện). Khi biết những điều này, sự thực hành của các thầy nên theo những pháp thiện với quả thiện.

Và thế nào là những pháp ác với quả ác? Tà kiến (wrong view / cái thấy sai lầm, hiểu biết sai lạc), tà tư duy (wrong thought / suy nghĩ sai lầm), tà ngữ (wrong speech / lời nói sai lầm), tà nghiệp (wrong action / hành động sai lầm), tà mạng (wrong livelihood / nuôi mạng sai lầm), tà tinh tấn (wrong effort / cố gắng sai lầm), tà niệm (wrong mindfulness / sự chú tâm sai lầm), tà định (wrong immersion / sự tập trung sai lầm, thiền định không chân chánh), tà trí (wrong knowledge / trí hiểu biết sai lầm), và tà giải thoát (wrong freedom / sự giải thoát sai lầm). Đây được gọi là những pháp ác với quả ác.

Và thế nào là những pháp thiện với quả thiện? Chánh kiến (right view / cái thấy đúng đắn, hiểu biết chân chánh), chánh tư duy (right thought / suy nghĩ đúng đắn), chánh ngữ (right speech / lời nói đúng đắn), chánh nghiệp (right action / hành động đúng đắn), chánh mạng (right livelihood / nuôi mạng đúng đắn), chánh tinh tấn (right effort / cố gắng đúng đắn), chánh niệm (right mindfulness / sự chú tâm đúng đắn), chánh định (right immersion / sự tập trung đúng đắn, thiền định chân chánh), chánh trí (right knowledge / trí hiểu biết đúng đắn), và chánh giải thoát (right freedom / sự giải thoát đúng đắn). Đây được gọi là những pháp thiện với quả thiện.

‘Các thầy nên biết những pháp ác cùng với những quả ác. Và các thầy nên biết những pháp thiện cùng với những quả thiện. Khi biết những điều này, sự thực hành của các thầy nên theo những pháp thiện với quả thiện.’ Đó là những gì Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy."

XII. Phẩm Ði Xuống

(I) (113) Phi Pháp

1. Phi pháp và phi mục đích này, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết; pháp và mục đích cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và phi mục đích, sau khi biết pháp và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy, cần phải thực hành. Này các Tỷ-kheo, thế nào là phi pháp và phi mục đích?

2. Tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định, tà trí, tà giải thoát.

Này các Tỷ-kheo, đây gọi là phi pháp và phi mục đích. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp và mục đích?

3. Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, chánh trí, chánh giải thoát.

Này các Tỷ-kheo, đây gọi là pháp và mục đích.

4. Và này các Tỷ-kheo, phi pháp và phi mục đích cần phải hiểu biết; pháp và mục đích cần phải hiểu biết. Sau khi hiểu biết phi pháp và phi mục đích sau khi hiểu biết pháp và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy, cần phải thực hành. Ðược nói đến như vậy là do duyên này được nói đến.

AN 10.114 Các Nguyên Tắc Xấu (Thứ Hai) Dutiyaadhammasutta

"Này các Tỳ kheo, các thầy nên biết các pháp ác và các pháp thiện. Và các thầy nên biết các quả ác và các quả thiện. Khi biết những điều này, sự thực hành của các thầy nên theo những pháp thiện với quả thiện.

Vậy, thế nào là các pháp ác? Thế nào là các pháp thiện? Thế nào là các quả ác? Và thế nào là các quả thiện?

Tà kiến là một pháp ác. Chánh kiến là một pháp thiện. Và nhiều phẩm chất bất thiện, không khéo léo (bad, unskillful qualities / các pháp bất thiện, xấu xa) sinh khởi do tà kiến là những quả ác. Và nhiều phẩm chất thiện lành, khéo léo (skillful qualities / các pháp thiện) được tu tập viên mãn (fully developed / được phát triển đầy đủ) nhờ chánh kiến là những quả thiện.

Tà tư duy là một pháp ác. Chánh tư duy là một pháp thiện. Và nhiều phẩm chất bất thiện, không khéo léo sinh khởi do tà tư duy là những quả ác. Và nhiều phẩm chất thiện lành, khéo léo được tu tập viên mãn nhờ chánh tư duy là những quả thiện.

Tà ngữ là một pháp ác. Chánh ngữ là một pháp thiện. Và nhiều phẩm chất bất thiện, không khéo léo sinh khởi do tà ngữ là những quả ác. Và nhiều phẩm chất thiện lành, khéo léo được tu tập viên mãn nhờ chánh ngữ là những quả thiện.

Tà nghiệp là một pháp ác. Chánh nghiệp là một pháp thiện. Và nhiều phẩm chất bất thiện, không khéo léo sinh khởi do tà nghiệp là những quả ác. Và nhiều phẩm chất thiện lành, khéo léo được tu tập viên mãn nhờ chánh nghiệp là những quả thiện.

Tà mạng là một pháp ác. Chánh mạng là một pháp thiện. Và nhiều phẩm chất bất thiện, không khéo léo sinh khởi do tà mạng là những quả ác. Và nhiều phẩm chất thiện lành, khéo léo được tu tập viên mãn nhờ chánh mạng là những quả thiện.

Tà tinh tấn là một pháp ác. Chánh tinh tấn là một pháp thiện. Và nhiều phẩm chất bất thiện, không khéo léo sinh khởi do tà tinh tấn là những quả ác. Và nhiều phẩm chất thiện lành, khéo léo được tu tập viên mãn nhờ chánh tinh tấn là những quả thiện.

Tà niệm là một pháp ác. Chánh niệm là một pháp thiện. Và nhiều phẩm chất bất thiện, không khéo léo sinh khởi do tà niệm là những quả ác. Và nhiều phẩm chất thiện lành, khéo léo được tu tập viên mãn nhờ chánh niệm là những quả thiện.

Tà định là một pháp ác. Chánh định là một pháp thiện. Và nhiều phẩm chất bất thiện, không khéo léo sinh khởi do tà định là những quả ác. Và nhiều phẩm chất thiện lành, khéo léo được tu tập viên mãn nhờ chánh định là những quả thiện.

Tà trí là một pháp ác. Chánh trí là một pháp thiện. Và nhiều phẩm chất bất thiện, không khéo léo sinh khởi do tà trí là những quả ác. Và nhiều phẩm chất thiện lành, khéo léo được tu tập viên mãn nhờ chánh trí là những quả thiện.

Tà giải thoát là một pháp ác. Chánh giải thoát là một pháp thiện. Và nhiều phẩm chất bất thiện, không khéo léo sinh khởi do tà giải thoát là những quả ác. Và nhiều phẩm chất thiện lành, khéo léo được tu tập viên mãn nhờ chánh giải thoát là những quả thiện.

‘Các thầy nên biết các pháp ác và các pháp thiện. Và các thầy nên biết các quả ác và các quả thiện. Khi biết những điều này, sự thực hành của các thầy nên theo những pháp thiện với quả thiện.’ Đó là những gì Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy."

