MN 38. ĐẠI KINH CẠN SẠCH KHÁT KHAO
(Mahātaṇhāsaṅkhayasutta)
Tôi đã nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika.
Lúc bấy giờ, một tỳ kheo tên là Sāti, con của người đánh cá, khởi lên một quan điểm sai (ác kiến / diṭṭhigata) như sau: "Theo như tôi hiểu Điều dạy (pháp / dhamma) do Thế Tôn thuyết giảng, thì chính sự Nhận biết (thức / viññāṇa) này trôi dạt (luân chuyển / sandhāvati), luân chuyển (luân hồi / saṁsarati), không đổi khác (không phải cái khác / anañña)."
Nhiều tỳ kheo nghe được: "Tỳ kheo Sāti, con của người đánh cá, khởi lên một quan điểm sai như sau: 'Theo như tôi hiểu Điều dạy do Thế Tôn thuyết giảng, thì chính sự Nhận biết này trôi dạt, luân chuyển, không đổi khác'." Rồi các tỳ kheo ấy đi đến gặp tỳ kheo Sāti; sau khi đến, họ hỏi tỳ kheo Sāti: "Này hiền giả Sāti, có thật là hiền giả đã khởi lên quan điểm sai như sau: 'Theo như tôi hiểu Điều dạy do Thế Tôn thuyết giảng, thì chính sự Nhận biết này trôi dạt, luân chuyển, không đổi khác' không?"
"Thưa các hiền giả, đúng là tôi hiểu Điều dạy do Thế Tôn thuyết giảng như vậy: chính sự Nhận biết này trôi dạt, luân chuyển, không đổi khác."
Khi ấy, các tỳ kheo muốn tách tỳ kheo Sāti khỏi quan điểm sai đó, liền gạn hỏi, tra hỏi và quở trách: "Này hiền giả Sāti, chớ nói như vậy, chớ xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn là không tốt, Thế Tôn không bao giờ nói như vậy. Này hiền giả Sāti, Thế Tôn đã dùng nhiều phương tiện để nói về sự Nhận biết là thứ hình thành qua phụ thuộc (duyên sinh / paṭiccasamuppanna), nếu không có điều kiện sinh (duyên / paccaya) thì không có sự phát sinh của sự Nhận biết."
Dù bị các tỳ kheo gạn hỏi, tra hỏi và quở trách như vậy, tỳ kheo Sāti vẫn ngoan cố bám chặt lấy quan điểm sai đó và tuyên bố: "Thưa các hiền giả, đúng là tôi hiểu Điều dạy do Thế Tôn thuyết giảng như vậy: chính sự Nhận biết này trôi dạt, luân chuyển, không đổi khác."
Vì không thể tách tỳ kheo Sāti khỏi quan điểm sai đó, các tỳ kheo đi đến gặp Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, các tỳ kheo bạch Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, tỳ kheo Sāti, con của người đánh cá, khởi lên một quan điểm sai như sau: 'Theo như tôi hiểu Điều dạy do Thế Tôn thuyết giảng, thì chính sự Nhận biết này trôi dạt, luân chuyển, không đổi khác'. Bạch Thế Tôn, chúng con nghe được điều đó... Chúng con đã đến gặp tỳ kheo Sāti và hỏi... Tỳ kheo Sāti đã xác nhận như vậy. Rồi chúng con muốn tách tỳ kheo Sāti khỏi quan điểm sai đó, liền gạn hỏi, tra hỏi và quở trách... Nhưng dù bị chúng con gạn hỏi, tra hỏi và quở trách, tỳ kheo Sāti vẫn ngoan cố bám chặt lấy quan điểm sai đó... Vì chúng con không thể tách tỳ kheo Sāti khỏi quan điểm sai đó, nên chúng con đến trình sự việc này lên Thế Tôn."
Khi ấy, Thế Tôn bảo một tỳ kheo: "Này tỳ kheo, hãy đi và nhân danh ta gọi tỳ kheo Sāti, con của người đánh cá: 'Này hiền giả Sāti, Bậc Đạo Sư gọi hiền giả'."
