Phẩm Về Sự Tùy Niệm
AN 11.11 Với Mahānāma (Thứ Nhất) Paṭhamamahānāmasutta
Một thời Đức Phật trú ở xứ của những người Thích Ca (Sakya), gần Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu) tại Tu viện Cây Bàng (Nigrodhārāma).
Lúc bấy giờ, một số vị Tỷ-kheo đang may y cho Đức Phật, với ý nghĩ rằng khi y của ngài được hoàn tất và ba tháng an cư mùa mưa (rains residence / kỳ nhập hạ ba tháng mùa mưa) đã qua, Đức Phật sẽ lên đường du hành.
Mahānāma người Thích Ca nghe được điều này. Ông đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và thưa với ngài:
"Bạch Thế Tôn, con được biết một số vị Tỷ-kheo đang may y cho Đức Phật, với ý nghĩ rằng khi y của ngài được hoàn tất và ba tháng an cư mùa mưa đã qua, Đức Phật sẽ lên đường du hành. Nay, chúng con sống đời bằng nhiều cách khác nhau. Chúng con nên thực hành theo cách nào trong số đó?"
"Lành thay, lành thay, Mahānāma! Thật thích hợp khi những thiện gia nam tử như ông đến gặp Ta và hỏi: 'Chúng con sống đời bằng nhiều cách khác nhau. Chúng con nên thực hành theo cách nào trong số đó?' Người có niềm tin thì thành công, không phải người không có niềm tin. Người siêng năng thì thành công, không phải người lười biếng. Người có tỉnh thức thì thành công, không phải người không có tỉnh thức. Người có định (immersion / sự tập trung tâm ý vào một đối tượng duy nhất) thì thành công, không phải người không có định. Người có trí tuệ thì thành công, không phải người không có trí tuệ.
Khi ông đã đặt nền tảng trên năm điều này, hãy tiếp tục phát triển thêm sáu điều nữa.
Thứ nhất, ông nên tùy niệm Như Lai (Realized One / bậc đã chứng ngộ chân lý): 'Đức Thế Tôn đó là bậc A La Hán (perfected / bậc đã diệt tận phiền não), Chánh Đẳng Giác (fully awakened Buddha / bậc tự mình giác ngộ hoàn toàn), Minh Hạnh Túc (accomplished in knowledge and conduct / người đầy đủ trí tuệ và đức hạnh), Thiện Thệ (holy / bậc đã đi qua một cách tốt đẹp), Thế Gian Giải (knower of the world / người hiểu biết thế gian), Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu (supreme guide for those who wish to train / bậc tối cao dẫn dắt những người cần được huấn luyện), Thiên Nhân Sư (teacher of gods and humans / thầy của trời và người), Phật (awakened / bậc giác ngộ), Thế Tôn (blessed / bậc được tôn kính trong đời).' Khi một thánh đệ tử (noble disciple / người đệ tử đã chứng đạt các tầng thánh) tùy niệm Như Lai, tâm vị ấy không tràn đầy tham, sân, và si. Lúc ấy, tâm vị ấy không lay chuyển, đặt nền tảng trên Như Lai. Một thánh đệ tử có tâm không lay chuyển sẽ tìm thấy nghĩa hứng và pháp hứng (inspiration in the meaning and the teaching / niềm cảm hứng về ý nghĩa và niềm cảm hứng về giáo pháp), và tìm thấy niềm vui liên hệ đến giáo pháp (joy connected with the teaching / niềm hân hoan gắn liền với lời dạy). Khi vị ấy hân hoan, Niềm vui (rapture / hỷ, sự phấn chấn) khởi lên. Khi tâm tràn đầy Niềm vui, thân trở nên khinh an (tranquility / sự nhẹ nhàng, yên ổn của thân và tâm). Khi thân khinh an, vị ấy cảm thấy An ổn (bliss / lạc, sự an lạc, hạnh phúc). Và khi vị ấy An ổn, tâm nhập định. Đây được gọi là một thánh đệ tử sống quân bình giữa những người không quân bình, và sống không phiền não giữa những người phiền não. Vị ấy đã nhập vào pháp lưu (stream of the teaching / dòng chảy của giáo pháp) và phát triển sự niệm Phật (recollection of the Buddha / sự nhớ nghĩ đến ân đức Phật).
Hơn nữa, ông nên tùy niệm Pháp: 'Pháp được Đức Phật khéo giảng—thiết thực hiện tại (apparent in the present life / có thể thấy ngay trong đời này), không có thời gian (immediately effective / có kết quả tức thì, không chờ đợi), đến để mà thấy (inviting inspection / mời gọi đến để tự mình kiểm chứng), có khả năng hướng thượng (relevant / có thể dẫn dắt đến sự tiến bộ), để người trí tự mình giác hiểu (sensible people can know it for themselves / người có trí tuệ có thể tự mình nhận biết).' Khi một thánh đệ tử tùy niệm Pháp, tâm vị ấy không tràn đầy tham, sân, và si. ... Đây được gọi là một thánh đệ tử sống quân bình giữa những người không quân bình, và sống không phiền não giữa những người phiền não. Vị ấy đã nhập vào pháp lưu và phát triển sự niệm Pháp (recollection of the teaching / sự nhớ nghĩ đến ân đức Pháp).
Hơn nữa, ông nên tùy niệm Tăng đoàn: 'Tăng đoàn đệ tử của Đức Phật là những vị thực hành con đường diệu hạnh (practicing the way that's good / thực hành con đường tốt đẹp), trực hạnh (sincere / thực hành con đường ngay thẳng), như lý hạnh (systematic / thực hành con đường đúng đắn, hợp lý), và chánh hạnh (proper / thực hành con đường chân chính). Tăng đoàn bao gồm bốn đôi tám chúng (four pairs, the eight individuals / bốn cặp thánh nhân (Dự lưu đạo/quả, Nhất lai đạo/quả, Bất lai đạo/quả, A la hán đạo/quả), tức là tám hạng người thánh). Đây là Tăng đoàn đệ tử của Đức Phật, đáng được cúng dường (worthy of offerings dedicated to the gods / xứng đáng nhận sự dâng cúng), đáng được tôn kính (worthy of hospitality / xứng đáng được đón tiếp trọng thị), đáng được bố thí (worthy of a religious donation / xứng đáng nhận vật phẩm cúng dường), đáng được chắp tay (worthy of greeting with joined palms / xứng đáng được kính lễ), và là phước điền vô thượng ở đời (supreme field of merit for the world / là ruộng phước tốt nhất trên thế gian để gieo trồng công đức).' Khi một thánh đệ tử tùy niệm Tăng đoàn, tâm vị ấy không tràn đầy tham, sân, và si. ... Đây được gọi là một thánh đệ tử sống quân bình giữa những người không quân bình, và sống không phiền não giữa những người phiền não. Vị ấy đã nhập vào pháp lưu và phát triển sự niệm Tăng (recollection of the Saṅgha / sự nhớ nghĩ đến ân đức Tăng).
Hơn nữa, ông nên tùy niệm giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức) của chính mình, những giới đức còn nguyên vẹn, không tỳ vết, không đốm nhơ, và không bị hoen ố, đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ (not mistaken / không bị nắm giữ sai lầm), và đưa đến định. Khi một thánh đệ tử tùy niệm giới đức của mình, tâm vị ấy không tràn đầy tham, sân, và si. ... Đây được gọi là một thánh đệ tử sống quân bình giữa những người không quân bình, và sống không phiền não giữa những người phiền não. Vị ấy đã nhập vào pháp lưu và phát triển sự niệm giới (recollection of their ethical conduct / sự nhớ nghĩ đến giới đức của mình).
Hơn nữa, ông nên tùy niệm lòng thí (generosity / sự cho đi, lòng quảng đại) của chính mình: 'Ta thật may mắn, thật vô cùng may mắn. Giữa những người có tâm đầy vết nhơ của bỏn xẻn (stain of stinginess / sự ô uế của lòng keo kiệt), ta sống tại gia thoát khỏi lòng bỏn xẻn, rộng rãi cho đi, sẵn sàng cho đi, thích xả bỏ, chuyên tâm bố thí, thích cho và chia sẻ.' Khi một thánh đệ tử tùy niệm lòng quảng đại của chính mình, tâm vị ấy không tràn đầy tham, sân, và si. ... Đây được gọi là một thánh đệ tử sống quân bình giữa những người không quân bình, và sống không phiền não giữa những người phiền não. Vị ấy đã nhập vào pháp lưu và phát triển sự niệm thí (recollection of generosity / sự nhớ nghĩ đến lòng quảng đại của mình).
