Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm Về Thân Sanh Bởi Nghiệp

AN 10.211 Trời và Địa Ngục (1) Paṭhamanirayasaggasutta

"Người có mười phẩm chất sẽ bị đọa vào địa ngục. Mười phẩm chất đó là gì? Đó là khi một người nào đó: Sát sanh. Người ấy bạo lực, tay vấy máu, một kẻ giết người chai sạn, không có lòng thương xót đối với chúng sanh (sentient beings / các loài hữu tình, những sinh vật có cảm giác và nhận thức).

Lấy của không cho (trộm cắp). Với ý định trộm cắp, người ấy lấy của cải hay tài sản của người khác từ làng mạc hay rừng núi.

Tà dâm. Người ấy có quan hệ tình dục với những phụ nữ có mẹ, cha, cả mẹ và cha, anh trai, chị gái, bà con, hoặc dòng tộc bảo hộ. Người ấy có quan hệ tình dục với phụ nữ được pháp luật bảo vệ, hoặc đã có chồng, hoặc người mà sự xâm phạm sẽ bị pháp luật trừng phạt, hoặc ngay cả người đã được nhận vòng hoa đính ước.

Nói dối. Người ấy được triệu tập đến một hội đồng, một hội chúng, một cuộc họp gia đình, một phường hội, hoặc đến hoàng cung, và được yêu cầu làm chứng: ‘Thưa ông, xin hãy nói những gì ông biết.’ Không biết, người ấy nói ‘Tôi biết.’ Biết, người ấy nói ‘Tôi không biết.’ Không thấy, người ấy nói ‘Tôi thấy.’ Và thấy, người ấy nói ‘Tôi không thấy.’ Như vậy, người ấy cố ý nói dối vì lợi ích của bản thân hay người khác, hoặc vì một lý do thế gian nhỏ nhặt nào đó.

Nói lời chia rẽ. Người ấy nghe điều gì ở nơi này rồi đi nói ở nơi khác để gây chia rẽ giữa mọi người. Và như thế, người ấy chia rẽ những người đang hòa hợp, ủng hộ sự chia rẽ, thích thú sự chia rẽ, yêu mến sự chia rẽ, nói những lời gây chia rẽ.

Nói lời ác khẩu (thô lỗ). Người ấy dùng những lời lẽ tàn nhẫn, khó nghe, gây tổn thương, xúc phạm, gần với tức giận (anger / kodha, sự nóng nảy, phẫn nộ), không dẫn đến định (immersion / samādhi, sự tập trung tâm ý vào một đối tượng duy nhất, trạng thái tâm vắng lặng).

Nói lời vô ích (phù phiếm). Lời nói của người ấy không đúng lúc, không đúng sự thật cũng không lợi ích. Nó không liên quan gì đến Pháp (teaching / Dhamma, lời dạy của Đức Phật, chân lý) hay sự tu tập (training / sikkhā, sự rèn luyện, thực hành theo lời Phật dạy). Lời nói của họ không có giá trị, không đúng lúc, không hợp lý, lan man và vô mục đích.

Tham lam. Người ấy tham muốn của cải và tài sản của người khác: ‘Ôi, ước gì tài sản của họ là của mình!’

tâm sân hận (ill will / byāpāda, tâm trạng ác ý, muốn làm hại người khác) và ý định độc ác: ‘Mong cho các chúng sanh này bị giết, bị tàn sát, bị sát hại, bị hủy diệt, hoặc bị tiêu diệt!’

tà kiến (wrong view / micchādiṭṭhi, cái thấy sai lầm, không đúng với sự thật). Quan điểm của người ấy bị bóp méo: ‘Không có ý nghĩa gì trong việc bố thí (giving / dāna, sự cho đi), tế tự (sacrifice / yañña, các nghi lễ cúng tế thần linh), hay cúng phẩm (offerings / huta, vật phẩm dâng cúng trong các nghi lễ). Không có quả hay kết quả của việc làm tốt và xấu (nghiệp (deeds / kamma, hành động có chủ ý qua thân, khẩu, ý và kết quả của nó)). Không có đời sau. Không có cái gọi là mẹ và cha (công ơn cha mẹ), hay những chúng sanh được hóa sanh (beings that are reborn spontaneously / opapātika, chúng sanh được sinh ra một cách đột ngột, không qua thai bào, như chư thiên, ngạ quỷ). Và không có sa môn (ascetic / samaṇa, người tu khổ hạnh, người xuất gia tìm đạo giải thoát) hay bà la môn (brahmin / brāhmaṇa, người thuộc giai cấp tu sĩ Bà la môn giáo thời xưa, hoặc người có phẩm hạnh cao quý theo Phật giáo) nào hành xử đúng đắn và tu tập đúng đắn, và mô tả đời sau sau khi tự mình chứng ngộ bằng tuệ giác (insight / paññā, sự hiểu biết sâu sắc, trí tuệ thấu suốt bản chất các pháp) của họ.’ Người có mười phẩm chất này sẽ bị đọa vào địa ngục.

Người có mười phẩm chất sẽ được sanh lên cõi trời. Mười phẩm chất đó là gì? Đó là khi một người nào đó: Từ bỏ sát sanh. Người ấy từ bỏ gậy và kiếm. Người ấy biết xấu hổ (scrupulous / hiri, sự hổ thẹn với tội lỗi) và có lòng từ (kind / mettā, lòng nhân ái, mong muốn cho chúng sanh được an vui), sống đầy lòng trắc ẩn (bi (compassion / karuṇā, lòng thương xót, mong muốn cho tất cả chúng sanh thoát khỏi khổ đau)) đối với tất cả chúng sanh.

Từ bỏ lấy của không cho. Người ấy không, với ý định trộm cắp, lấy của cải hay tài sản của người khác từ làng mạc hay rừng núi.

Từ bỏ tà dâm. Người ấy không có quan hệ tình dục với những phụ nữ có mẹ, cha, cả mẹ và cha, anh trai, chị gái, bà con, hoặc dòng tộc bảo hộ. Người ấy không có quan hệ tình dục với phụ nữ được pháp luật bảo vệ, hoặc đã có chồng, hoặc người mà sự xâm phạm sẽ bị pháp luật trừng phạt, hoặc ngay cả người đã được nhận vòng hoa đính ước.

Từ bỏ nói dối. Người ấy được triệu tập đến một hội đồng, một hội chúng, một cuộc họp gia đình, một phường hội, hoặc đến hoàng cung, và được yêu cầu làm chứng: ‘Thưa ông, xin hãy nói những gì ông biết.’ Không biết, người ấy nói ‘Tôi không biết.’ Biết, người ấy nói ‘Tôi biết.’ Không thấy, người ấy nói ‘Tôi không thấy.’ Và thấy, người ấy nói ‘Tôi thấy.’ Như vậy, người ấy không cố ý nói dối vì lợi ích của bản thân hay người khác, hoặc vì một lý do thế gian nhỏ nhặt nào đó.

Từ bỏ nói lời chia rẽ. Người ấy không nghe điều gì ở nơi này rồi đi nói ở nơi khác để gây chia rẽ giữa mọi người. Thay vào đó, người ấy hòa giải những người đang chia rẽ, ủng hộ sự đoàn kết, vui thích sự hòa hợp, yêu mến sự hòa hợp, nói những lời thúc đẩy sự hòa hợp.

Từ bỏ nói lời ác khẩu. Người ấy nói năng dịu dàng, dễ nghe, đáng yêu, đi vào lòng người, lịch sự, dễ mến và dễ chịu đối với mọi người.

Từ bỏ nói lời vô ích. Lời nói của người ấy đúng lúc, đúng sự thật, và có ý nghĩa, phù hợp với Pháp và sự tu tập. Người ấy nói những điều đúng lúc, có giá trị, hợp lý, súc tích, và lợi ích.

Biết đủ (tri túc). Người ấy không tham muốn của cải và tài sản của người khác: ‘Ôi, ước gì tài sản của họ là của mình!’

Có tâm từ và ý định yêu thương: ‘Mong cho các chúng sanh này sống không có thù hận và ác ý, không phiền não và được hạnh phúc!’

chánh kiến (right view / sammādiṭṭhi, cái thấy đúng đắn, phù hợp với sự thật, yếu tố đầu tiên trong Bát Chánh Đạo). Quan điểm của người ấy không bị bóp méo: ‘Có ý nghĩa trong việc bố thí, tế tự, và cúng phẩm. Có quả và kết quả của việc làm tốt và xấu. Có đời sau. Có những điều như mẹ và cha, và chúng sanh được hóa sanh. Và có những sa môn và bà la môn hành xử đúng đắn và tu tập đúng đắn, và mô tả đời sau sau khi tự mình chứng ngộ bằng tuệ giác của họ.’

Người có mười phẩm chất này sẽ được sanh lên cõi trời."

