MN 2. KINH TẤT CẢ NGUỒN ÁC
Sabbāsavasutta
Tôi nghe như vầy: Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ Viên), khu vườn của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Tại đấy, Thế Tôn gọi các tỳ kheo (bhikkhu): "Này các tỳ kheo."
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này:
"Này các tỳ kheo, Ta sẽ giảng cho các ông phương pháp về sự kiểm soát (phòng hộ / saṁvara) tất cả nguồn ác (lậu hoặc / āsava). Hãy lắng nghe, hãy suy nghĩ đến (tác ý / manasikāra) kỹ lưỡng, Ta sẽ nói."
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này:
"Này các tỳ kheo, Ta nói rằng sự cạn sạch (đoạn tận / khaya) các nguồn ác là dành cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, không phải cho người không thấy. Và này các tỳ kheo, biết gì và thấy gì mà Ta nói là sự cạn sạch các nguồn ác? Đó là tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ (như lý tác ý / yoniso manasikāra) và không tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ (phi như lý tác ý / ayoniso manasikāra). Này các tỳ kheo, đối với người không tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ, các nguồn ác chưa sinh sẽ sinh khởi, và các nguồn ác đã sinh sẽ tăng trưởng; nhưng này các tỳ kheo, đối với người tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ, các nguồn ác chưa sinh sẽ không sinh khởi, và các nguồn ác đã sinh sẽ bị loại bỏ (đoạn trừ / pahīyanti).
Này các tỳ kheo, có những nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách thấy rõ bản chất (tri kiến / dassanā), có những nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách kiểm soát, có những nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách sử dụng (thọ dụng / paṭisevanā), có những nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách chịu đựng (kham nhẫn / adhivāsanā), có những nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách né tránh (tránh né / parivajjanā), có những nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách loại trừ (trừ diệt / vinodanā), có những nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách luyện tập (tu tập / bhāvanā).
1. Các nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách thấy rõ bản chất
Và này các tỳ kheo, thế nào là các nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách thấy rõ bản chất? Ở đây, này các tỳ kheo, người thường không học (vô văn phàm phu / assutavā puthujjano), không thấy các bậc thánh (ariyānaṁ), không hiểu biết những Điều (pháp / dhamma) của bậc thánh, không được rèn luyện trong những Điều của bậc thánh, không thấy các chân nhân (sappurisānaṁ), không hiểu biết những Điều của chân nhân, không được rèn luyện trong những Điều của chân nhân—người ấy không biết những Điều cần phải suy nghĩ đến, không biết những Điều không cần phải suy nghĩ đến. Vì không biết những Điều cần phải suy nghĩ đến, không biết những Điều không cần phải suy nghĩ đến, người ấy suy nghĩ đến những Điều không cần phải suy nghĩ đến, và không suy nghĩ đến những Điều cần phải suy nghĩ đến.
Và này các tỳ kheo, thế nào là những Điều không cần phải suy nghĩ đến mà người ấy lại suy nghĩ đến? Này các tỳ kheo, khi người ấy suy nghĩ đến những Điều mà do đó nguồn ác từ ham muốn giác quan (dục lậu / kāmāsava) chưa sinh sẽ sinh khởi, hoặc nguồn ác từ ham muốn giác quan đã sinh liền tăng trưởng; hoặc nguồn ác từ mong muốn hiện hữu (hữu lậu / bhavāsava) chưa sinh sẽ sinh khởi, hoặc nguồn ác từ mong muốn hiện hữu đã sinh liền tăng trưởng; hoặc nguồn ác từ Không Hiểu Biết (vô minh lậu / avijjāsava) chưa sinh sẽ sinh khởi, hoặc nguồn ác từ Không Hiểu Biết đã sinh liền tăng trưởng—đây là những Điều không cần phải suy nghĩ đến mà người ấy lại suy nghĩ đến.
