43. Đại kinh Vấn đáp
(Mahāvedalla Sutta)
[292] 1. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn đang trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong Rừng Jeta (Kỳ-đà), tại Vườn ông Anāthapiṇ̣ika (Cấp Cô Độc).
Bấy giờ, khi trời đã xế chiều, Tôn giả Mahā Kotthita xuất thiền, đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất), và trao đổi lời chào hỏi với vị ấy. 428 Khi cuộc trò chuyện thân mật và nhã nhặn này kết thúc, ông ngồi xuống một bên và thưa với Tôn giả Sāriputta:
(TRÍ TUỆ)
2. "Thưa hiền giả, người ta thường nói 'người không có trí tuệ, người không có trí tuệ'. Dựa vào đâu mà nói là 'người không có trí tuệ'?"
"Thưa hiền giả, 'người ấy không thấu hiểu (wisely understand/ Nappajānāti), người ấy không thấu hiểu'; đó là lý do tại sao nói là 'người không có trí tuệ' (duppaññoti). Và người ấy không thấu hiểu điều gì? Người ấy không thấu hiểu: 'Đây là khổ'; người ấy không thấu hiểu: 'Đây là nguồn gốc của khổ'; người ấy không thấu hiểu: 'Đây là sự chấm dứt khổ'; người ấy không thấu hiểu: 'Đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ'. Thưa hiền giả, 'người ấy không thấu hiểu, người ấy không thấu hiểu'; đó là lý do tại sao nói là 'người không có trí tuệ'."
Nói lời: "Lành thay, thưa hiền giả," Tôn giả Mahā Kotthita hoan hỷ và tán thán lời của Tôn giả Sāriputta. Sau đó, ông hỏi thêm một câu hỏi nữa:
3. "Thưa hiền giả, người ta thường nói 'người có trí tuệ (WISDOM/ paññā), người có trí tuệ'. Dựa vào đâu mà nói là 'người có trí tuệ'?"
"Thưa hiền giả, 'người ấy thấu hiểu, người ấy thấu hiểu'; đó là lý do tại sao nói là 'người có trí tuệ'. Người ấy thấu hiểu điều gì? Người ấy thấu hiểu: 'Đây là khổ'; người ấy thấu hiểu: 'Đây là nguồn gốc của khổ'; người ấy thấu hiểu: 'Đây là sự chấm dứt khổ'; người ấy thấu hiểu: 'Đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ'. Thưa hiền giả, 'người ấy thấu hiểu, người ấy thấu hiểu'; đó là lý do tại sao nói là 'người có trí tuệ (wisdom/ paññā/ tuệ)'." 429
(THỨC)
4. "Thưa hiền giả, người ta thường nói 'thức, thức'. Dựa vào đâu mà nói là 'thức'?"
"Thưa hiền giả, 'nó nhận thức, nó nhận thức'; đó là lý do tại sao nói là 'thức'. 430 Nó nhận thức điều gì? Nó nhận thức: '[Đây là] lạc'; nó nhận thức: '[Đây là] khổ'; nó nhận thức: '[Đây là] không-khổ-cũng-không-lạc'. Thưa hiền giả, 'nó nhận thức, nó nhận thức'; đó là lý do tại sao nói là 'thức (consciousness/ viññāṇa/ nhận thức)'." 431
5. "Thưa hiền giả, trí tuệ và thức - những trạng thái này kết hợp hay tách rời nhau? Và liệu có thể tách biệt mỗi trạng thái này khỏi trạng thái kia để mô tả sự khác biệt giữa chúng không?"
