43. Đại Kinh Hỏi Đáp
(Mahāvedalla Sutta)
[292] 1. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Sāvatthī (Xá-vệ), tại Rừng Jeta (Kỳ-đà), vườn ông Anāthapiṇ̣ika (Cấp Cô Độc).
Bấy giờ, vào buổi chiều, tôn giả Mahā Kotthita từ chỗ thiền tịnh đứng dậy, đi đến chỗ tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất), và trao đổi lời chào hỏi. Sau khi những lời xã giao thân mật này kết thúc, ông ngồi xuống một bên và nói với tôn giả Sāriputta:
(TRÍ TUỆ)
2. "Thưa hiền giả, người ta thường nói 'người kém trí tuệ, người kém trí tuệ' (vô trí/duppañño). Do điều kiện (duyên) gì mà nói là 'người kém trí tuệ'?"
"Thưa hiền giả, 'người ấy không hiểu biết bằng trí tuệ, người ấy không hiểu biết bằng trí tuệ' (không tuệ tri/nappajānāti); đó là lý do tại sao nói là 'người kém trí tuệ'. Và người ấy không hiểu biết bằng trí tuệ điều gì? Người ấy không hiểu biết bằng trí tuệ: 'Đây là Đau khổ (khổ/dukkha)'; người ấy không hiểu biết bằng trí tuệ: 'Đây là nguyên nhân của Đau khổ'; người ấy không hiểu biết bằng trí tuệ: 'Đây là sự chấm dứt (diệt) của Đau khổ'; người ấy không hiểu biết bằng trí tuệ: 'Đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt của Đau khổ'. 'Người ấy không hiểu biết bằng trí tuệ, người ấy không hiểu biết bằng trí tuệ', thưa hiền giả; đó là lý do tại sao nói là 'người kém trí tuệ'."
Nói lời: "Lành thay, thưa hiền giả", tôn giả Mahā Kotthita hoan hỷ và tín thọ lời của tôn giả Sāriputta. Rồi ông hỏi thêm một câu hỏi nữa:
3. "Thưa hiền giả, người ta thường nói 'người có trí tuệ, người có trí tuệ' (hữu trí/paññavā). Do điều kiện gì mà nói là 'người có trí tuệ'?"
"Thưa hiền giả, 'người ấy hiểu biết bằng trí tuệ, người ấy hiểu biết bằng trí tuệ' (tuệ tri/pajānāti); đó là lý do tại sao nói là 'người có trí tuệ'. Người ấy hiểu biết bằng trí tuệ điều gì? Người ấy hiểu biết bằng trí tuệ: 'Đây là Đau khổ'; người ấy hiểu biết bằng trí tuệ: 'Đây là nguyên nhân của Đau khổ'; người ấy hiểu biết bằng trí tuệ: 'Đây là sự chấm dứt của Đau khổ'; người ấy hiểu biết bằng trí tuệ: 'Đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt của Đau khổ'. 'Người ấy hiểu biết bằng trí tuệ, người ấy hiểu biết bằng trí tuệ', thưa hiền giả; đó là lý do tại sao nói là 'người có trí tuệ'."
(NHẬN BIẾT VÔ THỨC)
4. "Thưa hiền giả, người ta thường nói 'Nhận Biết Vô Thức, Nhận Biết Vô Thức' (thức/viññāṇa). Do điều kiện gì mà nói là 'Nhận Biết Vô Thức'?"
"Thưa hiền giả, 'nó nhận biết, nó nhận biết' (liễu biệt/vijānāti); đó là lý do tại sao nói là 'Nhận Biết Vô Thức'. Nó nhận biết điều gì? Nó nhận biết: '[Đây là] Dễ chịu (lạc)'; nó nhận biết: '[Đây là] Khó chịu (khổ)'; nó nhận biết: '[Đây là] Không Dễ Chịu Không Khó Chịu (bất khổ bất lạc)'. 'Nó nhận biết, nó nhận biết', thưa hiền giả; đó là lý do tại sao nói là 'Nhận Biết Vô Thức'."
