Skip to content

Bhikkhu Sujato [link]

Tỳ Kheo Thích Minh Châu [link]

Phẩm Tương Tự

AN 10.221 Bài Kinh Vô Đề về Mười Pháp ~

"Một người có mười pháp thì bị đọa vào địa ngục. Mười pháp ấy là gì? Đó là họ giết hại chúng sinh, trộm cắp, và tà hạnh trong dục. Họ dùng lời nói dối, lời nói hai lưỡi (lời chia rẽ), lời nói thô ác, hoặc lời nói phù phiếm. Và họ có lòng tham muốn, lòng thù hằn, có tà kiến (wrong view / quan điểm sai lầm). Người có mười pháp này thì bị đọa vào địa ngục.

Một người có mười pháp thì được sinh lên cõi trời. Mười pháp ấy là gì? Đó là họ không giết hại chúng sinh, không trộm cắp, và không tà hạnh trong dục. Họ không dùng lời nói dối, không nói hai lưỡi (lời chia rẽ), không nói lời thô ác, hoặc không nói lời phù phiếm. Họ không có lòng tham muốn, không có lòng thù hằn, có chánh kiến (right view / quan điểm đúng đắn). Người có mười pháp này thì được sinh lên cõi trời."

XXII. Phẩm Không Có Ðầu Ðề

(I) (210) Mười Pháp

1. Thành tựu mười pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục Thế nào là mười?

2. Sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời thô ác, nói lời phù phiếm, tham ái, sân tâm, tà kiến. Thành tựu mười pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục.

3. Thành tựu mười pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên Thiên giới. Thế nào là mười?

4. Từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không tham, không sân, tâm chánh kiến.

Thành tựu mười pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên Thiên giới.

AN 10.222 Bài Kinh Vô Đề về Hai Mươi Pháp ~

"Một người có hai mươi pháp thì bị đọa vào địa ngục. Hai mươi pháp ấy là gì? Đó là họ giết hại chúng sinh, trộm cắp, và tà hạnh trong dục. Họ dùng lời nói dối, lời nói hai lưỡi (lời chia rẽ), lời nói thô ác, hoặc lời nói phù phiếm. Họ có lòng tham muốn, lòng thù hằn, có tà kiến (wrong view / quan điểm sai lầm). Và họ khuyến khích người khác làm những điều này. Người có hai mươi pháp này thì bị đọa vào địa ngục.

Một người có hai mươi pháp thì được sinh lên cõi trời. Hai mươi pháp ấy là gì? Đó là họ không giết hại chúng sinh, không trộm cắp, và không tà hạnh trong dục. Họ không dùng lời nói dối, không nói hai lưỡi (lời chia rẽ), không nói lời thô ác, hoặc không nói lời phù phiếm. Họ không có lòng tham muốn, không có lòng thù hằn, có chánh kiến (right view / quan điểm đúng đắn). Và họ khuyến khích người khác làm những điều này. Người có hai mươi pháp này thì được sinh lên cõi trời."

(II) (211) Hai Mươi Pháp

1. Thành tựu hai mươi pháp, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Thế nào là hai mươi?

2. Tự mình sát sanh, khuyến khích người khác sát sanh; tự mình lấy của không cho, khuyến khích người khác lấy của không cho; tự mình tà hạnh trong các dục; khuyến khích người khác tà hạnh trong các dục; tự mình nói láo và khuyến khích người khác nói láo; tự mình nói hai lưỡi; tự mình nói lời thô ác và khuyến khích người khác nói lời thô ác; tự mình nói lời phù phiếm và khuyến khích người khác nói lời phù phiếm ; tự mình tham và khuyến khích người khác tham; tự mình có sân tâm và khuyến khích người khác có sân tâm; tự mình có tà kiến và khuyến khích người khác có tà kiến.

Thành tựu hai mươi pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục.

3. Thành tựu hai mươi pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên Thiên giới. Thế nào là hai mươi?

4. Tự mình từ bỏ sát sanh và khuyến khích người khác từ bỏ sát sanh; tự mình từ bỏ lấy của không cho, khuyến khích người khác từ bỏ lấy của không cho; tự mình từ bỏ tà hạnh trong các dục; khuyến khích người khác từ bỏ tà hạnh trong các dục; tự mình từ bỏ nói láo và khuyến khích người khác từ bỏ nói láo; tự mình từ bỏ nói hai lưỡi và khuyến khích người khác từ bỏ nói hai lưỡi; tự mình từ bỏ nói lời thô ác và khuyến khích người khác từ bỏ nói lời thô ác; tự mình từ bỏ nói lời phù phiếm và khuyến khích người khác từ bỏ nói lời phù phiếm; tự mình không tham và khuyến khích người khác không tham; tự mình không có sân tâm và khuyến khích người khác không có sân tâm; tự mình có chánh kiến và khuyến khích người khác có chánh kiến.