(II) (114) Không Phải Mục Ðích

1. Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết, phi mục đích và mục đích cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy cần phải thực hành. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là phi pháp? Thế nào là pháp, thế nào là phi mục đích và thế nào là mục đích?

2. Tà kiến, này các Tỷ-kheo, là phi pháp; chánh kiến là pháp. Những pháp ác bất thiện nào do duyên tà kiến được sanh, đây là phi mục đích. Những pháp thiện do duyên chánh kiến đi đến đầy đủ trong tu tập, đây là mục đích. Tà tư duy, này các Tỷ-kheo, là phi pháp; chánh tư duy là pháp. Những pháp ác bất thiện nào do duyên tà tư duy được sanh, đây là phi mục đích. Những pháp thiện do duyên chánh tư duy đi đến đầy đủ trong tu tập, đây là mục đích. Tà ngữ, này các Tỷ-kheo, là phi pháp; chánh ngữ là pháp. Những pháp ác bất thiện nào do duyên tà ngữ sanh khởi. Ðây là phi mục đích. Những pháp thiện do duyên chánh ngữ đi đến đầy đủ trong tu tập, đây là mục đích. Tà nghiệp, này các Tỷ-kheo, là phi pháp; chánh nghiệp là pháp. Những pháp ác bất thiện nào do duyên tà nghiệp được sanh, đây là phi mục đích. Những pháp thiện do duyên chánh nghiệp đi đến đầy đủ trong tu tập, đây là mục đích. Tà mạng, này các Tỷ-kheo, là phi pháp; chánh mạng là pháp. Những pháp ác bất thiện nào do duyên tà mạng sanh khởi, đây là phi mục đích. Những pháp thiện do duyên chánh mạng đi đến đầy đủ trong tu tập, đây là mục đích. Tà tinh tấn, này các Tỷ-kheo, là phi pháp; chánh tinh tấn là pháp. Những pháp ác bất thiện nào do duyên tà tinh tấn sanh khởi, đây là phi mục đích. Những pháp thiện do duyên chánh tinh tấn đi đến đầy đủ trong tu tập, đây là mục đích. Tà niệm, này các Tỷ-kheo, là phi pháp; chánh niệm là pháp. Những pháp ác bất thiện nào do duyên tà niệm sanh khởi, đây là phi mục đích. Những pháp thiện do duyên chánh niệm đi đến đầy đủ trong tu tập, đây là mục đích. Tà định, này các Tỷ-kheo, là phi pháp; chánh định là pháp. Những pháp ác bất thiện nào do duyên tà định sanh khởi, đây là phi mục đích. Những pháp thiện do duyên chánh định đi đến đầy đủ trong tu tập, đây là mục đích. Tà trí, này các Tỷ-kheo, là phi pháp; chánh trí là pháp. Những pháp ác bất thiện nào do duyên tà trí sanh khởi, đây là phi mục đích. Những pháp thiện do duyên chánh trí đi đến đầy đủ trong tu tập, đây là mục đích. Tà giải thoát, này các Tỷ-kheo, là phi pháp; chánh giải thoát là pháp. Những pháp ác bất thiện nào do duyên tà giải thoát sanh khởi, đây là phi mục đích. Những pháp thiện do duyên chánh giải thoát đi đến đầy đủ trong tu tập, đây là mục đích. Và những thiện pháp do duyên chánh giải thoát đi đến đầy đủ trong tu tập, đây là mục đích.

3. Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết; phi mục đích và mục đích cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy cần phải thực hành. Ðược nói như vậy, do duyên này được nói đến như vậy.

AN 10.115 Các Nguyên Tắc Xấu (Thứ Ba) Tatiyaadhammasutta

“Này các Tỳ kheo, các thầy nên biết các pháp ác và các pháp thiện. Và các thầy nên biết các quả ác và các quả thiện. Khi biết những điều này, sự thực hành của các thầy nên theo những pháp thiện với quả thiện.”

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Sau khi nói xong, Bậc Thánh đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi vào tịnh thất.

Không lâu sau khi Đức Phật rời đi, các Tỳ kheo ấy suy nghĩ: “Đức Phật đã đưa ra bài tóm tắt ngắn gọn này, rồi đi vào tịnh thất mà không giải thích chi tiết ý nghĩa. Ai có thể giải thích chi tiết ý nghĩa của bài tóm tắt ngắn gọn này do Đức Phật đưa ra?”

Rồi họ suy nghĩ: “Tôn giả A Nan này được Đức Phật tán thán và được các bạn đồng tu có trí (sensible spiritual companions / những người bạn đồng tu có hiểu biết) kính trọng. Ngài có khả năng giải thích chi tiết ý nghĩa của bài tóm tắt ngắn gọn này do Đức Phật đưa ra. Chúng ta hãy đến gặp ngài và hỏi ngài về vấn đề này. Ngài trả lời thế nào, chúng ta sẽ ghi nhớ như vậy.”

Sau đó, các Tỳ kheo ấy đến gặp Tôn giả A Nan và chào hỏi ngài. Sau khi chào hỏi và nói chuyện lịch sự xong, họ ngồi xuống một bên. Họ kể lại những gì đã xảy ra và nói: “Xin Tôn giả A Nan hãy giải thích điều này.”

“Chư Hiền, giả sử có một người cần lõi cây (heartwood / phần cứng nhất, giá trị nhất của cây). Và trong khi đi tìm lõi cây, người đó gặp một cây lớn có lõi cây. Nhưng người đó lại bỏ qua gốc và thân cây, tưởng rằng lõi cây phải được tìm ở cành và lá. Đó là tình cảnh của chư Hiền. Mặc dù đã đối diện với Đức Phật, chư Hiền lại bỏ qua Ngài, tưởng rằng nên hỏi tôi về vấn đề này. Vì Ngài là Phật, Đấng Biết và Thấy. Ngài là mắt, là trí, là hiện thân của Pháp (manifestation of principle / người thể hiện Chánh pháp), là hiện thân của sự thiêng liêng (manifestation of divinity / người thể hiện sự cao cả, Phạm Thiên). Ngài là đạo sư (teacher / bậc thầy), là người tuyên thuyết (proclaimer / người công bố, giảng giải), là người làm sáng tỏ ý nghĩa (elucidator of meaning / người giải thích rõ ràng), là người ban tặng sự bất tử (bestower of freedom from death / người trao cho sự giải thoát khỏi cái chết, Niết-bàn), là Pháp vương (lord of truth / vua của Chánh pháp), là Như Lai (Realized One / người đã đạt đến chân lý như thật). Đó là lúc nên đến gần Đức Phật và hỏi về vấn đề này. Chư Hiền nên ghi nhớ theo câu trả lời của Đức Phật.”