Và này các tỳ kheo, thế nào là những Điều cần phải suy nghĩ đến mà người ấy không suy nghĩ đến? Này các tỳ kheo, khi người ấy suy nghĩ đến những Điều mà do đó nguồn ác từ ham muốn giác quan chưa sinh sẽ không sinh, hoặc nguồn ác từ ham muốn giác quan đã sinh bị loại bỏ; hoặc nguồn ác từ mong muốn hiện hữu chưa sinh sẽ không sinh, hoặc nguồn ác từ mong muốn hiện hữu đã sinh bị loại bỏ; hoặc nguồn ác từ Không Hiểu Biết chưa sinh sẽ không sinh, hoặc nguồn ác từ Không Hiểu Biết đã sinh bị loại bỏ—đây là những Điều cần phải suy nghĩ đến mà người ấy không suy nghĩ đến.
Do người ấy suy nghĩ đến những Điều không cần phải suy nghĩ đến, và không suy nghĩ đến những Điều cần phải suy nghĩ đến, các nguồn ác chưa sinh sẽ sinh khởi và các nguồn ác đã sinh liền tăng trưởng.
Người ấy không tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ như sau: 'Ta có mặt trong quá khứ không? Ta không có mặt trong quá khứ sao? Ta là gì trong quá khứ? Ta như thế nào trong quá khứ? Trước kia là gì, rồi ta đã trở thành gì trong quá khứ? Ta sẽ có mặt trong tương lai không? Ta sẽ không có mặt trong tương lai sao? Ta sẽ là gì trong tương lai? Ta sẽ như thế nào trong tương lai? Trước kia là gì, rồi ta sẽ trở thành gì trong tương lai?' Hoặc hiện tại người ấy có sự nghi ngờ về chính mình: 'Ta có mặt không? Ta không có mặt sao? Ta là gì? Ta như thế nào? Chúng sinh này từ đâu đến? Nó sẽ đi về đâu?'
Khi người ấy không tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ như vậy, một trong sáu quan điểm sai (tà kiến / diṭṭhi) sinh khởi. Quan điểm sai 'Tôi có tự ngã' sinh khởi trong người ấy như một sự thật chắc chắn; hoặc quan điểm sai 'Tôi không có tự ngã' sinh khởi...; hoặc quan điểm sai 'Do tự ngã, tôi nhận thức (tưởng tri / sañjānāti) tự ngã' sinh khởi...; hoặc quan điểm sai 'Do tự ngã, tôi nhận thức không phải tự ngã' sinh khởi...; hoặc quan điểm sai 'Do không phải tự ngã, tôi nhận thức tự ngã' sinh khởi...; hoặc người ấy có quan điểm sai như sau: 'Chính tự ngã này của tôi là người nói, người cảm nhận, người trải nghiệm quả báo của các hành động thiện và ác ở chỗ này chỗ kia, chính tự ngã này của tôi là thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không chịu sự biến đổi, sẽ tồn tại mãi mãi như vậy.' Này các tỳ kheo, điều này được gọi là quan điểm sai, rừng rậm quan điểm sai, hoang mạc quan điểm sai, sự vặn vẹo của quan điểm sai, sự dao động của quan điểm sai, xiềng xích (kiết sử / saṁyojana) của quan điểm sai. Bị trói buộc bởi xiềng xích của quan điểm sai, này các tỳ kheo, người thường không học không được giải thoát khỏi sinh (jāti), già, chết, sầu, bi, đau khổ (khổ / dukkha), ưu phiền (ưu / domanassa), tuyệt vọng; Ta nói rằng 'người ấy không được giải thoát khỏi đau khổ'.
Nhưng này các tỳ kheo, đệ tử có học (hữu học / sutavā) của bậc thánh—người thấy các bậc thánh, hiểu biết những Điều của bậc thánh, được rèn luyện tốt trong những Điều của bậc thánh, thấy các chân nhân, hiểu biết những Điều của chân nhân, được rèn luyện tốt trong những Điều của chân nhân—biết những Điều cần phải suy nghĩ đến, biết những Điều không cần phải suy nghĩ đến. Vì biết những Điều cần phải suy nghĩ đến, biết những Điều không cần phải suy nghĩ đến, người ấy không suy nghĩ đến những Điều không cần phải suy nghĩ đến, và suy nghĩ đến những Điều cần phải suy nghĩ đến.
