Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm Thanh Tịnh

AN 10.123 Kinh Thứ Nhất

“Này các Tỳ kheo, mười pháp này không được thanh tịnh và gột sạch nếu không có sự rèn luyện trong Giáo Pháp và Giới Luật của bậc Thiện Thệ (Holy One’s training / sự tu tập theo lời dạy (Dhamma) và giới luật (Vinaya) của Đức Phật, Đấng Thiện Thệ - người đã đi qua một cách tốt đẹp). Mười pháp ấy là gì? Chánh kiến (Right view / hiểu biết đúng đắn về Tứ Thánh Đế, về nghiệp và quả của nghiệp), Chánh tư duy (Right thought / suy nghĩ đúng đắn, bao gồm tư duy về ly dục, vô sân, và bất hại), Chánh ngữ (Right speech / lời nói đúng đắn, bao gồm không nói dối, không nói đâm thọc, không nói lời thô ác, không nói lời vô ích), Chánh nghiệp (Right action / hành động đúng đắn, bao gồm không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm), Chánh mạng (Right livelihood / nuôi mạng chân chính, tránh các nghề nghiệp gây hại), Chánh tinh tấn (Right effort / nỗ lực đúng đắn, bao gồm ngăn ngừa ác pháp chưa sinh, đoạn trừ ác pháp đã sinh, làm sinh khởi thiện pháp chưa sinh, và duy trì thiện pháp đã sinh), Chánh niệm (Right mindfulness / sự chú tâm, tỉnh thức đúng đắn đối với thân, thọ, tâm, pháp), Chánh định (Right immersion / sự tập trung tâm ý đúng đắn, đạt được các tầng thiền), Chánh trí (Right knowledge / trí tuệ đúng đắn phát sinh từ thiền định, thấy rõ các pháp như thật), và Chánh giải thoát (Right freedom / sự giải thoát đúng đắn khỏi mọi phiền não và khổ đau). Mười pháp này không được thanh tịnh và gột sạch nếu không có sự rèn luyện trong Giáo Pháp và Giới Luật của bậc Thiện Thệ.”

XIII. Phẩm Thanh Tịnh

(I) (123) Các Pháp Thanh Tịnh

1. Mười pháp này, này các Tỷ-kheo, thanh tịnh, trong sáng, chỉ có trong Luật của bậc Thiện Thệ. Thế nào là mười?

2. Chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, chánh trí, chánh giải thoát.

Mười pháp này, này các Tỷ-kheo, thanh tịnh, trong sáng, chỉ có trong Luật, của bậc Thiện Thệ.

AN 10.124 Kinh Thứ Hai

“Này các Tỳ kheo, mười pháp này không sinh khởi nếu không có sự rèn luyện trong Giáo Pháp và Giới Luật của bậc Thiện Thệ. Mười pháp ấy là gì? Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định, Chánh trí, và Chánh giải thoát. Đó là mười pháp không sinh khởi nếu không có sự rèn luyện trong Giáo Pháp và Giới Luật của bậc Thiện Thệ.”

(II) (124) Pháp Chưa Khởi

1. Mười pháp này, này các Tỷ-kheo, chưa khởi, chỉ khởi lên trong Luật của của bậc Thiện Thệ. Thế nào là mười?

2. Chánh tri kiến… chánh giải thoát.

Mười pháp này, này các Tỷ-kheo, chưa khởi, chỉ khởi lên trong Luật của bậc Thánh.

AN 10.125 Kinh Thứ Ba

“Này các Tỳ kheo, mười pháp này không có nhiều quả lớn và lợi ích lớn nếu không có sự rèn luyện trong Giáo Pháp và Giới Luật của bậc Thiện Thệ. Mười pháp ấy là gì? Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định, Chánh trí, và Chánh giải thoát. Đó là mười pháp không có nhiều quả lớn và lợi ích lớn nếu không có sự rèn luyện trong Giáo Pháp và Giới Luật của bậc Thiện Thệ.”

(III) (125) Pháp Có Quả Lớn

1. Mười pháp này, này các Tỷ-kheo, có quả lớn, có lợi ích, chỉ có trong Luật của bậc Thiện Thệ. Thế nào là mười?

2. Chánh tri kiến… chánh giải thoát.

Mười pháp này, này các Tỷ-kheo, có quả lớn, có lợi ích lớn, chỉ có trong Luật của bậc Thiện Thệ.