Hơn nữa, ông nên tùy niệm chư thiên (deities / các vị trời): 'Có các vị trời ở cõi Tứ Đại Thiên Vương, các vị trời ở cõi Ba Mươi Ba (Đao Lợi), các vị trời Dạ Ma, các vị trời Đâu Suất, các vị Hóa Lạc Thiên (gods who love to imagine / Nimmānaratī devas, chư thiên ở cõi Hóa Lạc, vui với những gì tự mình hóa hiện), các vị Tha Hóa Tự Tại Thiên (gods who control what is imagined by others / Paranimmitavasavattī devas, chư thiên ở cõi Tha Hóa Tự Tại, vui với những gì người khác hóa hiện cho mình), các vị trời cõi Phạm Chúng, và các vị trời còn cao hơn nữa. Khi những vị trời ấy từ đây mệnh chung, họ được tái sinh đến đó là nhờ có Niềm tin (faith / Tín), giới đức, sự văn (learning / sự học hỏi giáo pháp), lòng quảng đại, và Trí tuệ (wisdom / Tuệ). Ta cũng có cùng loại Niềm tin, giới đức, sự học hỏi, lòng quảng đại, và Trí tuệ như vậy.' Khi một thánh đệ tử tùy niệm Niềm tin, giới đức, sự học hỏi, lòng quảng đại, và Trí tuệ của cả bản thân mình và của chư thiên, tâm vị ấy không tràn đầy tham, sân, và si. Lúc ấy, tâm vị ấy không lay chuyển, đặt nền tảng trên chư thiên. Một thánh đệ tử có tâm không lay chuyển sẽ tìm thấy niềm cảm hứng trong ý nghĩa và giáo pháp, và tìm thấy niềm vui liên hệ đến giáo pháp. Khi vị ấy hân hoan, Niềm vui khởi lên. Khi tâm tràn đầy Niềm vui, thân trở nên khinh an. Khi thân khinh an, vị ấy cảm thấy An ổn. Và khi vị ấy An ổn, tâm nhập định. Đây được gọi là một thánh đệ tử sống quân bình giữa những người không quân bình, và sống không phiền não giữa những người phiền não. Vị ấy đã nhập vào pháp lưu và phát triển sự niệm thiên (recollection of the deities / sự nhớ nghĩ đến các vị trời và phẩm chất của họ)."
AN 11.12 Với Mahānāma (Thứ Hai) Dutiyamahānāmasutta
Một thời Đức Phật trú ở xứ của những người Thích Ca, gần Ca-tỳ-la-vệ tại Tu viện Cây Bàng. Lúc bấy giờ, Mahānāma người Thích Ca vừa mới khỏi bệnh. Lúc ấy, một số vị Tỷ-kheo đang may y cho Đức Phật...
Mahānāma người Thích Ca nghe được điều này. Ông đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và thưa với ngài:
"Bạch Thế Tôn, con được biết một số vị Tỷ-kheo đang may y cho Đức Phật, với ý nghĩ rằng khi y của ngài được hoàn tất và ba tháng an cư mùa mưa đã qua, Đức Phật sẽ lên đường du hành. Nay, chúng con sống đời bằng nhiều cách khác nhau. Chúng con nên thực hành theo cách nào trong số đó?"
"Lành thay, lành thay, Mahānāma! Thật thích hợp khi những thiện gia nam tử như ông đến gặp Ta và hỏi: 'Chúng con sống đời bằng nhiều cách khác nhau. Chúng con nên thực hành theo cách nào trong số đó?' Người có niềm tin thì thành công, không phải người không có niềm tin. Người siêng năng thì thành công, không phải người lười biếng. Người có tỉnh thức thì thành công, không phải người không có tỉnh thức. Người có định thì thành công, không phải người không có định. Người có trí tuệ thì thành công, không phải người không có trí tuệ. Khi ông đã đặt nền tảng trên năm điều này, hãy tiếp tục phát triển thêm sáu điều nữa.
Thứ nhất, ông nên tùy niệm Như Lai: 'Đức Thế Tôn đó là bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.' Khi một thánh đệ tử tùy niệm Như Lai, tâm vị ấy không tràn đầy tham, sân, và si. Lúc ấy, tâm vị ấy không lay chuyển, đặt nền tảng trên Như Lai. Một thánh đệ tử có tâm không lay chuyển sẽ tìm thấy niềm cảm hứng trong ý nghĩa và giáo pháp, và tìm thấy niềm vui liên hệ đến giáo pháp. Khi vị ấy hân hoan, Niềm vui khởi lên. Khi tâm tràn đầy Niềm vui, thân trở nên khinh an. Khi thân khinh an, vị ấy cảm thấy An ổn. Và khi vị ấy An ổn, tâm nhập định. Ông nên phát triển sự niệm Phật này khi đi, đứng, ngồi, nằm, khi làm việc, và khi ở nhà với con cái.
Hơn nữa, ông nên tùy niệm Pháp... Tăng đoàn... giới đức của chính mình... lòng quảng đại của chính mình... chư thiên... Khi một thánh đệ tử tùy niệm Niềm tin, giới đức, sự học hỏi, lòng quảng đại, và Trí tuệ của cả bản thân mình và của chư thiên, tâm vị ấy không tràn đầy tham, sân, và si. Lúc ấy, tâm vị ấy không lay chuyển, đặt nền tảng trên chư thiên. Một thánh đệ tử có tâm không lay chuyển sẽ tìm thấy niềm cảm hứng trong ý nghĩa và giáo pháp, và tìm thấy niềm vui liên hệ đến giáo pháp. Khi vị ấy hân hoan, Niềm vui khởi lên. Khi tâm tràn đầy Niềm vui, thân trở nên khinh an. Khi thân khinh an, vị ấy cảm thấy An ổn. Và khi vị ấy An ổn, tâm nhập định. Ông nên phát triển sự niệm thiên này khi đi, đứng, ngồi, nằm, khi làm việc, và khi ở nhà với con cái."
AN 11.13 Với Nandiya Nandiyasutta
Một thời Đức Phật trú ở xứ của những người Thích Ca, gần Ca-tỳ-la-vệ tại Tu viện Cây Bàng.
Lúc bấy giờ, Đức Phật muốn nhập hạ tại Xá-vệ (Sāvatthī).
Nandiya người Thích Ca nghe được điều này, và nghĩ: "Sao ta không nhập hạ tại Xá-vệ luôn nhỉ. Ở đó ta có thể chú tâm vào công việc của mình và thỉnh thoảng được gặp Đức Phật."
Vậy là Đức Phật nhập hạ tại Xá-vệ, và Nandiya cũng vậy. Ở đó, ông chú tâm vào công việc của mình và thỉnh thoảng được gặp Đức Phật.
Lúc bấy giờ, một số vị Tỷ-kheo đang may y cho Đức Phật, với ý nghĩ rằng khi y của ngài được hoàn tất và ba tháng an cư mùa mưa đã qua, Đức Phật sẽ lên đường du hành.
Nandiya người Thích Ca nghe được điều này. Ông đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và thưa với ngài:
"Bạch Thế Tôn, con được biết một số vị Tỷ-kheo đang may y cho Đức Phật, với ý nghĩ rằng khi y của ngài được hoàn tất và ba tháng an cư mùa mưa đã qua, Đức Phật sẽ lên đường du hành. Nay, chúng con sống đời bằng nhiều cách khác nhau. Chúng con nên thực hành theo cách nào trong số đó?"
"Lành thay, lành thay Nandiya! Thật thích hợp khi những thiện gia nam tử như ông đến gặp Ta và hỏi: 'Chúng con sống đời bằng nhiều cách khác nhau. Chúng con nên thực hành theo cách nào trong số đó?' Người có niềm tin thì thành công, không phải người không có niềm tin. Người có giới đức thì thành công, không phải người không có giới đức. Người siêng năng thì thành công, không phải người lười biếng. Người có tỉnh thức thì thành công, không phải người không có tỉnh thức. Người có định thì thành công, không phải người không có định. Người có trí tuệ thì thành công, không phải người không có trí tuệ. Khi ông đã đặt nền tảng trên sáu điều này, hãy tiếp tục thiết lập tỉnh thức nội tâm về năm điều nữa.
Thứ nhất, ông nên tùy niệm Như Lai: 'Đức Thế Tôn đó là bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.' Theo cách này, ông nên thiết lập tỉnh thức nội tâm đặt nền tảng trên Như Lai.
Hơn nữa, ông nên tùy niệm Pháp: 'Pháp được Đức Phật khéo giảng—thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, để người trí tự mình giác hiểu.' Theo cách này, ông nên thiết lập tỉnh thức nội tâm đặt nền tảng trên Pháp.