"Thưa hiền giả, trí tuệ và thức - những trạng thái này kết hợp, không tách rời, và không thể tách biệt mỗi trạng thái này khỏi trạng thái kia để mô tả sự khác biệt giữa chúng. Vì điều gì một người thấu hiểu, thì người ấy nhận thức, và điều gì một người nhận thức, thì người ấy thấu hiểu. [293] Đó là lý do tại sao những trạng thái này kết hợp, không tách rời, và không thể tách biệt mỗi trạng thái này khỏi trạng thái kia để mô tả sự khác biệt giữa chúng." 432
6. "Thưa hiền giả, vậy sự khác biệt giữa trí tuệ và thức, những trạng thái kết hợp và không tách rời này, là gì?"
"Thưa hiền giả, sự khác biệt giữa trí tuệ và thức, những trạng thái kết hợp và không tách rời này, là thế này: trí tuệ là điều cần được phát triển, còn thức là điều cần được hiểu thấu đáo." 433
(CẢM NHẬN)
7. "Thưa hiền giả, người ta thường nói 'cảm nhận, cảm nhận'. Dựa vào đâu mà nói là 'cảm nhận'?"
"Thưa hiền giả, 'nó cảm nhận, nó cảm nhận'; đó là lý do tại sao nói là 'cảm nhận'. Nó cảm nhận điều gì? Nó cảm nhận lạc, nó cảm nhận khổ, nó cảm nhận không-khổ-cũng-không-lạc. Thưa hiền giả, 'nó cảm nhận, nó cảm nhận', đó là lý do tại sao nói là 'cảm nhận (feeling/ vedanā/ cảm giác)'." 434
(TƯỞNG)
8. "Thưa hiền giả, người ta thường nói 'tưởng, tưởng'. Dựa vào đâu mà nói là 'tưởng'?"
"Thưa hiền giả, 'nó nhận biết, nó nhận biết'; đó là lý do tại sao nói là 'tưởng'. Nó nhận biết điều gì? Nó nhận biết màu xanh, nó nhận biết màu vàng, nó nhận biết màu đỏ, và nó nhận biết màu trắng. Thưa hiền giả, 'nó nhận biết, nó nhận biết'; đó là lý do tại sao nói là 'tưởng (perception/ saññā/ tri giác)'." 435
9. "Thưa hiền giả, cảm nhận, tưởng và thức - những trạng thái này kết hợp hay tách rời nhau? Và liệu có thể tách biệt mỗi trạng thái này khỏi những trạng thái kia để mô tả sự khác biệt giữa chúng không?"
"Thưa hiền giả, cảm nhận, tưởng và thức - những trạng thái này kết hợp, không tách rời, và không thể tách biệt mỗi trạng thái này khỏi những trạng thái kia để mô tả sự khác biệt giữa chúng. Vì điều gì một người cảm nhận, thì người ấy nhận biết; và điều gì một người nhận biết, thì người ấy nhận thức. Đó là lý do tại sao những trạng thái này kết hợp, không tách rời, và không thể tách biệt mỗi trạng thái này khỏi những trạng thái kia để mô tả sự khác biệt giữa chúng." 436
(ĐIỀU ĐƯỢC BIẾT BỞI Ý)
10. "Thưa hiền giả, điều gì có thể được biết bởi ý thức (manoviññāṇa) thanh tịnh đã thoát khỏi năm giác quan (faculties/ indriya/ căn)?"
"Thưa hiền giả, bởi ý thức thanh tịnh đã thoát khỏi năm giác quan, Không vô biên xứ có thể được biết như sau: 'Hư không là vô biên'; Thức vô biên xứ có thể được biết như sau: 'Thức là vô biên'; và Vô sở hữu xứ có thể được biết như sau: 'Không có gì cả'." 437
11. "Thưa hiền giả, một người hiểu một trạng thái có thể được biết bằng cái gì?"
"Thưa hiền giả, một người hiểu một trạng thái có thể được biết bằng con mắt trí tuệ." 438
12. "Thưa hiền giả, mục đích của trí tuệ là gì?"
"Thưa hiền giả, mục đích của trí tuệ là biết trực tiếp (thắng tri), mục đích của nó là liễu tri (hiểu thấu đáo), mục đích của nó là đoạn trừ." 439
(CHÁNH KIẾN)
[294] 13. "Thưa hiền giả, có bao nhiêu điều kiện cho sự phát sinh của chánh kiến?"