Thành tựu hai mươi pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên Thiên giới.

AN 10.223 Bài Kinh Vô Đề về Ba Mươi Pháp ~

"Một người có ba mươi pháp thì bị đọa vào địa ngục. Ba mươi pháp ấy là gì? Đó là họ giết hại chúng sinh, trộm cắp, và tà hạnh trong dục. Họ dùng lời nói dối, lời nói hai lưỡi (lời chia rẽ), lời nói thô ác, hoặc lời nói phù phiếm. Họ có lòng tham muốn, lòng thù hằn, có tà kiến (wrong view / quan điểm sai lầm). Họ khuyến khích người khác làm những điều này. Và họ tán thành những điều này. Người có ba mươi pháp này thì bị đọa vào địa ngục.

Một người có ba mươi pháp thì được sinh lên cõi trời. Ba mươi pháp ấy là gì? Đó là họ không giết hại chúng sinh, không trộm cắp, và không tà hạnh trong dục. Họ không dùng lời nói dối, không nói hai lưỡi (lời chia rẽ), không nói lời thô ác, hoặc không nói lời phù phiếm. Họ không có lòng tham muốn, không có lòng thù hằn, có chánh kiến (right view / quan điểm đúng đắn). Họ khuyến khích người khác làm những điều này. Và họ tán thành những điều này. Người có ba mươi pháp này thì được sinh lên cõi trời."

(III) (212) Ba Mươi Pháp

1. Thành tựu ba mươi pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Thế nào là ba mươi?

2. Tự mình sát sanh, khuyến khích người khác sát sanh, và tùy thuận sát sanh; tự mình lấy của không cho, khuyến khích người khác lấy của không cho, và tùy thuận lấy của không cho; tự mình tà hạnh trong các dục; khuyến khích người khác tà hạnh trong các dục, và tùy thuận tà hạnh trong các dục; tự mình nói láo; khuyến khích người khác nói láo, và tùy thuận nói láo; tự mình nói hai lưỡi; khuyến khích người khác nói hai lưỡi, và tùy thuận nói hai lưỡi; tự mình nói lời thô ác; khuyến khích người khác nói lời thô ác, và tùy thuận nói lời thô ác; tự mình nói lời phù phiếm; và khuyến khích người khác nói lời phù phiếm, và tùy thuận nói lời phù phiếm; tự mình có tham, khuyến khích người khác có tham, và tùy thuận có tham; tự mình có sân tâm và khuyến khích người khác có sân tâm, và tùy thuận sân tâm; tự mình có tà kiến và khuyến khích người khác có tà kiến, và tùy thuận tà kiến.

Thành tựu với ba mươi pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục.

3. Thành tựu với ba mươi pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên Thiên giới. Thế nào là ba mươi?

4. Tự mình từ bỏ sát sanh, khuyến khích người khác từ bỏ sát sanh, và không tùy thuận sát sanh; tự mình từ bỏ lấy của không cho, khuyến khích người khác từ bỏ lấy của không cho, và không tùy thuận lấy của không cho; tự mình từ bỏ tà hạnh trong các dục; khuyến khích người khác từ bỏ tà hạnh trong các dục, và không tùy thuận tà hạnh trong các dục; tự mình từ bỏ nói láo; khuyến khích người khác từ bỏ nói láo, và không tùy thuận nói láo; tự mình từ bỏ nói hai lưỡi; khuyến khích người khác từ bỏ nói hai lưỡi, và không tùy thuận nói hai lưỡi; tự mình từ bỏ nói lời thô ác; khuyến khích người khác từ bỏ nói lời thô ác, và không tùy thuận nói lời thô ác; tự mình từ bỏ nói lời phù phiếm; và khuyến khích người khác từ bỏ nói lời phù phiếm, và không tùy thuận nói lời phù phiếm; tự mình từ bỏ tham, khuyến khích người khác từ bỏ tham, và không tùy thuận từ bỏ tham; tự mình từ bỏ sân tâm và khuyến khích người khác từ bỏ sân tâm, và không tùy thuận sân tâm; tự mình có chánh kiến và khuyến khích người khác có chánh kiến, và tùy thuận chánh kiến.

Thành tựu với ba mươi pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên Thiên giới.

