Phẩm Về Sự Tùy Niệm
AN 11.11 Với Mahānāma (Thứ Nhất) Paṭhamamahānāmasutta
Một thời Đức Phật trú ở xứ của những người Thích Ca (Sakya), gần Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu) tại Tu viện Cây Bàng (Nigrodhārāma).
Lúc bấy giờ, một số vị Tỷ-kheo đang may y cho Đức Phật, với ý nghĩ rằng khi y của ngài được hoàn tất và ba tháng an cư mùa mưa (rains residence / kỳ nhập hạ ba tháng mùa mưa) đã qua, Đức Phật sẽ lên đường du hành.
Mahānāma người Thích Ca nghe được điều này. Ông đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và thưa với ngài:
“Bạch Thế Tôn, con được biết một số vị Tỷ-kheo đang may y cho Đức Phật, với ý nghĩ rằng khi y của ngài được hoàn tất và ba tháng an cư mùa mưa đã qua, Đức Phật sẽ lên đường du hành. Nay, chúng con sống đời bằng nhiều cách khác nhau. Chúng con nên thực hành theo cách nào trong số đó?”
"Lành thay, lành thay, Mahānāma! Thật thích hợp khi những thiện gia nam tử như ông đến gặp Ta và hỏi: ‘Chúng con sống đời bằng nhiều cách khác nhau. Chúng con nên thực hành theo cách nào trong số đó?’ Người có niềm tin thì thành công, không phải người không có niềm tin. Người siêng năng thì thành công, không phải người lười biếng. Người có tỉnh thức thì thành công, không phải người không có tỉnh thức. Người có định (immersion / sự tập trung tâm ý vào một đối tượng duy nhất) thì thành công, không phải người không có định. Người có trí tuệ thì thành công, không phải người không có trí tuệ.
Khi ông đã đặt nền tảng trên năm điều này, hãy tiếp tục phát triển thêm sáu điều nữa.
Thứ nhất, ông nên tùy niệm Như Lai (Realized One / bậc đã chứng ngộ chân lý): ‘Đức Thế Tôn đó là bậc A La Hán (perfected / bậc đã diệt tận phiền não), Chánh Đẳng Giác (fully awakened Buddha / bậc tự mình giác ngộ hoàn toàn), Minh Hạnh Túc (accomplished in knowledge and conduct / người đầy đủ trí tuệ và đức hạnh), Thiện Thệ (holy / bậc đã đi qua một cách tốt đẹp), Thế Gian Giải (knower of the world / người hiểu biết thế gian), Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu (supreme guide for those who wish to train / bậc tối cao dẫn dắt những người cần được huấn luyện), Thiên Nhân Sư (teacher of gods and humans / thầy của trời và người), Phật (awakened / bậc giác ngộ), Thế Tôn (blessed / bậc được tôn kính trong đời).’ Khi một thánh đệ tử (noble disciple / người đệ tử đã chứng đạt các tầng thánh) tùy niệm Như Lai, tâm vị ấy không tràn đầy tham, sân, và si. Lúc ấy, tâm vị ấy không lay chuyển, đặt nền tảng trên Như Lai. Một thánh đệ tử có tâm không lay chuyển sẽ tìm thấy nghĩa hứng và pháp hứng (inspiration in the meaning and the teaching / niềm cảm hứng về ý nghĩa và niềm cảm hứng về giáo pháp), và tìm thấy niềm vui liên hệ đến giáo pháp (joy connected with the teaching / niềm hân hoan gắn liền với lời dạy). Khi vị ấy hân hoan, Niềm vui (rapture / hỷ, sự phấn chấn) khởi lên. Khi tâm tràn đầy Niềm vui, thân trở nên khinh an (tranquility / sự nhẹ nhàng, yên ổn của thân và tâm). Khi thân khinh an, vị ấy cảm thấy An ổn (bliss / lạc, sự an lạc, hạnh phúc). Và khi vị ấy An ổn, tâm nhập định. Đây được gọi là một thánh đệ tử sống quân bình giữa những người không quân bình, và sống không phiền não giữa những người phiền não. Vị ấy đã nhập vào pháp lưu (stream of the teaching / dòng chảy của giáo pháp) và phát triển sự niệm Phật (recollection of the Buddha / sự nhớ nghĩ đến ân đức Phật).
Hơn nữa, ông nên tùy niệm Pháp: ‘Pháp được Đức Phật khéo giảng—thiết thực hiện tại (apparent in the present life / có thể thấy ngay trong đời này), không có thời gian (immediately effective / có kết quả tức thì, không chờ đợi), đến để mà thấy (inviting inspection / mời gọi đến để tự mình kiểm chứng), có khả năng hướng thượng (relevant / có thể dẫn dắt đến sự tiến bộ), để người trí tự mình giác hiểu (sensible people can know it for themselves / người có trí tuệ có thể tự mình nhận biết).’ Khi một thánh đệ tử tùy niệm Pháp, tâm vị ấy không tràn đầy tham, sân, và si. … Đây được gọi là một thánh đệ tử sống quân bình giữa những người không quân bình, và sống không phiền não giữa những người phiền não. Vị ấy đã nhập vào pháp lưu và phát triển sự niệm Pháp (recollection of the teaching / sự nhớ nghĩ đến ân đức Pháp).
