[^428]: Tôn giả Mahā Koṭṭhita được Đức Phật tuyên bố là đệ tử đệ nhất về tuệ phân tích (paṭisambhidā - tứ vô ngại giải).
[^429]: Theo Chú giải (MA), sự hiểu biết về Tứ Thánh Đế đang được thảo luận ở đây là sự thấu suốt bằng thánh đạo siêu thế. Do đó, hạng người thấp nhất được mô tả là "người có trí tuệ" (paññavā) là người đang trên đạo lộ Dự lưu. Việc dịch từ paññā là "trí tuệ" (tôi thay cho từ "hiểu biết" của Ngài Ñāṇamoli) có nhược điểm là cắt đứt mối liên hệ, vốn rõ ràng trong tiếng Pali, với động từ pajānāti. Để giữ mối liên hệ này, ở đây và đoạn trước, động từ được dịch là "tuệ tri" (hiểu biết bằng trí tuệ).
[^430]: Cụm từ Pali định nghĩa về thức chỉ sử dụng động từ vijānāti vijānāti, và điều này cũng có thể được hiểu là "Người ấy thức tri, người ấy thức tri" (hay "Nó biết rõ, nó biết rõ"). Mặc dù Ngài Ñāṇamoli đã dịch cụm từ này mà không có đại từ, nhưng đại từ đã được thêm vào để dễ hiểu hơn. Các bản dịch định nghĩa động từ của thọ và tưởng ở đoạn §7 và §8 cũng được bổ sung tương tự bằng việc thêm đại từ.
[^431]: MA: Câu hỏi liên quan đến cái thức mà người được mô tả là "người có trí tuệ" dùng để quán sát các hành; nghĩa là, cái thức của tuệ quán (minh sát) mà nhờ đó người ấy đạt đến (sự chứng đắc của mình), cái tâm thực hiện công việc thiền tập. Tôn giả Sāriputta trả lời bằng cách giải thích đề mục thiền về thọ, theo cách được truyền lại trong Kinh Niệm Xứ (MN 10.32). Cấu trúc Pali sukhan ti pi vijānāti chỉ ra rằng thọ được xem như đối tượng trực tiếp của thức hơn là sắc thái cảm xúc của trải nghiệm; để thể hiện điều này, các từ "đây là" đã được thêm vào trong ngoặc vuông và toàn bộ cụm từ được đặt trong ngoặc kép.
[^432]: MA: Phát biểu này đề cập đến trí tuệ và thức trong các dịp thực hành minh sát và thánh đạo siêu thế. Hai pháp này tương ưng ở chỗ chúng sanh khởi và diệt tận đồng thời, và chia sẻ cùng một căn (giác quan) và cảnh (đối tượng). Tuy nhiên, hai pháp này không tương ưng một cách không thể tách rời vì trong khi trí tuệ luôn cần có thức, thì thức có thể xảy ra mà không có trí tuệ.
[^433]: Trí tuệ, là chi phần chánh kiến của bát chánh đạo, cần được tu tập như một chi phần của đạo lộ. Thức, được bao gồm trong năm uẩn thuộc về khổ thánh đế, cần được liễu tri (hiểu biết trọn vẹn) - là vô thường, khổ, và vô ngã.
[^434]: MA nói rằng câu hỏi và câu trả lời đề cập đến các cảm thọ hiệp thế vốn là phạm vi đối tượng của minh sát. Cấu trúc Pali ở đây, sukhaṃ pi vedeti, v.v..., cho thấy thọ đồng thời vừa là một đặc tính của đối tượng vừa là một sắc thái cảm xúc của trải nghiệm mà qua đó đối tượng được nhận biết. MA chỉ ra rằng chính cảm thọ cảm thấy; không có người cảm thấy (tách biệt) nào khác.
[^435]: MA: Câu hỏi và câu trả lời đề cập đến các tưởng hiệp thế vốn là phạm vi đối tượng của minh sát.
[^436]: MA: Trí tuệ bị loại khỏi cuộc trao đổi này vì ý định là chỉ để hiển thị các trạng thái tương ưng trong mọi sát na của thức.