XXI. Phẩm Thân Do Nghiệp Sanh

(I) (200) Ðịa Ngục, Thiên Giới

1. Thành tựu mười pháp, tương xứng như vậy, như vậy bị rơi vào địa ngục. Thế nào là mười?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người sát sanh, hung bạo, tay lấm máu, tâm chuyên sát hại đả thương, tâm không từ bi đối với tất cả loài hữu tình sinh vật. (Người này) lấy của không cho, bất cứ tài vật gì của người khác, hoặc tại thôn làng, hoặc tại rừng núi, không cho người ấy, người ấy lấy trộm tài vật ấy. Người ấy sống tà hạnh trong các dục, tà hạnh với các hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có anh em che chở, có chị che chở, có bà con che chở, có pháp che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa (đám cưới). Người ấy nói láo, đến chỗ tập hội hay đến chỗ chúng tôi, hay đến giữa các thân tộc, hay đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa các vương tộc, khi bị dẫn xuất làm chứng và được hỏi: “Này người kia, hãy nói những gì ông biết”; dầu không biết, người ấy nói: “Tôi biết”; dầu biết, người ấy nói: “Tôi không biết”; hay dầu không thấy, người ấy nói: “Tôi thấy”; hay dầu cho thấy, người ấy nói: “Tôi không thấy”. Như vậy lời nói của người ấy trở thành cố ý nói láo, hoặc nguyên nhân vì mình, hoặc nguyên nhân vì người, hoặc nguyên nhân vì một vài quyền lợi gì. Người ấy là người nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, đến chỗ kia nói, để sanh chia rẽ ở những người này. Nghe điều gì ở chỗ kia, đi nói với những người này, để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy, người ấy ly gián những kẻ hòa hợp, hay xúi giục những kẻ ly gián, ưa thích chia rẽ, vui thích chia rẽ, thích thú chia rẽ, nói những lời đưa đến chia rẽ. Và người ấy là người nói lời thô ác. Bất cứ lời gì thô bạo, thô tục, khiến người đau khổ, khiến người tức giận, liên hệ đến phẫn nộ, không đưa đến Thiền định, người ấy nói những lời như vậy. Và người ấy nói những lời phù phiếm, nói phi thời, nói những lời phi chơn, nói những lời không lợi ích, nói những lời phi pháp, nói những lời phi Luật, nói những lời không đáng gìn giữ. Vì nói phi thời, nên lời nói không có thuận lý, không có mạch lạc, hệ thống, không có lợi ích. Người ấy có tham ái, tham lam tài vật kẻ khác, nghĩ rằng: “Ôi, mong rằng mọi tài vật của người khác trở thành của mình! “. Có sân tâm, khởi lên hại ý, hại niệm như sau: “Mong rằng những loài hữu tình này bị giết, hay bị tàn sát, hay bị tiêu diệt, hay bị tàn hại, hay mong chúng không còn tồn tại! “. Người ấy có tà kiến, có tưởng điên đảo, như: “Không có bố thí, không có cúng thí, không có thiện thí, các hành vi thiện ác không có kết quả dị thục, không có đời này, không có đời sau, không có mẹ, không có cha, không có các loại hóa sanh, trong đời không có các Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh hành trì, chân chánh thành tựu, sau khi tự minh chứng ngộ với thắng trí, lại tuyên bố cho đời này và cho đời sau”. Thành tựu mười pháp này, người ấy như vậy tương xứng rơi vào địa ngục.

3. Thành tựu mười pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng, được sanh lên cõi Trời. Thế nào là mười?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm; biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và các loài hữu tình và sinh vật; đoạn tận lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho, bất cứ vật gì của người khác, hoặc tại thôn làng, hoặc tại rừng núi, không cho người ấy, người ấy không lấy trộm tài vật ấy; đoạn tận tà hạnh trong các dục, từ bỏ tà hạnh trong các dục, không hành tà hạnh với các hạng nữ nhân, có mẹ che chở, có cha che chở, có anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở, có pháp che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa (đám cưới). Người ấy đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo, đến chỗ tập hội hay đến chỗ chúng hội, hay đến giữa các thân tộc, hay đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa các vương tộc, khi bị dẫn xuất làm chứng và được hỏi: “Này ông kia, hãy nói những gì ông biết”. Nếu biết, người ấy nói: “Tôi biết”. Nếu không biết, người ấy nói: “Tôi không biết”; hay nếu không thấy, người ấy nói: “Tôi không thấy”; nếu thấy, người ấy nói: “Tôi thấy”. Như vậy lời nói của người ấy không trở thành cố ý vọng ngữ, hoặc nguyên nhân vì mình, hoặc nguyên nhân vì người, hoặc nguyên nhân vì một vài quyền lợi gì. Ðoạn tận nói hai lưỡi, từ bỏ nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đi đến chỗ kia nói, để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi đến nói với những người này, để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy, người ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, tăng trưởng những kẻ hòa hiệp, thích thú hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Ðoạn tận lời nói thô ác, từ bỏ lời nói thô ác. Những lời nói nhu hòa, êm tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người, người ấy nói những lời như vậy. Ðoạn tận lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói chân thật, nói có ý nghĩa, nói đúngPháp, nói đúng Luật, nói những đáng được gìn giữ. Vì nói hợp thời, nên lời nói thuận lý, có mạch lạc, hệ thống, có lợi ích. Ở đây có người không tham ái, không tham lam tài vật kẻ khác, không nghĩ rằng: “Ôi! Mong rằng mọi tài vật của người khác trở thành của mình! “. Lại có người không có sân tâm, không khởi lên hại ý, hại niệm, nhưng nghĩ rằng: “Mong rằng những loài hữu tình này sống không thù hận, không oán thù, không nhiễu loạn, được an lạc, lo nghĩ tự thân”. Có chánh kiến, không có tư tưởng điên đảo, nghĩ rằng: “Có bố thí, có cúng thí, có tế tự, các hành vi thiện ác, có kết quả dị thục, có đời này, có đời sau, có mẹ, có cha, có các loại hóa sanh, trong đời có các Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh hành trì, chân chánh thành tựu, sau khi tự tri, tự chứng, lại tuyên bố cho đời này và cho đời sau”.

“Thành tựu mười pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên Thiên giới.

AN 10.212 Trời và Địa Ngục (2) Dutiyanirayasaggasutta

"Người có mười phẩm chất sẽ bị đọa vào địa ngục. Mười phẩm chất đó là gì? Đó là khi một người nào đó sát sanh. Người ấy bạo lực, tay vấy máu, một kẻ giết người chai sạn, không có lòng thương xót đối với chúng sanh.

Người ấy lấy của không cho. … Người ấy tà dâm. … Người ấy nói dối. … Người ấy nói lời chia rẽ. … Người ấy nói lời ác khẩu. … Người ấy nói lời vô ích. … Người ấy tham lam. … Người ấy có ý định độc ác. … Người ấy có tà kiến. … Người có mười phẩm chất này sẽ bị đọa vào địa ngục.

Người có mười phẩm chất sẽ được sanh lên cõi trời. Mười phẩm chất đó là gì? Đó là khi một người nào đó từ bỏ sát sanh. Người ấy từ bỏ gậy và kiếm. Người ấy biết xấu hổ và có lòng từ, sống đầy lòng trắc ẩn đối với tất cả chúng sanh.

Người ấy từ bỏ lấy của không cho. … Người ấy từ bỏ tà dâm. … Người ấy từ bỏ nói dối. … Người ấy từ bỏ nói lời chia rẽ. … Người ấy từ bỏ nói lời ác khẩu. … Người ấy từ bỏ nói lời vô ích. … Người ấy biết đủ. … Người ấy có tâm từ. … Người ấy có chánh kiến. … Người có mười phẩm chất này sẽ được sanh lên cõi trời."

(II) (201) Ðịa Ngục Và Thiên Giới

(Giống như kinh trước)

AN 10.213 Người Nữ Mātugāmasutta

"Người nữ có mười phẩm chất sẽ bị đọa vào địa ngục. Mười phẩm chất đó là gì? Cô ấy sát sanh. … Cô ấy lấy của không cho. … Cô ấy tà dâm. … Cô ấy nói dối. … Cô ấy nói lời chia rẽ. … Cô ấy nói lời ác khẩu. … Cô ấy nói lời vô ích. … Cô ấy tham lam. … Cô ấy có ý định độc ác. … Cô ấy có tà kiến. … Người nữ có mười phẩm chất này sẽ bị đọa vào địa ngục.

Người nữ có mười phẩm chất sẽ được sanh lên cõi trời. Mười phẩm chất đó là gì? Cô ấy không sát sanh. … Cô ấy không lấy của không cho. … Cô ấy không tà dâm. … Cô ấy không nói dối. … Cô ấy không nói lời chia rẽ. … Cô ấy không nói lời ác khẩu. … Cô ấy không nói lời vô ích. … Cô ấy biết đủ. … Cô ấy có tâm từ. … Cô ấy có chánh kiến. … Người nữ có mười phẩm chất này sẽ được sanh lên cõi trời."

(III) (202) Nữ Nhân

1. Này các Tỷ-kheo, thành tựu mười pháp, nữ nhân như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Thế nào là mười?

2. Sát sanh… lấy của không cho… tà hạnh trong các dục… nói láo… nói hai lưỡi… nói lời thô ác… nói lời phù phiếm… tham ái… sân tâm… tà kiến…

Thành tựu mười pháp này, này các Tỷ-kheo, nữ nhân như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục.

3. Thành tựu mười pháp này, này các Tỷ-kheo, nữ nhân như vậy tương xứng được sanh lên Thiên giới. Thế nào là mười?

4. Ðoạn tận sát sanh… đoạn tận lấy của không cho… đoạn tận tà hạnh trong các dục… đoạn tận nói láo… đoạn tận nói hai lưỡi… đoạn tận nói lời thô ác… đoạn tận nói lời phù phiếm… đoạn tận tham ái… đoạn tận sân tâm… chánh kiến…

Thành tựu mười pháp này, này các Tỷ-kheo, nữ nhân như vậy tương xứng được sanh lên Thiên giới.

AN 10.214 Nữ Cư Sĩ Upāsikāsutta

"Nữ cư sĩ tại gia (laywoman / upāsikā, người nữ Phật tử tại gia) có mười phẩm chất sẽ bị đọa vào địa ngục. Mười phẩm chất đó là gì? Cô ấy sát sanh. … Cô ấy có tà kiến. … Nữ cư sĩ tại gia có mười phẩm chất này sẽ bị đọa vào địa ngục.

Nữ cư sĩ tại gia có mười phẩm chất sẽ được sanh lên cõi trời. Mười phẩm chất đó là gì? Cô ấy không sát sanh. … Cô ấy có chánh kiến. … Nữ cư sĩ tại gia có mười phẩm chất này sẽ được sanh lên cõi trời."

(IV) (203) Nữ Cư Sĩ

(Như kinh trên, chỉ thế nữ cư sĩ cho nữ nhân).

AN 10.215 Tự Tin Visāradasutta

"Nữ cư sĩ tại gia sống ở nhà với mười phẩm chất này thì không tự tin. Mười phẩm chất đó là gì? Cô ấy sát sanh. … Cô ấy có tà kiến. … Nữ cư sĩ tại gia sống ở nhà với mười phẩm chất này thì không tự tin.