Hơn nữa, ông nên tùy niệm những thiện hữu (good friends / bạn tốt) của mình: 'Ta thật may mắn, thật vô cùng may mắn, vì có những người bạn tốt khuyên bảo và chỉ dẫn ta vì lòng tốt và sự cảm thông.' Theo cách này, ông nên thiết lập tỉnh thức nội tâm đặt nền tảng trên những người bạn tốt.
Hơn nữa, ông nên tùy niệm lòng quảng đại của chính mình: 'Ta thật may mắn, thật vô cùng may mắn. Giữa những người có tâm đầy vết nhơ của bỏn xẻn, ta sống tại gia thoát khỏi lòng bỏn xẻn, rộng rãi cho đi, sẵn sàng cho đi, thích xả bỏ, chuyên tâm bố thí, thích cho và chia sẻ.' Theo cách này, ông nên thiết lập tỉnh thức nội tâm đặt nền tảng trên lòng quảng đại.
Hơn nữa, ông nên tùy niệm chư thiên: 'Có những vị trời, vượt cõi chư thiên dùng đoàn thực (solid food / thức ăn vật chất thô), được tái sinh vào một hội chúng ý sanh thân chư thiên (mind-made deities / chư thiên có thân do ý tạo ra, không cần đoàn thực). Họ không thấy nơi mình có gì phải làm thêm, hay có gì cần cải thiện.' Một vị Tỷ-kheo bất lai (irreversibly freed mendicant / vị Tỷ-kheo đã chứng quả Bất Lai, không còn quay lại cõi này) không thấy nơi mình có gì phải làm thêm, hay có gì cần cải thiện. Cũng vậy, Nandiya, có những vị trời, vượt cõi chư thiên dùng đoàn thực, được tái sinh vào một hội chúng ý sanh thân chư thiên. Họ không thấy nơi mình có gì phải làm thêm, hay có gì cần cải thiện. Theo cách này, ông nên thiết lập tỉnh thức nội tâm đặt nền tảng trên chư thiên.
Một thánh đệ tử có mười một phẩm chất này sẽ từ bỏ các pháp ác bất thiện (bad, unskillful qualities / những điều xấu, không tốt) và không còn bám víu vào chúng. Giống như khi một cái nồi đầy nước bị nghiêng đổ, nước chảy ra hết và không quay trở lại. Giả sử có một đám cháy không kiểm soát được. Nó lan tới đốt cháy những khu rừng khô và không quay lại những gì nó đã đốt. Cũng vậy, một thánh đệ tử có mười một phẩm chất này sẽ từ bỏ các pháp ác bất thiện và không còn bám víu vào chúng."
AN 11.14 Với Subhūti Subhūtisutta
Rồi Tôn giả Tu-bồ-đề (Subhūti) cùng với vị Tỷ-kheo Saddha đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên. Đức Phật hỏi ngài: "Tu-bồ-đề, vị Tỷ-kheo này tên là gì?"
"Bạch Thế Tôn, vị Tỷ-kheo này tên là Saddha (Niềm Tin). Vị ấy là con trai của cư sĩ Sudatta (Cấp Cô Độc), và đã do niềm tin mà xuất gia, từ bỏ đời sống tại gia, sống không gia đình."
"Vậy, Ta hy vọng vị Tỷ-kheo Saddha này thể hiện được những dấu hiệu của niềm tin (evidences of faith / những biểu hiện của người có niềm tin)."
"Bạch Thế Tôn, nay chính là lúc! Bạch Đấng Thiện Thệ (Holy One / Bậc Thiện Thệ)! Xin Đức Phật hãy nói về những dấu hiệu của niềm tin. Giờ đây con sẽ biết được vị Tỷ-kheo Saddha này có thể hiện những dấu hiệu của niềm tin hay không."
"Vậy thì, Tu-bồ-đề, hãy lắng nghe và chú tâm kỹ, Ta sẽ nói."
"Vâng, bạch Thế Tôn," Tôn giả Tu-bồ-đề đáp. Đức Phật dạy như sau:
"Thứ nhất, một vị Tỷ-kheo có giới đức, sống chế ngự trong giới luật (Pātimokkha - Ba La Đề Mộc Xoa / giới bổn của tỳ kheo), hạnh kiểm tốt và khất thực ở những nơi thích hợp. Thấy sự nguy hiểm trong lỗi nhỏ nhặt nhất, họ giữ gìn các học giới đã thọ nhận. Khi một vị Tỷ-kheo có giới đức, đây là một dấu hiệu của niềm tin.
Hơn nữa, một vị Tỷ-kheo là người đa văn, ghi nhớ và gìn giữ những gì đã học. Những lời dạy này tốt đẹp ở phần đầu, tốt đẹp ở phần giữa, và tốt đẹp ở phần cuối, có ý nghĩa và văn cú rõ ràng, mô tả một đời sống phạm hạnh (spiritual practice / đời sống thanh tịnh, tu tập) hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Họ là người đa văn về những lời dạy như vậy, ghi nhớ chúng, tụng đọc chúng, quán xét bằng ý và thấu hiểu bằng trí tuệ. Khi một vị Tỷ-kheo là người đa văn, đây là một dấu hiệu của niềm tin.
Hơn nữa, một vị Tỷ-kheo có bạn tốt, bạn đồng hành, và người thân cận tốt. Khi một vị Tỷ-kheo có bạn tốt, đây là một dấu hiệu của niềm tin.
Hơn nữa, một vị Tỷ-kheo dễ khuyên bảo, có những phẩm chất khiến họ dễ khuyên bảo. Họ kiên nhẫn và kính cẩn tiếp nhận lời chỉ dạy. Khi một vị Tỷ-kheo dễ khuyên bảo, đây là một dấu hiệu của niềm tin.
Hơn nữa, một vị Tỷ-kheo khéo léo và không mệt mỏi trong nhiều phận sự khác nhau cho các bạn đồng tu, hiểu biết cách thực hiện công việc để hoàn thành và tổ chức. Khi một vị Tỷ-kheo khéo léo và không mệt mỏi trong nhiều phận sự khác nhau, đây là một dấu hiệu của niềm tin.
Hơn nữa, một vị Tỷ-kheo yêu thích giáo pháp và là người dễ chịu khi đàm đạo, tràn đầy niềm vui trong Pháp và Luật (teaching and training / Dhamma-Vinaya). Khi một vị Tỷ-kheo yêu thích giáo pháp, đây là một dấu hiệu của niềm tin.
Hơn nữa, một vị Tỷ-kheo sống với Siêng năng (energy / Tấn) được khơi dậy để từ bỏ các pháp bất thiện và thực hành các pháp thiện. Họ mạnh mẽ, kiên trì nỗ lực, không lơ là khi phát triển các pháp thiện. Khi một vị Tỷ-kheo siêng năng, đây là một dấu hiệu của niềm tin.
Hơn nữa, một vị Tỷ-kheo chứng được bốn tầng thiền (absorptions / các tầng định sâu)—những trạng thái thiền định mang lại an lạc trong đời này, thuộc về tăng thượng tâm (higher mind / tâm cao hơn, tâm phát triển)—bất cứ khi nào muốn, không khó khăn, không trở ngại. Khi một vị Tỷ-kheo chứng được bốn tầng thiền, đây là một dấu hiệu của niềm tin.
Hơn nữa, một vị Tỷ-kheo nhớ lại nhiều đời quá khứ. Nghĩa là: một, hai, ba, bốn, năm, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, một trăm, một ngàn, một trăm ngàn kiếp tái sinh; nhiều đại kiếp thế giới thành, nhiều đại kiếp thế giới hoại, nhiều đại kiếp thế giới thành và hoại. Họ nhớ rằng: 'Ở đó, ta tên là thế này, dòng họ là thế kia, hình dáng như thế này, và đó là thức ăn của ta. Đây là cách ta cảm nhận khổ và lạc, và đó là cách đời ta kết thúc. Khi ta mệnh chung từ nơi đó, ta được tái sinh ở một nơi khác. Ở đó, ta cũng tên là thế này, dòng họ là thế kia, hình dáng như thế này, và đó là thức ăn của ta. Đây là cách ta cảm nhận khổ và lạc, và đó là cách đời ta kết thúc. Khi ta mệnh chung từ nơi đó, ta được tái sinh ở đây.' Và cứ thế, họ nhớ lại nhiều đời quá khứ của mình, với các đặc điểm và chi tiết. Khi một vị Tỷ-kheo nhớ lại nhiều đời quá khứ, đây là một dấu hiệu của niềm tin.