Và này các tỳ kheo, thế nào là những Điều không cần phải suy nghĩ đến mà người ấy không suy nghĩ đến? Này các tỳ kheo, khi người ấy suy nghĩ đến những Điều mà do đó nguồn ác từ ham muốn giác quan chưa sinh sẽ sinh khởi, hoặc nguồn ác từ ham muốn giác quan đã sinh liền tăng trưởng; hoặc nguồn ác từ mong muốn hiện hữu chưa sinh sẽ sinh khởi, hoặc nguồn ác từ mong muốn hiện hữu đã sinh liền tăng trưởng; hoặc nguồn ác từ Không Hiểu Biết chưa sinh sẽ sinh khởi, hoặc nguồn ác từ Không Hiểu Biết đã sinh liền tăng trưởng—đây là những Điều không cần phải suy nghĩ đến mà người ấy không suy nghĩ đến.
Và này các tỳ kheo, thế nào là những Điều cần phải suy nghĩ đến mà người ấy suy nghĩ đến? Này các tỳ kheo, khi người ấy suy nghĩ đến những Điều mà do đó nguồn ác từ ham muốn giác quan chưa sinh sẽ không sinh, hoặc nguồn ác từ ham muốn giác quan đã sinh bị loại bỏ; hoặc nguồn ác từ mong muốn hiện hữu chưa sinh sẽ không sinh, hoặc nguồn ác từ mong muốn hiện hữu đã sinh bị loại bỏ; hoặc nguồn ác từ Không Hiểu Biết chưa sinh sẽ không sinh, hoặc nguồn ác từ Không Hiểu Biết đã sinh bị loại bỏ—đây là những Điều cần phải suy nghĩ đến mà người ấy suy nghĩ đến.
Do người ấy không suy nghĩ đến những Điều không cần phải suy nghĩ đến, và suy nghĩ đến những Điều cần phải suy nghĩ đến, các nguồn ác chưa sinh sẽ không sinh, và các nguồn ác đã sinh bị loại bỏ.
Người ấy tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ: 'Đây là đau khổ'; người ấy tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ: 'Đây là sự hình thành của đau khổ'; người ấy tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ: 'Đây là sự chấm dứt (diệt / nirodha) đau khổ'; người ấy tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ: 'Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt đau khổ'. Khi người ấy tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ như vậy, ba xiềng xích bị loại bỏ: Thấy mình là thật (thân kiến / sakkāyadiṭṭhi), Nghi ngờ (nghi / vicikicchā), Mê tín và giáo điều (giới cấm thủ / sīlabbataparāmāso). Này các tỳ kheo, đây được gọi là các nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách thấy rõ bản chất.
2. Các nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách kiểm soát
Và này các tỳ kheo, thế nào là các nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách kiểm soát? Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo thận trọng suy xét (như lý giác sát / paṭisaṅkhā yoniso), sống kiểm soát giác quan (căn / indriya) mắt. Này các tỳ kheo, nếu sống không kiểm soát giác quan mắt, các nguồn ác cùng sự phiền muộn và nóng nảy (tàn hại nhiệt não / vighātapariḷāhā) có thể sinh khởi; nhưng nếu sống kiểm soát giác quan mắt, các nguồn ác cùng sự phiền muộn và nóng nảy ấy không có mặt. Người ấy thận trọng suy xét, sống kiểm soát giác quan tai... giác quan mũi... giác quan lưỡi... giác quan thân... giác quan Nghĩ (ý căn / manindriya). Này các tỳ kheo, nếu sống không kiểm soát giác quan Nghĩ, các nguồn ác cùng sự phiền muộn và nóng nảy có thể sinh khởi; nhưng nếu sống kiểm soát giác quan Nghĩ, các nguồn ác cùng sự phiền muộn và nóng nảy ấy không có mặt.
Này các tỳ kheo, nếu sống không kiểm soát, các nguồn ác cùng sự phiền muộn và nóng nảy có thể sinh khởi; nhưng nếu sống kiểm soát, các nguồn ác cùng sự phiền muộn và nóng nảy ấy không có mặt. Này các tỳ kheo, đây được gọi là các nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách kiểm soát.