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," tỳ kheo ấy vâng lời Thế Tôn, đi đến gặp tỳ kheo Sāti và nói: "Này hiền giả Sāti, Bậc Đạo Sư gọi hiền giả."
"Thưa vâng, hiền giả," tỳ kheo Sāti vâng lời tỳ kheo ấy, đi đến gặp Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi tỳ kheo Sāti đã ngồi một bên, Thế Tôn hỏi: "Này Sāti, có thật là ông đã khởi lên một quan điểm sai như sau: 'Theo như tôi hiểu Điều dạy do Thế Tôn thuyết giảng, thì chính sự Nhận biết này trôi dạt, luân chuyển, không đổi khác' không?"
"Bạch Thế Tôn, đúng là con hiểu Điều dạy do Thế Tôn thuyết giảng như vậy: chính sự Nhận biết này trôi dạt, luân chuyển, không đổi khác."
"Này Sāti, sự Nhận biết đó là gì?"
"Bạch Thế Tôn, đó là cái nói, cái cảm nhận, cái trải nghiệm kết quả (quả báo / vipāka) của những hành động tốt và xấu ở chỗ này chỗ kia."
"Này kẻ ngu si kia, ông nghe ta thuyết giảng Điều dạy như vậy cho ai? Này kẻ ngu si, chẳng phải ta đã dùng nhiều phương tiện để nói về sự Nhận biết là thứ hình thành qua phụ thuộc, nếu không có điều kiện sinh thì không có sự phát sinh của sự Nhận biết sao? Thế mà ông, kẻ ngu si, do tự mình nắm giữ sai lệch, đã xuyên tạc chúng ta, tự đào hố chôn mình và tạo ra nhiều điều vô phước. Này kẻ ngu si, điều đó sẽ đem lại bất lợi và đau khổ (khổ / dukkha) lâu dài cho ông."
Rồi Thế Tôn hỏi các tỳ kheo: "Các ông nghĩ sao, này các tỳ kheo, tỳ kheo Sāti này có chút hơi ấm nào trong Điều dạy và kỷ luật này không?"
"Bạch Thế Tôn, làm sao có được? Không thể có." Khi được nói vậy, tỳ kheo Sāti ngồi im lặng, bối rối, rũ vai, cúi đầu, sầu não, không nói được lời nào.
Thế Tôn biết tỳ kheo Sāti đang ngồi im lặng, bối rối, rũ vai, cúi đầu, sầu não, không nói được lời nào, liền bảo tỳ kheo Sāti: "Này kẻ ngu si, ông sẽ được biết đến qua chính quan điểm sai này của ông. Ta sẽ hỏi các tỳ kheo ở đây."
Rồi Thế Tôn hỏi các tỳ kheo: "Này các tỳ kheo, các ông có hiểu Điều dạy ta giảng giống như tỳ kheo Sāti, do tự mình nắm giữ sai lệch, đã xuyên tạc chúng ta, tự đào hố chôn mình và tạo ra nhiều điều vô phước không?"
"Dạ không, bạch Thế Tôn. Thế Tôn đã dùng nhiều phương tiện để dạy chúng con rằng sự Nhận biết là thứ hình thành qua phụ thuộc, nếu không có điều kiện sinh thì không có sự phát sinh của sự Nhận biết."
"Tốt lắm, tốt lắm, các tỳ kheo. Tốt lắm khi các ông hiểu Điều dạy ta giảng như vậy. Ta đã dùng nhiều phương tiện để dạy các ông rằng sự Nhận biết là thứ hình thành qua phụ thuộc, nếu không có điều kiện sinh thì không có sự phát sinh của sự Nhận biết. Thế mà tỳ kheo Sāti này, do tự mình nắm giữ sai lệch, đã xuyên tạc chúng ta, tự đào hố chôn mình và tạo ra nhiều điều vô phước. Điều đó sẽ đem lại bất lợi và đau khổ lâu dài cho kẻ ngu si ấy.