“Chắc chắn Ngài là Phật, Đấng Biết và Thấy. Ngài là mắt, là trí, là hiện thân của Pháp, là hiện thân của sự thiêng liêng. Ngài là đạo sư, là người tuyên thuyết, là người làm sáng tỏ ý nghĩa, là người ban tặng sự bất tử, là Pháp vương, là Như Lai. Đó là lúc nên đến gần Đức Phật và hỏi về vấn đề này. Chúng tôi nên ghi nhớ theo câu trả lời của Đức Phật. Tuy nhiên, Tôn giả A Nan được Đức Phật tán thán và được các bạn đồng tu có trí kính trọng. Ngài có khả năng giải thích chi tiết ý nghĩa của bài tóm tắt ngắn gọn này do Đức Phật đưa ra. Xin ngài hãy giải thích điều này, nếu không phiền.”

“Vậy thì hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, tôi sẽ nói.”

“Vâng, thưa Tôn giả,” họ đáp. Tôn giả A Nan nói điều này:

"Chư Hiền, Đức Phật đã đưa ra bài tóm tắt ngắn gọn này, rồi đi vào tịnh thất mà không giải thích chi tiết ý nghĩa: ‘Các thầy nên biết các pháp ác và các pháp thiện. Và các thầy nên biết các quả ác và các quả thiện. Khi biết những điều này, sự thực hành của các thầy nên theo những pháp thiện với quả thiện.’

Vậy, thế nào là các pháp ác? Thế nào là các pháp thiện? Thế nào là các quả ác? Và thế nào là các quả thiện?

Tà kiến là một pháp ác. Chánh kiến là một pháp thiện. Và nhiều phẩm chất bất thiện, không khéo léo sinh khởi do tà kiến là những quả ác. Và nhiều phẩm chất thiện lành, khéo léo được tu tập viên mãn nhờ chánh kiến là những quả thiện.

Tà tư duy là một pháp ác. Chánh tư duy là một pháp thiện. … Tà ngữ là một pháp ác. Chánh ngữ là một pháp thiện. … Tà nghiệp là một pháp ác. Chánh nghiệp là một pháp thiện. … Tà mạng là một pháp ác. Chánh mạng là một pháp thiện. … Tà tinh tấn là một pháp ác. Chánh tinh tấn là một pháp thiện. … Tà niệm là một pháp ác. Chánh niệm là một pháp thiện. … Tà định là một pháp ác. Chánh định là một pháp thiện. … Tà trí là một pháp ác. Chánh trí là một pháp thiện. …

Tà giải thoát là một pháp ác. Chánh giải thoát là một pháp thiện. Và nhiều phẩm chất bất thiện, không khéo léo sinh khởi do tà giải thoát là những quả ác. Và nhiều phẩm chất thiện lành, khéo léo được tu tập viên mãn nhờ chánh giải thoát là những quả thiện.

Đức Phật đã đưa ra bài tóm tắt ngắn gọn này, rồi đi vào tịnh thất mà không giải thích chi tiết ý nghĩa: ‘Các thầy nên biết các pháp ác và các pháp thiện … và thực hành theo đó.’ Và đây là cách tôi hiểu ý nghĩa chi tiết của bài tóm tắt này. Nếu chư Hiền muốn, có thể đến gặp Đức Phật và hỏi Ngài về điều này. Chư Hiền nên ghi nhớ theo câu trả lời của Đức Phật."

“Vâng, thưa Tôn giả,” các Tỳ kheo ấy nói, chấp thuận và đồng ý với những gì Tôn giả A Nan nói. Rồi họ đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và kể lại những gì đã xảy ra. Rồi họ nói:

“Bạch Thế Tôn, chúng con đã đến gặp Tôn giả A Nan và hỏi ngài về vấn đề này. Và Tôn giả A Nan đã giải thích rõ ràng ý nghĩa cho chúng con theo cách này, với những lời lẽ và cụm từ này.”

“Tốt lắm, tốt lắm, này các Tỳ kheo! A Nan là người thông tuệ (astute / người sắc sảo, trí tuệ), ngài có đại tuệ (great wisdom / trí tuệ lớn). Nếu các thầy đến gặp Ta và hỏi câu này, Ta cũng sẽ trả lời giống hệt như A Nan. Đó là ý nghĩa của nó, và các thầy nên ghi nhớ như vậy.”

(III) (115) Phi Pháp

1. Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết; phi mục đích và mục đích cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy cần phải thực hành.

Thế Tôn thuyết như vậy. Thuyết như vậy xong, bậc Thiện Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy và bước vào tinh xá.

2. Rồi các Tỷ-kheo ấy, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, suy nghĩ như sau: “Này chư Hiền, Thế Tôn đã nói lên một cách vắn tắt lời tuyên bố này, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đã đi vào tinh xá: “Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết, phi mục đích và mục đích cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy cần phải thực hành.” Với lời tuyên bố này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, ai là người có thể phân tích một cách rộng rãi? “Rồi các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ như sau: “Tôn giả Ananda được Thế Tôn tán thán, được các vị đồng Phạm hạnh có trí bắt chước. Tôn giả Ananda, với lời tuyên bố này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, có thể phân tích một cách rộng rãi. Vậy chúng ta hãy đi đến Tôn giả Ananda, sau khi đến, sẽ hỏi Tôn giả Ananda về ý nghĩa này. Tôn giả Ananda trả lời cho chúng ta như thế nào, chúng ta sẽ như vậy thọ trì”.

3. Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến Tôn giả Ananda, sau khi đến nói lên với Tôn giả Ananda những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy nói với Tôn giả Ananda:

− Thưa hiền giả Ananda. Thế Tôn sau khi nói lên một cách vắn tắt lời tuyên bố này, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đã đi vào tinh xá: “Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết, phi mục đích và mục đích cần phải hiểu biết. Sau khi hiểu phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy cần phải thực hành.” Này Hiền giả, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, chúng tôi suy nghĩ như sau: “Này chư Hiền, Thế Tôn sau khi nói lên một cách vắn tắt lời tuyên bố này, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đã đi vào tinh xá: “Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết, phi mục đích và mục đích cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy cần phải thực hành.” Với lời tuyên bố này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi”, ai là người có thể phân tích một cách rộng rãi? Rồi thưa Hiền giả, chúng tôi suy nghĩ như sau: “Tôn giả Ananda được Thế Tôn tán thán, được các vị đồng Phạm hạnh có trí bắt chước. Tôn giả Ananda, với lời tuyên bố này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, có thể phân tích một cách rộng rãi. Vậy chúng ta hãy đi đến Tôn giả Ananda, sau khi đến, sẽ hỏi Tôn giả Ananda về ý nghĩa này. Tôn giả Ananda trả lời cho chúng ta như thế nào, chúng ta sẽ như vậy thọ trì”. Thưa Tôn giả Ananda, hãy phân tích cho.