5. "Thưa hiền giả, trí tuệ và Nhận Biết Vô Thức - các pháp này kết hợp hay tách rời? Và liệu có thể tách biệt các pháp này khỏi nhau để mô tả sự khác biệt giữa chúng không?"
"Thưa hiền giả, trí tuệ và Nhận Biết Vô Thức - các pháp này kết hợp, không tách rời, và không thể tách biệt các pháp này khỏi nhau để mô tả sự khác biệt giữa chúng. Vì điều gì một người hiểu biết bằng trí tuệ, điều đó người ấy nhận biết, và điều gì người ấy nhận biết, điều đó người ấy hiểu biết bằng trí tuệ. [293] Đó là lý do tại sao các pháp này kết hợp, không tách rời, và không thể tách biệt các pháp này khỏi nhau để mô tả sự khác biệt giữa chúng."
6. "Thưa hiền giả, vậy sự khác biệt giữa trí tuệ và Nhận Biết Vô Thức, những pháp kết hợp và không tách rời này, là gì?"
"Thưa hiền giả, sự khác biệt giữa trí tuệ và Nhận Biết Vô Thức, những pháp kết hợp và không tách rời này, là thế này: trí tuệ cần được tu tập, còn Nhận Biết Vô Thức cần được hiểu biết thấu đáo (liễu tri)."
(CẢM GIÁC)
7. "Thưa hiền giả, người ta thường nói 'Cảm giác, Cảm giác' (thọ/vedanā). Do điều kiện gì mà nói là 'Cảm giác'?"
"Thưa hiền giả, 'nó cảm thấy, nó cảm thấy' (cảm thọ/vedeti); đó là lý do tại sao nói là 'Cảm giác'. Nó cảm thấy gì? Nó cảm thấy dễ chịu, nó cảm thấy khó chịu, nó cảm thấy không dễ chịu không khó chịu. 'Nó cảm thấy, nó cảm thấy', thưa hiền giả, đó là lý do tại sao nói là 'Cảm giác'."
(NHẬN THỨC)
8. "Thưa hiền giả, người ta thường nói 'Nhận Thức, Nhận Thức' (tưởng/saññā). Do điều kiện gì mà nói là 'Nhận Thức'?"
"Thưa hiền giả, 'nó nhận ra, nó nhận ra' (tưởng tri/sañjānāti); đó là lý do tại sao nói là 'Nhận Thức'. Nó nhận ra điều gì? Nó nhận ra màu xanh, nó nhận ra màu vàng, nó nhận ra màu đỏ, và nó nhận ra màu trắng. 'Nó nhận ra, nó nhận ra', thưa hiền giả; đó là lý do tại sao nói là 'Nhận Thức'."
9. "Thưa hiền giả, Cảm giác, Nhận Thức, và Nhận Biết Vô Thức - các pháp này kết hợp hay tách rời? Và liệu có thể tách biệt các pháp này khỏi nhau để mô tả sự khác biệt giữa chúng không?"
"Thưa hiền giả, Cảm giác, Nhận Thức, và Nhận Biết Vô Thức - các pháp này kết hợp, không tách rời, và không thể tách biệt các pháp này khỏi nhau để mô tả sự khác biệt giữa chúng. Vì điều gì một người cảm thấy, điều đó người ấy nhận ra; và điều gì người ấy nhận ra, điều đó người ấy nhận biết. Đó là lý do tại sao các pháp này kết hợp, không tách rời, và không thể tách biệt các pháp này khỏi nhau để mô tả sự khác biệt giữa chúng."
(CÁI BIẾT BỞI GIÁC QUAN NÃO)
10. "Thưa hiền giả, điều gì có thể được biết bởi sự Nhận Biết Của Não (ý thức) thanh tịnh đã thoát khỏi năm giác quan (căn)?"