"Thưa hiền giả, có hai điều kiện cho sự phát sinh của chánh kiến: tiếng nói của người khác và sự chú ý khéo léo (như lý tác ý). Đó là hai điều kiện cho sự phát sinh của chánh kiến (right view/ sammā-diṭṭhi/ quan điểm đúng đắn)." 440
14. "Thưa hiền giả, chánh kiến được hỗ trợ bởi bao nhiêu yếu tố khi nó có tâm giải thoát là quả, có tâm giải thoát là quả và lợi ích, khi nó có tuệ giải thoát là quả, có tuệ giải thoát là quả và lợi ích?"
"Thưa hiền giả, chánh kiến được hỗ trợ bởi năm yếu tố khi nó có tâm giải thoát (deliverance of mind/ cetovimutti) là quả, có tâm giải thoát là quả và lợi ích, khi nó có tuệ giải thoát (deliverance by wisdom/ paññāvimutti) là quả, có tuệ giải thoát là quả và lợi ích. Ở đây, thưa hiền giả, chánh kiến được hỗ trợ bởi giới, văn (học hỏi), thảo luận, chỉ (thiền định) và quán (minh sát). Chánh kiến được hỗ trợ bởi năm yếu tố này có tâm giải thoát là quả, có tâm giải thoát là quả và lợi ích; nó có tuệ giải thoát là quả, có tuệ giải thoát là quả và lợi ích." 441
(SỰ HIỆN HỮU)
15. "Thưa hiền giả, có bao nhiêu loại hiện hữu?"
"Thưa hiền giả, có ba loại sự hiện hữu (being/ bhava/ hữu) này: dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu."
16. "Thưa hiền giả, sự tái sinh trong tương lai được tạo ra như thế nào?"
"Thưa hiền giả, sự tái sinh trong tương lai được tạo ra thông qua sự thích thú chỗ này chỗ kia của những chúng sinh bị ngăn che bởi vô minh (ignorance/ avijjā/ sự không hiểu biết) và bị trói buộc bởi khao khát (craving/ taṇhā/ ái)." 442
17. "Thưa hiền giả, làm thế nào sự tái sinh trong tương lai không được tạo ra?"
"Thưa hiền giả, với sự phai nhạt của vô minh, với sự khởi sinh của minh (hiểu biết đúng đắn), và với sự đoạn diệt của khao khát, sự tái sinh trong tương lai không được tạo ra."
(THIỀN THỨ NHẤT)
18. "Thưa hiền giả, thế nào là thiền thứ nhất?"
"Ở đây, thưa hiền giả, hoàn toàn ly dục, ly các bất thiện pháp, một vị tỳ kheo chứng và trú thiền (jhāna/ thiền định) thứ nhất, một trạng thái đi kèm với tầm và tứ, với hỷ và lạc sinh ra do ly dục. Đây gọi là thiền thứ nhất."
19. "Thưa hiền giả, thiền thứ nhất có bao nhiêu chi phần?"
"Thưa hiền giả, thiền thứ nhất có năm chi phần. Ở đây, khi một vị tỳ kheo đã chứng thiền thứ nhất, có sự hiện diện của tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm. Đó là cách thiền thứ nhất có năm chi phần."
20. "Thưa hiền giả, trong thiền thứ nhất, bao nhiêu chi phần bị đoạn trừ và bao nhiêu chi phần được thành tựu?"
"Thưa hiền giả, trong thiền thứ nhất, năm chi phần bị đoạn trừ và năm chi phần được thành tựu. Ở đây, khi một vị tỳ kheo đã chứng thiền thứ nhất, dục ước bị đoạn trừ, sân hận bị đoạn trừ, hôn trầm thụy miên bị đoạn trừ, trào cử hối quá [295] bị đoạn trừ, và nghi hoặc bị đoạn trừ; và có sự hiện diện của tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm. Đó là cách trong thiền thứ nhất, năm chi phần bị đoạn trừ và năm chi phần được thành tựu."