"Này các tỳ kheo, phụ thuộc vào điều kiện sinh nào mà sự Nhận biết phát sinh, thì nó được gọi tên (được gọi tên / saṅkhyaṁ gacchati) theo chính điều kiện đó. Phụ thuộc vào giác quan mắt (nhãn căn / cakkhu) và hình ảnh (sắc / rūpa) mà sự Nhận biết phát sinh, nó được gọi là sự phân biệt hình ảnh bởi mắt (nhãn thức / cakkhuviññāṇa); phụ thuộc vào giác quan tai (nhĩ căn / sota) và âm thanh (thanh / sadda) mà sự Nhận biết phát sinh, nó được gọi là sự phân biệt âm thanh bởi tai (sotaviññāṇa); phụ thuộc vào giác quan mũi (tỷ căn / ghāna) và mùi (hương / gandha) mà sự Nhận biết phát sinh, nó được gọi là sự phân biệt mùi bởi mũi (ghānaviññāṇa); phụ thuộc vào giác quan lưỡi (thiệt căn / jivhā) và vị (vị / rasa) mà sự Nhận biết phát sinh, nó được gọi là sự phân biệt vị bởi lưỡi (jivhāviññāṇa); phụ thuộc vào giác quan cơ thể (thân căn / kāya) và xúc chạm (xúc / phoṭṭhabba) mà sự Nhận biết phát sinh, nó được gọi là sự phân biệt xúc chạm bởi cơ thể (kāyaviññāṇa); phụ thuộc vào giác quan Suy Nghĩ (ý căn / mana) và mọi Điều (pháp / dhamma) mà sự Nhận biết phát sinh, nó được gọi là sự Nhận biết ý nghĩ ở giác quan Suy Nghĩ (ý thức / manoviññāṇa).
"Này các tỳ kheo, giống như ngọn lửa cháy phụ thuộc vào điều kiện nào thì nó được gọi tên theo điều kiện đó. Lửa cháy phụ thuộc vào củi, được gọi là lửa củi; lửa cháy phụ thuộc vào dăm bào, được gọi là lửa dăm bào; lửa cháy phụ thuộc vào cỏ, được gọi là lửa cỏ; lửa cháy phụ thuộc vào phân bò, được gọi là lửa phân bò; lửa cháy phụ thuộc vào trấu, được gọi là lửa trấu; lửa cháy phụ thuộc vào rác, được gọi là lửa rác.
"Cũng vậy, này các tỳ kheo, phụ thuộc vào điều kiện sinh nào mà sự Nhận biết phát sinh, thì nó được gọi tên theo chính điều kiện đó. Phụ thuộc vào giác quan mắt và hình ảnh... nó được gọi là sự phân biệt hình ảnh bởi mắt; phụ thuộc vào giác quan tai và âm thanh... sự phân biệt âm thanh bởi tai; phụ thuộc vào giác quan mũi và mùi... sự phân biệt mùi bởi mũi; phụ thuộc vào giác quan lưỡi và vị... sự phân biệt vị bởi lưỡi; phụ thuộc vào giác quan cơ thể và xúc chạm... sự phân biệt xúc chạm bởi cơ thể; phụ thuộc vào giác quan Suy Nghĩ và mọi Điều... nó được gọi là sự Nhận biết ý nghĩ ở giác quan Suy Nghĩ.
"Này các tỳ kheo, các ông có thấy: 'Đây là sự hiện hữu (đã sinh / bhūta)' không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn." "Các ông có thấy: 'Nó phát sinh từ nguồn nuôi dưỡng (thức ăn / āhāra)' không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn." "Các ông có thấy: 'Do nguồn nuôi dưỡng bị chặn (diệt / nirodha), cái gì hiện hữu, cái đó có bản chất bị chặn đứng (pháp diệt / nirodhadhamma)' không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn."
"Này các tỳ kheo, Nghi ngờ (nghi / vicikicchā) có phát sinh khi do dự: 'Đây có phải là sự hiện hữu hay không?' không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn." "Nghi ngờ có phát sinh khi do dự: 'Nó có phát sinh từ nguồn nuôi dưỡng hay không?' không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn." "Nghi ngờ có phát sinh khi do dự: 'Do nguồn nuôi dưỡng bị chặn, cái gì hiện hữu, cái đó có có bản chất bị chặn đứng hay không?' không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn."