"Thưa hiền giả, sự Nhận Biết Của Não thanh tịnh đã thoát khỏi năm giác quan là, cõi Không Gian là Vô Tận (không vô biên xứ) có thể được biết như sau: 'Không gian là vô tận'; cõi Nhận Biết là Vô Tận (thức vô biên xứ) có thể được biết như sau: 'Nhận Biết Vô Thức là vô tận'; và cõi Không Có Vật Gì (vô sở hữu xứ) có thể được biết như sau: 'Không có vật gì cả'."
11. "Thưa hiền giả, một người hiểu biết một pháp có thể được biết ấy bằng gì?"
"Thưa hiền giả, một người hiểu biết một pháp có thể được biết ấy bằng con mắt trí tuệ."
12. "Thưa hiền giả, mục đích của trí tuệ là gì?"
"Thưa hiền giả, mục đích của trí tuệ là hiểu biết trực tiếp (thắng tri), mục đích của nó là hiểu biết thấu đáo (liễu tri), mục đích của nó là buông bỏ (xả)."
(THẤY ĐIỀU THIỆN)
[294] 13. "Thưa hiền giả, có bao nhiêu điều kiện để Thấy điều thiện (chánh kiến) khởi lên?"
"Thưa hiền giả, có hai điều kiện để Thấy điều thiện khởi lên: qua lời nói của người khác và sự nghĩ đến tận gốc rễ (như lý tác ý). Đó là hai điều kiện để Thấy điều thiện khởi lên."
14. "Thưa hiền giả, Thấy điều thiện cần thêm bao nhiêu yếu tồ hỗ trợ, thì có kết quả là tâm giải thoát, có kết quả và lợi ích là tâm giải thoát, có kết quả là tuệ giải thoát, có kết quả và lợi ích là tuệ giải thoát?"
"Thưa hiền giả, Thấy điều thiện cần thêm năm yếu tố hỗ trợ thì sẽ có kết quả là tâm giải thoát, có kết quả và lợi ích là tâm giải thoát, có kết quả là tuệ giải thoát, có kết quả và lợi ích là tuệ giải thoát. Ở đây, thưa hiền giả, Thấy điều thiện được hỗ trợ bởi nếp sống đạo đức (giới đức), học hỏi, thảo luận, tĩnh lặng (nội tĩnh) và quán sát. Thấy điều thiện được hỗ trợ bởi năm yếu tố này sẽ có tâm giải thoát là kết quả, có tâm giải thoát là kết quả và lợi ích; nó có tuệ giải thoát là kết quả, có tuệ giải thoát là kết quả và lợi ích."
(CÕI TỒN TẠI)
15. "Thưa hiền giả, có bao nhiêu cõi tồn tại (hữu)?"
"Thưa hiền giả, có ba cõi tồn tại này: cõi tồn tại Dục (Dục giới), cõi tồn tại vật chất (Sắc giới), và cõi tồn tại không vật chất (Vô sắc giớ)i."
16. "Thưa hiền giả, sự tái sinh vào cõi tồn tại trong tương lai được tạo ra như thế nào?"
"Thưa hiền giả, sự tái sinh vào cõi tồn tại trong tương lai được tạo ra thông qua sự hỷ lạc trong chỗ này chỗ kia của các chúng sinh bị ngăn che bởi vô minh và bị trói buộc bởi tham ái."
17. "Thưa hiền giả, làm thế nào sự tái sinh vào cõi tồn tại trong tương lai không được tạo ra?"
"Thưa hiền giả, với sự phai nhạt của vô minh, với sự khởi lên của minh, và với sự chấm dứt của tham ái, sự tái sinh vào cõi tồn tại trong tương lai không được tạo ra."
(THIỀN-NA THỨ NHẤT)
18. "Thưa hiền giả, thế nào là Thiền-na (thiền) thứ nhất?"