Hơn nữa, với thiên nhãn (clairvoyance / con mắt của chư thiên, khả năng thấy xa và thấy chúng sinh tái sinh) thanh tịnh, siêu phàm, một vị Tỷ-kheo thấy các chúng sanh (sentient beings / các loài hữu tình) chết đi và tái sinh—hạ liệt và cao sang, xinh đẹp và xấu xí, ở nơi tốt đẹp hay nơi khốn khổ. Họ hiểu rõ chúng sanh tái sinh tùy theo nghiệp (deeds / hành động có chủ ý tạo ra kết quả) của họ. 'Những chúng sanh này đã làm điều xấu qua thân, khẩu, và ý. Họ phỉ báng các bậc thánh; họ có tà kiến (wrong view / thấy biết sai lầm); và họ đã chọn hành động theo tà kiến đó. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ tái sinh vào cõi mất mát, nơi khốn khổ, địa ngục. Tuy nhiên, những chúng sanh này đã làm điều tốt qua thân, khẩu, và ý. Họ không bao giờ phỉ báng các bậc thánh; họ có chánh kiến (right view / thấy biết đúng đắn); và họ đã chọn hành động theo chánh kiến đó. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ tái sinh vào cõi tốt đẹp, cảnh giới chư thiên.' Và cứ thế, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu phàm, họ thấy các chúng sanh chết đi và tái sinh—hạ liệt và cao sang, xinh đẹp và xấu xí, ở nơi tốt đẹp hay nơi khốn khổ. Họ hiểu rõ chúng sanh tái sinh tùy theo nghiệp của họ. Khi một vị Tỷ-kheo có thiên nhãn thanh tịnh, siêu phàm, đây là một dấu hiệu của niềm tin.
Hơn nữa, một vị Tỷ-kheo đã chứng ngộ vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát (undefiled freedom of heart and freedom by wisdom / sự giải thoát của tâm không còn ô nhiễm, sự giải thoát bằng trí tuệ) ngay trong đời này, và sống sau khi đã tự mình chứng ngộ bằng trí tuệ của mình do sự chấm dứt các lậu hoặc (defilements / những ô nhiễm làm rỉ chảy, những cấu uế tiềm ẩn). Khi một vị Tỷ-kheo đã chấm dứt các lậu hoặc, đây là một dấu hiệu của niềm tin."
Khi ngài nói xong, Tôn giả Tu-bồ-đề thưa với Đức Phật:
"Bạch Thế Tôn, những dấu hiệu của niềm tin khác nhau dành cho một người có niềm tin mà Đức Phật nói đến đều được tìm thấy ở vị Tỷ-kheo này; vị ấy thực sự thể hiện chúng.
Vị Tỷ-kheo này có giới đức...
Vị Tỷ-kheo này là người đa văn...
Vị Tỷ-kheo này có bạn tốt...
Vị Tỷ-kheo này dễ khuyên bảo...
Vị Tỷ-kheo này khéo léo và không mệt mỏi trong nhiều phận sự khác nhau...
Vị Tỷ-kheo này yêu thích giáo pháp...
Vị Tỷ-kheo này siêng năng...
Vị Tỷ-kheo này chứng được bốn tầng thiền...
Vị Tỷ-kheo này nhớ lại nhiều đời quá khứ của mình...
Vị Tỷ-kheo này có thiên nhãn thanh tịnh, siêu phàm...
Vị Tỷ-kheo này đã chấm dứt các lậu hoặc...
Những dấu hiệu của niềm tin khác nhau dành cho một người có niềm tin mà Đức Phật nói đến đều được tìm thấy ở vị Tỷ-kheo này; vị ấy thực sự thể hiện chúng."
"Lành thay, lành thay, Tu-bồ-đề! Vậy thì, Tu-bồ-đề, ông nên sống cùng với vị Tỷ-kheo Saddha này. Và khi ông muốn gặp Như Lai, ông nên đến cùng với vị ấy."
AN 11.15 Lợi Ích Của Từ Ái Mettāsutta
"các Tỷ-kheo, các ông có thể mong đợi mười một lợi ích khi tâm giải thoát bằng từ ái (heart's release by love / sự giải thoát của tâm nhờ thực hành lòng từ) đã được tu tập, phát triển, và thực hành, làm thành cỗ xe và làm thành nền tảng, duy trì, củng cố, và thực hiện đúng cách.
Mười một lợi ích đó là gì? Ngủ an lạc. Thức dậy vui vẻ. Không gặp ác mộng. Loài người yêu mến. Phi nhân yêu mến. Chư thiên bảo hộ. Không bị hại bởi lửa, độc dược, hay đao kiếm. Tâm nhanh chóng nhập định. Gương mặt trong sáng, tươi tắn. Khi chết không mê mờ. Nếu không chứng ngộ cao hơn, sẽ được tái sinh vào Phạm thiên giới (realm of divinity / cõi trời Phạm Thiên, cõi của các vị trời cao cấp). Các ông có thể mong đợi mười một lợi ích khi tâm giải thoát bằng từ ái đã được tu tập, phát triển, và thực hành, làm thành cỗ xe và làm thành nền tảng, duy trì, củng cố, và thực hiện đúng cách."
AN 11.16 Công Dân Giàu Có (Ở Aṭṭhaka) Aṭṭhakanāgarasutta
Một thời Tôn giả A-nan (Ānanda) trú gần Tỳ-xá-ly (Vesālī) trong ngôi làng nhỏ Beluva.
Lúc bấy giờ, gia chủ Dasama, một công dân giàu có ở Aṭṭhaka, đã đến Hoa Thị Thành (Pāṭaliputta) vì một vài công việc. Ông đến tu viện Kukkuta (Gà), lại gần một vị Tỷ-kheo và hỏi: "Thưa ngài, Tôn giả A-nan hiện đang ở đâu? Vì tôi muốn gặp ngài."
"Thưa gia chủ, Tôn giả A-nan đang trú gần Tỳ-xá-ly trong ngôi làng nhỏ Beluva."
Sau đó, gia chủ Dasama, sau khi hoàn tất công việc ở đó, đã đến ngôi làng nhỏ Beluva ở Tỳ-xá-ly để gặp Tôn giả A-nan. Ông đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và thưa với Tôn giả A-nan:
"Thưa Tôn giả A-nan, có một pháp nào đã được Đức Thế Tôn—Đấng Toàn Tri Toàn Kiến, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác—khéo giảng dạy, mà khi thực hành pháp đó, một vị Tỷ-kheo tinh cần, nhiệt tâm, và kiên quyết, tâm sẽ được giải thoát, các lậu hoặc sẽ được chấm dứt, và vị ấy sẽ đạt đến an ổn vô thượng khỏi các khổ ách (supreme sanctuary from the yoke / nơi trú ẩn cao nhất thoát khỏi sự ràng buộc)?"
"Thưa gia chủ, có."
"Và pháp đó là gì?"
"Thưa gia chủ, đó là khi một vị Tỷ-kheo, hoàn toàn ly dục lạc (sensual pleasures / những thú vui của các giác quan), ly các pháp bất thiện, chứng và trú sơ thiền (first absorption / tầng thiền thứ nhất), một trạng thái có hỷ lạc do ly dục sanh (rapture and bliss born of seclusion / niềm vui và sự an ổn sinh ra từ sự xa lìa các dục), có tầm có tứ(placing the mind and keeping it connected / chủ động hướng ý nghĩ đến đối tượng và giữ sự quan sát đối tượng đó). Rồi vị ấy suy xét: 'Ngay cả sơ thiền này cũng do tác ý và chủ đích tạo ra (produced by choices and intentions / được hình thành bởi sự lựa chọn và ý định).' Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng bất cứ điều gì do tác ý và chủ đích tạo ra đều vô thường và chịu sự đoạn diệt (impermanent and liable to cessation / không bền vững và có khuynh hướng chấm dứt).' An trú trong đó, vị ấy đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc. Nếu vị ấy không đạt được sự đoạn tận các lậu hoặc, với sự chấm dứt của năm hạ phần kiết sử (five lower fetters / năm trói buộc ở cõi thấp: thân kiến (self-view / chấp có một tự ngã thường hằng), hoài nghi (doubt / nghi ngờ về Tam Bảo và duyên khởi), sùng tín và giáo điều (misapprehension of precepts and observances/ giới cấm thủ, sự hiểu lầm về các giới luật và sự tuân thủ), tham dục (sensual desire / ham muốn các dục lạc), tức giận (ill will / lòng căm ghét, ác ý)), vị ấy sẽ hóa sinh (reborn spontaneously / sinh ra một cách tự nhiên, không qua thai bào), do đam mê và yêu thích thiền định đó. Vị ấy nhập diệt ở đó (extinguished there / đạt Niết Bàn tại cõi đó), và không còn trở lại thế giới này nữa. Đây là một pháp đã được Đức Thế Tôn—Đấng Toàn Tri Toàn Kiến, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác—khéo giảng dạy, mà khi thực hành pháp đó, một vị Tỷ-kheo tinh cần, nhiệt tâm, và kiên quyết, tâm sẽ được giải thoát, các lậu hoặc sẽ được chấm dứt, và vị ấy sẽ đạt đến an ổn vô thượng khỏi các khổ ách.