4. Chư Hiền, cũng ví như một người cần thiết lõi cây, tìm lõi cây, đi khắp mọi nơi tìm lõi cây, đến một cây to lớn, đứng thẳng và có lõi cây. Người này bỏ qua rễ, bỏ qua thân cây, nghĩ rằng: “Phải tìm lõi cây ở nơi cành lá”. Cũng vậy, là hành động của chư Tôn giả, đứng trước mặt Thế Tôn, quí vị bỏ qua Thế Tôn, nghĩ rằng: “Cần phải hỏi tôi về ý nghĩa này”. Chư Hiền, Thế Tôn biết những gì cần phải biết, thấy những gì cần phải thấy. Ngài đã trở thành vị có mắt, trở thành vị có trí, trở thành Chánh pháp, trở thành Phạm thiên, vị thuyết giả, vị diễn giả, vị đem lại mục tiêu, vị trao cho bất tử, vị Pháp chủ. Thế Tôn giải thích quý vị như thế nào, quí vị hãy như vậy thọ trì.

5. Hiền giả Ananda, chắc chắn Thế Tôn biết những gì cần phải biết, thấy những gì cần phải thấy. Ngài đã trở thành vị có mắt, trở thành vị có trí, trở thành Chánh pháp, trở thành Phạm thiên, vị thuyết giả, vị diễn giả, vị đem lại mục tiêu, vị trao cho bất tử, vị Pháp chủ, Như Lai. Chúng tôi phải tùy thời hỏi Thế Tôn ý nghĩa này. Những gì Thế Tôn giải thích cho chúng tôi, chúng tôi sẽ như vậy thọ trì. nhưng Hiền giả Ananda được Thế Tôn tán thán, được các vị đồng Phạm hạnh có trí bắt chước. Hiền giả Ananda có thể giải thích rộng rãi ý nghĩa lời giảng dạy được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt và giải thích rõ ràng ý nghĩa. Mong Hiền giả Ananda giải thích, nếu không có sự gì phiền muộn.

6. Vậy chư Hiền, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, tôi sẽ giảng.

− Thưa vâng Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ananda. Tôn giả Ananda giảng như sau: − Thưa chư Hiền, Thế Tôn sau khi nói lên lời tuyên bố một cách vắn tắt mà không có phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tinh xá: “Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết, phi mục đích và mục đích cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy cần phải thực hành.” Và này chư Hiền, thế nào là phi pháp, thế nào là pháp, thế nào là phi mục đích và thế nào là mục đích?

7. Tà kiến, này chư Hiền, là phi pháp; chánh kiến là pháp, những pháp ác bất thiện gì do duyên tà kiến khởi lên, đây là phi mục đích. Và những pháp thiện gì đi đến viên mãn trong tu tập, đây là mục đích. Tà tư duy, này chư Hiền, là phi pháp; chánh tư duy là pháp… Tà ngữ là phi pháp; chánh ngữ là pháp… Tà nghiệp là phi pháp; chánh nghiệp là pháp… Tà mạng là phi pháp; chánh mạng là pháp… Tà tinh tấn là phi pháp; chánh tinh tấn là pháp… Tà niệm là phi pháp; chánh niệm là pháp… Tà định là phi pháp; chánh định là pháp… Tà trí là phi pháp; chánh trí là pháp… Tà giải thoát là phi pháp; chánh giải thoát là pháp. Và những pháp ác bất thiện nào do duyên chánh giải thoát khởi lên đây là phi mục đích, và những thiện pháp do duyên chánh giải thoát đi đến viên mãn trong tu tập, đây là mục đích. Thưa các Hiền giả, Thế Tôn sau khi nói lên lời tuyên bố này một cách vắn tắt mà không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đã đi vào tinh xá: “Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết, phi mục đích và mục đích cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy cần phải thực hành.” Thưa các Hiền giả, lời tuyên bố vắn tắt này của Thế Tôn mà không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, tôi hiểu ý nghĩa rộng rãi như vậy. Thưa chư Hiền, nếu chư Hiền muốn, hãy đi đến Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế Tôn trả lời như thế nào, hãy như vậy thọ trì.

− Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Tôn giả Ananda, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

8. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn sau khi nói lên lời tuyên bố một cách vắn tắt mà không có phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tinh xá: “Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết, phi mục đích và mục đích cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy cần phải thực hành”. Bạch Thế Tôn, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, chúng con suy nghĩ như sau: “Này chư Hiền, Thế Tôn sau khi nói lên lời tuyên bố một cách vắn tắt mà không có phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tinh xá: “Phi pháp và pháp cần phải hiểu biết… hãy như thế ấy mà thực hành”. Với lời tuyên bố vắn tắt này của Thế Tôn, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, ai là người có thể phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi? “Rồi bạch Thế Tôn, chúng con suy nghĩ như sau: “Tôn giả Ananda được Thế Tôn tán thán, được các vị đồng Phạm hạnh có trí bắt chước. Tôn giả Ananda với lời tuyên bố này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, có thể phân tích một cách rộng rãi. Vậy chúng ta hãy đi đến Tôn giả Aụnanda và hỏi ý nghĩa này”. Bạch Thế Tôn, ý nghĩa của chúng được Tôn giả Ananda khéo phân tích với những lý do như thế này, với những chữ như thế này, với những chữ như thế này, với những câu văn như thế này.

9. Lành thay, lành thay, này các Tỷ-kheo, Hiền trí là Hiền giả Ananda! Ðại tuệ là Hiền giả Ananda! Này các Tỷ-kheo, nếu các Thầy đến hỏi Ta về ý nghĩa này, Ta cũng trả lời như vậy, như đã được Ananda trả lời. Ðây là ý nghĩa của lời ấy, hãy như vậy thọ trì.

AN 10.116 Với Ajita Ajitasutta

Khi ấy, du sĩ Ajita đến gặp Đức Phật và chào hỏi Ngài. Sau khi chào hỏi và nói chuyện lịch sự xong, vị ấy ngồi xuống một bên và nói với Đức Phật: “Thưa ngài Gotama, chúng tôi có một bạn đồng tu tên là ‘Thông Tuệ’. Vị ấy đã soạn ra khoảng năm trăm luận điểm mà qua đó những người theo các tôn giáo khác sẽ biết khi nào họ bị bác bỏ.”

Khi ấy, Đức Phật nói với các Tỳ kheo: “Này các Tỳ kheo, các thầy có nhớ những luận điểm của vị Thông Tuệ này không?”

“Bạch Thế Tôn, nay chính là thời! Bạch Bậc Thánh, nay chính là thời! Xin Đức Phật hãy nói và các Tỳ kheo sẽ ghi nhớ.”

“Vậy thì, này các Tỳ kheo, hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” họ đáp. Đức Phật nói điều này:

"Này các Tỳ kheo, hãy xét một người nào đó bác bỏ và dập tắt những lời lẽ phi pháp bằng những lời lẽ phi pháp. Điều này làm vui lòng một hội chúng phi pháp, họ tạo ra tiếng la ó om sòm: ‘Vị ấy thật sự thông tuệ! Vị ấy thật sự thông tuệ!’