"Ở đây, thưa hiền giả, hoàn toàn rời xa khỏi các ham muốn (dục), rời xa khỏi các pháp không thiện (bất thiện pháp), một vị tỳ-kheo chứng và trú Thiền-na thứ nhất, một trạng thái đi kèm với khởi tạo ý nghĩ và duy trì quan sát (tầm và tứ), với phấn chấn (hỷ) và cảm giác dễ chịu (lạc) sinh ra do sự rời xa. Đây gọi là Thiền-na thứ nhất."
19. "Thưa hiền giả, Thiền-na thứ nhất có bao nhiêu chi phần?"
"Thưa hiền giả, Thiền-na thứ nhất có năm chi phần. Ở đây, khi một vị tỳ-kheo đã chứng Thiền-na thứ nhất, có sự hiện khởi của khởi tạo ý nghĩ, duy trì quan sát, phấn chấn, dễ chịu, và tâm hợp thành một (nhất tâm). Đó là cách Thiền-na thứ nhất có năm chi phần."
20. "Thưa hiền giả, trong Thiền-na thứ nhất, bao nhiêu chi phần bị từ bỏ (ly) và bao nhiêu chi phần được thành tựu?"
"Thưa hiền giả, trong Thiền-na thứ nhất, năm chi phần bị từ bỏ và năm chi phần được thành tựu. Ở đây, khi một vị tỳ-kheo đã chứng Thiền-na thứ nhất, ham muốn giác quan bị từ bỏ, sân hận bị từ bỏ, uể oải và buồn ngủ (hôn trầm thụy miên) bị từ bỏ, bồn chồn và hối hận (trạo cử hối quá) [295] bị từ bỏ, và hoài nghi bị từ bỏ; và có sự hiện khởi của khởi tạo ý nghĩ, duy trì quan sát, phấn chấn, dễ chịu, và tâm hợp thành một. Đó là cách trong Thiền-na thứ nhất năm chi phần bị từ bỏ và năm chi phần được thành tựu."
(NĂM GIÁC QUAN)
21. "Thưa hiền giả, năm giác quan (căn) này, mỗi giác quan có một phạm vi riêng, một lĩnh vực riêng, và không kinh nghiệm phạm vi và lĩnh vực của nhau, đó là: giác quan mắt, giác quan tai, giác quan mũi, giác quan lưỡi, và giác quan thân. Nay đối với năm giác quan này, mỗi giác quan có một phạm vi riêng, một lĩnh vực riêng, không kinh nghiệm phạm vi và lĩnh vực của nhau, thì cái gì là nơi quy về của chúng, cái gì kinh nghiệm phạm vi và lĩnh vực của chúng?"
"Thưa hiền giả, năm giác quan này, mỗi giác quan có một phạm vi riêng, một lĩnh vực riêng, và không kinh nghiệm phạm vi và lĩnh vực của nhau, đó là: giác quan mắt, giác quan tai, giác quan mũi, giác quan lưỡi, và giác quan thân. Nay năm giác quan này, mỗi giác quan có một phạm vi riêng, một lĩnh vực riêng, không kinh nghiệm phạm vi và lĩnh vực của nhau, có Giác quan Não (ý căn) là nơi quy về của chúng, và Giác quan Não kinh nghiệm phạm vi và lĩnh vực của chúng."
22. "Thưa hiền giả, đối với năm giác quan này - tức là giác quan mắt, giác quan tai, giác quan mũi, giác quan lưỡi, và giác quan thân - năm giác quan này nương tựa vào cái gì?"
"Thưa hiền giả, đối với năm giác quan này - tức là giác quan mắt, giác quan tai, giác quan mũi, giác quan lưỡi, và giác quan thân - năm giác quan này nương tựa vào sức sống."
"Thưa hiền giả, sức sống nương tựa vào cái gì?"
"Sức sống nương tựa vào hơi ấm."