Hơn nữa, khi sự có tầm có tứ lắng dịu, vị ấy chứng và trú nhị thiền (second absorption / tầng thiền thứ hai)... tam thiền (third absorption / tầng thiền thứ ba)... tứ thiền (fourth absorption / tầng thiền thứ tư). Rồi vị ấy suy xét: 'Ngay cả tứ thiền này cũng do tác ý và chủ đích tạo ra.' Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng bất cứ điều gì do tác ý và chủ đích tạo ra đều vô thường và chịu sự đoạn diệt.' An trú trong đó, vị ấy đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc. Nếu vị ấy không đạt được sự đoạn tận các lậu hoặc, với sự chấm dứt của năm hạ phần kiết sử, vị ấy sẽ hóa sinh, do đam mê và yêu thích thiền định đó. Vị ấy nhập diệt ở đó, và không còn trở lại thế giới này nữa. Đây cũng là một pháp đã được Đức Thế Tôn—Đấng Toàn Tri Toàn Kiến, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác—khéo giảng dạy, mà khi thực hành pháp đó, một vị Tỷ-kheo tinh cần, nhiệt tâm, và kiên quyết, tâm sẽ được giải thoát, các lậu hoặc sẽ được chấm dứt, và vị ấy sẽ đạt đến an ổn vô thượng khỏi các khổ ách.
Hơn nữa, một vị Tỷ-kheo thiền định, lan tỏa tâm đầy từ ái đến một phương, rồi đến phương thứ hai, rồi đến phương thứ ba, rồi đến phương thứ tư. Cũng vậy, ở trên, ở dưới, ngang, khắp mọi nơi, cùng khắp, vị ấy lan tỏa tâm đầy từ ái đến toàn thế giới—dồi dào, rộng lớn, vô biên, không hận thù, không ác ý. Rồi vị ấy suy xét: 'Ngay cả tâm giải thoát bằng từ ái này cũng do tác ý và chủ đích tạo ra.' Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng bất cứ điều gì do tác ý và chủ đích tạo ra đều vô thường và chịu sự đoạn diệt.' An trú trong đó, vị ấy đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc. Nếu vị ấy không đạt được sự đoạn tận các lậu hoặc, với sự chấm dứt của năm hạ phần kiết sử, vị ấy sẽ hóa sinh, do đam mê và yêu thích thiền định đó. Vị ấy nhập diệt ở đó, và không còn trở lại thế giới này nữa. Đây cũng là một pháp đã được Đức Thế Tôn...
Hơn nữa, một vị Tỷ-kheo thiền định, lan tỏa tâm đầy bi mẫn... Vị ấy thiền định, lan tỏa tâm đầy tùy hỷ... Vị ấy thiền định, lan tỏa tâm đầy xả đến một phương, rồi đến phương thứ hai, rồi đến phương thứ ba, rồi đến phương thứ tư. Cũng vậy, ở trên, ở dưới, ngang, khắp mọi nơi, cùng khắp, vị ấy lan tỏa tâm đầy xả đến toàn thế giới—dồi dào, rộng lớn, vô biên, không hận thù, không ác ý. Rồi vị ấy suy xét: 'Ngay cả tâm giải thoát bằng xả (heart's release by equanimity / sự giải thoát của tâm nhờ thực hành tâm xả) này cũng do tác ý và chủ đích tạo ra.' Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng bất cứ điều gì do tác ý và chủ đích tạo ra đều vô thường và chịu sự đoạn diệt.' An trú trong đó, vị ấy đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc. Nếu vị ấy không đạt được sự đoạn tận các lậu hoặc, với sự chấm dứt của năm hạ phần kiết sử, vị ấy sẽ hóa sinh, do đam mê và yêu thích thiền định đó. Vị ấy nhập diệt ở đó, và không còn trở lại thế giới này nữa. Đây cũng là một pháp đã được Đức Thế Tôn...
Hơn nữa, một vị Tỷ-kheo, hoàn toàn vượt qua nhận thức (perceptions / tưởng, nhận biết-phân biệt và gắn nhãn) về sắc tưởng (perceptions of form / nhận thức về hình tướng vật chất), với sự chấm dứt nhận thức về đối ngại tưởng (perceptions of impingement / nhận thức về sự va chạm, chướng ngại), không chú tâm đến nhận thức về đa dạng tưởng (perceptions of diversity / nhận thức về sự khác biệt, nhiều loại), ý thức rằng 'không gian là vô biên', chứng và trú Không Vô Biên Xứ (dimension of infinite space / cõi thiền vô sắc nơi không gian được nhận thức là vô tận). Rồi vị ấy suy xét: 'Ngay cả sự chứng đắc Không Vô Biên Xứ này cũng do tác ý và chủ đích tạo ra.' Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng bất cứ điều gì do tác ý và chủ đích tạo ra đều vô thường và chịu sự đoạn diệt.' An trú trong đó, vị ấy đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc. Nếu vị ấy không đạt được sự đoạn tận các lậu hoặc, với sự chấm dứt của năm hạ phần kiết sử, vị ấy sẽ hóa sinh, do đam mê và yêu thích thiền định đó. Vị ấy nhập diệt ở đó, và không còn trở lại thế giới này nữa. Đây cũng là một pháp đã được Đức Thế Tôn...
Hơn nữa, một vị Tỷ-kheo, hoàn toàn vượt qua Không Vô Biên Xứ, ý thức rằng 'thức là vô biên', chứng và trú Thức Vô Biên Xứ (dimension of infinite consciousness / cõi thiền vô sắc nơi thức được nhận thức là vô tận). ... Hoàn toàn vượt qua Thức Vô Biên Xứ, ý thức rằng 'không có gì cả', vị ấy chứng và trú Vô Sở Hữu Xứ (dimension of nothingness / cõi thiền vô sắc nơi không có gì được nhận thức là tồn tại). ... Rồi vị ấy suy xét: 'Ngay cả sự chứng đắc Vô Sở Hữu Xứ này cũng do tác ý và chủ đích tạo ra.' Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng bất cứ điều gì do tác ý và chủ đích tạo ra đều vô thường và chịu sự đoạn diệt.' An trú trong đó, vị ấy đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc. Nếu vị ấy không đạt được sự đoạn tận các lậu hoặc, với sự chấm dứt của năm hạ phần kiết sử, vị ấy sẽ hóa sinh, do đam mê và yêu thích thiền định đó. Vị ấy nhập diệt ở đó, và không còn trở lại thế giới này nữa. Đây cũng là một pháp đã được Đức Thế Tôn—Đấng Toàn Tri Toàn Kiến, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác—khéo giảng dạy, mà khi thực hành pháp đó, một vị Tỷ-kheo tinh cần, nhiệt tâm, và kiên quyết, tâm sẽ được giải thoát, các lậu hoặc sẽ được chấm dứt, và vị ấy sẽ đạt đến an ổn vô thượng khỏi các khổ ách."
Khi ngài nói xong, gia chủ Dasama thưa với Tôn giả A-nan:
"Thưa Tôn giả A-nan, giả sử một người đang tìm kiếm một lối vào một kho tàng ẩn giấu. Và bất ngờ họ tìm thấy mười một lối vào! Cũng vậy, con đang tìm kiếm cánh cửa đến sự bất tử. Và bất ngờ con tìm thấy mười một cánh cửa đến sự bất tử để tu tập. Giả sử một người có một ngôi nhà với mười một cửa. Nếu nhà cháy, họ có thể thoát ra an toàn qua bất kỳ cửa nào trong số đó. Cũng vậy, con có thể thoát ra an toàn qua bất kỳ cánh cửa nào trong số mười một cánh cửa đến sự bất tử này. Thưa ngài, những người theo tôn giáo khác sẽ tìm cách trả công cho thầy dạy. Tại sao con lại không cúng dường Tôn giả A-nan?"
Sau đó, gia chủ Dasama, sau khi tập hợp Tăng đoàn từ Tỳ-xá-ly và Hoa Thị Thành, đã tự tay phục vụ và làm hài lòng họ bằng những món ăn tươi ngon và đã nấu chín. Ông cúng dường mỗi vị Tỷ-kheo một cặp y, và Tôn giả A-nan một bộ ba y. Và ông đã cho xây một trú xứ trị giá năm trăm (xu) cho Tôn giả A-nan.