[^437]: MA: Ý thức thanh tịnh (parisuddha manoviññāna) là tâm thức của thiền (jhāna) thứ tư. Nó có thể biết các chứng đắc vô sắc chừng nào một người an trú trong thiền thứ tư có khả năng đạt đến chúng. Xứ phi tưởng phi phi tưởng bị loại trừ ở đây bởi vì, do sự vi tế của nó, nó không nằm trong phạm vi trực tiếp của sự quán chiếu để đạt được minh sát.
[^438]: MA: Tuệ nhãn (paññācakkhu) chính là trí tuệ, được gọi là con mắt theo nghĩa nó là một cơ quan của cái nhìn tâm linh.
[^439]: Về sự phân biệt giữa thắng trí (abhiññā) và liễu tri (pariññā), xem chú thích 23.
[^440]: MA: "Tiếng nói của người khác" (parato ghosa) là sự giảng dạy Chánh pháp hữu ích. Hai điều kiện này là cần thiết để các đệ tử đạt được chánh kiến của minh sát và chánh kiến của thánh đạo siêu thế. Nhưng các vị Độc Giác Phật đạt được giác ngộ và các vị Phật Toàn Giác đạt được nhất thiết chủng trí chỉ nương vào như lý tác ý mà không cần "tiếng nói của người khác".
[^441]: MA: Chánh kiến ở đây là chánh kiến thuộc về đạo lộ A-la-hán. "Tâm giải thoát" và "tuệ giải thoát" đều đề cập đến quả A-la-hán; xem chú thích 83. Khi một người hoàn thiện năm chi phần này, đạo lộ A-la-hán khởi lên và trổ quả.
[^442]: "Sự tái sanh trong tương lai" (āyatiṃ punabbhavābhinibbatti) là sự tái sinh, sự tiếp diễn của vòng luân hồi. Câu hỏi này và câu tiếp theo có thể được xem như những cách tiếp cận tổng quát đối với toàn bộ công thức mười hai nhân duyên (duyên khởi) được trình bày trong MN 38.17 và 20.
[^443]: Năm căn bên ngoài mỗi căn có đối tượng riêng biệt của nó - sắc cho mắt, thanh cho tai, v.v... - nhưng ý căn có khả năng kinh nghiệm các đối tượng của cả năm căn kia cũng như các pháp trần (đối tượng tâm ý) dành riêng cho nó. Do đó, năm căn kia có ý làm nơi nương tựa (manopaṭisaraṇaṃ).
[^444]: MA đồng nhất tuổi thọ (āyu) với mạng căn (jīvitindriya), có chức năng duy trì và làm cho sống động các sắc pháp khác của cơ thể sống.
[^445]: Hơi nóng (usmā) là sức nóng do nghiệp sinh vốn nội tại trong cơ thể sống.
[^446]: "Thọ hành" (āyusaṅkhārā), theo MA, biểu thị chính tuổi thọ (sức sống). Chúng không thể là các trạng thái cảm thọ bởi vì chúng cần thiết để giữ cho thân thể của một vị tỳ-kheo còn sống khi vị ấy nhập diệt thọ tưởng định. Sự chứng đắc thiền định đặc biệt này, trong đó mọi hoạt động tâm ý đều ngưng bặt, chỉ dành cho các bậc Bất lai và A-la-hán, những người cũng đã làm chủ tám tầng thiền thuộc về phần chỉ tịnh. Để có một thảo luận ngắn gọn, xem Phần giới thiệu, tr. 28, và để có giải thích đầy đủ theo kinh viện, xem Thanh Tịnh Đạo (Vsm) XXIII, 16-52. Sự diệt thọ và tưởng sẽ được đề cập lại trong MN 44.
[^447]: Nghĩa là đã chết. Sự ra đi của thức khỏi thân xác chưa đủ để cấu thành cái chết; tuổi thọ và hơi ấm cũng phải diệt mất.