"Thưa hiền giả, hơi ấm nương tựa vào cái gì?"
"Hơi ấm nương tựa vào sức sống."
"Vừa rồi, thưa hiền giả, chúng tôi hiểu tôn giả Sāriputta đã nói: 'Sức sống nương tựa vào hơi ấm'; và bây giờ chúng tôi hiểu tôn giả nói: 'Hơi ấm nương tựa vào sức sống'. Nên hiểu ý nghĩa của những tuyên bố này như thế nào?"
"Trong trường hợp đó, thưa hiền giả, tôi sẽ đưa ra một ví dụ, vì một số người trí ở đây hiểu ý nghĩa của một lời nói thông qua ví dụ. Giống như khi một ngọn đèn dầu đang cháy, ánh sáng của nó được thấy nương vào ngọn lửa và ngọn lửa của nó được thấy nương vào ánh sáng; cũng vậy, sức sống nương tựa vào hơi ấm và hơi ấm nương tựa vào sức sống."
(CÁC HOẠT ĐỘNG DUY TRÌ SỰ SỐNG)
23. "Thưa hiền giả, các hoạt động duy trì sự sống (hành/saṅkhārā) có phải là các trạng thái Cảm giác không, hay các hoạt động duy trì sự sống là một chuyện và các trạng thái Cảm giác là chuyện khác?" [296]
"Thưa hiền giả, các hoạt động duy trì sự sống không phải là các trạng thái Cảm giác. Nếu các hoạt động duy trì sự sống là các trạng thái Cảm giác, thì khi một vị tỳ-kheo đã chứng sự chấm dứt của Nhận Thức và Cảm giác, vị ấy sẽ không được thấy là xuất khỏi trạng thái đó. Bởi vì các hoạt động duy trì sự sống là một chuyện và các trạng thái Cảm giác là chuyện khác, nên khi một vị tỳ-kheo đã chứng sự chấm dứt của Nhận Thức và Cảm giác, vị ấy có thể được thấy là xuất khỏi trạng thái đó."
24. "Thưa hiền giả, khi thân này thiếu vắng bao nhiêu pháp thì nó bị quăng bỏ và lìa bỏ, nằm vô tri giác như một khúc gỗ?"
"Thưa hiền giả, khi thân này thiếu vắng ba pháp - sức sống, hơi ấm, và Nhận Biết Vô Thức - thì nó bị quăng bỏ và lìa bỏ, nằm vô tri giác như một khúc gỗ."
25. "Thưa hiền giả, sự khác biệt giữa một người đã chết, đã mệnh chung, và một vị tỳ-kheo đã chứng sự chấm dứt của Nhận Thức và Cảm giác là gì?"
"Thưa hiền giả, đối với người đã chết, đã mệnh chung, các hoạt động (hành) của thân đã chấm dứt và lắng xuống, các hoạt động của lời nói đã chấm dứt và lắng xuống, các hoạt động của tâm đã chấm dứt và lắng xuống, sức sống đã cạn kiệt, hơi ấm đã tiêu tan, và các giác quan đã hoàn toàn hoại diệt. Đối với vị tỳ-kheo đã chứng sự chấm dứt của Nhận Thức và Cảm giác, các hoạt động của thân đã chấm dứt và lắng xuống, các hoạt động của lời nói đã chấm dứt và lắng xuống, các hoạt động của tâm đã chấm dứt và lắng xuống, nhưng sức sống chưa cạn kiệt, hơi ấm chưa tiêu tan, và các giác quan trở nên cực kỳ trong sáng. Đây là sự khác biệt giữa một người đã chết, đã mệnh chung, và một vị tỳ-kheo đã chứng sự chấm dứt của Nhận Thức và Cảm giác."
(TÂM GIẢI THOÁT)
26. "Thưa hiền giả, có bao nhiêu điều kiện để đạt được tâm giải thoát Không Dễ Chịu Không Khó Chịu?"