(NĂM GIÁC QUAN)
21. "Thưa hiền giả, năm giác quan này, mỗi giác quan có một phạm vi riêng, một lĩnh vực riêng, và không kinh nghiệm phạm vi và lĩnh vực của nhau, đó là: nhãn căn (mắt), nhĩ căn (tai), tỷ căn (mũi), thiệt căn (lưỡi), và thân căn (thân). Vậy đối với năm giác quan này, mỗi giác quan có một phạm vi riêng, một lĩnh vực riêng, không kinh nghiệm phạm vi và lĩnh vực của nhau, thì cái gì là nơi nương tựa của chúng, cái gì kinh nghiệm phạm vi và lĩnh vực của chúng?" 443
"Thưa hiền giả, năm giác quan này, mỗi giác quan có một phạm vi riêng, một lĩnh vực riêng, và không kinh nghiệm phạm vi và lĩnh vực của nhau, đó là: nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, và thân căn. Vậy đối với năm giác quan này, mỗi giác quan có một phạm vi riêng, một lĩnh vực riêng, không kinh nghiệm phạm vi và lĩnh vực của nhau, thì ý là nơi nương tựa của chúng, và ý kinh nghiệm phạm vi và lĩnh vực của chúng."
22. "Thưa hiền giả, đối với năm giác quan này - tức là nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, và thân căn - năm giác quan này nương tựa vào cái gì?"
"Thưa hiền giả, đối với năm giác quan này - tức là nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, và thân căn - năm giác quan này nương tựa vào sức sống (vitality/ āyu/ mạng căn)." 444
"Thưa hiền giả, sức sống nương tựa vào cái gì?" "Thưa hiền giả, đối với năm giác quan này - tức là nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, và thân căn - năm giác quan này nương tựa vào sức sống."
"Thưa hiền giả, sức sống nương tựa vào cái gì?"
"Sức sống nương tựa vào hơi ấm (heat/ usma)." 445
"Thưa hiền giả, hơi ấm nương tựa vào cái gì?"
"Hơi ấm nương tựa vào sức sống."
"Vừa rồi, thưa hiền giả, chúng tôi hiểu Tôn giả Sāriputta đã nói: 'Sức sống nương tựa vào hơi ấm'; và bây giờ chúng tôi hiểu ngài nói: 'Hơi ấm nương tựa vào sức sống'. Nên hiểu ý nghĩa của những tuyên bố này như thế nào?"
"Trong trường hợp đó, thưa hiền giả, tôi sẽ đưa ra một ví dụ, vì một số người trí ở đây hiểu ý nghĩa của một lời nói thông qua ví dụ. Giống như khi một ngọn đèn dầu đang cháy, ánh sáng của nó được thấy là nương vào ngọn lửa và ngọn lửa của nó được thấy là nương vào ánh sáng; cũng vậy, sức sống nương tựa vào hơi ấm và hơi ấm nương tựa vào sức sống."
(CÁC HOẠT DUY TRÌ SỰ SỐNG)
23. "Thưa hiền giả, các hoạt duy trì sự sống là các trạng thái cảm nhận hay các hoạt duy trì sự sống là một chuyện và các trạng thái cảm nhận là chuyện khác?" [296]
"Thưa hiền giả, các hành duy trì sự sống (vital formations/ āyusaṅkhāra) không phải là các trạng thái cảm nhận. 446 Nếu các hoạt duy trì sự sống là các trạng thái cảm nhận, thì khi một vị tỳ kheo đã nhập diệt thọ tưởng định, vị ấy sẽ không được thấy là xuất khỏi định ấy. Bởi vì các hoạt duy trì sự sống là một chuyện và các trạng thái cảm nhận là chuyện khác, nên khi một vị tỳ kheo đã nhập diệt thọ tưởng định, vị ấy có thể được thấy là xuất khỏi định ấy."