"Này các tỳ kheo, Nghi ngờ có bị loại bỏ khi thấy đúng như thật bằng trí tuệ chân chính (như thật với chánh tuệ / yathābhūtaṁ sammappaññāya): 'Đây là sự hiện hữu' không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn." "Nghi ngờ có bị loại bỏ khi thấy đúng như thật bằng trí tuệ chân chính: 'Nó phát sinh từ nguồn nuôi dưỡng' không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn." "Nghi ngờ có bị loại bỏ khi thấy đúng như thật bằng trí tuệ chân chính: 'Do nguồn nuôi dưỡng bị chặn, cái gì hiện hữu, cái đó có bản chất bị chặn đứng' không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn."
"Này các tỳ kheo, các ông có hoàn toàn hết Nghi ngờ về việc: 'Đây là sự hiện hữu' không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn." "Các ông có hoàn toàn hết Nghi ngờ về việc: 'Nó phát sinh từ nguồn nuôi dưỡng' không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn." "Các ông có hoàn toàn hết Nghi ngờ về việc: 'Do nguồn nuôi dưỡng bị chặn, cái gì hiện hữu, cái đó có bản chất bị chặn đứng' không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn."
"Này các tỳ kheo, các ông có thấy rõ đúng như thật bằng trí tuệ chân chính: 'Đây là sự hiện hữu' không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn." "Các ông có thấy rõ đúng như thật bằng trí tuệ chân chính: 'Nó phát sinh từ nguồn nuôi dưỡng' không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn." "Các ông có thấy rõ đúng như thật bằng trí tuệ chân chính: 'Do nguồn nuôi dưỡng bị chặn, cái gì hiện hữu, cái đó có bản chất bị chặn đứng' không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn."
"Này các tỳ kheo, nếu các ông bám víu, trân trọng, cất giữ, xem như của mình cái quan điểm thanh tịnh và trong sáng này, thì các ông có hiểu Điều dạy ta giảng giống như chiếc bè, dùng để thoát khỏi (xuất ly / nittharaṇa) chứ không phải để nắm giữ không?" "Dạ không, bạch Thế Tôn." "Này các tỳ kheo, nếu các ông KHÔNG bám víu, không trân trọng, không cất giữ, không xem như của mình cái quan điểm thanh tịnh và trong sáng này, thì các ông có hiểu Điều dạy ta giảng giống như chiếc bè, dùng để thoát khỏi chứ không phải để nắm giữ không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn."
"Này các tỳ kheo, có bốn nguồn nuôi dưỡng để duy trì các chúng sinh đã sinh hoặc hỗ trợ các chúng sinh đang tìm chỗ sinh. Bốn là gì? Một là thức ăn vật lý (đoàn thực / kabaḷīkāro āhāro) thô hay tế; hai là Xúc (xúc / phassa); ba là ý chí (tư niệm thực / manosañcetanā); bốn là sự Nhận biết.
"Này các tỳ kheo, bốn nguồn nuôi dưỡng này lấy gì làm gốc, lấy gì làm sự hình thành (sinh / samudaya), lấy gì làm nơi sinh ra, lấy gì làm nguồn gốc? Bốn nguồn nuôi dưỡng này lấy sự Khát khao (tham ái / taṇhā) làm gốc, lấy sự Khát khao làm sự hình thành, lấy sự Khát khao làm nơi sinh ra, lấy sự Khát khao làm nguồn gốc.
"Và sự Khát khao này lấy gì làm gốc...? sự Khát khao lấy Cảm Giác (thọ / vedanā) làm gốc... "Và Cảm Giác này lấy gì làm gốc...? Cảm Giác lấy Xúc làm gốc... "Và Xúc này lấy gì làm gốc...? Xúc lấy sáu Xứ (lục nhập / saḷāyatana) làm gốc... "Và sáu Xứ này lấy gì làm gốc...? sáu Xứ lấy Tâm-Vật (danh-sắc / nāmarūpa) làm gốc... "Và Tâm-Vật này lấy gì làm gốc...? Tâm-Vật lấy sự Nhận biết làm gốc... "Và sự Nhận biết này lấy gì làm gốc...? sự Nhận biết lấy Hoạt động (hành / saṅkhārā) làm gốc... "Và Hoạt động này lấy gì làm gốc...? Hoạt động lấy Không Hiểu Biết (vô minh / avijjā) làm gốc...