"Thưa hiền giả, có bốn điều kiện để đạt được tâm giải thoát Không Dễ Chịu Không Khó Chịu: ở đây, với sự từ bỏ dễ chịu và khó chịu, và với sự biến mất trước đó của thanh thản (hỷ/somanassa) và ưu phiền (ưu/domanassa), một vị tỳ-kheo chứng và trú Thiền-na thứ tư, trạng thái không dễ chịu không khó chịu và có sự thanh tịnh của Niệm thiện (chánh niệm) nhờ tâm quân bình (xả). Đây là bốn điều kiện để đạt được tâm giải thoát Không Dễ Chịu Không Khó Chịu."
27. "Thưa hiền giả, có bao nhiêu điều kiện để đạt được Giải thoát qua tâm không chạy theo hình tướng (vô tướng tâm giải thoát)?"
"Thưa hiền giả, có hai điều kiện để đạt được Giải thoát qua tâm không chạy theo hình tướng: không tác ý đến tất cả các hình tướng (tướng) và tác ý đến yếu tố không chạy theo hình tướng (vô tướng giới). Đây là hai điều kiện để đạt được Giải thoát qua tâm không chạy theo hình tướng."
28. "Thưa hiền giả, có bao nhiêu điều kiện để duy trì Giải thoát qua tâm không chạy theo hình tướng?"
"Thưa hiền giả, có ba điều kiện để duy trì Giải thoát qua tâm không chạy theo hình tướng: [297] không tác ý đến tất cả các hình tướng, tác ý đến yếu tố không chạy theo hình tướng, và sự định tâm trước [về thời gian duy trì]. Đây là ba điều kiện để duy trì Giải thoát qua tâm không chạy theo hình tướng."
29. "Thưa hiền giả, có bao nhiêu điều kiện để xuất khỏi Giải thoát qua tâm không chạy theo hình tướng?"
"Thưa hiền giả, có hai điều kiện để xuất khỏi Giải thoát qua tâm không chạy theo hình tướng: tác ý đến tất cả các hình tướng và không tác ý đến yếu tố không chạy theo hình tướng. Đây là hai điều kiện để xuất khỏi Giải thoát qua tâm không chạy theo hình tướng."
30. "Thưa hiền giả, tâm giải thoát không giới hạn (vô lượng), tâm giải thoát qua cõi Không Có Vật Gì (vô sở hữu), tâm giải thoát qua tánh không, và Giải thoát qua tâm không chạy theo hình tướng: những pháp này khác nhau về nghĩa và khác nhau về tên gọi, hay chúng đồng nghĩa và chỉ khác nhau về tên gọi?"
"Thưa hiền giả, tâm giải thoát không giới hạn, tâm giải thoát qua cõi Không Có Vật Gì, tâm giải thoát qua tánh không, và Giải thoát qua tâm không chạy theo hình tướng: có một cách mà theo đó các pháp này khác nhau về nghĩa và khác nhau về tên gọi, và có một cách mà theo đó chúng đồng nghĩa và chỉ khác nhau về tên gọi.
31. "Thưa hiền giả, cách nào mà theo đó các pháp này khác nhau về nghĩa và khác nhau về tên gọi? Ở đây, một vị tỳ-kheo an trú biến mãn một phương với tâm thấm nhuần tâm yêu thương (từ), cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư; như vậy cùng khắp trên dưới, bề ngang, bề dọc, và khắp tất cả mọi nơi, vị ấy an trú biến mãn cùng khắp thế giới với tâm thấm nhuần tâm yêu thương, quảng đại, cao thượng, không giới hạn, không hận thù và không sân hận. Vị ấy an trú biến mãn một phương với tâm thấm nhuần tâm thương cảm (bi)... Vị ấy an trú biến mãn một phương với tâm thấm nhuần tâm cùng vui (hỉ)... Vị ấy an trú biến mãn một phương với tâm thấm nhuần tâm quân bình (xả), cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư; như vậy cùng khắp trên dưới, bề ngang, bề dọc, và khắp tất cả mọi nơi, vị ấy an trú biến mãn cùng khắp thế giới với tâm thấm nhuần tâm quân bình, quảng đại, cao thượng, không giới hạn, không hận thù và không sân hận. Đây gọi là tâm giải thoát không giới hạn.