3. Các nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách sử dụng
Và này các tỳ kheo, thế nào là các nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách sử dụng? Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo thận trọng suy xét, sử dụng y phục: 'Chỉ để ngăn chặn cái lạnh, ngăn chặn cái nóng, ngăn chặn sự tiếp xúc (xúc / phassa) của ruồi muỗi, gió, sức nóng mặt trời và các loài bò sát, chỉ để che đậy sự trần truồng đáng xấu hổ.'
Người ấy thận trọng suy xét, sử dụng thức ăn khất thực: 'Không phải để vui đùa, không phải để say sưa, không phải để trang điểm, không phải để làm đẹp, mà chỉ để duy trì và nuôi dưỡng cơ thể này, để tránh sự tổn hại, để hỗ trợ phạm hạnh, nghĩ rằng: "Ta sẽ diệt trừ cảm giác (thọ / vedanā) cũ và không làm sinh khởi cảm giác mới, ta sẽ sống qua ngày, không phạm lỗi và sống an ổn."'
Người ấy thận trọng suy xét, sử dụng chỗ ở: 'Chỉ để ngăn chặn cái lạnh, ngăn chặn cái nóng, ngăn chặn sự tiếp xúc của ruồi muỗi, gió, sức nóng mặt trời và các loài bò sát, chỉ để loại trừ những nguy hiểm từ thời tiết và để vui thích trong sự tĩnh cư.'
Người ấy thận trọng suy xét, sử dụng thuốc men trị bệnh: 'Chỉ để ngăn chặn những cảm giác bệnh tật đã sinh khởi, để đạt được sự không bệnh tật ở mức tối đa.'
Này các tỳ kheo, nếu không sử dụng [như vậy], các nguồn ác cùng sự phiền muộn và nóng nảy có thể sinh khởi; nhưng nếu sử dụng [như vậy], các nguồn ác cùng sự phiền muộn và nóng nảy ấy không có mặt. Này các tỳ kheo, đây được gọi là các nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách sử dụng.
4. Các nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách chịu đựng
Và này các tỳ kheo, thế nào là các nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách chịu đựng? Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo thận trọng suy xét, có khả năng chịu đựng cái lạnh, cái nóng, sự đói, sự khát. Người ấy có bản tính chịu đựng sự tiếp xúc của ruồi muỗi, gió, sức nóng mặt trời và các loài bò sát; chịu đựng những lời nói ác ý, khó nghe; chịu đựng những cảm giác thuộc về cơ thể đã sinh khởi, vốn đau khổ, nhức nhối, thô ráp, cay nghiệt, không dễ chịu, không vừa ý, đe dọa đến mạng sống.
Này các tỳ kheo, nếu không chịu đựng, các nguồn ác cùng sự phiền muộn và nóng nảy có thể sinh khởi; nhưng nếu chịu đựng, các nguồn ác cùng sự phiền muộn và nóng nảy ấy không có mặt. Này các tỳ kheo, đây được gọi là các nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách chịu đựng.
5. Các nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách né tránh
Và này các tỳ kheo, thế nào là các nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách né tránh? Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo thận trọng suy xét, né tránh voi dữ, né tránh ngựa dữ, né tránh bò dữ, né tránh chó dữ, rắn, khúc cây, bụi gai, hố sâu, vực thẳm, vũng nước bẩn, vũng bùn. Ngồi ở những chỗ ngồi nào, đi đến những nơi chốn nào, kết giao với những người bạn ác nào mà khiến các bạn đồng tu có trí nghi ngờ mình rơi vào những tình trạng xấu ác, người ấy thận trọng suy xét và né tránh chỗ ngồi đó, nơi chốn đó, và những người bạn ác đó.
Này các tỳ kheo, nếu không né tránh, các nguồn ác cùng sự phiền muộn và nóng nảy có thể sinh khởi; nhưng nếu né tránh, các nguồn ác cùng sự phiền muộn và nóng nảy ấy không có mặt. Này các tỳ kheo, đây được gọi là các nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách né tránh.