Một người khác bác bỏ và dập tắt những lời lẽ đúng pháp bằng những lời lẽ phi pháp. Điều này làm vui lòng một hội chúng phi pháp, họ tạo ra tiếng la ó om sòm: ‘Vị ấy thật sự thông tuệ! Vị ấy thật sự thông tuệ!’

Một người khác bác bỏ và dập tắt những lời lẽ đúng pháp và phi pháp bằng những lời lẽ phi pháp. Điều này làm vui lòng một hội chúng phi pháp, họ tạo ra tiếng la ó om sòm: ‘Vị ấy thật sự thông tuệ! Vị ấy thật sự thông tuệ!’

Này các Tỳ kheo, các thầy nên biết các pháp ác và các pháp thiện. Và các thầy nên biết các quả ác và các quả thiện. Khi biết những điều này, sự thực hành của các thầy nên theo những pháp thiện với quả thiện.

Vậy, thế nào là các pháp ác? Thế nào là các pháp thiện? Thế nào là các quả ác? Và thế nào là các quả thiện? Tà kiến là một pháp ác. Chánh kiến là một pháp thiện. Và nhiều phẩm chất bất thiện, không khéo léo sinh khởi do tà kiến là những quả ác. Và nhiều phẩm chất thiện lành, khéo léo được tu tập viên mãn nhờ chánh kiến là những quả thiện.

Tà tư duy là một pháp ác. Chánh tư duy là một pháp thiện. … Tà ngữ là một pháp ác. Chánh ngữ là một pháp thiện. … Tà nghiệp là một pháp ác. Chánh nghiệp là một pháp thiện. … Tà mạng là một pháp ác. Chánh mạng là một pháp thiện. … Tà tinh tấn là một pháp ác. Chánh tinh tấn là một pháp thiện. … Tà niệm là một pháp ác. Chánh niệm là một pháp thiện. … Tà định là một pháp ác. Chánh định là một pháp thiện. … Tà trí là một pháp ác. Chánh trí là một pháp thiện. …

Tà giải thoát là một pháp ác. Chánh giải thoát là một pháp thiện. Và nhiều phẩm chất bất thiện, không khéo léo sinh khởi do tà giải thoát là những quả ác. Và nhiều phẩm chất thiện lành, khéo léo được tu tập viên mãn nhờ chánh giải thoát là những quả thiện.

‘Các thầy nên biết các pháp ác và các pháp thiện. Và các thầy nên biết các quả ác và các quả thiện. Khi biết những điều này, sự thực hành của các thầy nên theo những pháp thiện với quả thiện.’ Đó là những gì Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy."

(IV) (116) Ajita

1. Bấy giờ có du sĩ Ajita đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, du sĩ Ajita nói với Thế Tôn: − Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi có người đồng Phạm hạnh là vị Hiền trí, vị này có nghĩ đến năm trăm tâm xứ. Với những tâm xứ ấy, các người ngoại đạo khi bị cật nạn, biết rằng: “Chúng tôi đang bị cật nạn”. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, các Thầy có thọ trì những căn bản địa của bậc Hiền trí không?

− Bạch Thế Tôn, nay đến thời, bạch Thiện Thệ, nay đến thời Thế Tôn thuyết. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trí!

− Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người với lời phi pháp, bài xích, công kích lời phi pháp. Với lời ấy, vị ấy kích thích một hội chúng phi pháp đến la cao tiếng lớn tiếng rằng: “Vị Tôn giả thật là một Hiền trí! Vị Tôn giả thật là một Hiền trí! “.

3. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có người với lời phi pháp bài xích, công kích lời đúng pháp. Với lời ấy, vị ấy kích thích một hội chúng phi pháp đến la cao tiếng lớn tiếng rằng: “Vị Tôn giả thật là một Hiền trí! Vị Tôn giả thật là một Hiền trí! “.

4. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có người với lời phi pháp bài xích, công kích lời đúng pháp và lời phi pháp. Với lời ấy, vị ấy kích thích một hội chúng phi pháp đến la cao tiếng, lớn tiếng rằng: “Vị Tôn giả thật là một Hiền trí! Vị Tôn giả thật là một Hiền trí! “.

5. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có người với lời đúng pháp bài xích, công kích lời phi pháp. Với lời ấy, vị ấy kích thích một hội chúng phi pháp đến la cao tiếng, lớn tiếng rằng: “Vị Tôn giả thật là một Hiền trí! Vị Tôn giả thật là một Hiền trí! “.

6. Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết; phi mục đích và mục đích, cần phải hiểu biết; phi mục đích và mục đích, cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy, cần phải thực hành. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là phi pháp, thế nào là pháp, thế nào là phi mục đích, thế nào là mục đích?

7. Tà kiến, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh kiến là pháp, do duyên tà kiến, các pháp ác bất thiện nào khởi lên, đây là phi mục đích; do duyên chánh kiến, các pháp thiện đi đến viên mãn trong tu tập, đây là mục đích. Tà tư duy, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh tư duy là pháp… Tà ngữ, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh ngữ là pháp… Tà nghiệp, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh nghiệp là pháp… Tà mạng, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh mạng là pháp… Tà tinh tấn, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh tinh tấn là pháp… Tà niệm, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh niệm là pháp… Tà định, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh định là pháp… Tà trí, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh trí là pháp… Tà giải thoát, này các Tỷ-kheo, là phi pháp, chánh giải thoát là pháp. Do duyên tà giải thoát, các pháp ác bất thiện nào khởi lên, đây là phi mục đích. Do duyên chánh giải thoát, các pháp thiện đi đến viên mãn trong tu tập, đây là mục đích.

Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết. Phi mục đích và mục đích, cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy, cần phải thực hành. Ðược noí đến như vậy, do duyên này được nói đến như vậy.

AN 10.117 Với Saṅgārava Saṅgāravasutta

Khi ấy, Bà-la-môn Saṅgārava đến gặp Đức Phật và chào hỏi Ngài. Sau khi chào hỏi và nói chuyện lịch sự xong, vị ấy ngồi xuống một bên và nói với Đức Phật:

“Thưa ngài Gotama, thế nào là bờ bên này (near shore / bờ hiện tại, thế giới này)? Và thế nào là bờ bên kia (far shore / bờ giải thoát, Niết-bàn)?”

"Này Bà-la-môn, tà kiến là bờ bên này, và chánh kiến là bờ bên kia. Tà tư duy là bờ bên này, và chánh tư duy là bờ bên kia. Tà ngữ là bờ bên này, và chánh ngữ là bờ bên kia. Tà nghiệp là bờ bên này, và chánh nghiệp là bờ bên kia. Tà mạng là bờ bên này, và chánh mạng là bờ bên kia. Tà tinh tấn là bờ bên này, và chánh tinh tấn là bờ bên kia. Tà niệm là bờ bên này, và chánh niệm là bờ bên kia. Tà định là bờ bên này, và chánh định là bờ bên kia. Tà trí là bờ bên này, và chánh trí là bờ bên kia. Tà giải thoát là bờ bên này, và chánh giải thoát là bờ bên kia. Đây là bờ bên này, và đây là bờ bên kia.