32. "Và thưa hiền giả, thế nào là tâm giải thoát qua cõi Không Có Vật Gì? Ở đây, với sự vượt qua hoàn toàn cõi Nhận Biết là Vô Tận, nhận thức rằng 'không có vật gì cả', một vị tỳ-kheo chứng và trú cõi Không Có Vật Gì. Đây gọi là tâm giải thoát qua cõi Không Có Vật Gì.
33. "Và thưa hiền giả, thế nào là tâm giải thoát qua tánh không? Ở đây, một vị tỳ-kheo đi đến khu rừng, hoặc đến gốc cây, hoặc đến ngôi nhà trống, suy ngẫm như sau: 'Đây là trống không, không có tự ngã hay những gì thuộc về tự ngã'. [298] Đây gọi là tâm giải thoát qua tánh không.
34. "Và thưa hiền giả, thế nào là Giải thoát qua tâm không chạy theo hình tướng? Ở đây, với sự không tác ý đến tất cả các hình tướng, một vị tỳ-kheo chứng và trú Định trong trạng thái tâm không chạy theo hình tướng (vô tướng tâm định). Đây gọi là Giải thoát qua tâm không chạy theo hình tướng. Đây là cách mà theo đó các pháp này khác nhau về nghĩa và khác nhau về tên gọi.
35. "Và thưa hiền giả, cách nào mà theo đó các pháp này đồng nghĩa và chỉ khác nhau về tên gọi? Tham là kẻ tạo ra giới hạn, sân là kẻ tạo ra giới hạn, si là kẻ tạo ra giới hạn. Nơi một vị tỳ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, những thứ này đã bị buông bỏ (xả), bị cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây cọ, bị làm cho không còn hiện hữu, không còn sinh khởi trong tương lai. Trong tất cả các loại tâm giải thoát không giới hạn, bất động tâm giải thoát được tuyên bố là tối thượng. Và bất động tâm giải thoát ấy là trống không khỏi tham, trống không khỏi sân, trống không khỏi si.
36. "Tham là một cái gì đó (chướng ngại), sân là một cái gì đó, si là một cái gì đó. Nơi một vị tỳ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, những thứ này đã bị buông bỏ, bị cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây cọ, bị làm cho không còn hiện hữu, không còn sinh khởi trong tương lai. Trong tất cả các loại tâm giải thoát qua cõi Không Có Vật Gì, bất động tâm giải thoát được tuyên bố là tối thượng. Và bất động tâm giải thoát ấy là trống không khỏi tham, trống không khỏi sân, trống không khỏi si.
37. "Tham là kẻ tạo ra hình tướng, sân là kẻ tạo ra hình tướng, si là kẻ tạo ra hình tướng. Nơi một vị tỳ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, những thứ này đã bị buông bỏ, bị cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây cọ, bị làm cho không còn hiện hữu, không còn sinh khởi trong tương lai. Trong tất cả các loại Giải thoát qua tâm không chạy theo hình tướng, bất động tâm giải thoát được tuyên bố là tối thượng. Và bất động tâm giải thoát ấy là trống không khỏi tham, trống không khỏi sân, trống không khỏi si. Đây là cách mà theo đó các pháp này đồng nghĩa và chỉ khác nhau về tên gọi."
Đó là những gì tôn giả Sāriputta đã nói. Tôn giả Mahā Kotthita hài lòng và hoan hỷ với lời của tôn giả Sāriputta.