AN 10.224 Bài Kinh Vô Đề về Bốn Mươi Pháp ~

"Một người có bốn mươi pháp thì bị đọa vào địa ngục. Bốn mươi pháp ấy là gì? Đó là họ giết hại chúng sinh, trộm cắp, và tà hạnh trong dục. Họ dùng lời nói dối, lời nói hai lưỡi (lời chia rẽ), lời nói thô ác, hoặc lời nói phù phiếm. Họ có lòng tham muốn, lòng thù hằn, có tà kiến (wrong view / quan điểm sai lầm). Họ khuyến khích người khác làm những điều này. Họ tán thành những điều này. Và họ ca ngợi những điều này. Người có bốn mươi pháp này thì bị đọa vào địa ngục.

Một người có bốn mươi pháp thì được sinh lên cõi trời. Bốn mươi pháp ấy là gì? Đó là họ không giết hại chúng sinh, không trộm cắp, và không tà hạnh trong dục. Họ không dùng lời nói dối, không nói hai lưỡi (lời chia rẽ), không nói lời thô ác, hoặc không nói lời phù phiếm. Họ không có lòng tham muốn, không có lòng thù hằn, có chánh kiến (right view / quan điểm đúng đắn). Họ khuyến khích người khác làm những điều này. Họ tán thành những điều này. Và họ ca ngợi những điều này. Người có bốn mươi pháp này thì được sinh lên cõi trời."

(IV) (213) Bốn Mươi Pháp

1. Thành tựu với bốn mươi pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Thế nào là bốn mươi?

2. Tự mình sát sanh, khuyến khích người khác sát sanh, tùy thuận sát sanh, và tán thán sát sanh; tự mình lấy của không cho, khuyến khích người khác lấy của không cho, tùy thuận lấy của không cho, và tán thán lấy của không cho; tự mình tà hạnh trong các dục; khuyến khích người khác tà hạnh trong các dục, tùy thuận tà hạnh trong các dục, và tán thán tà hạnh trong các dục; tự mình nói láo; khuyến khích người khác nói láo, tùy thuận nói láo, và tán thán nói láo; tự mình nói hai lưỡi; khuyến khích người khác nói hai lưỡi, tùy thuận nói hai lưỡi, và tán thán nói hai lưỡi; tự mình nói lời thô ác; khuyến khích người khác nói lời thô ác, tùy thuận nói lời thô ác, và tán thán nói lời thô ác; tự mình nói lời phù phiếm; và khuyến khích người khác nói lời phù phiếm, tùy thuận nói lời phù phiếm, và tán thán nói lời phù phiếm; tự mình có tham, khuyến khích người khác có tham, tùy thuận có tham, và tán thán có tham; tự mình có sân tâm và khuyến khích người khác có sân tâm, tùy thuận sân tâm, và tán thán có sân tâm; tự mình có tà kiến và khuyến khích người khác có tà kiến, tùy thuận có tà kiến, và tán thán có tà kiến.

Thành tựu bốn mươi pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục.

3. Thành tựu với bốn mươi pháp, như vậy tương xứng được sanh lên Thiên giới. Thế nào là bốn mươi?

4. Tự mình từ bỏ sát sanh, không khuyến khích người khác sát sanh, không tùy thuận sát sanh, và không tán thán sát sanh; tự mình từ bỏ lấy của không cho, không khuyến khích người khác lấy của không cho, không tùy thuận lấy của không cho, và không tán thán lấy của không cho; tự mình từ bỏ tà hạnh trong các dục; không khuyến khích người khác tà hạnh trong các dục, không tùy thuận tà hạnh trong các dục, và không tán thán tà hạnh trong các dục; tự mình không nói láo; không khuyến khích người khác nói láo, không tùy thuận nói láo, và không tán thán nói láo; tự mình từ bỏ nói hai lưỡi; không khuyến khích người khác nói hai lưỡi, không tùy thuận nói hai lưỡi, và không tán thán nói hai lưỡi; tự mình không nói lời thô ác; không khuyến khích người khác nói lời thô ác, không tùy thuận nói lời thô ác, và không tán thán nói lời thô ác; tự mình từ bỏ nói lời phù phiếm; không khuyến khích người khác nói lời phù phiếm, không tùy thuận nói lời phù phiếm, và không tán thán nói lời phù phiếm; tự mình từ bỏ tham, không khuyến khích người khác tham, không tùy thuận tham, và không tán thán tham; tự mình từ bỏ sân tâm và không khuyến khích người khác sân tâm, không tùy thuận sân tâm, và không tán thán sân tâm; tự mình có chánh kiến và khuyến khích người khác có chánh kiến, tùy thuận có chánh kiến, và tán thán có chánh kiến.

Thành tựu bốn mươi pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên Thiên giới.