Hơn nữa, ông nên tùy niệm Tăng đoàn: ‘Tăng đoàn đệ tử của Đức Phật là những vị thực hành con đường diệu hạnh (practicing the way that’s good / thực hành con đường tốt đẹp), trực hạnh (sincere / thực hành con đường ngay thẳng), như lý hạnh (systematic / thực hành con đường đúng đắn, hợp lý), và chánh hạnh (proper / thực hành con đường chân chính). Tăng đoàn bao gồm bốn đôi tám chúng (four pairs, the eight individuals / bốn cặp thánh nhân (Dự lưu đạo/quả, Nhất lai đạo/quả, Bất lai đạo/quả, A la hán đạo/quả), tức là tám hạng người thánh). Đây là Tăng đoàn đệ tử của Đức Phật, đáng được cúng dường (worthy of offerings dedicated to the gods / xứng đáng nhận sự dâng cúng), đáng được tôn kính (worthy of hospitality / xứng đáng được đón tiếp trọng thị), đáng được bố thí (worthy of a religious donation / xứng đáng nhận vật phẩm cúng dường), đáng được chắp tay (worthy of greeting with joined palms / xứng đáng được kính lễ), và là phước điền vô thượng ở đời (supreme field of merit for the world / là ruộng phước tốt nhất trên thế gian để gieo trồng công đức).’ Khi một thánh đệ tử tùy niệm Tăng đoàn, tâm vị ấy không tràn đầy tham, sân, và si. … Đây được gọi là một thánh đệ tử sống quân bình giữa những người không quân bình, và sống không phiền não giữa những người phiền não. Vị ấy đã nhập vào pháp lưu và phát triển sự niệm Tăng (recollection of the Saṅgha / sự nhớ nghĩ đến ân đức Tăng).
Hơn nữa, ông nên tùy niệm giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức) của chính mình, những giới đức còn nguyên vẹn, không tỳ vết, không đốm nhơ, và không bị hoen ố, đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ (not mistaken / không bị nắm giữ sai lầm), và đưa đến định. Khi một thánh đệ tử tùy niệm giới đức của mình, tâm vị ấy không tràn đầy tham, sân, và si. … Đây được gọi là một thánh đệ tử sống quân bình giữa những người không quân bình, và sống không phiền não giữa những người phiền não. Vị ấy đã nhập vào pháp lưu và phát triển sự niệm giới (recollection of their ethical conduct / sự nhớ nghĩ đến giới đức của mình).
Hơn nữa, ông nên tùy niệm lòng thí (generosity / sự cho đi, lòng quảng đại) của chính mình: ‘Ta thật may mắn, thật vô cùng may mắn. Giữa những người có tâm đầy vết nhơ của bỏn xẻn (stain of stinginess / sự ô uế của lòng keo kiệt), ta sống tại gia thoát khỏi lòng bỏn xẻn, rộng rãi cho đi, sẵn sàng cho đi, thích xả bỏ, chuyên tâm bố thí, thích cho và chia sẻ.’ Khi một thánh đệ tử tùy niệm lòng quảng đại của chính mình, tâm vị ấy không tràn đầy tham, sân, và si. … Đây được gọi là một thánh đệ tử sống quân bình giữa những người không quân bình, và sống không phiền não giữa những người phiền não. Vị ấy đã nhập vào pháp lưu và phát triển sự niệm thí (recollection of generosity / sự nhớ nghĩ đến lòng quảng đại của mình).
Hơn nữa, ông nên tùy niệm chư thiên (deities / các vị trời): ‘Có các vị trời ở cõi Tứ Đại Thiên Vương, các vị trời ở cõi Ba Mươi Ba (Đao Lợi), các vị trời Dạ Ma, các vị trời Đâu Suất, các vị Hóa Lạc Thiên (gods who love to imagine / Nimmānaratī devas, chư thiên ở cõi Hóa Lạc, vui với những gì tự mình hóa hiện), các vị Tha Hóa Tự Tại Thiên (gods who control what is imagined by others / Paranimmitavasavattī devas, chư thiên ở cõi Tha Hóa Tự Tại, vui với những gì người khác hóa hiện cho mình), các vị trời cõi Phạm Chúng, và các vị trời còn cao hơn nữa. Khi những vị trời ấy từ đây mệnh chung, họ được tái sinh đến đó là nhờ có Niềm tin (faith / Tín), giới đức, sự văn (learning / sự học hỏi giáo pháp), lòng quảng đại, và Trí tuệ (wisdom / Tuệ). Ta cũng có cùng loại Niềm tin, giới đức, sự học hỏi, lòng quảng đại, và Trí tuệ như vậy.’ Khi một thánh đệ tử tùy niệm Niềm tin, giới đức, sự học hỏi, lòng quảng đại, và Trí tuệ của cả bản thân mình và của chư thiên, tâm vị ấy không tràn đầy tham, sân, và si. Lúc ấy, tâm vị ấy không lay chuyển, đặt nền tảng trên chư thiên. Một thánh đệ tử có tâm không lay chuyển sẽ tìm thấy niềm cảm hứng trong ý nghĩa và giáo pháp, và tìm thấy niềm vui liên hệ đến giáo pháp. Khi vị ấy hân hoan, Niềm vui khởi lên. Khi tâm tràn đầy Niềm vui, thân trở nên khinh an. Khi thân khinh an, vị ấy cảm thấy An ổn. Và khi vị ấy An ổn, tâm nhập định. Đây được gọi là một thánh đệ tử sống quân bình giữa những người không quân bình, và sống không phiền não giữa những người phiền não. Vị ấy đã nhập vào pháp lưu và phát triển sự niệm thiên (recollection of the deities / sự nhớ nghĩ đến các vị trời và phẩm chất của họ)."