AN 10.126 Kinh Thứ Tư

“Này các Tỳ kheo, mười pháp này không đưa đến sự đoạn tận tham (greed / lobha, lòng tham ái, ham muốn), sân (hate / dosa, lòng căm ghét, tức giận), và si (delusion / moha, sự vô minh, mê mờ không thấy rõ sự thật) nếu không có sự rèn luyện trong Giáo Pháp và Giới Luật của bậc Thiện Thệ. Mười pháp ấy là gì? Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định, Chánh trí, và Chánh giải thoát. Đó là mười pháp không đưa đến sự đoạn tận tham, sân, và si nếu không có sự rèn luyện trong Giáo Pháp và Giới Luật của bậc Thiện Thệ.”

(IV) (126) Cứu Cánh Nhiếp Phục Tham

1. Mười pháp này, này các Tỷ-kheo, cứu cánh là nhiếp phục tham, cứu cánh là nhiếp phục sân, cứu cánh là nhiếp phục si, chỉ có mặt trong Luật của bậc Thiện Thệ. Thế nào là mười?

2. Chánh tri kiến… chánh giải thoát.

Mười pháp này, này các Tỷ-kheo, cứu cánh là nhiếp phục tham, cứu cánh là nhiếp phục sân, cứu cánh là nhiếp phục si, chỉ có mặt trong Luật của bậc Thiện Thệ.

AN 10.127 Kinh Thứ Năm

“Này các Tỳ kheo, mười pháp này không chỉ đơn thuần đưa đến sự nhàm chán (nibbidā / sự nhận thức rõ bản chất khổ của các pháp hữu vi, dẫn đến sự chán ngán và muốn thoát ly), sự ly tham (virāga / sự dứt bỏ lòng tham ái, không còn quyến luyến), sự đoạn diệt (nirodha / sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau và nguyên nhân của khổ đau), sự an tịnh (vupasama / sự lắng dịu của các phiền não, trạng thái bình an nội tâm), thắng trí (abhiññā / trí tuệ siêu việt, sự hiểu biết thấu suốt các pháp), sự giác ngộ (sambodhi / sự tỉnh thức hoàn toàn, nhận ra chân lý tuyệt đối), và Niết-bàn (nibbāna / mục tiêu tối hậu, trạng thái dập tắt mọi khổ đau, phiền não, đạt được giải thoát hoàn toàn) nếu không có sự rèn luyện trong Giáo Pháp và Giới Luật của bậc Thiện Thệ. Mười pháp ấy là gì? Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định, Chánh trí, và Chánh giải thoát. Đó là mười pháp không chỉ đơn thuần đưa đến sự nhàm chán, sự ly tham, sự đoạn diệt, sự an tịnh, thắng trí, sự giác ngộ, và Niết-bàn nếu không có sự rèn luyện trong Giáo Pháp và Giới Luật của bậc Thiện Thệ.”

(V) (127) Nhất Hướng Nhàm Chán

1. Mười pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, chỉ có mặt trong Luật của bậc Thiện Thệ. Thế nào là mười?

2. Chánh tri kiến… chánh giải thoát. Mười pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, chỉ có mặt trong Luật của bậc Thiện Thệ.

AN 10.128 Kinh Thứ Sáu

“Này các Tỳ kheo, mười pháp này không sinh khởi để được tu tập và phát triển (bhāvanā bahulīkaraṇa / thực hành thiền định và làm cho các phẩm chất tốt đẹp được tăng trưởng, thuần thục) nếu không có sự rèn luyện trong Giáo Pháp và Giới Luật của bậc Thiện Thệ. Mười pháp ấy là gì? Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định, Chánh trí, và Chánh giải thoát. Đó là mười pháp không sinh khởi để được tu tập và phát triển nếu không có sự rèn luyện trong Giáo Pháp và Giới Luật của bậc Thiện Thệ.”

(VI) (128) Ðược Tu Tập (1)

Mười pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, chưa khởi lên, chỉ khởi lên trong Luật của bậc Thiện Thệ.

2. Chánh tri kiến… chánh giải thoát.

3. Mười pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, chưa được khởi lên, chỉ khởi lên trong Luật của bậc Thiện Thệ.

AN 10.129 Kinh Thứ Bảy

“Này các Tỳ kheo, mười pháp này khi được tu tập và phát triển, không có nhiều quả lớn và lợi ích lớn nếu không có sự rèn luyện trong Giáo Pháp và Giới Luật của bậc Thiện Thệ. Mười pháp ấy là gì? Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định, Chánh trí, và Chánh giải thoát. Đó là mười pháp khi được tu tập và phát triển, không có nhiều quả lớn và lợi ích lớn nếu không có sự rèn luyện trong Giáo Pháp và Giới Luật của bậc Thiện Thệ.”