AN 11.17 Người Chăn Bò Gopālasutta
"các Tỷ-kheo, một người chăn bò với mười một yếu tố không thể duy trì và mở rộng đàn bò. Mười một yếu tố đó là gì? Đó là khi người chăn bò không biết về sắc (hình tướng của bò), không khéo léo về các đặc điểm (của bò tốt xấu), không loại bỏ trứng ruồi (cho bò), không băng bó vết thương (cho bò), không xông khói (đuổi muỗi cho đàn bò), không biết chỗ lội qua sông, không biết sự hài lòng (của bò khi ăn no), không biết con đường (dẫn đến đồng cỏ tốt), không khéo léo về đồng cỏ, vắt sữa đến cạn kiệt, và không tỏ lòng kính trọng đặc biệt đối với những con bò đực đầu đàn, cha của đàn. Một người chăn bò với mười một yếu tố này không thể duy trì và mở rộng đàn bò.
Cũng vậy, một vị Tỷ-kheo với mười một phẩm chất không thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ, hay trưởng thành trong Pháp và Luật này. Mười một phẩm chất đó là gì? Đó là khi một vị Tỷ-kheo không biết về sắc (rūpa), không khéo léo về các đặc điểm (để phân biệt người ngu kẻ trí), không loại bỏ trứng ruồi (ẩn dụ cho các tư tưởng xấu bất thiện), không băng bó vết thương (ẩn dụ cho việc không chế ngự các giác quan), không xông khói (ẩn dụ cho việc không giảng dạy Pháp rộng rãi), không biết chỗ lội qua sông (ẩn dụ cho việc không học hỏi từ các bậc đa văn), không biết sự hoan hỷ (trong Pháp), không biết con đường (Bát Chánh Đạo), không khéo léo về đồng cỏ (Tứ Niệm Xứ), vắt sữa đến cạn kiệt (ẩn dụ cho việc không biết tiết độ khi nhận cúng dường), và không tỏ lòng kính trọng đặc biệt đối với các vị Tỷ-kheo trưởng lão, xuất gia lâu năm, là những người cha, người lãnh đạo của Tăng đoàn.
Và làm thế nào một vị Tỷ-kheo không biết về sắc? Đó là khi một vị Tỷ-kheo không thực sự hiểu rằng tất cả sắc là tứ đại (four principal states / bốn yếu tố chính: đất, nước, lửa, gió), hoặc sắc được tạo ra từ tứ đại. Đó là cách một vị Tỷ-kheo không biết về sắc.
Và làm thế nào một vị Tỷ-kheo không khéo léo về các đặc điểm? Đó là khi một vị Tỷ-kheo không hiểu rằng người ngu được nhận biết qua hành động của họ, và người khôn ngoan được nhận biết qua hành động của họ. Đó là cách một vị Tỷ-kheo không khéo léo về các đặc điểm.
Và làm thế nào một vị Tỷ-kheo không loại bỏ trứng ruồi? Đó là khi một vị Tỷ-kheo dung thứ một tư duy về dục lạc, tư duy về sân hận, hay tư duy về hại người (sensual, malicious, or cruel thought / ý nghĩ liên quan đến ham muốn, ác ý, hoặc làm hại) đã khởi lên. Vị ấy không từ bỏ, không loại trừ, không tiêu diệt, và không làm cho biến mất. Vị ấy dung thứ bất kỳ pháp ác bất thiện nào đã khởi lên. Vị ấy không từ bỏ, không loại trừ, không tiêu diệt, và không làm cho biến mất. Đó là cách một vị Tỷ-kheo không loại bỏ trứng ruồi.
Và làm thế nào một vị Tỷ-kheo không băng bó vết thương? Khi một vị Tỷ-kheo mắt thấy một cảnh sắc, họ bị cuốn theo các tướng chung và tướng riêng (features and details / những đặc điểm tổng quát và chi tiết của đối tượng). Vì nhãn căn (faculty of sight / khả năng nhìn của mắt) không được chế ngự, các pháp ác bất thiện là tham ái và ưu phiền (covetousness and displeasure / lòng tham muốn và sự buồn khổ) xâm chiếm. Họ không thực hành sự chế ngự, không bảo vệ nhãn căn, và không đạt được sự chế ngự nhãn căn. Khi tai nghe một âm thanh... Khi mũi ngửi một mùi hương... Khi lưỡi nếm một vị... Khi thân cảm nhận một sự xúc chạm... Khi ý căn (faculty of the mind / khả năng nhận biết của ý) biết một ý niệm, họ bị cuốn theo các tướng chung và tướng riêng. Vì ý căn không được chế ngự, các pháp ác bất thiện là tham ái và ưu phiền xâm chiếm. Họ không thực hành sự chế ngự, không bảo vệ ý căn, và không đạt được sự chế ngự ý căn. Đó là cách một vị Tỷ-kheo không băng bó vết thương.
Và làm thế nào một vị Tỷ-kheo không xông khói? Đó là khi một vị Tỷ-kheo không giảng dạy giáo pháp chi tiết cho người khác như họ đã học và ghi nhớ. Đó là cách một vị Tỷ-kheo không xông khói.
Và làm thế nào một vị Tỷ-kheo không biết chỗ lội qua sông? Đó là khi một vị Tỷ-kheo không thỉnh thoảng đến gặp những vị Tỷ-kheo đa văn—những người thừa kế di sản, những người đã ghi nhớ giáo pháp, luật (monastic law / Vinaya, giới luật), và các đề cương (outlines / Mātikā, các bản tóm tắt, bảng phân loại)—và hỏi họ những câu hỏi: 'Thưa ngài, tại sao lại nói thế này? Điều đó có nghĩa là gì?' Những vị tôn giả ấy không làm sáng tỏ những gì chưa rõ, không vén mở những gì che khuất, và không xua tan nghi ngờ về nhiều vấn đề còn nghi vấn. Đó là cách một vị Tỷ-kheo không biết chỗ lội qua sông.
Và làm thế nào một vị Tỷ-kheo không biết sự hoan hỷ? Đó là khi một vị Tỷ-kheo, khi Pháp và Luật do Như Lai công bố đang được giảng dạy, không tìm thấy niềm cảm hứng trong ý nghĩa và giáo pháp, và không tìm thấy niềm vui liên hệ đến giáo pháp. Đó là cách một vị Tỷ-kheo không biết sự hoan hỷ.
Và làm thế nào một vị Tỷ-kheo không biết con đường? Đó là khi một vị Tỷ-kheo không thực sự hiểu Bát Chánh Đạo (noble eightfold path / con đường tám ngành chân chính). Đó là cách một vị Tỷ-kheo không biết con đường.
Và làm thế nào một vị Tỷ-kheo không khéo léo về đồng cỏ? Đó là khi một vị Tỷ-kheo không thực sự hiểu Tứ Niệm Xứ (four kinds of mindfulness meditation / bốn lĩnh vực quán niệm: thân, thọ, tâm, pháp). Đó là cách một vị Tỷ-kheo không khéo léo về đồng cỏ.
Và làm thế nào một vị Tỷ-kheo vắt sữa đến cạn kiệt? Đó là khi một vị Tỷ-kheo được gia chủ mời nhận y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men cùng vật dụng cho người bệnh. Nhưng họ không biết tiết độ trong việc nhận. Đó là cách một vị Tỷ-kheo vắt sữa đến cạn kiệt.
Và làm thế nào một vị Tỷ-kheo không tỏ lòng kính trọng đặc biệt đối với các vị Tỷ-kheo trưởng lão, xuất gia lâu năm, là những người cha, người lãnh đạo của Tăng đoàn? Đó là khi một vị Tỷ-kheo không luôn đối xử với các vị Tỷ-kheo trưởng lão, xuất gia lâu năm, là những người cha, người lãnh đạo của Tăng đoàn bằng lòng từ ái qua thân, khẩu, và ý, cả khi công khai lẫn riêng tư. Đó là cách một vị Tỷ-kheo không tỏ lòng kính trọng đặc biệt đối với các vị Tỷ-kheo trưởng lão, xuất gia lâu năm, là những người cha, người lãnh đạo của Tăng đoàn.
Một vị Tỷ-kheo với mười một phẩm chất này không thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ, hay trưởng thành trong Pháp và Luật này.
