Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm về Điều Thiện

AN 10.134 Điều Thiện Sādhusutta

“Này các Tỳ kheo, Ta sẽ giảng cho các ông điều thiện và điều không thiện. Hãy lắng nghe và như lý tác ý (apply your mind well / suy tư với trí tuệ), Ta sẽ nói.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” họ đáp. Đức Phật nói thế này:

“Và này các Tỳ kheo, thế nào là điều không thiện? Tà kiến (wrong view / thấy biết sai lầm), tà tư duy (wrong thought / suy nghĩ sai lầm), tà ngữ (wrong speech / lời nói sai lầm), tà nghiệp (wrong action / hành động sai lầm), tà mạng (wrong livelihood / nuôi mạng sai lầm), tà tinh tấn (wrong effort / cố gắng sai lầm), tà niệm (wrong mindfulness / sự tỉnh thức sai lầm), tà định (wrong immersion / tập trung sai lầm), tà trí (wrong knowledge / hiểu biết sai lầm), và tà giải thoát (wrong freedom / giải thoát sai lầm). Đây gọi là điều không thiện. Và thế nào là điều thiện? Chánh kiến (right view / thấy biết đúng đắn), chánh tư duy (right thought / suy nghĩ đúng đắn), chánh ngữ (right speech / lời nói đúng đắn), chánh nghiệp (right action / hành động đúng đắn), chánh mạng (right livelihood / nuôi mạng đúng đắn), chánh tinh tấn (right effort / cố gắng đúng đắn), chánh niệm (right mindfulness / sự tỉnh thức đúng đắn), chánh định (right immersion / tập trung đúng đắn), chánh trí (right knowledge / hiểu biết đúng đắn), và chánh giải thoát (right freedom / giải thoát đúng đắn). Đây gọi là điều thiện.”

XIV. Phẩm Thiện Lương

(I) (134) Lành Và Không Lành

1. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Thầy về lành và không lành. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

2. Này các Tỷ-kheo, thế nào là không lành?

Tà kiến… tà giải thoát.

Này các Tỷ-kheo, như vậy là không lành.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là lành?

Chánh kiến… chánh giải thoát.

Này các Tỷ-kheo, đây gọi là lành.

AN 10.135 Giáo Pháp của Bậc Thánh Ariyadhammasutta

“Này các Tỳ kheo, Ta sẽ giảng cho các ông pháp của bậc Thánh (teaching of the noble ones / giáo pháp của các bậc cao thượng) và những gì không phải là pháp của bậc Thánh. … Và thế nào là những gì không phải là pháp của bậc Thánh? Tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định, tà trí, và tà giải thoát. Đây gọi là những gì không phải là pháp của bậc Thánh. Và thế nào là pháp của bậc Thánh? Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, chánh trí, và chánh giải thoát. Đây gọi là pháp của bậc Thánh.”

(II) (135) Thánh vả Phi Thánh

1. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về Thánh pháp và phi Thánh pháp. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:

2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là phi Thánh pháp?

Tà kiến… tà giải thoát. Như vậy, này các Tỷ-kheo, gọi là phi Thánh pháp.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Thánh pháp?

4. Chánh kiến… chánh giải thoát. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Thánh pháp.

AN 10.136 Bất Thiện Akusalasutta

“Ta sẽ giảng cho các ông về thiện (skillful / khéo léo, thiện lành) và bất thiện (unskillful / không khéo léo, không thiện lành). … Và thế nào là bất thiện? Tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định, tà trí, và tà giải thoát. Đây gọi là bất thiện. Và thế nào là thiện? Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, chánh trí, và chánh giải thoát. Đây gọi là thiện.”

(III) (136) Thiện và Bất Thiện

(Giống như kinh trước, chỉ đổi thiện và bất thiện).

AN 10.137 Hữu Ích Atthasutta

“Ta sẽ giảng cho các ông về điều hữu ích (beneficial / điều có lợi ích) và điều có hại (harmful / điều gây tổn hại). … Và thế nào là điều có hại? Tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định, tà trí, và tà giải thoát. Đây gọi là điều có hại. Và thế nào là điều hữu ích? Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, chánh trí, và chánh giải thoát. Đây gọi là điều hữu ích.”

(IV) (137) Mục Ðích và Phi Mục Ðích

(Giống như kinh trước, chỉ đổi mục đích và phi mục đích).

AN 10.138 Pháp Dhammasutta

“Ta sẽ giảng cho các ông về Pháp (the teaching / giáo pháp) và phi pháp (not the teaching / không phải giáo pháp). … Và thế nào là phi pháp? Tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định, tà trí, và tà giải thoát. Đây gọi là phi pháp. Và thế nào là Pháp? Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, chánh trí, và chánh giải thoát. Đây gọi là Pháp.”