Nữ cư sĩ tại gia sống ở nhà với mười phẩm chất này thì tự tin. Mười phẩm chất đó là gì? Cô ấy không sát sanh. … Cô ấy có chánh kiến. … Nữ cư sĩ tại gia sống ở nhà với mười phẩm chất này thì tự tin."

(204) Sợ Hãi Và Vô Úy

1. Thành tựu mười pháp, này các Tỷ-kheo, người nữ cư sĩ sống ở gia đình không có vô úy. Thế nào là mười?

2. Sát sanh… có tà kiến…

Thành tựu mười pháp, này các Tỷ-kheo, người nữ cư sĩ sống ở gia đình không có vô úy.

3. Thành tựu mười pháp này, này các Tỷ-kheo, người nữ cư sĩ sống ở gia đình, không có sợ hãi.

4. Ðoạn tận sát sanh… có chánh tri kiến.

Thành tựu mười pháp này, này các Tỷ-kheo, người nữ cư sĩ sống ở gia đình không có sợ hãi.

AN 10.216 Những Sinh Vật Lén Lút Saṁsappanīyasutta

“Này các Tỳ kheo (Mendicants / Bhikkhus, những vị sư khất thực, đệ tử xuất gia nam của Phật), Ta sẽ giảng cho các thầy bài Pháp về những sinh vật lén lút (saṁsappanīya (creepy creatures / những loài di chuyển bằng cách trườn bò, hoặc có hành vi lén lút, ám chỉ cả nghĩa đen về loài vật và nghĩa bóng về nghiệp bất thiện)). Hãy lắng nghe và như lý tác ý (apply your mind well / yoniso manasikāra, sự suy tư, chú ý một cách đúng đắn, có trí tuệ, hướng đến nguồn gốc của các pháp), Ta sẽ nói.”

“Vâng, thưa Thế Tôn,” họ đáp. Đức Phật nói điều này:

"Bài Pháp về những sinh vật lén lút là gì? Chúng sanh là chủ nhân của nghiệp và là người thừa tự nghiệp. Nghiệp là thai tạng, là quyến thuộc, là nơi nương tựa của chúng. Chúng sẽ là người thừa tự của bất cứ nghiệp nào chúng làm, dù tốt hay xấu.

Hãy xem một người nào đó sát sanh. Người ấy bạo lực, tay vấy máu, một kẻ giết người chai sạn, không có lòng thương xót đối với chúng sanh. Người ấy lén lút/quanh co trong thân, khẩu, và ý. Làm những nghiệp quanh co, tà vạy qua thân, khẩu, và ý, nên cảnh giới tái sanh (destiny / gati, nơi chúng sanh đi đến sau khi chết tùy theo nghiệp) và sự sanh trở lại (rebirth / upapatti, sự tái sanh trong một cảnh giới mới) của họ cũng quanh co, tà vạy.

Người có cảnh giới tái sanh và sự sanh trở lại quanh co, tà vạy, Ta nói, sẽ tái sanh vào một trong hai nơi: hoặc vào địa ngục toàn khổ, hoặc vào loài động vật lén lút. Và loài động vật lén lút là gì? Rắn, bọ cạp, rết, cầy mangut, mèo, chuột, cú, hoặc bất kỳ loài động vật nào khác lẩn trốn khi thấy người. Đây là cách một chúng sanh sinh ra từ một chúng sanh. Vì nghiệp của bạn quyết định sự tái sanh của bạn, và khi bạn tái sanh, xúc (contacts / phassa, sự tiếp xúc giữa 6 giác quan với 6 đối tượng tương ứng và thức tương ứng, tạo ra cảm giác) chạm đến bạn. Đây là lý do Ta nói rằng chúng sanh là người thừa tự nghiệp của chúng.

Hãy xem một người khác lấy của không cho … tà dâm … nói dối … nói lời chia rẽ … nói lời ác khẩu … nói lời vô ích … tham lam … có ý định độc ác … có tà kiến … Người ấy lén lút/quanh co trong thân, khẩu, và ý. Làm những nghiệp quanh co, tà vạy qua thân, khẩu, và ý, nên cảnh giới tái sanh và sự sanh trở lại của họ cũng quanh co, tà vạy.

Người có cảnh giới tái sanh và sự sanh trở lại quanh co, tà vạy, Ta nói, sẽ tái sanh vào một trong hai nơi: hoặc vào địa ngục toàn khổ, hoặc vào loài động vật lén lút. Và loài động vật lén lút là gì? Rắn, bọ cạp, rết, cầy mangut, mèo, chuột, cú, hoặc bất kỳ loài động vật nào khác lẩn trốn khi thấy người. Đây là cách một chúng sanh sinh ra từ một chúng sanh. Vì nghiệp của bạn quyết định sự tái sanh của bạn, và khi bạn tái sanh, xúc chạm đến bạn. Đây là lý do Ta nói rằng chúng sanh là người thừa tự nghiệp của chúng. Chúng sanh là chủ nhân của nghiệp và là người thừa tự nghiệp. Nghiệp là thai tạng, là quyến thuộc, là nơi nương tựa của chúng. Chúng sẽ là người thừa tự của bất cứ nghiệp nào chúng làm, dù tốt hay xấu.

Hãy xem một người nào đó từ bỏ sát sanh. Người ấy từ bỏ gậy và kiếm. Người ấy biết xấu hổ và có lòng từ, sống đầy lòng trắc ẩn đối với tất cả chúng sanh. Người ấy không lén lút/quanh co trong thân, khẩu, và ý. Làm những nghiệp đức hạnh qua thân, khẩu, và ý, nên cảnh giới tái sanh và sự sanh trở lại của họ là đức hạnh.

Người có cảnh giới tái sanh và sự sanh trở lại đức hạnh, Ta nói, sẽ tái sanh vào một trong hai nơi: hoặc vào cõi trời toàn thiện toàn lạc (ekantasukhaṁ saggaṁ lokaṁ / a heaven of perfect happiness), hoặc vào một gia đình danh giá, sung túc thuộc dòng dõi khattiya (aristocrats / giai cấp chiến sĩ, quý tộc thời Ấn Độ cổ đại), bà la môn (brahmins / giai cấp tu sĩ Bà la môn giáo, hoặc người có phẩm hạnh cao quý), hoặc gia chủ (householders / gahapati, người tại gia có tài sản và địa vị)—giàu có, thịnh vượng, và sung túc, với nhiều vàng bạc, nhiều tài sản và của cải, và nhiều tiền bạc và thóc lúa. Đây là cách một chúng sanh sinh ra từ một chúng sanh. Vì nghiệp của bạn quyết định sự tái sanh của bạn, và khi bạn tái sanh, xúc chạm đến bạn. Đây là lý do Ta nói rằng chúng sanh là người thừa tự nghiệp của chúng.

Hãy xem một người khác từ bỏ lấy của không cho … tà dâm … nói dối … nói lời chia rẽ … nói lời ác khẩu … nói lời vô ích … Người ấy biết đủ … có tâm từ … có chánh kiến … Người ấy không lén lút/quanh co trong thân, khẩu, và ý. Làm những nghiệp đức hạnh qua thân, khẩu, và ý, nên cảnh giới tái sanh và sự sanh trở lại của họ là đức hạnh.

Người có cảnh giới tái sanh và sự sanh trở lại đức hạnh, Ta nói, sẽ tái sanh vào một trong hai nơi: hoặc vào cõi trời toàn thiện toàn lạc, hoặc vào một gia đình danh giá, sung túc thuộc dòng dõi khattiya, bà la môn, hoặc gia chủ—giàu có, thịnh vượng, và sung túc, với nhiều vàng bạc, nhiều tài sản và của cải, và nhiều tiền bạc và thóc lúa. Đây là cách một chúng sanh sinh ra từ một chúng sanh. Vì nghiệp của bạn quyết định sự tái sanh của bạn, và khi bạn tái sanh, xúc chạm đến bạn. Đây là lý do Ta nói rằng chúng sanh là người thừa tự nghiệp của chúng.

Chúng sanh là chủ nhân của nghiệp và là người thừa tự nghiệp. Nghiệp là thai tạng, là quyến thuộc, là nơi nương tựa của chúng. Chúng sẽ là người thừa tự của bất cứ nghiệp nào chúng làm, dù tốt hay xấu. Đây là bài Pháp về những sinh vật lén lút."

(VI) (205) Pháp Môn Quanh Co

1. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về pháp môn quanh co và pháp môn Chánh pháp. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

2. Thế nào là pháp môn quanh co, này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp môn Chánh pháp?

Này các Tỷ-kheo, các chúng sanh là chủ của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, là sanh căn của nghiệp, là bà con của nghiệp, là chỗ nương tựa của nghiệp. Phàm họ làm nghiệp gì, thiện hay ác, họ là những kẻ thừa tự của nghiệp ấy.

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người sát sanh, bạo ngược, bàn tay lấm máu, tâm chuyên sát hại đả thương, tâm không từ bi đối với tất cả loài hữu tình, sinh vật. Vị ấy quanh co với thân, quanh co với lời, quanh co với ý. Thân nghiệp của vị ấy quanh co, ngữ nghiệp của vị ấy quanh co, ý nghiệp của vị ấy quanh co, sanh thú quanh co, sanh thành quanh co. Với người có sanh thú quanh co, này các Tỷ-kheo, có sanh thành quanh co. Ta nói rằng có một trong hai sanh thú sau đây: Các địa ngục nhất hướng đau khổ hay các loài bàng sanh thuộc loại trường bò. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các loài bàng sanh thuộc loại trường bò? Loại rắn, bò cạp, rết, con ăn rắn, con mèo, con chuột, con cú, và bất cứ loài súc vật nào, khi thấy người, trường bò mà đi. Như vậy, này các Tỷ-kheo là các sinh vật, sự sanh khởi của sinh vật. Do làm như thế nào, như vậy được sanh ra và được sanh như thế nào, thời có những cảm xúc như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng các chúng sanh ấy là những kẻ thừa tự nghiệp của mình.