Một người chăn bò với mười một yếu tố có thể duy trì và mở rộng đàn bò. Mười một yếu tố đó là gì? Đó là khi người chăn bò biết về sắc, khéo léo về các đặc điểm, loại bỏ trứng ruồi, băng bó vết thương, xông khói, biết chỗ lội qua sông, biết sự hài lòng, biết con đường, khéo léo về đồng cỏ, không vắt sữa đến cạn kiệt, và tỏ lòng kính trọng đặc biệt đối với những con bò đực đầu đàn, cha của đàn. Một người chăn bò với mười một yếu tố này có thể duy trì và mở rộng đàn bò.
Cũng vậy, một vị Tỷ-kheo với mười một phẩm chất có thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ, và trưởng thành trong Pháp và Luật này. Mười một phẩm chất đó là gì? Đó là khi một vị Tỷ-kheo biết về sắc, khéo léo về các đặc điểm, loại bỏ trứng ruồi, băng bó vết thương, xông khói, biết chỗ lội qua sông, biết sự hoan hỷ, biết con đường, khéo léo về đồng cỏ, không vắt sữa đến cạn kiệt, và tỏ lòng kính trọng đặc biệt đối với các vị Tỷ-kheo trưởng lão, xuất gia lâu năm, là những người cha, người lãnh đạo của Tăng đoàn.
Và làm thế nào một vị Tỷ-kheo biết về sắc? Đó là khi một vị Tỷ-kheo thực sự hiểu rằng tất cả sắc là tứ đại, hoặc sắc được tạo ra từ tứ đại. Đó là cách một vị Tỷ-kheo biết về sắc.
Và làm thế nào một vị Tỷ-kheo khéo léo về các đặc điểm? Đó là khi một vị Tỷ-kheo hiểu rằng người ngu được nhận biết qua hành động của họ, và người khôn ngoan được nhận biết qua hành động của họ. Đó là cách một vị Tỷ-kheo khéo léo về các đặc điểm.
Và làm thế nào một vị Tỷ-kheo loại bỏ trứng ruồi? Đó là khi một vị Tỷ-kheo không dung thứ một tư duy về dục lạc, tư duy về sân hận, hay tư duy về hại người đã khởi lên, mà từ bỏ, loại trừ, tiêu diệt, và làm cho biến mất. Vị ấy không dung thứ bất kỳ pháp ác bất thiện nào đã khởi lên, mà từ bỏ, loại trừ, tiêu diệt, và làm cho biến mất. Đó là cách một vị Tỷ-kheo loại bỏ trứng ruồi.
Và làm thế nào một vị Tỷ-kheo băng bó vết thương? Khi một vị Tỷ-kheo mắt thấy một cảnh sắc, họ không bị cuốn theo các tướng chung và tướng riêng. Nếu nhãn căn không được chế ngự, các pháp ác bất thiện là tham ái và ưu phiền sẽ xâm chiếm. Vì lý do này, họ thực hành sự chế ngự, bảo vệ nhãn căn, và đạt được sự chế ngự nhãn căn. Khi tai nghe một âm thanh... Khi mũi ngửi một mùi hương... Khi lưỡi nếm một vị... Khi thân cảm nhận một sự xúc chạm... Khi ý căn biết một ý niệm, họ không bị cuốn theo các tướng chung và tướng riêng. Nếu ý căn không được chế ngự, các pháp ác bất thiện là tham ái và ưu phiền sẽ xâm chiếm. Vì lý do này, họ thực hành sự chế ngự, bảo vệ ý căn, và đạt được sự chế ngự ý căn. Đó là cách một vị Tỷ-kheo băng bó vết thương.
Và làm thế nào một vị Tỷ-kheo xông khói? Đó là khi một vị Tỷ-kheo giảng dạy giáo pháp chi tiết cho người khác như họ đã học và ghi nhớ. Đó là cách một vị Tỷ-kheo xông khói.
Và làm thế nào một vị Tỷ-kheo biết chỗ lội qua sông? Đó là khi thỉnh thoảng một vị Tỷ-kheo đến gặp những vị Tỷ-kheo đa văn—những người thừa kế di sản, những người đã ghi nhớ giáo pháp, luật, và các đề cương—và hỏi họ những câu hỏi: 'Thưa ngài, tại sao lại nói thế này? Điều đó có nghĩa là gì?' Những vị tôn giả ấy làm sáng tỏ những gì chưa rõ, vén mở những gì che khuất, và xua tan nghi ngờ về nhiều vấn đề còn nghi vấn. Đó là cách một vị Tỷ-kheo biết chỗ lội qua sông.
Và làm thế nào một vị Tỷ-kheo biết sự hoan hỷ? Đó là khi một vị Tỷ-kheo, khi Pháp và Luật do Như Lai công bố đang được giảng dạy, tìm thấy niềm cảm hứng trong ý nghĩa và giáo pháp, và tìm thấy niềm vui liên hệ đến giáo pháp. Đó là cách một vị Tỷ-kheo biết sự hoan hỷ.
Và làm thế nào một vị Tỷ-kheo biết con đường? Đó là khi một vị Tỷ-kheo thực sự hiểu Bát Chánh Đạo. Đó là cách một vị Tỷ-kheo biết con đường.
Và làm thế nào một vị Tỷ-kheo khéo léo về đồng cỏ? Đó là khi một vị Tỷ-kheo thực sự hiểu Tứ Niệm Xứ. Đó là cách một vị Tỷ-kheo khéo léo về đồng cỏ.
Và làm thế nào một vị Tỷ-kheo không vắt sữa đến cạn kiệt? Đó là khi một vị Tỷ-kheo được gia chủ mời nhận y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men cùng vật dụng cho người bệnh. Và vị Tỷ-kheo đó biết tiết độ trong việc nhận. Đó là cách một vị Tỷ-kheo không vắt sữa đến cạn kiệt.
Và làm thế nào một vị Tỷ-kheo tỏ lòng kính trọng đặc biệt đối với các vị Tỷ-kheo trưởng lão, xuất gia lâu năm, là những người cha, người lãnh đạo của Tăng đoàn? Đó là khi một vị Tỷ-kheo luôn đối xử với các vị Tỷ-kheo trưởng lão, xuất gia lâu năm, là những người cha, người lãnh đạo của Tăng đoàn bằng lòng từ ái qua thân, khẩu, và ý, cả khi công khai lẫn riêng tư. Đó là cách một vị Tỷ-kheo tỏ lòng kính trọng đặc biệt đối với các vị Tỷ-kheo trưởng lão, xuất gia lâu năm, là những người cha, người lãnh đạo của Tăng đoàn.
Một vị Tỷ-kheo với mười một phẩm chất này có thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ, hay trưởng thành trong Pháp và Luật này."
AN 11.18 Định (Thứ Nhất) Paṭhamasamādhisutta
Rồi một số vị Tỷ-kheo đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và thưa với ngài:
"Bạch Thế Tôn, liệu có thể nào một vị Tỷ-kheo đạt được một trạng thái định như thế này không? Vị ấy sẽ không nhận thức đất trong đất, nước trong nước, lửa trong lửa, hay gió trong gió. Và vị ấy sẽ không nhận thức Không Vô Biên Xứ trong Không Vô Biên Xứ, Thức Vô Biên Xứ trong Thức Vô Biên Xứ, Vô Sở Hữu Xứ trong Vô Sở Hữu Xứ, hay Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ (dimension of neither perception nor non-perception / cõi thiền vô sắc nơi nhận thức không phải có cũng không phải không) trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Vị ấy sẽ không nhận thức thế giới này trong thế giới này, hay thế giới khác trong thế giới khác. Và vị ấy sẽ không nhận thức những gì được thấy, nghe, suy nghĩ, biết, đạt được, tìm kiếm, hay khám phá bởi tâm. Và tuy nhiên vị ấy vẫn nhận thức."
"Có thể, các Tỷ-kheo."
"Nhưng làm thế nào điều này có thể xảy ra?"
"Đó là khi một vị Tỷ-kheo nhận thức: 'Đây là sự an tịnh; đây là sự cao thượng—nghĩa là, sự lắng dịu của mọi hành (activities / các pháp hữu vi, các hoạt động tạo tác, các pháp được điều kiện hóa), sự từ bỏ mọi sanh y (attachments / những nền tảng của sự tái sanh, những chấp thủ), sự chấm dứt của ái (craving / sự khao khát, ham muốn), sự ly tham (fading away / sự xa lìa tham ái), sự đoạn diệt (cessation / sự chấm dứt), Niết Bàn (extinguishment / sự dập tắt hoàn toàn phiền não và khổ đau).' Đó là cách một vị Tỷ-kheo có thể đạt được một trạng thái định như thế này. Vị ấy sẽ không nhận thức đất trong đất, nước trong nước, lửa trong lửa, hay gió trong gió. Và vị ấy sẽ không nhận thức Không Vô Biên Xứ trong Không Vô Biên Xứ, Thức Vô Biên Xứ trong Thức Vô Biên Xứ, Vô Sở Hữu Xứ trong Vô Sở Hữu Xứ, hay Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Vị ấy sẽ không nhận thức thế giới này trong thế giới này, hay thế giới khác trong thế giới khác. Và vị ấy sẽ không nhận thức những gì được thấy, nghe, suy nghĩ, biết, đạt được, tìm kiếm, hay khám phá bởi tâm. Và tuy nhiên vị ấy vẫn nhận thức."