[^448]: Thân hành là hơi thở vô-ra, khẩu hành là tầm và tứ, tâm hành là tưởng và thọ - xem MN 44.14-15. MA nói rằng các căn trong đời sống bình thường, bị va chạm bởi các đối tượng giác quan, thì bị phiền não và vấy bẩn giống như tấm gương đặt ở ngã tư đường; nhưng các căn của người nhập diệt thọ tưởng định trở nên đặc biệt trong sáng giống như tấm gương được đặt trong bao và cất trong hộp.
[^449]: MA: "Vô tướng tâm giải thoát" (animitta cetovimutti) là chứng đắc quả vị; các "tướng" là các đối tượng như sắc, v.v...; "vô tướng giới" là Niết-bàn, trong đó vắng mặt mọi tướng của các pháp hữu vi.
[^450]: MA đồng nhất không tánh tâm giải thoát (suññatā cetovimutti) này với tuệ quán về tính không của ngã trong con người và sự vật.
[^451]: Như trên, vô tướng tâm giải thoát được MA đồng nhất với chứng đắc quả vị. Trong bốn loại tâm giải thoát được đề cập ở đoạn §30, chỉ có loại này là siêu thế. Ba loại đầu - tứ vô lượng tâm (brahmavihāra), thiền vô sắc thứ ba, và tuệ quán về tính không của các hành - đều thuộc về cấp độ hiệp thế.
[^452]: Tham, sân, và si có thể được hiểu là "những kẻ tạo ra sự đo lường" (pamāṇakaraṇa) ở chỗ chúng áp đặt những giới hạn lên phạm vi và chiều sâu của tâm; tuy nhiên, MA giải thích cụm từ này nghĩa là các phiền não cho phép người ta đánh giá (đo lường) một người là phàm phu, dự lưu, nhất lai, hay bất lai.
[^453]: MA: Có mười hai loại vô lượng tâm giải thoát: bốn phạm trú (từ, bi, hỷ, xả), bốn đạo, và bốn quả. Bất động tâm giải thoát là quả A-la-hán. Phát biểu rằng bất động tâm giải thoát này là không có tham, sân, và si - được lặp lại ở cuối đoạn §36 và §37 - cũng xác định nó là tâm giải thoát siêu thế thông qua tánh không.
[^454]: Từ kiñcana được MA giải thích nghĩa là "chướng ngại" hoặc "trở ngại". Ngài Ñāṇamoli dịch là "sở hữu" (owning). Tôi đã quay lại nghĩa gốc là "một cái gì đó" (something) để duy trì sự mạch lạc với phát biểu rằng sự đoạn tận nó dẫn đến vô sở hữu tâm giải thoát (tâm giải thoát nhờ không có gì).
[^455]: MA: Có chín loại vô sở hữu tâm giải thoát: nền tảng vô sở hữu xứ và bốn đạo, bốn quả.
[^456]: MA giải thích cụm từ "kẻ tạo tướng" (nimittakaraṇa) nghĩa là tham, sân, và si đóng dấu một người là phàm phu hay bậc thánh, là kẻ có tham, có sân, hay có si. Nhưng nó cũng có thể có nghĩa là những phiền não này khiến tâm gán một ý nghĩa sai lầm cho các pháp là thường, lạc, ngã, hoặc tịnh (đẹp).
[^457]: MA: Có mười ba loại vô tướng tâm giải thoát: tuệ quán (minh sát), bởi vì nó loại bỏ các tướng thường, lạc, và ngã; bốn thiền vô sắc, bởi vì chúng thiếu tướng của sắc pháp; và bốn đạo, bốn quả, bởi vì sự vắng mặt tướng của phiền não.
[^458]: Tất cả bốn loại tâm giải thoát là một về nghĩa ở chỗ chúng đều ám chỉ sự chứng đắc quả vị A-la-hán. MA cũng chỉ ra rằng bốn sự giải thoát là một về nghĩa bởi vì các thuật ngữ - vô lượng, vô sở hữu, không, và vô tướng - đều là tên gọi của Niết-bàn, vốn là đối tượng của sự chứng đắc quả vị A-la-hán.