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người lấy của không cho… có tà hạnh trong các dục… nói láo… nói hai lưỡi… nói lời thô ác… nói lời phù phiếm… có tham ái… có sân tâm… có tà kiến, có kiến điên đảo rằng: “Không có bố thí, không có cúng thí, không có tế tự; không có kết quả dị thục các nghiệp thiện ác; không có đời này, không có đời sau; không có mẹ; không có cha; không có các loài hóa sanh; ở đời không có các Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh hành trì, chân chánh thành tựu, những vị này, sau khi tự mình với thắng trí chứng ngộ đời này, đời sau và tuyên bố. Người ấy quanh co với thân, quanh co với lời, quanh co với ý. Thân nghiệp quanh co, ngữ nghiệp quanh co, ý nghiệp quanh co, sanh thú quanh co, sinh thành quanh co. Với người có sanh thú quanh co, này các Tỷ-kheo, có sanh thành quanh co, Ta nói rằng… Như vậy này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng các chúng sanh ấy là những kẻ thừa tự nghiệp của mình.

Này các Tỷ-kheo, các chúng sanh là chủ của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, là sanh căn của nghiệĩp, là bà con của nghiệp, là chỗ nương tựa của nghiệp. Phàm là nghiệp gì, thiện hay ác, họ thừa tự nghiệp ấy.

5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người sau khi đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh và các loài hữu tình. Vị ấy không quanh co với ý, thân nghiệp của vị ấy chánh trực, ngữ nghiệp chánh trực, ý nghiệp chánh trực, sanh thú chánh trực, sanh thành chánh trực. Với người có sanh thú chánh trực, này các Tỷ-kheo, có sanh thành chánh trực, Ta nói rằng một trong hai sanh thú sau đây: Các thiên giới nhất hướng lạc, hoặc các gia đình cao quý, các Sát-đế-ly đại gia, các Bà-la-môn đại gia, các Gia chủ đại gia, giàu có tài sản lớn, vật thọ dụng lớn, vàng bạc nhiều, tài vật nhiều, tài sản lúa gạo nhiều. Do làm như thế nào, như vậy được sanh ra, và được sinh như thế nào, thời có những cảm xúc như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng các chúng sanh ấy là những kẻ thừa tự nghiệp của mình.

6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người đoạn tận lấy của không cho. từ bỏ lấy của không cho… đoạn tận tà hạnh trong các dục, từ bỏ tà hạnh trong các dục… đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo… đoạn tận nói hai lưỡi, từ bỏ nói hai lưỡi… đoạn tận nói lời thô ác, từ bỏ nói lời thô ác… đoạn tận nói lời phù phiếm, từ bỏ nói lời phù phiếm… không có tham dục… không có sân tâm, có chánh kiến, không có các kiến điên đảo. Có bố thí, có cúng thí, có tế tự; có kết quả dị thục các nghiệp thiện ác; có đời này, có đời sau; có mẹ; có cha; có các loài hóa sanh. Ở đời có các Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh hành trì, chân chánh thành tựu, những vị này, sau khi tự mình với thắng trí chứng ngộ đời này, đời sau và tuyên bố. Vị ấy không quanh co với thân, không quanh co với lời, không quanh co với ý. Thân nghiệp vị ấy chánh trực, ngữ nghiệp chánh trực, ý nghiệp chánh trực, sanh thú chánh trực, sanh thành chánh trực. Với người có sanh thú chánh trực, này các Tỷ-kheo, có sanh thành chánh trực, Ta nói rằng có một trong hai sanh thú sau đây: Các thiên giới nhất hướng lạc, hoặc các gia đình cao quý, các Sát-đế-ly đại gia, các Bà-la-môn đại gia, các gia chủ đại gia, giàu có tài sản lớn, vật thọ dụng lớn, vàng bạc nhiều, tài vật nhiều, tài sản lúa gạo nhiều. Do làm như thế nào, như vậy được sanh ra và được sanh như thế nào, thời có những cảm xúc như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng chúng sanh ấy là những kẻ thừa tự nghiệp của mình.

Này các Tỷ-kheo, các chúng sanh là chủ của nghiệp, là những kẻ thừa tự của nghiệp, là sanh căn của nghiệp, là bà con của nghiệp, là chỗ nương tựa của nghiệp. Phàm làm nghiệp gì, thiện hay ác, họ là những kẻ thừa tự của nghiệp ấy.

AN 10.217 Cố Ý (1) Paṭhamasañcetanikasutta

"Này các Tỳ kheo, Ta không nói rằng những nghiệp cố ý (intentional deeds / sañcetanika kamma, hành động được thúc đẩy bởi ý muốn có chủ tâm) đã làm và đã tích lũy lại bị tiêu trừ mà không phải chịu quả báo. Và quả báo đó có thể xảy ra ngay trong đời này, hoặc trong đời sau, hoặc trong một khoảng thời gian kế tiếp nào đó. Và Ta không nói rằng khổ đau chấm dứt mà không phải chịu quả báo của những nghiệp cố ý đã làm và đã tích lũy.

Nay, có ba loại hư hỏng và thất bại của hành động thuộc về thân có tư tâm bất thiện (unskillful intention / akusala cetanā, ý định không tốt, không thiện xảo, dẫn đến hành động bất thiện), với khổ đau là kết quả và hậu quả của chúng. Có bốn loại hư hỏng và thất bại của hành động thuộc về lời nói có tư tâm bất thiện, với khổ đau là kết quả và hậu quả của chúng. Có ba loại hư hỏng và thất bại của hành động thuộc về ý có tư tâm bất thiện, với khổ đau là kết quả và hậu quả của chúng.

Và ba loại hư hỏng và thất bại của hành động thuộc về thân là gì? Đó là khi một người nào đó sát sanh. Người ấy bạo lực, tay vấy máu, một kẻ giết người chai sạn, không có lòng thương xót đối với chúng sanh.

Người ấy lấy của không cho. Với ý định trộm cắp, người ấy lấy của cải hay tài sản của người khác từ làng mạc hay rừng núi.

Người ấy tà dâm. Người ấy có quan hệ tình dục với những phụ nữ có mẹ, cha, cả mẹ và cha, anh trai, chị gái, bà con, hoặc dòng tộc bảo hộ. Người ấy có quan hệ tình dục với phụ nữ được pháp luật bảo vệ, hoặc đã có chồng, hoặc người mà sự xâm phạm sẽ bị pháp luật trừng phạt, hoặc ngay cả người đã được nhận vòng hoa đính ước.

Đó là ba loại hư hỏng và thất bại của hành động thuộc về thân.

Và bốn loại hư hỏng và thất bại của hành động thuộc về lời nói là gì? Đó là khi một người nào đó nói dối. Người ấy được triệu tập đến một hội đồng, một hội chúng, một cuộc họp gia đình, một phường hội, hoặc đến hoàng cung, và được yêu cầu làm chứng: ‘Thưa ông, xin hãy nói những gì ông biết.’ Không biết, người ấy nói ‘Tôi biết.’ Biết, người ấy nói ‘Tôi không biết.’ Không thấy, người ấy nói ‘Tôi thấy.’ Và thấy, người ấy nói ‘Tôi không thấy.’ Như vậy, người ấy cố ý nói dối vì lợi ích của bản thân hay người khác, hoặc vì một lý do thế gian nhỏ nhặt nào đó.

Người ấy nói lời chia rẽ. Người ấy nghe điều gì ở nơi này rồi đi nói ở nơi khác để gây chia rẽ giữa mọi người. Và như thế, người ấy chia rẽ những người đang hòa hợp, ủng hộ sự chia rẽ, thích thú sự chia rẽ, yêu mến sự chia rẽ, nói những lời gây chia rẽ.

Người ấy nói lời ác khẩu. Người ấy dùng những lời lẽ tàn nhẫn, khó nghe, gây tổn thương, xúc phạm, gần với sự tức giận, không dẫn đến định.

Người ấy nói lời vô ích. Lời nói của người ấy không đúng lúc, không đúng sự thật cũng không lợi ích. Nó không liên quan gì đến Pháp hay sự tu tập. Lời nói của họ không có giá trị, không đúng lúc, không hợp lý, lan man và vô mục đích.

Đó là bốn loại hư hỏng và thất bại của hành động thuộc về lời nói.

Và ba loại hư hỏng và thất bại của hành động thuộc về ý là gì? Đó là khi một người nào đó tham lam. Người ấy tham muốn của cải và tài sản của người khác: ‘Ôi, ước gì tài sản của họ là của mình!’

Người ấy có tâm sân hận và ý định độc ác: ‘Mong cho các chúng sanh này bị giết, bị tàn sát, bị sát hại, bị hủy diệt, hoặc bị tiêu diệt!’

Người ấy có tà kiến. Quan điểm của người ấy bị bóp méo: ‘Không có ý nghĩa gì trong việc bố thí, tế tự, hay cúng phẩm. Không có quả hay kết quả của việc làm tốt và xấu. Không có đời sau. Không có cái gọi là mẹ và cha, hay những chúng sanh được hóa sanh. Và không có sa môn hay bà la môn nào hành xử đúng đắn và tu tập đúng đắn, và mô tả đời sau sau khi tự mình chứng ngộ bằng tuệ giác của họ.’

Đó là ba loại hư hỏng và thất bại của hành động thuộc về ý.

Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, chúng sanh tái sanh vào cõi mất mát (place of loss / apāya, cõi khổ, nơi đoạ lạc), nơi xấu xa (bad place / duggati, ác thú, đường ác), cõi khổ (underworld / vinipāta, nơi đoạ lạc, thường chỉ các trạng thái đau khổ sau khi chết), địa ngục (hell / niraya, cảnh giới đau khổ nhất trong các cõi khổ) vì ba loại hư hỏng và thất bại của hành động thuộc về thân này, bốn loại hư hỏng và thất bại của hành động thuộc về lời nói này, hoặc ba loại hư hỏng và thất bại của hành động thuộc về ý này mà có tư tâm bất thiện, với khổ đau là kết quả và hậu quả của chúng.