AN 10.225–228 Các Bài Kinh Vô Đề về Mười đến Bốn Mươi Pháp (Lần 1) ~

“Người có mười pháp thì tự làm cho mình suy sụp và hư hại… tự giữ cho mình nguyên vẹn và không bị tổn hại… hai mươi… ba mươi… bốn mươi…”

(V) (214) Tổn Hại

− Thành tựu với mười pháp, này các Tỷ-kheo, đem theo mình một tự ngã bị tổn hại, bị hủy hoại… đem theo mình một tự ngã không bị tổn hại… không bị hủy hoại… thành tựu với hai mươi pháp, này các Tỷ-kheo… thành tựu với ba mươi pháp, này các Tỷ-kheo… thành tựu với bốn mươi pháp, này các Tỷ-kheo, đem theo mình một tự ngã bị tổn hại, bị hủy hoại… không đem theo mình một tự ngã bị tổn hại, bị hủy hoại.

AN 10.229–232 Các Bài Kinh Vô Đề về Mười đến Bốn Mươi Pháp (Lần 2) ~

“Khi có mười pháp, một số người, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, tái sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. … một số người, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, tái sinh vào cõi lành, cảnh giới chư thiên… hai mươi… ba mươi… bốn mươi…”

(VI) (215) Sau Khi Chết (1)

− Thành tựu với mười pháp, này các Tỷ-kheo, ở đây có người sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục… ở đây có người sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này… Với hai mươi pháp, này các Tỷ-kheo… Với ba mươi pháp, này các Tỷ-kheo… Với bốn mươi pháp, này các Tỷ-kheo, ở đây có người sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục… ở đây có người, sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này…

AN 10.233–236 Các Bài Kinh Vô Đề về Mười đến Bốn Mươi Pháp (Lần 3) ~

“Kẻ si mê được biết qua mười pháp… người trí tuệ (người sáng suốt)… hai mươi… ba mươi… bốn mươi…”

Các Bài Kinh Rút Gọn Bắt Đầu Với Tham

AN 10.237 Bài Kinh Vô Đề về Tham (Lần 1) ~

“Để có tuệ quán (insight / sự thấy biết sâu sắc) về tham, mười điều cần được tu tập. Mười điều ấy là gì? Đó là các nhận thức (perceptions / tưởng, nhận biết-phân biệt và gắn nhãn) về sự bất tịnh, cái chết, sự ghê tởm của thức ăn, sự bất mãn với toàn bộ thế giới, vô thường (impermanence / sự thay đổi, không bền vững), khổ trong vô thường, và vô ngã trong khổ, sự từ bỏ, sự phai nhạt (ly tham, không còn dính mắc), và sự chấm dứt (diệt, sự kết thúc). Để có tuệ quán về tham, mười điều này cần được tu tập.”

(VII) (216) Sau Khi Chết (2)

− Thành tựu với mười pháp, này các Tỷ-kheo, người ngu cần phải được biết… người hiền trí cần phải được biết… Với hai mươi pháp, này các Tỷ-kheo… Với ba mươi pháp, này các Tỷ-kheo… Với bốn mươi pháp, này các Tỷ-kheo, người ngu cần phải được biết… người hiền trí cần phải được biết.

Thành tựu với mười pháp này, này các Tỷ-kheo, người hiền trí cần phải được biết…

AN 10.238 Bài Kinh Vô Đề về Tham (Lần 2) ~

“Để có tuệ quán (insight / sự thấy biết sâu sắc) về tham, mười điều cần được tu tập. Mười điều ấy là gì? Đó là các nhận thức (perceptions / tưởng, nhận biết-phân biệt và gắn nhãn) về vô thường (impermanence / sự thay đổi, không bền vững), vô ngã (not-self / không có cái tôi cố định), sự ghê tởm của thức ăn, sự bất mãn với toàn bộ thế giới, bộ xương, xác chết bị giòi bọ ăn, xác chết bầm tím, xác chết rữa nát, xác chết bị xẻ toang, và xác chết trương phình. Để có tuệ quán về tham, mười điều này cần được tu tập.”

(VIII) (217) Tham Ái (1)

1. Ðể thắng tri tham ái, này các Tỷ-kheo, mười pháp cần phải tu tập. Thế nào là mười?

2. Bất tịnh tưởng, tưởng chết, tưởng nhàm chán trong các món ăn, tưởng không hoan hỷ đối với tất cả thế giới, tưởng vô thường, tưởng khổ trong vô thường, tưởng vô ngã trong khổ, tưởng đoạn tận, tưởng ly tham, tưởng đoạn diệt.

Ðể thắng tri tham, này các Tỷ-kheo, mười pháp này cần phải tu tập.