24. "Thưa hiền giả, khi thân này thiếu vắng bao nhiêu trạng thái thì nó bị vứt bỏ và lìa xa, nằm vô tri giác như một khúc gỗ?" 447
"Thưa hiền giả, khi thân này thiếu vắng ba trạng thái - sức sống, hơi ấm và thức - thì nó bị vứt bỏ và lìa xa, nằm vô tri giác như một khúc gỗ."
25. "Thưa hiền giả, sự khác biệt giữa một người đã chết, đã mệnh chung, và một vị tỳ kheo đã nhập diệt thọ tưởng định là gì?"
"Thưa hiền giả, đối với người đã chết, đã mệnh chung, các thân hành đã diệt và lắng xuống, các khẩu hành đã diệt và lắng xuống, các ý hành đã diệt và lắng xuống, sức sống đã cạn kiệt, hơi ấm đã tan biến, và các giác quan đã hoàn toàn hoại diệt. Đối với vị tỳ kheo đã nhập diệt thọ tưởng định, các thân hành đã diệt và lắng xuống, các khẩu hành đã diệt và lắng xuống, các ý hành đã diệt và lắng xuống, nhưng sức sống chưa cạn kiệt, hơi ấm chưa tan biến, và các giác quan trở nên cực kỳ trong sáng. 448 Đây là sự khác biệt giữa một người đã chết, đã mệnh chung, và một vị tỳ kheo đã nhập diệt thọ tưởng định."
(TÂM GIẢI THOÁT)
26. "Thưa hiền giả, có bao nhiêu điều kiện để đạt được tâm giải thoát phi khổ phi lạc?"
"Thưa hiền giả, có bốn điều kiện để đạt được tâm giải thoát phi khổ phi lạc: ở đây, với sự đoạn trừ lạc và khổ, và với sự biến mất từ trước của hỷ và ưu, một vị tỳ kheo chứng và trú thiền thứ tư, trạng thái không khổ không lạc và thanh tịnh nhờ xả niệm. Đây là bốn điều kiện để đạt được tâm giải thoát phi khổ phi lạc."
27. "Thưa hiền giả, có bao nhiêu điều kiện để đạt được tâm giải thoát vô tướng?"
"Thưa hiền giả, có hai điều kiện để đạt được tâm giải thoát vô tướng: không tác ý đến tất cả các tướng (dấu hiệu) và tác ý đến giới vô tướng. Đây là hai điều kiện để đạt được tâm giải thoát vô tướng (signless/ animitta/ không có dấu hiệu)." 449
28. "Thưa hiền giả, có bao nhiêu điều kiện để duy trì tâm giải thoát vô tướng?"
"Thưa hiền giả, có ba điều kiện để duy trì tâm giải thoát vô tướng: [297] không tác ý đến tất cả các tướng, tác ý đến giới vô tướng, và sự quyết định trước [về thời gian]. Đây là ba điều kiện để duy trì tâm giải thoát vô tướng."
29. "Thưa hiền giả, có bao nhiêu điều kiện để xuất khỏi tâm giải thoát vô tướng?"
"Thưa hiền giả, có hai điều kiện để xuất khỏi tâm giải thoát vô tướng: tác ý đến tất cả các tướng và không tác ý đến giới vô tướng. Đây là hai điều kiện để xuất khỏi tâm giải thoát vô tướng."
30. "Thưa hiền giả, tâm giải thoát vô lượng, tâm giải thoát vô sở hữu, tâm giải thoát tánh không, và tâm giải thoát vô tướng: những trạng thái này khác nhau về nghĩa và khác nhau về tên gọi, hay chúng đồng nghĩa và chỉ khác nhau về tên gọi?"