Giống như tung những con súc sắc không bao giờ sai: chúng luôn rơi đúng mặt. Cũng vậy, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, chúng sanh tái sanh vào cõi mất mát, nơi xấu xa, cõi khổ, địa ngục vì ba loại hư hỏng và thất bại của hành động thuộc về thân này, bốn loại hư hỏng và thất bại của hành động thuộc về lời nói này, hoặc ba loại hư hỏng và thất bại của hành động thuộc về ý này mà có tư tâm bất thiện, với khổ đau là kết quả và hậu quả của chúng.

Ta không nói rằng những nghiệp cố ý đã làm và đã tích lũy lại bị tiêu trừ mà không phải chịu quả báo. Và quả báo đó có thể xảy ra ngay trong đời này, hoặc trong đời sau, hoặc trong một khoảng thời gian kế tiếp nào đó. Và Ta không nói rằng khổ đau chấm dứt mà không phải chịu quả báo của những nghiệp cố ý đã làm và đã tích lũy.

Nay, có ba loại thành công của hành động thuộc về thân có tư tâm thiện (skillful intention / kusala cetanā, ý định tốt, thiện xảo, dẫn đến hành động thiện), với hạnh phúc là kết quả và hậu quả của chúng. Có bốn loại thành công của hành động thuộc về lời nói có tư tâm thiện, với hạnh phúc là kết quả và hậu quả của chúng. Có ba loại thành công của hành động thuộc về ý có tư tâm thiện, với hạnh phúc là kết quả và hậu quả của chúng.

Và ba loại thành công của hành động thuộc về thân là gì? Đó là khi một người nào đó từ bỏ sát sanh. Người ấy từ bỏ gậy và kiếm. Người ấy biết xấu hổ và có lòng từ, sống đầy lòng trắc ẩn đối với tất cả chúng sanh.

Người ấy không lấy của không cho. Người ấy không, với ý định trộm cắp, lấy của cải hay tài sản của người khác từ làng mạc hay rừng núi.

Người ấy từ bỏ tà dâm. Người ấy không có quan hệ tình dục với những phụ nữ có mẹ, cha, cả mẹ và cha, anh trai, chị gái, bà con, hoặc dòng tộc bảo hộ. Người ấy không có quan hệ tình dục với phụ nữ được pháp luật bảo vệ, hoặc đã có chồng, hoặc người mà sự xâm phạm sẽ bị pháp luật trừng phạt, hoặc ngay cả người đã được nhận vòng hoa đính ước.

Đó là ba loại thành công của hành động thuộc về thân.

Và bốn loại thành công của hành động thuộc về lời nói là gì? Đó là khi một người nào đó từ bỏ nói dối. Người ấy được triệu tập đến một hội đồng, một hội chúng, một cuộc họp gia đình, một phường hội, hoặc đến hoàng cung, và được yêu cầu làm chứng: ‘Thưa ông, xin hãy nói những gì ông biết.’ Không biết, người ấy nói ‘Tôi không biết.’ Biết, người ấy nói ‘Tôi biết.’ Không thấy, người ấy nói ‘Tôi không thấy.’ Và thấy, người ấy nói ‘Tôi thấy.’ Người ấy không cố ý nói dối vì lợi ích của bản thân hay người khác, hoặc vì một lý do thế gian nhỏ nhặt nào đó.

Người ấy từ bỏ nói lời chia rẽ. Người ấy không nghe điều gì ở nơi này rồi đi nói ở nơi khác để gây chia rẽ giữa mọi người. Thay vào đó, người ấy hòa giải những người đang chia rẽ, ủng hộ sự đoàn kết, vui thích sự hòa hợp, yêu mến sự hòa hợp, nói những lời thúc đẩy sự hòa hợp.

Người ấy từ bỏ nói lời ác khẩu. Người ấy nói năng dịu dàng, dễ nghe, đáng yêu, đi vào lòng người, lịch sự, dễ mến và dễ chịu đối với mọi người.

Người ấy từ bỏ nói lời vô ích. Lời nói của người ấy đúng lúc, đúng sự thật, và có ý nghĩa, phù hợp với Pháp và sự tu tập. Người ấy nói những điều đúng lúc, có giá trị, hợp lý, súc tích, và lợi ích.

Đó là bốn loại thành công của hành động thuộc về lời nói.

Và ba loại thành công của hành động thuộc về ý là gì? Đó là khi một người nào đó biết đủ. Người ấy không tham muốn của cải và tài sản của người khác: ‘Ôi, ước gì tài sản của họ là của mình!’

Người ấy có tâm từ và ý định yêu thương: ‘Mong cho các chúng sanh này sống không có thù hận và ác ý, không phiền não và được hạnh phúc!’

Người ấy có chánh kiến, một quan điểm không bị bóp méo: ‘Có ý nghĩa trong việc bố thí, tế tự, và cúng phẩm. Có quả và kết quả của việc làm tốt và xấu. Có đời sau. Có những điều như mẹ và cha, và chúng sanh được hóa sanh. Và có những sa môn và bà la môn hành xử đúng đắn và tu tập đúng đắn, và mô tả đời sau sau khi tự mình chứng ngộ bằng tuệ giác của họ.’

Đó là ba loại thành công của hành động thuộc về ý.

Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, chúng sanh tái sanh vào nơi tốt đẹp (good place / sugati, thiện thú, đường lành), ở cõi trời (heaven / sagga loka, thế giới của chư thiên) vì ba loại thành công của hành động thuộc về thân này, bốn loại thành công của hành động thuộc về lời nói này, hoặc ba loại thành công của hành động thuộc về ý này mà có tư tâm thiện, với hạnh phúc là kết quả và hậu quả của chúng.

Giống như tung những con súc sắc không bao giờ sai: chúng luôn rơi đúng mặt. Cũng vậy, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, chúng sanh tái sanh vào nơi tốt đẹp, ở cõi trời vì ba loại thành công của hành động thuộc về thân này, bốn loại thành công của hành động thuộc về lời nói này, hoặc ba loại thành công của hành động thuộc về ý này mà có tư tâm thiện, với hạnh phúc là kết quả và hậu quả của chúng. Ta không nói rằng những nghiệp cố ý đã làm và đã tích lũy lại bị tiêu trừ mà không phải chịu quả báo. Và quả báo đó có thể xảy ra ngay trong đời này, hoặc trong đời sau, hoặc trong một khoảng thời gian kế tiếp nào đó. Và Ta không nói rằng khổ đau chấm dứt mà không phải chịu quả báo của những nghiệp cố ý đã làm và đã tích lũy."

(VII) (206) Ngọc Ma-Ni

1. Ta tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, các nghiệp đã tư niệm, đã làm, đã tích tập, nếu không cảm thọ (kết quả) thời không có chấm dứt, dầu kết quả ấy sanh khởi ngay trong đời hiện tại hay trong đời sau. Ta tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, các nghiệp đã tư niệm, đã làm, đã tích tập, nếu không cảm thọ (kết quả), thời khổ không có thể chấm dứt được. Ở đây, này các Tỷ-kheo, ba phần là lầm lỗi, phạm tội của thân nghiệp đã bất thiện tư niệm, dẫn đến khổ đưa đến khổ dị thục. Bốn phần là lầm lỗi, phạm tội của ngữ nghiệp, đã bất thiện tư niệm, dẫn đến khổ, đưa đến khổ dị thục. Ba phần là lầm lỗi, phạm tội của ý nghiệp, đã bất thiện tư niệm, dẫn đến khổ, đưa đến khổ dị thục. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ba phần lầm lỗi, phạm tội của thân nghiệp đã bất thiện tư niệm, dẫn đến khổ, đưa đến khổ dị thục?

2. Ở đây, này các này các Tỷ-kheo, có người sát sanh hung bạo, tay lấm máu, tâm chuyên sát hại đả thương, tâm không từ bi đối với tất cả các loài hữu tình, các sinh vật. Lấy của không cho, bất cứ tài vật gì của người khác, hoặc tại thôn làng, hoặc tại rừng núi, không cho người ấy, người ấy lấy trộm tài vật ấy. Sống tà hạnh trong các dục vọng, tà hạnh với hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có mệ cha che chở, có anh em che chở, có chị che chở, có bà con che chở, có pháp che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa (đám cưới).

Như vậy, này các Tỷ-kheo, ba phần là lầm lỗi phạm tội của thân nghiệp, đã bất thiện tư niệm, dẫn đến khổ, đưa đến khổ dị thục. Như thế nào, này các Tỷ-kheo, bốn phần là lầm lỗi, phạm tội của ngữ nghiệp, đã bất thiện tư niệm, dẫn đến khổ, đưa đến khổ dị thục?

3. Người ấy nói láo, đến chỗ tập hội, hay đến chỗ chúng tôi, hay đến giữa các thân tộc, hay đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa các vương tộc, khi bị dẫn xuất làm chứng và được hỏi: “Này người kia, hãy nói những gì người biết”; dầu cho vị ấy không biết, vị ấy nói: “Tôi biết”; dầu cho vị ấy biết, vị ấy nói: “Tôi không biết”. Hay dầu cho vị ấy không thấy, vị ấy nói: “Tôi có thấy”; hay dầu cho vị ấy thấy, vị ấy nói: “Tôi không thấy”. Như vậy lời nói của người ấy trở thành cố ý nói láo, hoặc nguyên nhân vì mình, hoặc nguyên nhân vì người, hoặc nguyên nhân vì một vài quyền lợi. Người ấy là người nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, đến chỗ kia nói, để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, đi nói với những người này, để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy, vị ấy ly gián những kẻ hòa hợp, hay xúi giục những kẻ ly gián, ưa thích chia rẽ, vui thích chia rẽ, thích thú chia rẽ, nói những lời đưa đến chia rẽ. Và người ấy nói lời thô ác, bất cứ lời gì thô bạo, thô tục, khiến người đau khổ, khiến người tức giận, liên hệ đến phẫn nộ, không đưa đến Thiền định. Người ấy nói những lời như vậy. Và người ấy nói những lời phù phiếm, nói phi thời, nói những lời phi chơn, nói những lời không lợi ích, nói những lời phi pháp, nói những lời phi Luật, nói những lời không đáng gìn giữ. Vì nói phi thời, nên lời nói không có thuận lý, không có mạch lạc, hệ thống, không có lợi ích.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, bốn phần là lầm lỗi, phạm tội của ngữ nghiệp, đã bất thiện tư niệm, dẫn đến khổ, đưa đến khổ dị thục. Như thế nào, này các Tỷ-kheo, ba phần là lầm lỗi, và phạm tội của ý nghiệp, đã bất thiện tư niệm, đã dẫn đến khổ, đưa đến khổ dị thục.