"Như vậy, này các tỳ kheo, phụ thuộc vào Không Hiểu Biết làm điều kiện sinh, Hoạt động phát sinh; phụ thuộc vào Hoạt động làm điều kiện sinh, sự Nhận biết phát sinh; phụ thuộc vào sự Nhận biết làm điều kiện sinh, Tâm-Vật phát sinh; phụ thuộc vào Tâm-Vật làm điều kiện sinh, sáu Xứ phát sinh; phụ thuộc vào sáu Xứ làm điều kiện sinh, Xúc phát sinh; phụ thuộc vào Xúc làm điều kiện sinh, Cảm Giác phát sinh; phụ thuộc vào Cảm Giác làm điều kiện sinh, sự Khát khao phát sinh; phụ thuộc vào sự Khát khao làm điều kiện sinh, sự Bám giữ (chấp thủ / upādāna) phát sinh; phụ thuộc vào sự Bám giữ làm điều kiện sinh, Mầm sống (hữu / bhava) phát sinh; phụ thuộc vào Mầm sống làm điều kiện sinh, Sinh (sinh / jāti) phát sinh; phụ thuộc vào Sinh làm điều kiện sinh, Già chết (lão-tử / jarāmaraṇa), sầu, bi, đau khổ, ưu phiền (ưu / domanassa), tuyệt vọng phát sinh. Như vậy là sự hình thành của toàn bộ khối đau khổ này.
"'Phụ thuộc vào Sinh làm điều kiện sinh, Già chết phát sinh', điều này đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải phụ thuộc vào Sinh làm điều kiện sinh, Già chết phát sinh hay không, hay ở đây là thế nào?" "Bạch Thế Tôn, phụ thuộc vào Sinh làm điều kiện sinh, Già chết phát sinh; chúng con hiểu ở đây là: phụ thuộc vào Sinh làm điều kiện sinh, Già chết phát sinh."
"'Phụ thuộc vào Mầm sống làm điều kiện sinh, Sinh phát sinh', điều này đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải phụ thuộc vào Mầm sống làm điều kiện sinh, Sinh phát sinh hay không, hay ở đây là thế nào?" "Bạch Thế Tôn, phụ thuộc vào Mầm sống làm điều kiện sinh, Sinh phát sinh; chúng con hiểu ở đây là: phụ thuộc vào Mầm sống làm điều kiện sinh, Sinh phát sinh."
"'Phụ thuộc vào sự Bám giữ làm điều kiện sinh, Mầm sống phát sinh'... "Bạch Thế Tôn, phụ thuộc vào sự Bám giữ làm điều kiện sinh, Mầm sống phát sinh..."
"'Phụ thuộc vào sự Khát khao làm điều kiện sinh, sự Bám giữ phát sinh'... "Bạch Thế Tôn, phụ thuộc vào sự Khát khao làm điều kiện sinh, sự Bám giữ phát sinh..."
"'Phụ thuộc vào Cảm Giác làm điều kiện sinh, sự Khát khao phát sinh'... "Bạch Thế Tôn, phụ thuộc vào Cảm Giác làm điều kiện sinh, sự Khát khao phát sinh..."
"'Phụ thuộc vào Xúc làm điều kiện sinh, Cảm Giác phát sinh'... "Bạch Thế Tôn, phụ thuộc vào Xúc làm điều kiện sinh, Cảm Giác phát sinh..."
"'Phụ thuộc vào sáu Xứ làm điều kiện sinh, Xúc phát sinh'... "Bạch Thế Tôn, phụ thuộc vào sáu Xứ làm điều kiện sinh, Xúc phát sinh..."
"'Phụ thuộc vào Tâm-Vật làm điều kiện sinh, sáu Xứ phát sinh'... "Bạch Thế Tôn, phụ thuộc vào Tâm-Vật làm điều kiện sinh, sáu Xứ phát sinh..."
"'Phụ thuộc vào sự Nhận biết làm điều kiện sinh, Tâm-Vật phát sinh'... "Bạch Thế Tôn, phụ thuộc vào sự Nhận biết làm điều kiện sinh, Tâm-Vật phát sinh..."