(V) (138) Pháp và Phi Pháp

(Giống như kinh trước, chỉ đổi pháp và phi pháp).

AN 10.139 Hữu Lậu Sāsavasutta

“Ta sẽ giảng cho các ông về pháp hữu lậu (defiled principle / pháp còn ô nhiễm, còn phiền não) và pháp vô lậu (undefiled principle / pháp không ô nhiễm, không còn phiền não). … Và thế nào là pháp hữu lậu? Tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định, tà trí, và tà giải thoát. Đây gọi là pháp hữu lậu. Và thế nào là pháp vô lậu? Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, chánh trí, và chánh giải thoát. Đây gọi là pháp vô lậu.”

(VI) (139) Hữu Lậu và Vô Lậu

(Giống như kinh trước, chỉ đổi hữu lậu và vô lậu).

AN 10.140 Đáng Chê Trách Sāvajjasutta

“Ta sẽ giảng cho các ông về pháp đáng chê trách (blameworthy principle / pháp đáng bị khiển trách) và pháp không đáng chê trách (blameless principle / pháp không đáng bị khiển trách). … Và thế nào là pháp đáng chê trách? Tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định, tà trí, và tà giải thoát. Đây gọi là pháp đáng chê trách. Và thế nào là pháp không đáng chê trách? Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, chánh trí, và chánh giải thoát. Đây gọi là pháp không đáng chê trách.”

(VII) (140) Có Tội và Vô Tội

(Giống như kinh trước, chỉ đổi có tội và vô tội).

AN 10.141 Gây Khổ Hạnh Tapanīyasutta

“Ta sẽ giảng cho các ông về pháp gây khổ hạnh (mortifying principle / pháp gây đau khổ, dằn vặt) và pháp không gây khổ hạnh (unmortifying principle / pháp không gây đau khổ, không dằn vặt). … Và thế nào là pháp gây khổ hạnh? Tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định, tà trí, và tà giải thoát. Đây gọi là pháp gây khổ hạnh. Và thế nào là pháp không gây khổ hạnh? Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, chánh trí, và chánh giải thoát. Đây gọi là pháp không gây khổ hạnh.”

(VIII) (141) Hối Hận và Không Hối Hận

(Giống như kinh trước, chỉ đổi hối hận và không hối hận).

AN 10.142 Tích Tập Ācayagāmisutta

“Ta sẽ giảng cho các ông về pháp dẫn đến tích tập (principle that leads to accumulation / pháp đưa đến sự chất chứa nghiệp) và pháp dẫn đến tiêu tán (principle that leads to dispersal / pháp đưa đến sự tan rã nghiệp). … Và thế nào là pháp dẫn đến tích tập? Tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định, tà trí, và tà giải thoát. Đây gọi là pháp dẫn đến tích tập. Và thế nào là pháp dẫn đến tiêu tán? Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, chánh trí, và chánh giải thoát. Đây gọi là pháp dẫn đến tiêu tán.”

(IX) (142) Ði Ðến Tích Tập và Không Tích Tập

(Giống như kinh trước, chỉ đổi có tích tập và không tích tập).

AN 10.143 Có Khổ Làm Quả Báo Dukkhudrayasutta

“Ta sẽ giảng cho các ông về pháp có khổ làm quả báo (principle that has suffering as outcome / pháp có kết quả là đau khổ) và pháp có lạc làm quả báo (principle that has happiness as outcome / pháp có kết quả là hạnh phúc). … Và thế nào là pháp có khổ làm quả báo? Tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định, tà trí, và tà giải thoát. Đây là pháp có khổ làm quả báo. Và thế nào là pháp có lạc làm quả báo? Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, chánh trí, và chánh giải thoát. Đây là pháp có lạc làm quả báo.”

(X) (143) Dẫn Khổ và Không dẫn lạc

(Giống như kinh trước, chỉ đổi có dẫn khổ và không dẫn lạc).

AN 10.144 Quả Là Khổ Dukkhavipākasutta

“Ta sẽ giảng cho các ông về pháp có quả là khổ (principle that results in suffering / pháp có kết quả là đau khổ) và pháp có quả là lạc (principle that results in happiness / pháp có kết quả là hạnh phúc). … Và thế nào là pháp có quả là khổ? Tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định, tà trí, và tà giải thoát. Đây gọi là pháp có quả là khổ. Và thế nào là pháp có quả là lạc? Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, chánh trí, và chánh giải thoát. Đây gọi là pháp có quả là lạc.”

(XI) (144) Khổ Dị Thục và Lạc Dị Thục

(Giống như kinh trước, chỉ đổi khổ dị thục và lạc dị thục).