Ít người giữa nhân loại
vượt qua đến bờ bên kia.
Số còn lại chỉ chạy quanh
trên bờ bên này.

Khi giáo pháp được khéo giảng,
những ai thực hành theo đó
là những người sẽ vượt qua
vương quốc của thần chết khó vượt qua (Death’s dominion so hard to pass / cảnh giới của Ma vương rất khó vượt thoát).

Thoát khỏi pháp hắc ám (dark qualities / những phẩm chất xấu xa, bất thiện),
người trí tuệ nên phát triển pháp bạch tịnh (bright qualities / những phẩm chất trong sáng, thiện).
Rời bỏ gia đình
đến sự độc cư (seclusion / sống một mình, xa lánh) khó hưởng,

hãy tìm thấy niềm vui ở đó,
đã từ bỏ dục lạc (sensual pleasures / những thú vui của các giác quan).
Vô sở hữu (no possessions / không có tài sản, không dính mắc), người trí tuệ
sẽ tự thanh lọc phiền não của tâm (mental corruptions / những cấu uế, ô nhiễm của tâm).

Những ai có tâm được phát triển đúng đắn
trong các giác chi (awakening factors / các yếu tố đưa đến giác ngộ);
những ai, từ bỏ chấp thủ (letting go of attachments / buông bỏ sự dính mắc),
hoan hỷ trong việc không chấp thủ (not grasping / không nắm giữ, không dính mắc):
với lậu hoặc đã tận (defilements ended / các ô nhiễm đã được đoạn trừ), sáng chói (brilliant / rực rỡ, quang minh),
họ được tịch tịnh trong đời này (quenched in this world / đạt được Niết-bàn, sự dập tắt mọi phiền não, ngay trong hiện tại)." (Lậu hoặc (defilements / những phiền não làm rỉ chảy, những ô nhiễm sâu kín của tâm như tham, sân, si). Tịch tịnh (quenched / Niết-bàn, sự dập tắt hoàn toàn khổ đau và phiền não).)

(V) (117) Sangàrava

1. Bấy giờ có Bà-la-môn Sangàrava đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Sangàrava bạch Thế Tôn:

− Thưa Tôn giả Gotama, thế nào là bờ bên này? Thế nào là bờ bên kia?

2. Tà kiến, này Bà-la-môn, là bờ bên này, chánh kiến là bờ bên kia. Tà tư duy là bờ bên này, chánh tư duy là bờ bên kia. Tà ngữ… chánh ngữ… Tà nghiệp… chánh nghiệp… Tà mạng… chánh mạng… Tà tinh tấn… chánh tinh tấn… Tà niệm… chánh niệm… Tà định… chánh định… Tà trí… chánh trí… Tà giải thoát, này Bà-la-môn, là bờ bên này, chánh giải thoát là bờ bên kia.

Này Bà-la-môn, đây là bờ bên này, đây là bờ bên kia:

Ít người giữa nhân loại,
Ðến được bờ bên kia,
Còn số người còn lại,
Xuôi ngược chạy bờ này.
Những ai hành trì pháp,
Theo Chánh pháp khéo dạy,
Sẽ đến bờ bên kia,
Vượt ma giới khó thoát.
Kẻ trí bỏ pháp đen,
Tu tập theo pháp trắng,
Bỏ nhà sống không nhà,
Sống viễn ly khổ lạc.
Hãy cầu vui niết- bàn,
Bỏ dục, không chướng ngại,
Kẻ trí tự rửa sạch,
Cầu uế từ nội tâm.
Những ai với chánh tâm,
Khéo tu tập giác chi,
Từ bỏ mọi ái nhiễm
Hoan hỷ không chấp thủ,
Không lậu hoặc sáng chói,
Sống tịch tịnh ở đời.

AN 10.118 Bờ Bên Này Orimatīrasutta

“Này các Tỳ kheo, Ta sẽ dạy các thầy về bờ bên này và bờ bên kia. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” họ đáp. Đức Phật nói điều này:

"Và này các Tỳ kheo, thế nào là bờ bên này? Thế nào là bờ bên kia? Tà kiến là bờ bên này, và chánh kiến là bờ bên kia. … Tà giải thoát là bờ bên này, và chánh giải thoát là bờ bên kia. Đây là bờ bên này, và đây là bờ bên kia.

Ít người giữa nhân loại
vượt qua đến bờ bên kia.
Số còn lại chỉ chạy
quanh trên bờ bên này.

Khi giáo pháp được khéo giảng,
những ai thực hành theo đó
là những người sẽ vượt qua
vương quốc của thần chết khó vượt qua.

Thoát khỏi pháp hắc ám,
người trí tuệ nên phát triển pháp bạch tịnh.
Rời bỏ gia đình
đến sự độc cư khó hưởng,

các thầy nên cố gắng tìm thấy niềm vui ở đó,
đã từ bỏ dục lạc.
Vô sở hữu, người trí tuệ
sẽ tự thanh lọc những phiền não của tâm.

Và những ai có tâm được phát triển đúng đắn
trong các giác chi;
từ bỏ chấp thủ,
họ hoan hỷ trong việc không chấp thủ.
Với lậu hoặc đã tận, sáng chói,
họ được tịch tịnh trong đời này."

(VI) (118) Bờ Bên Này Và Bờ Bên Kia

− Và này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bờ bên này và bờ bên kia. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:

2. Này các Tỷ-kheo, thế nào là bờ bên này, và thế nào là bờ bên kia?

Tà kiến, này các Tỷ-kheo, là bờ bên này, chánh kiến là bờ bên kia… Tà giải thoát là bờ bên này, chánh giải thoát là bờ bên kia. Này các Tỷ-kheo, đây là bờ bên này, đây là bờ bên kia. Ít người giữa nhân loại,
Ðến được bờ bên kia,
Còn số người còn lại,
Xuôi ngược chạy bờ này.
Những ai hành trì pháp,
Theo Chánh pháp khéo dạy,
Sẽ đến bờ bên kia,
Vượt ma giới khó thoát.
Kẻ trí bỏ pháp đen,
Tu tập theo pháp trắng,
Bỏ nhà sống không nhà,
Sống viễn ly khổ lạc.
Hãy cầu vui niết- bàn,
Bỏ dục, không chướng ngại,
Kẻ trí tự rửa sạch,
Cầu uế từ nội tâm.
Những ai với chánh tâm,
Khéo tu tập giác chi,
Từ bỏ mọi ái nhiễm
Hoan hỷ không chấp thủ,
Không lậu hoặc sáng chói,
Sống tịch tịnh ở đời.