6. Các nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách loại trừ
Và này các tỳ kheo, thế nào là các nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách loại trừ? Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo thận trọng suy xét, không chấp nhận ý nghĩ (tầm / vitakka) về sự dễ chịu giác quan (dục / kāma) đã sinh khởi, mà từ bỏ, loại trừ, chấm dứt, làm cho nó không còn tồn tại; không chấp nhận ý nghĩ về ác ý hãm hại (sân hận / byāpāda) đã sinh khởi... không chấp nhận ý nghĩ về sự tàn ác đã sinh khởi... không chấp nhận những điều không thiện (bất thiện pháp / akusale dhamme) và xấu xa mỗi khi chúng sinh khởi, mà từ bỏ, loại trừ, chấm dứt, làm cho chúng không còn tồn tại.
Này các tỳ kheo, nếu không loại trừ, các nguồn ác cùng sự phiền muộn và nóng nảy có thể sinh khởi; nhưng nếu loại trừ, các nguồn ác cùng sự phiền muộn và nóng nảy ấy không có mặt. Này các tỳ kheo, đây được gọi là các nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách loại trừ.
7. Các nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách luyện tập
Và này các tỳ kheo, thế nào là các nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách luyện tập? Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo thận trọng suy xét, luyện tập Dấu hiệu Tự Quan Sát (niệm giác chi / satisambojjhaṅga), dựa trên sự tĩnh lặng (viveka), dựa trên sự phai nhạt của đắm nhiễm (ly tham / virāga), dựa trên sự chấm dứt, hướng đến sự từ bỏ hoàn toàn (xả ly / vossagga); thận trọng suy xét, luyện tập Dấu hiệu Phân Tích (trạch pháp giác chi / dhammavicayasambojjhaṅga)... luyện tập Dấu hiệu Nỗ Lực (tinh tấn giác chi / vīriyasambojjhaṅga)... luyện tập Dấu hiệu sự Hân Hoan (hỷ giác chi / pītisambojjhaṅga)... luyện tập Dấu hiệu Cơ thể được Lắng dịu (khinh an giác chi / passaddhisambojjhaṅga)... luyện tập Dấu hiệu Định (định giác chi / samādhisambojjhaṅga)... luyện tập Dấu hiệu Tâm Bình Quân (xả giác chi / upekkhāsambojjhaṅga), dựa trên sự tĩnh lặng, dựa trên sự phai nhạt của đắm nhiễm, dựa trên sự chấm dứt, hướng đến sự từ bỏ hoàn toàn.
Này các tỳ kheo, nếu không luyện tập, các nguồn ác cùng sự phiền muộn và nóng nảy có thể sinh khởi; nhưng nếu luyện tập, các nguồn ác cùng sự phiền muộn và nóng nảy ấy không có mặt. Này các tỳ kheo, đây được gọi là các nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách luyện tập.
Này các tỳ kheo, khi nào đối với một tỳ kheo, các nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách thấy rõ bản chất đã được loại bỏ bằng cách thấy rõ bản chất; các nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách kiểm soát đã được loại bỏ bằng cách kiểm soát; các nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách sử dụng đã được loại bỏ bằng cách sử dụng; các nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách chịu đựng đã được loại bỏ bằng cách chịu đựng; các nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách né tránh đã được loại bỏ bằng cách né tránh; các nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách loại trừ đã được loại bỏ bằng cách loại trừ; các nguồn ác phải được loại bỏ bằng cách luyện tập đã được loại bỏ bằng cách luyện tập; này các tỳ kheo, tỳ kheo ấy được gọi là: 'Đã sống kiểm soát với sự kiểm soát tất cả nguồn ác, đã cắt đứt khao khát (tham ái / taṇhaṁ), đã tháo gỡ xiềng xích, và nhờ thấu hiểu hoàn toàn sự ngạo mạn, đã chấm dứt đau khổ.'"
Thế Tôn đã nói như vậy. Các tỳ kheo ấy hài lòng, vui mừng đón nhận (hoan hỷ tín thọ / abhinandunti) lời Thế Tôn dạy.
Kết thúc Kinh Tất Cả Nguồn ác, bài kinh thứ hai.