(VII) (129) Ðược Tu Tập (2)

1. Mười pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, chỉ có mặt trong Luật của bậc Thiện Thệ. Thế nào là mười:

2. Chánh tri kiến… chánh giải thoát.

3. Mười pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, chỉ có mặt trong Luật của bậc Thiện Thệ.

AN 10.130 Kinh Thứ Tám

“Này các Tỳ kheo, mười pháp này khi được tu tập và phát triển, không đưa đến sự đoạn tận tham, sân, và si nếu không có sự rèn luyện trong Giáo Pháp và Giới Luật của bậc Thiện Thệ. Mười pháp ấy là gì? Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định, Chánh trí, và Chánh giải thoát. Đó là mười pháp khi được tu tập và phát triển, không đưa đến sự đoạn tận tham, sân, và si nếu không có sự rèn luyện trong Giáo Pháp và Giới Luật của bậc Thiện Thệ.”

(VIII) (130) Ðược Tu Tập (3)

1. Mười pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, cứu cánh là nhiếp phục tham, cứu cánh là nhiếp phục sân, cứu cánh là nhiếp phục si, chỉ có được trong Luật của bậc Thiện Thệ. Thế nào là mười?

2. Chánh tri kiến… chánh giải thoát.

Mười pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, cứu cánh là nhiếp phục tham, cứu cánh là nhiếp phục sân, cứu cánh là nhiếp phục si, chỉ có được trong Luật của bậc Thiện Thệ.

AN 10.131 Kinh Thứ Chín

“Này các Tỳ kheo, mười pháp này khi được tu tập và phát triển, không chỉ đơn thuần đưa đến sự nhàm chán, sự ly tham, sự đoạn diệt, sự an tịnh, thắng trí, sự giác ngộ, và Niết-bàn nếu không có sự rèn luyện trong Giáo Pháp và Giới Luật của bậc Thiện Thệ. Mười pháp ấy là gì? Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định, Chánh trí, và Chánh giải thoát. Đó là mười pháp khi được tu tập và phát triển, không chỉ đơn thuần đưa đến sự nhàm chán, sự ly tham, sự đoạn diệt, sự an tịnh, thắng trí, sự giác ngộ, và Niết-bàn nếu không có sự rèn luyện trong Giáo Pháp và Giới Luật của bậc Thiện Thệ.”

(IX) (131) Ðược Tu Tập(4)

1. Mười pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, chỉ có mặt trong Luật của bậc Thiện Thệ. Thế nào là mười?

2. Chánh tri kiến… chánh giải thoát.

Mười pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, chỉ có mặt trong Luật của bậc Thiện Thệ.

AN 10.132 Kinh Thứ Mười

“Này các Tỳ kheo, có mười tà đạo (wrong ways / con đường sai lầm). Mười pháp ấy là gì? Tà kiến (Wrong view / hiểu biết sai lầm, chẳng hạn như không tin nhân quả, cho rằng đời sống là thường hằng hoặc đoạn diệt), Tà tư duy (Wrong thought / suy nghĩ sai lầm, bao gồm tư duy về dục vọng, sân hận, và hãm hại), Tà ngữ (Wrong speech / lời nói sai lầm, bao gồm nói dối, nói đâm thọc, nói lời thô ác, nói lời vô ích với mục đích xấu), Tà nghiệp (Wrong action / hành động sai lầm, bao gồm sát sinh, trộm cắp, tà dâm với ý đồ bất thiện), Tà mạng (Wrong livelihood / nuôi mạng bất chính, làm các nghề gây hại cho chúng sinh hoặc trái đạo đức), Tà tinh tấn (Wrong effort / nỗ lực sai lầm, cố gắng làm điều ác, ngăn cản điều thiện), Tà niệm (Wrong mindfulness / sự chú tâm, tỉnh thức sai lầm, hướng đến các đối tượng bất thiện), Tà định (Wrong immersion / sự tập trung tâm ý sai lầm, không đưa đến trí tuệ và giải thoát), Tà trí (Wrong knowledge / trí tuệ sai lầm, hiểu biết lệch lạc không đúng sự thật), và Tà giải thoát (Wrong freedom / sự giải thoát sai lầm, không phải là giải thoát thực sự khỏi khổ đau). Đó là mười tà đạo.”

(X) (132) Tà Tánh

1. Có mười tà tánh này, này các Tỷ-kheo. Thế nào là mười? 2. Tà kiến… tà giải thoát.

Này các Tỷ-kheo, có mười tà tánh này.

AN 10.133 Kinh Thứ Mười Một

“Này các Tỳ kheo, có mười chánh đạo (right ways / con đường đúng đắn). Mười pháp ấy là gì? Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định, Chánh trí, và Chánh giải thoát. Đó là mười chánh đạo.”

(XI) (133) Chánh Tánh

1. Có mười chánh tánh này, này các Tỷ-kheo. Thế nào là mười?

2. Chánh kiến… chánh giải thoát.

Có mười chánh tánh này. này các Tỷ kheo.