AN 10.119 Nghi Lễ Paccorohaṇī (Thứ Nhất) Paṭhamapaccorohaṇīsutta

Khi ấy, nhằm ngày Bố-tát (sabbath / ngày trai giới, ngày sám hối và tụng giới của Tăng đoàn). Bà-la-môn Jānussoṇi đã gội đầu và mặc một cặp y mới bằng vải lanh. Tay cầm một nắm cỏ tươi, ông đứng một bên không xa Đức Phật.

Đức Phật thấy ông và nói: “Này Bà-la-môn, tại sao ông đã gội đầu và mặc một cặp y mới bằng vải lanh? Tại sao ông đứng một bên cầm một nắm cỏ tươi? Hôm nay có chuyện gì với giòng dõi Bà-la-môn vậy?”

“Thưa ngài Gotama, hôm nay là nghi lễ Paccorohaṇī (ceremony of descent / nghi lễ từ bỏ điều xấu, đi xuống khỏi những trạng thái bất thiện) của giòng dõi Bà-la-môn.”

“Nhưng các Bà-la-môn thực hành nghi lễ Paccorohaṇī như thế nào?”

“Thưa ngài Gotama, vào ngày Bố-tát, các Bà-la-môn gội đầu và mặc một cặp y mới bằng vải lanh. Họ chất một đống phân bò tươi và trải cỏ xanh lên đó. Rồi họ trải giường giữa ranh giới và phòng lửa (nơi thờ lửa). Đêm đó họ thức dậy ba lần và cúng dường lửa với hai tay chắp lại: ‘Chúng con xin hạ xuống, thưa ngài! Chúng con xin hạ xuống, thưa ngài!’ Và họ cúng dường lửa với nhiều bơ lỏng, dầu và bơ đặc. Và khi đêm đã qua, họ dâng cúng các Bà-la-môn những món ăn ngon tươi và đã nấu chín. Đó là cách các Bà-la-môn thực hành nghi lễ Paccorohaṇī.”

“Nghi lễ Paccorohaṇī mà các Bà-la-môn thực hành khá khác biệt so với nghi lễ được thực hành trong pháp và luật của bậc Thánh (training of the Noble One / sự thực hành và giới luật của người đã giác ngộ).”

“Nhưng thưa ngài Gotama, nghi lễ Paccorohaṇī được thực hành như thế nào trong pháp và luật của bậc Thánh? Thưa ngài Gotama, xin hãy dạy con điều này.”

“Vậy thì, này Bà-la-môn, hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.”

“Vâng, thưa ngài,” Jānussoṇi đáp. Đức Phật nói điều này:

"Đó là khi một Thánh đệ tử (noble disciple / người đệ tử đã chứng Thánh quả) quán xét: ‘Tà kiến có quả xấu ở đời này và đời sau.’ Quán xét như vậy, vị ấy từ bỏ tà kiến, vị ấy thoát ly (descend from / đi xuống khỏi, từ bỏ) khỏi tà kiến.

‘Tà tư duy có quả xấu ở đời này và đời sau.’ Quán xét như vậy, vị ấy từ bỏ tà tư duy, vị ấy thoát ly khỏi tà tư duy.

‘Tà ngữ có quả xấu ở đời này và đời sau.’ Quán xét như vậy, vị ấy từ bỏ tà ngữ, vị ấy thoát ly khỏi tà ngữ.

‘Tà nghiệp có quả xấu ở đời này và đời sau.’ Quán xét như vậy, vị ấy từ bỏ tà nghiệp, vị ấy thoát ly khỏi tà nghiệp.

‘Tà mạng có quả xấu ở đời này và đời sau.’ Quán xét như vậy, vị ấy từ bỏ tà mạng, vị ấy thoát ly khỏi tà mạng.

‘Tà tinh tấn có quả xấu ở đời này và đời sau.’ Quán xét như vậy, vị ấy từ bỏ tà tinh tấn, vị ấy thoát ly khỏi tà tinh tấn.

‘Tà niệm có quả xấu ở đời này và đời sau.’ Quán xét như vậy, vị ấy từ bỏ tà niệm, vị ấy thoát ly khỏi tà niệm.

‘Tà định có quả xấu ở đời này và đời sau.’ Quán xét như vậy, vị ấy từ bỏ tà định, vị ấy thoát ly khỏi tà định.

‘Tà trí có quả xấu ở đời này và đời sau.’ Quán xét như vậy, vị ấy từ bỏ tà trí, vị ấy thoát ly khỏi tà trí.

‘Tà giải thoát có quả xấu ở đời này và đời sau.’ Quán xét như vậy, vị ấy từ bỏ tà giải thoát, vị ấy thoát ly khỏi tà giải thoát. Đây là nghi lễ Paccorohaṇī trong pháp và luật của bậc Thánh."

“Nghi lễ Paccorohaṇī mà các Bà-la-môn thực hành khá khác biệt so với nghi lễ được thực hành trong pháp và luật của bậc Thánh. Và, thưa ngài Gotama, nghi lễ Paccorohaṇī mà các Bà-la-môn thực hành không đáng một phần mười sáu của một bậc thầy về nghi lễ Paccorohaṇī được thực hành trong pháp và luật của bậc Thánh. Thật tuyệt vời, thưa ngài Gotama! … Kể từ hôm nay, xin ngài Gotama hãy ghi nhớ con là một cư sĩ (lay follower / người tại gia theo Phật) đã quy y trọn đời (gone for refuge for life / nương tựa Phật, Pháp, Tăng cho đến hết cuộc đời).”

(VII) (119) Sự Xuất Ly của Bậc Thánh (1)

1. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Jànussoni, nhân ngày trai giới Uposatha, sau khi gội đầu và mặc đôi áo lụa mới, tay cầm nắm cỏ kusa ướt, đứng không xa Thế Tôn bao nhiêu. Thế Tôn thấy Bà-la-môn Jànussoni, nhân ngày trai giới Uposatha, sau khi gội đầu và mặc đôi áo lụa mới, tay cầm nắm cỏ kusa ướt, đứng một bên không xa bao nhiêu, thấy vậy liền nói với Bà-la-môn Jànussoni:

− Này Bà-la-môn, nhân ngày trai giới Uposatha, Ông gội đầu, mặc đôi áo lụa mới, tay cầm nắm cỏ kusa ướt, đứng một bên để làm gì? Có phải hôm nay là ngày của gia đình Bà-la-môn?

− Thưa Tôn giả Gotama, hôm nay là ngày xuất ly của gia đình Bà-la-môn.

− Này Bà-la-môn, như thế nào là ngày xuất ly của các Bà-la-môn?

− Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, các Bà-la-môn nhân ngày trai giới Uposatha gội đầu, mặc đôi áo lụa mới, thoa sàn nhà với phân bò ướt, trải với cỏ kusa xanh, và nằm xuống giữa đống cát và nhà lửa. Ðêm ấy họ dậy ba lần, chắp tay đảnh lễ ngọn lửa và nói: “Chúng tôi đi xuống đến Tôn giả”. Rồi họ đốt lửa với nhiều thục tô, và sanh tô, và sau khi đêm ấy đã qua, họ cúng dường các Bà-la-môn với các món ăn thù diệu, loại cứng và loại mềm. Như vậy, thưa Tôn giả Gotama là lễ đi xuống của các Bà-la-môn.