Bảng thuật ngữ:
| Thuật ngữ Pali | Từ cũ (Hán-Việt) | Từ mới (Hiện đại) | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| āsava | lậu hoặc | nguồn ác | |
| khaya | đoạn tận | cạn sạch | |
| yoniso manasikāra | như lý tác ý | tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ | |
| ayoniso manasikāra | phi như lý tác ý | không tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ | |
| pahātabbā | đoạn trừ | loại bỏ | |
| dassanā | tri kiến | thấy rõ bản chất | |
| kāmāsava | dục lậu | nguồn ác từ ham muốn giác quan | |
| bhavāsava | hữu lậu | nguồn ác từ mong muốn hiện hữu | |
| avijjāsava | vô minh lậu | nguồn ác từ Không Hiểu Biết | |
| assutavā puthujjano | vô văn phàm phu | người thường không học | |
| ariyānaṁ | bậc Thánh | bậc thánh | |
| sappurisānaṁ | bậc Chân nhân | chân nhân | |
| dhamma | pháp | những Điều | |
| manasikāra | tác ý | suy nghĩ đến | |
| sañjānāti | tưởng tri | nhận thức | |
| sakkāyadiṭṭhi | thân kiến | Thấy mình là thật | |
| vicikicchā | nghi | Nghi ngờ | |
| sīlabbataparāmāso | giới cấm thủ | Mê tín và giáo điều | |
| saṁyojana | kiết sử | xiềng xích | |
| dukkha | khổ | đau khổ | |
| domanassa | ưu | ưu phiền | |
| jāti | sinh | sinh | |
| paṭisaṅkhā yoniso | như lý giác sát | thận trọng suy xét | |
| indriya | căn | giác quan | |
| manindriya | ý căn | giác quan Nghĩ | |
| phassa | xúc | tiếp xúc | |
| vedanā | thọ | cảm giác | |
| vitakka | tầm | ý nghĩ | |
| kāma | dục | sự dễ chịu giác quan | |
| byāpāda | sân hận | ác ý hãm hại | |
| akusala dhamma | bất thiện pháp | những điều không thiện | |
| satisambojjhaṅga | niệm giác chi | Dấu hiệu Tự Quan Sát | |
| dhammavicayasambojjhaṅga | trạch pháp giác chi | Dấu hiệu Phân Tích | |
| vīriyasambojjhaṅga | tinh tấn giác chi | Dấu hiệu Nỗ Lực | |
| pītisambojjhaṅga | hỷ giác chi | Dấu hiệu sự Hân Hoan | |
| passaddhisambojjhaṅga | khinh an giác chi | Dấu hiệu Cơ thể được Lắng dịu | |
| samādhisambojjhaṅga | định giác chi | Dấu hiệu Định | |
| upekkhāsambojjhaṅga | xả giác chi | Dấu hiệu Tâm Bình Quân | |
| virāga | ly tham | phai nhạt của đắm nhiễm | |
| nirodha | diệt | chấm dứt | |
| vossagga | xả ly | từ bỏ hoàn toàn | |
| taṇhā | tham ái | khao khát | |
| abhinandunti | hoan hỷ tín thọ | vui mừng đón nhận | |
| [!] saṁvara | phòng hộ | kiểm soát | sự thu thúc, giữ gìn, bảo vệ các giác quan |
| [!] paṭisevanā | thọ dụng | sử dụng | dùng, tiêu thụ (vật dụng, thức ăn) |
| [!] adhivāsanā | kham nhẫn | chịu đựng | sự nhẫn nại, chịu đựng các cảm giác khó chịu |
| [!] parivajjanā | tránh né | né tránh | sự tránh xa các mối nguy hiểm |
| [!] vinodanā | trừ diệt | loại trừ | sự đẩy lùi, loại trừ các ý nghĩ xấu |
| [!] bhāvanā | tu tập | luyện tập | sự trau dồi, phát triển tâm trí |
| [!] vighātapariḷāhā | tàn hại nhiệt não | phiền muộn và nóng nảy | sự bực dọc, thiêu đốt trong tâm trí |
| [!] diṭṭhi | tà kiến | quan điểm sai | cái nhìn sai lầm, bám chấp |
| [!] sutavā | hữu học | có học | người đã được nghe, được học giáo pháp |
| [!] viveka | viễn ly | tĩnh lặng | sự tách rời, yên tĩnh, xa lánh sự ồn ào |