AN 11.19 Định (Thứ Hai) Dutiyasamādhisutta
Tại đó, Đức Phật gọi các vị Tỷ-kheo: "các Tỷ-kheo!"
"Bạch Thế Tôn," họ đáp. Đức Phật dạy như sau:
"Liệu có thể nào, các Tỷ-kheo, một vị Tỷ-kheo đạt được một trạng thái định như thế này không? Vị ấy sẽ không nhận thức đất trong đất, nước trong nước, lửa trong lửa, hay gió trong gió. Và vị ấy sẽ không nhận thức Không Vô Biên Xứ trong Không Vô Biên Xứ, Thức Vô Biên Xứ trong Thức Vô Biên Xứ, Vô Sở Hữu Xứ trong Vô Sở Hữu Xứ, hay Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Vị ấy sẽ không nhận thức thế giới này trong thế giới này, hay thế giới khác trong thế giới khác. Và vị ấy sẽ không nhận thức những gì được thấy, nghe, suy nghĩ, biết, đạt được, tìm kiếm, hay khám phá bởi tâm. Và tuy nhiên vị ấy vẫn nhận thức."
"Giáo pháp của chúng con lấy Đức Phật làm gốc. Ngài là người dẫn đường và là nơi nương tựa của chúng con. Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hãy tự mình làm sáng tỏ ý nghĩa của điều này. các Tỷ-kheo sẽ lắng nghe và ghi nhớ."
"Vậy thì, các Tỷ-kheo, hãy lắng nghe và chú tâm kỹ, Ta sẽ nói."
"Vâng, bạch Thế Tôn," họ đáp. Đức Phật dạy như sau:
"Một vị Tỷ-kheo có thể đạt được một trạng thái định như vậy."
"Nhưng làm thế nào điều này có thể xảy ra?"
"Đó là khi một vị Tỷ-kheo nhận thức: 'Đây là sự an tịnh; đây là sự cao thượng—nghĩa là, sự lắng dịu của mọi hành, sự từ bỏ mọi sanh y, sự chấm dứt của ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, Niết Bàn.' Đó là cách một vị Tỷ-kheo có thể đạt được một trạng thái định như thế này. Vị ấy sẽ không nhận thức đất trong đất, nước trong nước, lửa trong lửa, hay gió trong gió. Và vị ấy sẽ không nhận thức Không Vô Biên Xứ trong Không Vô Biên Xứ, Thức Vô Biên Xứ trong Thức Vô Biên Xứ, Vô Sở Hữu Xứ trong Vô Sở Hữu Xứ, hay Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Vị ấy sẽ không nhận thức thế giới này trong thế giới này, hay thế giới khác trong thế giới khác. Và vị ấy sẽ không nhận thức những gì được thấy, nghe, suy nghĩ, biết, đạt được, tìm kiếm, hay khám phá bởi tâm. Và tuy nhiên vị ấy vẫn nhận thức."
AN 11.20 Định (Thứ Ba) Tatiyasamādhisutta
Rồi một số vị Tỷ-kheo đến gặp Tôn giả Xá-lợi-phất (Sāriputta), và chào hỏi ngài. Sau khi chào hỏi và nói chuyện xã giao xong, họ ngồi xuống một bên và thưa với ngài:
"Thưa Tôn giả, liệu có thể nào một vị Tỷ-kheo đạt được một trạng thái định như thế này không? Vị ấy sẽ không nhận thức đất trong đất, nước trong nước, lửa trong lửa, hay gió trong gió. Và vị ấy sẽ không nhận thức Không Vô Biên Xứ trong Không Vô Biên Xứ, Thức Vô Biên Xứ trong Thức Vô Biên Xứ, Vô Sở Hữu Xứ trong Vô Sở Hữu Xứ, hay Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Vị ấy sẽ không nhận thức thế giới này trong thế giới này, hay thế giới khác trong thế giới khác. Và vị ấy sẽ không nhận thức những gì được thấy, nghe, suy nghĩ, biết, đạt được, tìm kiếm, hay khám phá bởi tâm. Và tuy nhiên vị ấy vẫn nhận thức."
"Có thể, thưa chư hiền giả."
"Nhưng làm thế nào điều này có thể xảy ra?"
"Đó là khi một vị Tỷ-kheo nhận thức: 'Đây là sự an tịnh; đây là sự cao thượng—nghĩa là, sự lắng dịu của mọi hành, sự từ bỏ mọi sanh y, sự chấm dứt của ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, Niết Bàn.' Đó là cách một vị Tỷ-kheo có thể đạt được một trạng thái định như thế này. Vị ấy sẽ không nhận thức đất trong đất, nước trong nước, lửa trong lửa, hay gió trong gió. Và vị ấy sẽ không nhận thức Không Vô Biên Xứ trong Không Vô Biên Xứ, Thức Vô Biên Xứ trong Thức Vô Biên Xứ, Vô Sở Hữu Xứ trong Vô Sở Hữu Xứ, hay Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Vị ấy sẽ không nhận thức thế giới này trong thế giới này, hay thế giới khác trong thế giới khác. Và vị ấy sẽ không nhận thức những gì được thấy, nghe, suy nghĩ, biết, đạt được, tìm kiếm, hay khám phá bởi tâm. Và tuy nhiên vị ấy vẫn nhận thức."
AN 11.21 Định (Thứ Tư) Catutthasamādhisutta
Tại đó, Tôn giả Xá-lợi-phất gọi các vị Tỷ-kheo:
"Liệu có thể nào, thưa chư hiền giả, một vị Tỷ-kheo đạt được một trạng thái định như thế này không? Vị ấy sẽ không nhận thức đất trong đất, nước trong nước, lửa trong lửa, hay gió trong gió. Và vị ấy sẽ không nhận thức Không Vô Biên Xứ trong Không Vô Biên Xứ, Thức Vô Biên Xứ trong Thức Vô Biên Xứ, Vô Sở Hữu Xứ trong Vô Sở Hữu Xứ, hay Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Vị ấy sẽ không nhận thức thế giới này trong thế giới này, hay thế giới khác trong thế giới khác. Và vị ấy sẽ không nhận thức những gì được thấy, nghe, suy nghĩ, biết, đạt được, tìm kiếm, hay khám phá bởi tâm. Và tuy nhiên vị ấy vẫn nhận thức."
"Thưa Tôn giả, chúng con sẵn lòng đi một quãng đường xa để được học ý nghĩa của lời này từ chính Tôn giả Xá-lợi-phất. Xin Tôn giả Xá-lợi-phất hãy tự mình làm sáng tỏ ý nghĩa của điều này. các Tỷ-kheo sẽ lắng nghe và ghi nhớ."
"Vậy thì hãy lắng nghe và chú tâm kỹ, tôi sẽ nói."
"Vâng, thưa hiền giả," họ đáp. Tôn giả Xá-lợi-phất nói như sau:
"Một vị Tỷ-kheo có thể đạt được một trạng thái định như vậy."
"Nhưng làm thế nào điều này có thể xảy ra?"
"Đó là khi một vị Tỷ-kheo nhận thức: 'Đây là sự an tịnh; đây là sự cao thượng—nghĩa là, sự lắng dịu của mọi hành, sự từ bỏ mọi sanh y, sự chấm dứt của ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, Niết Bàn.' Đó là cách một vị Tỷ-kheo có thể đạt được một trạng thái định như thế này. Vị ấy sẽ không nhận thức đất trong đất, nước trong nước, lửa trong lửa, hay gió trong gió. Và vị ấy sẽ không nhận thức Không Vô Biên Xứ trong Không Vô Biên Xứ, Thức Vô Biên Xứ trong Thức Vô Biên Xứ, Vô Sở Hữu Xứ trong Vô Sở Hữu Xứ, hay Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Vị ấy sẽ không nhận thức thế giới này trong thế giới này, hay thế giới khác trong thế giới khác. Và vị ấy sẽ không nhận thức những gì được thấy, nghe, suy nghĩ, biết, đạt được, tìm kiếm, hay khám phá bởi tâm. Và tuy nhiên vị ấy vẫn nhận thức."