− Sai khác, này Bà-la-môn, là lễ đi xuống của các Bà-la-môn. Sai khác là sự xuất ly trong Luật bậc Thánh.

− Như thế nào, thưa Tôn giả Gotama, là sự xuất ly trong Luật bậc Thánh? Lành thay, nếu Tôn giả Gotama thuyết pháp cho chúng tôi thế nào là trong Luật của bậc Thánh!

− Này Bà-la-môn, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói. − Thưa vâng, Tôn giả.

Bà-la-môn Jànussoni vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:

2. Ở đây, này Bà-la-môn, vị Thánh đệ tử suy xét như sau: “Tà kiến đưa đến ác quả dị thục ngay trong hiện tại và trong tương lai”. Sau khi suy xét như vậy, vị ấy từ bỏ tà kiến, ra khỏi tà kiến… Tà tư duy đưa đến ác quả dị thục ngay trong hiện tại và trong tương lai… Tà ngữ đưa đến ác quả dị thục ngay trong hiện tại và trong tương lai… Tà nghiệp đưa đến ác quả dị thục ngay trong hiện tại và trong tương lai… Tà mạng đưa đến ác quả dị thục ngay trong hiện tại và trong tương lai… Tà tinh tấn đưa đến ác quả dị thục ngay trong hiện tại và trong tương lai… Tà niệm… Tà định… Tà trí… Tà giải thoát đưa đến ác quả dị thục ngay trong hiện tại và trong tương lai. Sau khi suy xét như vậy, vị ấy từ bỏ tà giải thoát. Như vậy, này Bà-la-môn, là sự xuất ly trong Luật của bậc Thánh.

3. Sự khác, thưa Tôn giả Gotama, là lễ đi xuống của các Bà-la-môn. Sai khác là sự xuất ly trong Luật của bậc Thánh. Thưa Tôn giả Gotama, sự xuất ly của các Bà-la-môn không bằng giá trị của phần mười sáu, so với sự xuất ly trong Luật bậc Thánh. Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! … Mong Tôn giả Gotama bắt đầu từ nay nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung con xin quy ngưỡng.

AN 10.120 Nghi Lễ Paccorohaṇī (Thứ Hai) Dutiyapaccorohaṇīsutta

“Này các Tỳ kheo, Ta sẽ dạy các thầy về sự Paccorohaṇī cao thượng (noble descent / sự từ bỏ cao quý, sự thoát ly thánh thiện). Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói. … Và thế nào là sự Paccorohaṇī cao thượng? Đó là khi một Thánh đệ tử quán xét: ‘Tà kiến có quả xấu ở đời này và đời sau.’ Quán xét như vậy, vị ấy từ bỏ tà kiến, vị ấy thoát ly khỏi tà kiến. ‘Tà tư duy có quả xấu …’ … ‘Tà ngữ …’ … ‘Tà nghiệp …’ … ‘Tà mạng …’ … ‘Tà tinh tấn …’ … ‘Tà niệm …’ … ‘Tà định …’ … ‘Tà trí …’ … ‘Tà giải thoát có quả xấu ở đời này và đời sau.’ Quán xét như vậy, vị ấy từ bỏ tà giải thoát, vị ấy thoát ly khỏi tà giải thoát. Đây được gọi là sự Paccorohaṇī cao thượng.”

(VIII) (120) Sự Xuất Ly Của Bậc Thánh (2)

1. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Thầy về sự xuất ly của bậc Thánh. Hãy nghe… và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự xuất ly của bậc Thánh?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy xét như sau: 'Tà kiến đưa đến ác quỷ dị thục trong hiện tại và trong tương lai”. Sau khi suy xét như vậy, vị ấy từ bỏ tà kiến, ra khỏi tà kiến… Tà tư duy… Tà ngữ… Tà nghiệp… Tà mạng… Tà tinh tấn… Tà niệm… Tà định… Tà trí… Tà giải thoát, đưa đến ác quả dị thục trong đời này và trong đời sau”. Sau khi suy xét như vậy, vị ấy từ bỏ tà giải thoát, ra khỏi tà giải thoát.

Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sự xuất ly của bậc Thánh.

AN 10.121 Điềm Báo Trước Pubbaṅgamasutta

“Này các Tỳ kheo, bình minh là điềm báo trước (forerunner / dấu hiệu báo trước) và dấu hiệu báo trước (precursor / người/vật đi trước, báo hiệu) của mặt trời mọc. Cũng vậy, chánh kiến là điềm báo trước và dấu hiệu báo trước của các phẩm chất thiện lành, khéo léo. Chánh kiến làm sinh khởi chánh tư duy. Chánh tư duy làm sinh khởi chánh ngữ. Chánh ngữ làm sinh khởi chánh nghiệp. Chánh nghiệp làm sinh khởi chánh mạng. Chánh mạng làm sinh khởi chánh tinh tấn. Chánh tinh tấn làm sinh khởi chánh niệm. Chánh niệm làm sinh khởi chánh định. Chánh định làm sinh khởi chánh trí. Chánh trí làm sinh khởi chánh giải thoát.”

(IX) (121) Ðiềm Báo Trước

1. Khi mặt trời mọc, này các Tỷ-kheo, cái này đi trước, cái này là tướng báo trước, tức là rạng đông. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với các thiện pháp, cái này là đi trước, cái này là tướng trước, tức là chánh tri kiến.

2. Từ chánh tri kiến, này các Tỷ-kheo, có chánh tư duy. Từ chánh tư duy, có chánh ngữ. Từ chánh ngữ, có chánh nghiệp. Từ chánh nghiệp, có chánh mạng. Từ chánh mạng, có chánh tinh tấn. Từ chánh tinh tấn, có chánh niệm. Từ chánh niệm, có chánh định. Từ chánh định, có chánh trí. Từ chánh trí, có chánh giải thoát.

AN 10.122 Sự Đoạn Tận Các Lậu Hoặc Āsavakkhayasutta

“Này các Tỳ kheo, mười điều này, khi được tu tập và làm cho sung mãn (developed and cultivated / được phát triển và trau dồi), sẽ đưa đến sự đoạn tận các lậu hoặc (ending of defilements / sự chấm dứt hoàn toàn các ô nhiễm). Mười điều gì? Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, chánh trí, và chánh giải thoát. Mười điều này, khi được tu tập và làm cho sung mãn, sẽ đưa đến sự đoạn tận các lậu hoặc.”

(X) (122) Các Lậu Hoặc

1. Có mười pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến các lậu hoặc được đoạn diệt. Thế nào là mười?

2. Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, chánh trí, chánh giải thoát. Mười pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến các lậu hoặc được đoạn diệt.