3. Ðể thắng tri tham ái, này các Tỷ-kheo, mười pháp cần phải tu tập. Thế nào là mười?

4. Tưởng vô thường, tưởng vô ngã, tưởng nhàm chán trong các món ăn, tưởng không hoan hỷ đối với tất cả thế giới, tưởng bộ xương, tưởng trùng ăn, tưởng xanh ứ, tưởng nước mủ chảy ra, tưởng nứt nẻ, tưởng trương phồng lên. Ðể thắng tri tham, này các Tỷ-kheo, mười pháp này cần phải tu tập.

AN 10.239 Bài Kinh Vô Đề về Tham (Lần 3) ~

“Để có tuệ quán (insight / sự thấy biết sâu sắc) về tham, mười điều cần được tu tập. Mười điều ấy là gì? Đó là chánh kiến (right view / quan điểm đúng đắn), chánh tư duy (right thought / suy nghĩ chân chính), chánh ngữ (right speech / lời nói chân chính), chánh nghiệp (right action / hành động chân chính), chánh mạng (right livelihood / sinh kế chân chính), chánh tinh tấn (right effort / sự nỗ lực chân chính), chánh niệm (right mindfulness / sự tỉnh thức chân chính), chánh định (right immersion / sự tập trung chân chính), chánh trí (right knowledge / sự hiểu biết chân chính), và chánh giải thoát (right freedom / sự giải thoát chân chính). Để có tuệ quán về tham, mười điều này cần được tu tập.”

(IX) (218) Tham Ái (2)

1. Ðể thắng tri tham ái, này các Tỷ-kheo, mười pháp cần phải tu tập. Thế nào là mười?

2. Chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, chánh trí, chánh giải thoát.

Ðể thắng tri tham ái, này các Tỷ-kheo, mười pháp cần phải tu tập.

AN 10.240–266 Các Bài Kinh Vô Đề về Tham ~

“Để có sự hiểu biết hoàn toàn (liễu tri)… sự chấm dứt hoàn toàn (đoạn tận)… sự từ bỏ (xả ly)… sự chấm dứt (diệt tận)… sự biến mất (biến mất)… sự phai nhạt (ly tham)… sự chấm dứt (diệt)… sự cho đi (bố thí)… sự buông bỏ (phóng xả) về tham, mười điều này cần được tu tập.”

(X) (219) Tham Ái, Sân

1. Này các Tỷ-kheo, để biến tri, để biến diệt, để đoạn tận, để trừ diệt, để hủy diệt, để ly tham, để đoạn diệt, để an tịnh, để bỏ đi, để từ bỏ tham, mười pháp này cần phải tu tập…

2. Ðể biến tri, để biến diệt, để đoạn tận, để trừ diệt, để hủy diệt, để ly tham, để đoạn diệt, để an tịnh, để bỏ đi, để từ bỏ sân, si, phẫn nộ, hiềm hận, gièm pha, não hại, tật đố, xan tham, mê hoặc, gian trá, cứng đầu, bồng bột, mạn, quá mạn, đắm say, phóng dật, mười pháp này cần phải tu tập.

AN 10.267–746 Các Bài Kinh Vô Đề về Tức Giận, v.v. ~

“Để có sự hiểu biết hoàn toàn (liễu tri)… sự chấm dứt hoàn toàn (đoạn tận)… sự từ bỏ (xả ly)… sự chấm dứt (diệt tận)… sự biến mất (biến mất)… sự phai nhạt (ly tham)… sự chấm dứt (diệt)… sự cho đi (bố thí)… sự buông bỏ (phóng xả) về tức giận (hate / sân hận / sự tức giận)… si mê (delusion / si / sự u tối, thiếu hiểu biết)… sự tức giận (phẫn / sự giận dữ nhất thời)… sự oán hận (hận / sự ghi nhớ oán thù)… sự khinh miệt (phú / sự coi thường)… sự miệt thị (não / sự làm khổ mình và người)… sự ganh tỵ (đố / sự khó chịu khi người khác thành công)… sự keo kiệt (xan / sự bám víu vào tài sản)… sự lừa dối (phiến / sự giả dối)… sự xảo quyệt (man / sự quanh co, không thẳng thắn)… sự ngoan cố (cương / sự cứng đầu)… sự hung hăng (não / sự gây hấn)… sự kiêu mạn (mạn / sự tự cao tự đại)… sự ngạo mạn (quá mạn / sự cho mình hơn người khác)… sự tự phụ (mạn quá mạn / sự cho mình ngang bằng hoặc hơn người kém hơn)… sao nhãng (negligence / phóng dật / sự lơ là), mười điều này cần được tu tập.”