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người ấy có tham ái, tham lam tài vật kẻ khác, nghĩ rằng: “Ôi, mong rằng mọi tài vật của người khác trở thành của mình! “. Có sân tâm, khởi lên hại ý, hại niệm như sau: “Mong rằng những loài hữu tình này bị giết, hay bị tàn sát, hay bị tiêu diệt, hay bị tàn hại, hay mong chúng không còn tồn tại! “. Người ấy có tà kiến, có tưởng điên đảo, như: “Không có bố thí, không có cúng thí, không có tế tự, các hành vi thiện ác không có kết quả dị thục, không có đời này, không có đời sau, không có mẹ, không có cha, không có các loại hóa sanh, trong đời không có các Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh hành trì, chân chánh thành tựu, sau khi tự mình với thắng trí, giác ngộ đời này và đời sau, và tuyên bố”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ba phần là lầm lỗi, phạm tội của ý nghiệp, đã bất thiện tư niệm, đã dẫn đến khổ, đưa đến khổ dị thục.

5. Này các này các Tỷ-kheo, do nhân bất thiện tư niệm, sự lầm lỗi và phạm tội của thân nghiệp có ba phần, các chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Hay là này các Tỷ-kheo, do nhân bất thiện tư niệm, lầm lỗi phạm tội của ngữ nghiệp có bốn phần, các chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Hay là này các Tỷ-kheo, do nhân bất thiện tư niệm, lầm lỗi phạm tội của ý nghiệp có ba phần, các chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

6. Ví như, này các Tỷ-kheo, một hòn ngọc ma ni viên mãn, được quăng lên và rơi xuống chỗ nào, tại chỗ ấy nó khéo an lập. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do nhân bất thiện tư niệm, lầm lỗi phạm tội của thân nghiệp có ba phần, các chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Hay là này các Tỷ-kheo, do nhân bất thiện tư niệm, lầm lỗi phạm tội của ngữ nghiệp có bốn phần, các chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Hay là này các Tỷ-kheo, do nhân bất thiện tư niệm, lầm lỗi phạm tội của ý nghiệp có ba phần, các chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

7. Ta tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, các nghiệp được tư niệm, được làm, được tích tập, nếu không cảm thọ (kết quả) thời không có chấm dứt, dầu quả ấy thuộc trong đời hiện tại, hay trong đời sau. Ta tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, các nghiệp được tư niệm, được làm, được tích tập, nếu không cảm thọ (kết quả) thời khổ không có chấm dứt. Ở đây, này các Tỷ-kheo, ba phần là thành đạt của thân nghiệp đã thiện tư niệm, dẫn đến lạc, đưa đến lạc dị thục, bốn phần là thành đạt của ngữ nghiệp đã thiện tư niệm, dẫn đến lạc, đưa đến lạc dị thục, ba phần là thành đạt của ý nghiệp đã thiện tư niệm, dẫn đến lạc, đưa đến lạc dị thục. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, ba phần là thành đạt của thân nghiệp đã thiện tư niệm, dẫn đến lạc, đưa đến lạc dị thục?

8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh và các loài hữu tình. Ðoạn tận lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho, bất cứ vật gì của người khác, hoặc tại thôn làng, hoặc tại rừng núi, không cho người ấy, người ấy không lấy trộm tài vật ấy. Ðoạn tận Sống tà hạnh trong các dục, không hành tà hạnh với hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có mẹ cha che chở, có anh em che chở, có chị che chở, có bà con che chở, có pháp che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa (đám cưới). Như vậy, này các Tỷ-kheo, ba phần la 2thành đạt của thân nghiệp, dẫn đến lạc, đưa đến lạc dị thục. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bốn phần là thành đạt của ngữ nghiệp, dẫn đến lạc, đưa đến lạc dị thục?

9. Ở đây, này các Tỷ-kheo có người đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo, đến chỗ tập hội hay đến chỗ chúng hội, hay đến giữa các thân tộc, hay đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa các vương tộc, khi bị dẫn xuất làm chứng và được hỏi: “Này người kia, hãy nói những gì người biết”, nếu biết, người ấy nói: “Tôi biết”, nếu không biết, người ấy nói: “Tôi không biết”; hay nếu không thấy, người ấy nói: “Tôi không thấy”; nếu thấy, người ấy nói: “Tôi thấy”. Như vậy lời nói của người ấy không trở thành cố ý vọng ngữ, hoặc nguyên nhân vì mình, hoặc nguyên nhân vì người, hoặc nguyên nhân vì một vài quyền lợi gì. Ðoạn tận lời nói hai lưỡi, từ bỏ nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đi đến chỗ kia nói, để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này, để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy, người ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, tăng trưởng những kẻ hòa hợp, thích thú hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Ðoạn tận lời nói thô ác, từ bỏ lời nói thô ác, những lời nói nhu hòa, êm tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui ý nhiều người, người ấy nói những lời như vậy. Ðoạn tận lời nói phù phiếm, từ bỏ lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về chánh Pháp, nói những lời về Luật, nói những đáng được gìn giữ. Vì nói hợp thời, nên lời nói thuận lý, có mạch lạc, hệ thống, có lợi ích. Như vậy, này các Tỷ-kheo, bốn phần là sự thành đạt của ngữ nghiệp đã thiện tư niệm, dẫn đến lạc, đưa đến lạc dị thục. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ba phần là thành đạt của ý nghiệp đã thiện tư niệm, dẫn đến lạc, đưa đến lạc dị thục?

10. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người không tham ái, không tham lam tài vật của kẻ khác, không có nghĩ rằng: “Ôi! Mong rằng món tài vật của người khác trở thành của mình! “. Lại có người không có sân tâm, không khởi lên hại ý, hại niệm, nhưng nghĩ rằng: “Mong rằng những loài hữu tình này sống không thù hận, không oán thù, không nhiễm loạn, được an lạc, lo nghĩ tự thân! “. Có chánh kiến, không có tư tưởng điên đảo, nghĩ rằng: “Có bố thí, có cúng thí, có tế tự, các hành vi thiện ác, có kết quả dị thục, có đời này, có đời sau, có mẹ, có cha, có các loại hóa sanh, trong đời có các Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh hành trì, chân chánh thành tựu, sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí đời này và đời sau, rồi tuyên bố”.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, ba phần là thành đạt của ý nghiệp đã thiện tư niệm, dẫn đến lạc, đưa đến lạc dị thục.

11. Này các Tỷ-kheo, do nhân ba phần là thành đạt của thân nghiệp, đã thiện tư niệm, dẫn đến lạc, đưa đến lạc dị thục, các chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung, được sanh thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Này các Tỷ-kheo, do nhân bốn phần là thành đạt của ngữ nghiệp, đã thiện tư niệm, dẫn đến lạc, đưa đến lạc dị thục, các chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung, được sanh thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Này các Tỷ-kheo, do nhân ba phần là thành đạt của ý nghiệp, đã thiện tư niệm, dẫn đến lạc, đưa đến lạc dị thục, các chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung, được sanh thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.

12. Ví như, này các Tỷ-kheo, hòn ngọc ma-ni viên mãn, được quăng lên và rơi xuống chỗ nào, tại chỗ ấy nó khéo an lập. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do nhân thiện tư niệm, thành đạt của thân nghiệp có ba phần, các chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào thiện thú, thiên giới, cõi đời này. Hay là do nhân thiện tư niệm, thành đạt của ngữ nghiệp có bốn phần, các chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Hay là do nhân thiện tư niệm, thành đạt của ý nghiệp có ba phần, các chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.

13. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng các nghiệp đã tư niệm, đã làm, đã tích tập, nếu chưa lãnh thọ (kết quả) thời không chấm dứt, dầu cho quả ấy thuộc đời hiện tại, hay trong đời sau, và này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng các nghiệp đã tư niệm, đã được làm, đã được tích tập, nếu chưa lãnh thọ (kết quả) thời khổ không được chấm dứt.

AN 10.218 Cố Ý (2) Dutiyasañcetanikasutta

"Này các Tỳ kheo, Ta không nói rằng những nghiệp cố ý đã làm và đã tích lũy lại bị tiêu trừ mà không phải chịu quả báo. Và quả báo đó có thể xảy ra ngay trong đời này, hoặc trong đời sau, hoặc trong một khoảng thời gian kế tiếp nào đó. Và Ta không nói rằng khổ đau chấm dứt mà không phải chịu quả báo của những nghiệp cố ý đã làm và đã tích lũy.

Nay, có ba loại hư hỏng và thất bại của hành động thuộc về thân có tư tâm bất thiện, với khổ đau là kết quả và hậu quả của chúng. Có bốn loại hư hỏng và thất bại của hành động thuộc về lời nói có tư tâm bất thiện, với khổ đau là kết quả và hậu quả của chúng. Có ba loại hư hỏng và thất bại của hành động thuộc về ý có tư tâm bất thiện, với khổ đau là kết quả và hậu quả của chúng.

Và ba loại hư hỏng và thất bại của hành động thuộc về thân là gì? … Đó là ba loại hư hỏng và thất bại của hành động thuộc về thân.

Và bốn loại hư hỏng và thất bại của hành động thuộc về lời nói là gì? … Đó là bốn loại hư hỏng và thất bại của hành động thuộc về lời nói.

Và ba loại hư hỏng và thất bại của hành động thuộc về ý là gì? … Đó là ba loại hư hỏng và thất bại của hành động thuộc về ý.

Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, chúng sanh tái sanh vào cõi mất mát, nơi xấu xa, cõi khổ, địa ngục vì ba loại hư hỏng và thất bại của hành động thuộc về thân này, bốn loại hư hỏng và thất bại của hành động thuộc về lời nói này, hoặc ba loại hư hỏng và thất bại của hành động thuộc về ý này mà có tư tâm bất thiện, với khổ đau là kết quả và hậu quả của chúng.

Ta không nói rằng những nghiệp cố ý đã làm và đã tích lũy lại bị tiêu trừ mà không phải chịu quả báo. Và quả báo đó có thể xảy ra ngay trong đời này, hoặc trong đời sau, hoặc trong một khoảng thời gian kế tiếp nào đó. Và Ta không nói rằng khổ đau chấm dứt mà không phải chịu quả báo của những nghiệp cố ý đã làm và đã tích lũy.

Nay, có ba loại thành công của hành động thuộc về thân có tư tâm thiện, với hạnh phúc là kết quả và hậu quả của chúng. Có bốn loại thành công của hành động thuộc về lời nói có tư tâm thiện, với hạnh phúc là kết quả và hậu quả của chúng. Có ba loại thành công của hành động thuộc về ý có tư tâm thiện, với hạnh phúc là kết quả và hậu quả của chúng.

Và ba loại thành công của hành động thuộc về thân là gì? … Đó là ba loại thành công của hành động thuộc về thân.

Và bốn loại thành công của hành động thuộc về lời nói là gì? … Đó là bốn loại thành công của hành động thuộc về lời nói.

Và ba loại thành công của hành động thuộc về ý là gì? … Đó là ba loại thành công của hành động thuộc về ý.

Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, chúng sanh tái sanh vào nơi tốt đẹp, ở cõi trời vì ba loại thành công của hành động thuộc về thân này, bốn loại thành công của hành động thuộc về lời nói này, hoặc ba loại thành công của hành động thuộc về ý này mà có tư tâm thiện, với hạnh phúc là kết quả và hậu quả của chúng. …"

(VIII) (207) Tổn Giảm và Tăng Trưởng

(kinh này giống hẳn như kinh trước 206).

AN 10.219 Thân Sanh Bởi Nghiệp Karajakāyasutta

"Này các Tỳ kheo, Ta không nói rằng những nghiệp cố ý đã làm và đã tích lũy lại bị tiêu trừ mà không phải chịu quả báo. Và quả báo đó có thể xảy ra ngay trong đời này, hoặc trong đời sau, hoặc trong một khoảng thời gian kế tiếp nào đó. Và Ta không nói rằng khổ đau chấm dứt mà không phải chịu quả báo của những nghiệp cố ý đã làm và đã tích lũy.

Vị Thánh đệ tử (noble disciple / Ariyasāvaka, người đệ tử đã chứng ngộ một phần hoặc toàn phần con đường giải thoát) ấy thoát khỏi tham ái (desire / rāga, sự ham muốn, luyến ái các đối tượng dục lạc), thoát khỏi sân, không si mê (unconfused / asammoha, trạng thái tâm không bị vô minh che lấp, sáng suốt), tỉnh giác (aware / sampajañña, sự hiểu biết rõ ràng về những gì đang xảy ra nơi thân, thọ, tâm, pháp), và tỉnh thức (mindful / sati, sự chú tâm, ghi nhớ không quên đối tượng hiện tại). Vị ấy thiền quán bằng cách lan tỏa tâm từ (love / mettā, lòng yêu thương, mong muốn cho tất cả chúng sanh được an vui hạnh phúc, một trong Tứ Vô Lượng Tâm) đến một phương, rồi đến phương thứ hai, rồi đến phương thứ ba, rồi đến phương thứ tư. Cũng vậy, ở trên, ở dưới, ngang qua, khắp mọi nơi, cùng khắp, vị ấy lan tỏa tâm từ đến toàn thế giới—dồi dào, rộng lớn, vô lượng, không oan trái, không sân hận.

Vị ấy hiểu rõ: ‘Trước đây tâm ta còn hạn hẹp và chưa phát triển. Nay tâm ta vô lượng và đã phát triển tốt. Bất cứ nghiệp nhỏ (limited deeds / pamāṇakata kamma, nghiệp có giới hạn, có thể bị áp đảo bởi nghiệp lớn mạnh hơn hoặc tâm vô lượng) nào ta đã làm đều không còn tồn tại hay ảnh hưởng ở đó (trong tâm đã được mở rộng).’

Các thầy nghĩ sao, này các Tỳ kheo? Giả sử một đứa trẻ đã phát triển tâm giải thoát nhờ từ (heart’s release by love / mettācetovimutti, sự giải thoát của tâm nhờ tu tập lòng từ đến mức độ vô lượng) từ khi còn thơ ấu. Liệu nó có còn làm bất cứ nghiệp xấu nào không?"

“Không, thưa Thế Tôn.”

“Không làm bất cứ nghiệp xấu nào, liệu nó có còn phải chịu bất cứ khổ đau nào không?”

“Không, thưa Thế Tôn. Vì nếu nó không làm bất cứ nghiệp xấu nào, thì khổ đau từ đâu mà đến với nó?”

"Tâm giải thoát nhờ từ này nên được phát triển bởi phụ nữ hay đàn ông. Vì cả phụ nữ lẫn đàn ông đều không mang theo thân này khi họ ra đi. Tâm (mind / citta, ý thức, khả năng suy nghĩ và cảm nhận) mới là cái cốt lõi bên trong chúng sanh hữu tử. Họ hiểu rõ: ‘Bất cứ nghiệp xấu nào ta đã làm trong quá khứ với thân sanh bởi nghiệp (deed-born body / karajakāya, thân này là kết quả của các hành động trong quá khứ) này, ta sẽ trải nghiệm (quả báo) ở đây. Nó sẽ không theo ta đến đời sau.’ Tâm giải thoát nhờ từ được phát triển theo cách này sẽ dẫn đến quả vị bất lai (non-return / anāgāmitā, quả vị A-na-hàm, tầng thánh thứ ba, không còn quay trở lại cõi dục sau khi chết) cho một vị Tỳ kheo có trí tuệ (wise / paññā, sự hiểu biết đúng đắn, khả năng nhận thức chân lý) ở đây mà chưa chứng đạt giải thoát cao hơn (higher freedom / uttari vimutti, sự giải thoát hoàn toàn khỏi sanh tử luân hồi, tức A-la-hán quả).

Vị ấy thiền quán bằng cách lan tỏa tâm bi (compassion / karuṇā, lòng thương xót, mong muốn cho tất cả chúng sanh thoát khỏi khổ đau, một trong Tứ Vô Lượng Tâm) … Vị ấy thiền quán bằng cách lan tỏa tâm hỷ (rejoicing / muditā, niềm vui thanh cao khi thấy chúng sanh được an vui hạnh phúc, một trong Tứ Vô Lượng Tâm) … Vị ấy thiền quán bằng cách lan tỏa tâm xả (equanimity / upekkhā, tâm giữ được sự bình thản, không thiên vị, không dính mắc trước những thăng trầm của cuộc đời, một trong Tứ Vô Lượng Tâm) đến một phương, rồi đến phương thứ hai, rồi đến phương thứ ba, rồi đến phương thứ tư. Cũng vậy, ở trên, ở dưới, ngang qua, khắp mọi nơi, cùng khắp, vị ấy lan tỏa tâm xả đến toàn thế giới—dồi dào, rộng lớn, vô lượng, không oan trái, không sân hận.

Vị ấy hiểu rõ: ‘Trước đây tâm ta còn hạn hẹp và chưa phát triển. Nay tâm ta vô lượng và đã phát triển tốt. Bất cứ nghiệp nhỏ nào ta đã làm đều không còn tồn tại hay ảnh hưởng ở đó.’

Các thầy nghĩ sao, này các Tỳ kheo? Giả sử một đứa trẻ đã phát triển tâm giải thoát nhờ xả (heart’s release by equanimity / upekkhācetovimutti, sự giải thoát của tâm nhờ tu tập tâm xả đến mức độ vô lượng) từ khi còn thơ ấu. Liệu nó có còn làm bất cứ nghiệp xấu nào không?"

“Không, thưa Thế Tôn.”

“Không làm bất cứ nghiệp xấu nào, liệu nó có còn phải chịu bất cứ khổ đau nào không?”

“Không, thưa Thế Tôn. Vì nếu nó không làm bất cứ nghiệp xấu nào, thì khổ đau từ đâu mà đến với nó?”

“Tâm giải thoát nhờ xả này nên được phát triển bởi phụ nữ hay đàn ông. Vì cả phụ nữ lẫn đàn ông đều không mang theo thân này khi họ ra đi. Tâm mới là cái cốt lõi bên trong chúng sanh hữu tử. Họ hiểu rõ: ‘Bất cứ nghiệp xấu nào ta đã làm trong quá khứ với thân sanh bởi nghiệp này, ta sẽ trải nghiệm (quả báo) ở đây. Nó sẽ không theo ta đến đời sau.’ Tâm giải thoát nhờ xả được phát triển theo cách này sẽ dẫn đến quả vị bất lai cho một vị Tỳ kheo có trí tuệ ở đây mà chưa chứng đạt giải thoát cao hơn.”

(IX) (208) Phạm Thiên Trú

1. Ta tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, các nghiệp được tư niệm, được làm, được tích tập, nếu không cảm thọ (kết quả) thời không có chấm dứt, dầu quả ấy thuộc trong đời hiện tại, hay thuộc trong đời sau. Ta tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, các nghiệp được tư niệm, được làm, được tích tập, nếu không cảm thọ (kết quả) thời không có chấm dứt. Vị Thánh đệ tử ấy, này các Tỷ-kheo, như vậy từ bỏ tham, từ bỏ sân, từ bỏ si, tỉnh giác, chánh niệm, với tâm câu hữu với từ, an trú biến mãn một phương; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư, như vậy phía trên, phía dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy biết rõ như sau: “Trước kia, tâm này của ta là nhỏ, không tu tập. Nhưng nay, tâm này của ta là vô lượng, khéo tu tập. Lại nữa, phàm nghiệp gì được làm có giới hạn, nay nó sẽ không sống trong giới hạn ấy nữa, nó sẽ không đứng trong giới hạn ấy nữa”. Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, nếu đứa trẻ này, từ tuổi trẻ trở lên tu tập từ tâm giải thoát, nó có thể làm nghiệp ác không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Do không làm điều ác, nó có cảm giác khổ hay không? − Thưa không, bạch Thế Tôn. Không làm điều ác, bạch Thế Tôn, từ đâu nó sẽ cảm giác khổ được?