"Thưa hiền giả, tâm giải thoát vô lượng, tâm giải thoát vô sở hữu, tâm giải thoát tánh không, và tâm giải thoát vô tướng: có một cách mà theo đó những trạng thái này khác nhau về nghĩa và khác nhau về tên gọi, và có một cách mà theo đó chúng đồng nghĩa và chỉ khác nhau về tên gọi.
31. "Thưa hiền giả, cách mà theo đó những trạng thái này khác nhau về nghĩa và khác nhau về tên gọi là gì? Ở đây, một vị tỳ kheo an trú biến mãn một phương với tâm thấm nhuần lòng từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư; như vậy cùng khắp trên dưới, bề ngang, và khắp mọi nơi, và cho tất cả như cho chính mình, vị ấy an trú biến mãn thế giới bao la với tâm thấm nhuần lòng từ, quảng đại, cao thượng, vô lượng, không hận thù và không sân hận. Vị ấy an trú biến mãn một phương với tâm thấm nhuần lòng bi... Vị ấy an trú biến mãn một phương với tâm thấm nhuần niềm hỷ... Vị ấy an trú biến mãn một phương với tâm thấm nhuần tâm xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư; như vậy cùng khắp trên dưới, bề ngang, và khắp mọi nơi, và cho tất cả như cho chính mình, vị ấy an trú biến mãn thế giới bao la với tâm thấm nhuần tâm xả, quảng đại, cao thượng, vô lượng, không hận thù và không sân hận. Đây gọi là tâm giải thoát vô lượng.
32. "Và thưa hiền giả, thế nào là tâm giải thoát vô sở hữu? Ở đây, với sự vượt qua hoàn toàn Thức vô biên xứ, nhận biết rằng 'không có gì cả', một vị tỳ kheo chứng và trú Vô sở hữu xứ. Đây gọi là tâm giải thoát vô sở hữu (nothingness/ ākiñcañña/ không có gì).
33. "Và thưa hiền giả, thế nào là tâm giải thoát tánh không? Ở đây, một vị tỳ kheo, đi đến khu rừng hoặc gốc cây hoặc ngôi nhà trống, quán chiếu như sau: 'Điều này trống rỗng tự ngã hoặc những gì thuộc về tự ngã'. [298] Đây gọi là tâm giải thoát tánh không (voidness/ suññatā/ sự trống rỗng). 450
34. "Và thưa hiền giả, thế nào là tâm giải thoát vô tướng? Ở đây, với sự không tác ý đến tất cả các tướng, một vị tỳ kheo chứng và trú vô tướng tâm định. Đây gọi là tâm giải thoát vô tướng. 451 Đây là cách mà theo đó những trạng thái này khác nhau về nghĩa và khác nhau về tên gọi.
35. "Và thưa hiền giả, cách mà theo đó những trạng thái này đồng nghĩa và chỉ khác nhau về tên gọi là gì? Tham ái là kẻ tạo ra sự đo lường, sân hận là kẻ tạo ra sự đo lường, si mê là kẻ tạo ra sự đo lường. 452 Nơi một vị tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc (taints/ āsava/ sự ô nhiễm), những điều này đã bị đoạn trừ, bị cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây cọ, bị hủy diệt khiến chúng không còn khả năng sinh khởi trong tương lai. Trong tất cả các loại tâm giải thoát vô lượng, bất động tâm giải thoát được tuyên bố là tối thượng. Và bất động tâm giải thoát ấy là trống rỗng tham, trống rỗng sân, trống rỗng si. 453
36. "Tham ái là một cái gì đó (chướng ngại), sân hận là một cái gì đó, si mê là một cái gì đó. 454 Nơi một vị tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, những điều này đã bị đoạn trừ, bị cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây cọ, bị hủy diệt khiến chúng không còn khả năng sinh khởi trong tương lai. Trong tất cả các loại tâm giải thoát vô sở hữu, bất động tâm giải thoát được tuyên bố là tối thượng. 455 Và bất động tâm giải thoát ấy là trống rỗng tham, trống rỗng sân, trống rỗng si.