2. Này các Tỷ-kheo, từ tâm giải thoát này cần phải tu tập bởi nữ nhân hay nam nhân. Này các Tỷ-kheo, thân này không bị nam nhân hay nữ nhân cầm lấy rồi mang đi. Này các Tỷ-kheo, con đường phải chết này ở giữa những tư tưởng. Vị ấy rõ biết như sau: “Phàm ác nghiệp nào do ta làm từ trước với cái thân do nghiệp làm ra này, tất cả cần phải cảm thọ ở đây, nó không thể theo ta và được hiện hữu về sau”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, từ tâm giải thoát được tu tập đưa đến không có trở lui, đối với Tỷ-kheo có trí tuệ, có được trong đời này, nhưng vị ấy chưa thể nhập sự giải thoát hơn thế nữa.

3. Với tâm câu hữu với bi… với tâm hầu hữu với hỷ… với tâm câu hữu với xả, vị ấy biến mãn một phương và an trú, như vậy phương thứ hai, như vậy phương thứ ba, như vậy phương thứ tư. Như vậy phía trên, phía dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy biết rõ như sau: “Trước kia, tâm này của ta là nhỏ, không tu tập. Nhưng nay, tâm này của ta là vô lượng, khéo tu tập. Lại nữa, phàm nghiệp gì được làm có giới hạn, nay nó sẽ không sống trong giới hạn ấy nữa, nó không đứng trong gìới hạn ấy nữa”. Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, nếu đứa trẻ này, từ tuổi trẻ trở lên tu tập xả tâm giải thoát, nó có thể làm nghiệp ác không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Do không làm điều ác, nó có cảm giác khổ hay không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn. Không làm điều ác, bạch Thế Tôn, từ đâu nó sẽ cảm giác khổ được.

4. Này các Tỷ-kheo, xả tâm giải thoát này cần phải tu tập bởi nữ nhân hay nam nhân. Này các Tỷ-kheo, thân này không bị nam nhân hay nữ nhân cầm lấy rồi đem đi. Này các Tỷ-kheo, con người phải chết này ở giữa những tư tưởng. Vị ấy rõ biết như sau: “Phàm ác nghiệp nào do ta làm từ trước với cái thân do nghiệp làm ra này, tất cả cần phải cảm thọ ở đây, nó không thể theo và được hiện hữu về sau”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, xả tâm này được tu tập, đưa đến không có trở lui, đối với Tỷ-kheo có trí tuệ, có được trong đời này, nhưng vị ấy chưa thể nhập sự giải thoát hơn thế nữa.

AN 10.220 Hành Vi Phi Pháp Adhammacariyāsutta

Khi ấy, một vị bà la môn đến gặp Đức Phật và chào hỏi Ngài. Sau khi chào hỏi và chuyện trò thân mật xong, vị ấy ngồi xuống một bên và thưa với Đức Phật:

“Thưa Tôn giả Gotama, đâu là nguyên nhân, đâu là lý do khiến một số chúng sanh, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, tái sanh vào cõi mất mát, nơi xấu xa, cõi khổ, địa ngục?”

Hành vi phi pháp (adhammacariyā / unprincipled conduct / hành vi không đúng Chánh pháp, trái với đạo lý) và hành vi tà vạy (visamacariyā / immoral conduct / hành vi bất bình đẳng, không công bằng, quanh co, tà vạy) là lý do khiến một số chúng sanh, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, tái sanh vào cõi mất mát, nơi xấu xa, cõi khổ, địa ngục.”

“Nhưng thưa Tôn giả Gotama, đâu là nguyên nhân, đâu là lý do khiến một số chúng sanh, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, tái sanh vào nơi tốt đẹp, cõi trời?”

Hành vi đúng Pháp (dhammacariyā / principled conduct / hành vi đúng Chánh pháp, phù hợp với đạo lý) và hành vi chánh trực (samacariyā / moral conduct / hành vi bình đẳng, công bằng, ngay thẳng, chánh trực) là lý do khiến một số chúng sanh, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, tái sanh vào nơi tốt đẹp, cõi trời.”

“Con không hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Tôn giả Gotama đã nói một cách ngắn gọn. Xin Tôn giả Gotama hãy giảng dạy cho con vấn đề này để con có thể hiểu ý nghĩa chi tiết.”

“Vậy thì, này bà la môn, hãy lắng nghe và như lý tác ý, Ta sẽ nói.”

“Vâng, thưa Tôn giả,” vị bà la môn đáp. Đức Phật nói điều này:

"Này bà la môn, hành vi phi pháp và tà vạy có ba loại thuộc về thân, bốn loại thuộc về lời nói, và ba loại thuộc về ý.

Và thế nào là hành vi phi pháp và tà vạy có ba loại thuộc về thân? … Đó là cách hành vi phi pháp và tà vạy có ba loại thuộc về thân.

Và thế nào là hành vi phi pháp và tà vạy có bốn loại thuộc về lời nói? … Đó là cách hành vi phi pháp và tà vạy có bốn loại thuộc về lời nói.

Và thế nào là hành vi phi pháp và tà vạy có ba loại thuộc về ý? … Đó là cách hành vi phi pháp và tà vạy có ba loại thuộc về ý. Đó là lý do tại sao hành vi phi pháp và tà vạy khiến một số chúng sanh, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, tái sanh vào cõi mất mát, nơi xấu xa, cõi khổ, địa ngục.

Hành vi đúng Pháp và chánh trực có ba loại thuộc về thân, bốn loại thuộc về lời nói, và ba loại thuộc về ý.

Và thế nào là hành vi đúng Pháp và chánh trực có ba loại thuộc về thân? … Đó là cách hành vi đúng Pháp và chánh trực có ba loại thuộc về thân.

Và thế nào là hành vi đúng Pháp và chánh trực có bốn loại thuộc về lời nói? … Đó là cách hành vi đúng Pháp và chánh trực có bốn loại thuộc về lời nói.

Và thế nào là hành vi đúng Pháp và chánh trực có ba loại thuộc về ý? … Đó là cách hành vi đúng Pháp và chánh trực có ba loại thuộc về ý. Đó là lý do tại sao hành vi đúng Pháp và chánh trực khiến một số chúng sanh, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, tái sanh vào nơi tốt đẹp, cõi trời."

“Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama! Thật tuyệt vời! … Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama hãy ghi nhớ con là một cư sĩ tại gia đã quy y (gone for refuge / saraṇaṁ gamana, tìm đến nương tựa Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng như là nơi trú ẩn an ổn nhất) trọn đời.”

(X) (209) Sau Khi Chết

1. Rồi một Bà-la-môn đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, vị Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:

− Do nhân gì, do duyên gì, ở đây có hạng chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục?

− Do nhân phi pháp hành và bất bình đẳng hành, này Bà-la-môn, như vậy ở đây, một số chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

− Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì, ở đây có hạng chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này?

− Do nhân pháp hành và bình đẳng hành, này Bà-la-môn, như vậy ở đây, một số chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên Thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.

− Lời tuyên bố vắn tắt này của Sa-môn Gotama, con không hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi. Lành thay, nếu Tôn giả Gotama, như vậy thuyết pháp cho con, để con có thể như vậy hiểu được ý nghĩa một cách rộng rãi lời nói vắn tắt này của Sa-môn Gotama.

− Vậy này Bà-la-môn, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.

− Thưa vâng, Tôn giả.

Vị Bà-la-môn ấy vâng đáp Tôn giả Gotama. Tôn giả Gotama nói như sau:

2. Này Bà-la-môn, phi pháp hành, bất bình đẳng hành về thân có ba; phi pháp hành, bất bình đẳng hành về lời có bốn; phi pháp hành, bất bình đẳng hành về ý có ba. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là phi pháp hành, bất bình đẳng hành về thân có ba? … (Xem kinh 206, đoạn 2).

Như vậy, này Bà-la-môn, phi pháp hành, bất bình đẳng hành về thân có ba. Như thế nào, này Bà-la-môn, phi pháp hành, bất bình đẳng hành về lời có bốn? … (Xem kinh 206, đoạn 3).

Như vậy, này Bà-la-môn, phi pháp hành, bất bình đẳng hành về lời có bốn. Và như thế nào, này Bà-lamôn, phi pháp hành, bất bình đẳng hành về ý có ba? … (Xem kinh 206, đoạn 4).

Như vậy, này Bà-la-môn, phi pháp hành, bất bình đẳng hành về ý có ba.

Như vậy, do nhân phi hành pháp, bất bình đẳng hành, này Bà-la-môn như vậy ở đây có các loài chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

3. Này Bà-la-môn, pháp hành, bình đẳng hành về thân có ba; pháp hành, bình đẳng hành về lời có bốn; pháp hành, bình đẳng hành về ý có ba. Như thế nào, này Bà-la-môn, pháp hành, bình đẳng hành về thân có ba? … (như kinh trước 206, đoạn 8)…

Như vậy, này Bà-la-môn, pháp hành, bình đẳng hành về thân có ba. Và này Bà-la-môn, như thế nào pháp hành, bình đẳng hành về lời có bốn? … (Xem kinh 206, đoạn 9).

Như vậy, này Bà-la-môn, pháp hành, bình đẳng hành về lời có bốn. Và này Bà-la-môn, như thế nào pháp hành, bình đẳng hành về ý có ba? … (Xem kinh 206, đoạn 10).

Như vậy, này Bà-la-môn, pháp hành, bình đẳng hành về ý có ba.

Như vậy, này Bà-la-môn, do nhân pháp hành, bình đẳng hánh, như vậy, một số chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.

− Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! … Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!