37. "Tham ái là kẻ tạo ra tướng (dấu hiệu), sân hận là kẻ tạo ra tướng, si mê là kẻ tạo ra tướng. 456 Nơi một vị tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, những điều này đã bị đoạn trừ, bị cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây cọ, bị hủy diệt khiến chúng không còn khả năng sinh khởi trong tương lai. Trong tất cả các loại tâm giải thoát vô tướng, bất động tâm giải thoát được tuyên bố là tối thượng. 457 Và bất động tâm giải thoát ấy là trống rỗng tham, trống rỗng sân, trống rỗng si. Đây là cách mà theo đó những trạng thái này đồng nghĩa và chỉ khác nhau về tên gọi." 458
Đó là những gì Tôn giả Sāriputta đã nói. Tôn giả Mahā Kotthita hài lòng và hoan hỷ với lời của Tôn giả Sāriputta.
Từ ngữ:
- trí tuệ / paññā / wisdom: Khả năng thấu hiểu bản chất thật sự của các pháp (vô thường, khổ, vô ngã), một số nơi gọi dịch là "Thông tuệ" để phân biệt với trí tuệ thông thường, nhưng điều này thêm sự phức tạp không cần thiết vì mỗi lĩnh vực đều có 2 trạng thái trí tuệ và không trí tuệ.
- thức / viññāṇa / consciousness: Khả năng nhận biết, gán nhãn các đối tượng của não.
- cảm nhận / vedanā / feeling: Sự cảm nhận đơn giản nhất của hệ thần kinh (dễ chịu, khó chị, hoặc trung tính) chưa đến mức cao hơn (phân biệt nóng, lạnh...).
- tưởng / saññā / perception: Khả năng nhận biết và ghi nhớ các đặc điểm của đối tượng (như màu sắc, hình dáng).
- giác quan / indriya / faculties: Các căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) dùng để tiếp nhận thế giới bên ngoài.
- chánh kiến / sammā-diṭṭhi / right view: Quan điểm, cái nhìn đúng đắn về sự thật (Tứ diệu đế), là yếu tố đầu tiên trong Bát chánh đạo.
- tâm giải thoát / cetovimutti / deliverance of mind: Sự giải thoát của tâm khỏi các phiền não nhờ sức mạnh của định.
- tuệ giải thoát / paññāvimutti / deliverance by wisdom: Sự giải thoát nhờ trí tuệ thấu suốt chân lý.
- sự hiện hữu / bhava / being: Trạng thái tồn tại hay tái sinh trong các cõi (dục, sắc, vô sắc).
- vô minh / avijjā / ignorance: Sự không hiểu biết về Tứ diệu đế, là gốc rễ của khổ đau.
- khao khát / taṇhā / craving: Sự ham muốn, bám víu mãnh liệt vào các đối tượng (ái).
- thiền / jhāna / jhāna: Trạng thái thiền định sâu lắng, tâm chuyên chú và an tịnh.
- sức sống / āyu / vitality: Năng lượng duy trì sự sống của cơ thể (mạng căn).
- hơi ấm / usma / heat: Nhiệt lượng của cơ thể, yếu tố lửa giúp duy trì sự sống.
- hành duy trì sự sống / āyusaṅkhāra / vital formations: Các yếu tố vận hành để duy trì mạng sống.
- vô tướng / animitta / signless: Trạng thái không chú ý đến các dấu hiệu hay tướng trạng của sự vật.
- vô sở hữu / ākiñcañña / nothingness: Trạng thái tâm nhận thức rằng "không có gì cả", một tầng thiền vô sắc.
- tánh không / suññatā / voidness: Bản chất trống rỗng, không có cái tôi (ngã) độc lập của vạn vật.
- lậu hoặc / āsava / taints: Những phiền não rò rỉ, ủ ngầm trong tâm (như dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu) làm ô nhiễm tâm thức.