"'Phụ thuộc vào Hoạt động làm điều kiện sinh, sự Nhận biết phát sinh'... "Bạch Thế Tôn, phụ thuộc vào Hoạt động làm điều kiện sinh, sự Nhận biết phát sinh..."
"'Phụ thuộc vào Không Hiểu Biết làm điều kiện sinh, Hoạt động phát sinh', điều này đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải phụ thuộc vào Không Hiểu Biết làm điều kiện sinh, Hoạt động phát sinh hay không, hay ở đây là thế nào?" "Bạch Thế Tôn, phụ thuộc vào Không Hiểu Biết làm điều kiện sinh, Hoạt động phát sinh; chúng con hiểu ở đây là: phụ thuộc vào Không Hiểu Biết làm điều kiện sinh, Hoạt động phát sinh."
"Tốt lắm, các tỳ kheo. Như vậy, các ông nói thế này, và ta cũng nói thế này: Khi cái này có, cái kia có; do cái này sinh, cái kia sinh. Tức là: phụ thuộc vào Không Hiểu Biết làm điều kiện sinh, Hoạt động phát sinh; phụ thuộc vào Hoạt động làm điều kiện sinh, sự Nhận biết phát sinh; phụ thuộc vào sự Nhận biết làm điều kiện sinh, Tâm-Vật phát sinh; phụ thuộc vào Tâm-Vật làm điều kiện sinh, sáu Xứ phát sinh; phụ thuộc vào sáu Xứ làm điều kiện sinh, Xúc phát sinh; phụ thuộc vào Xúc làm điều kiện sinh, Cảm Giác phát sinh; phụ thuộc vào Cảm Giác làm điều kiện sinh, sự Khát khao phát sinh; phụ thuộc vào sự Khát khao làm điều kiện sinh, sự Bám giữ phát sinh; phụ thuộc vào sự Bám giữ làm điều kiện sinh, Mầm sống phát sinh; phụ thuộc vào Mầm sống làm điều kiện sinh, Sinh phát sinh; phụ thuộc vào Sinh làm điều kiện sinh, Già chết, sầu, bi, đau khổ, ưu phiền, tuyệt vọng phát sinh. Như vậy là sự hình thành của toàn bộ khối đau khổ này.
"Nhưng do chặn sạch hết đắm nhiễm (ly tham đoạn diệt không có dư tàn / asesavirāganirodhā) đối với Không Hiểu Biết, Hoạt động bị chặn (diệt / nirodha); do Hoạt động bị chặn, sự Nhận biết bị chặn; do sự Nhận biết bị chặn, Tâm-Vật bị chặn; do Tâm-Vật bị chặn, sáu Xứ bị chặn; do sáu Xứ bị chặn, Xúc bị chặn; do Xúc bị chặn, Cảm Giác bị chặn; do Cảm Giác bị chặn, sự Khát khao bị chặn; do sự Khát khao bị chặn, sự Bám giữ bị chặn; do sự Bám giữ bị chặn, Mầm sống bị chặn; do Mầm sống bị chặn, Sinh bị chặn; do Sinh bị chặn, Già chết, sầu, bi, đau khổ, ưu phiền, tuyệt vọng chấm dứt (diệt / nirujjhati). Như vậy là sự bị chặn của toàn bộ khối đau khổ này.
"'Do Sinh bị chặn, Già chết bị chặn', điều này đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải do Sinh bị chặn, Già chết bị chặn hay không, hay ở đây là thế nào?" "Bạch Thế Tôn, do Sinh bị chặn, Già chết bị chặn; chúng con hiểu ở đây là: do Sinh bị chặn, Già chết bị chặn."
"'Do Mầm sống bị chặn, Sinh bị chặn'... "Bạch Thế Tôn, do Mầm sống bị chặn, Sinh bị chặn..."
"'Do sự Bám giữ bị chặn, Mầm sống bị chặn'... "Bạch Thế Tôn, do sự Bám giữ bị chặn, Mầm sống bị chặn..."
"'Do sự Khát khao bị chặn, sự Bám giữ bị chặn'... "Bạch Thế Tôn, do sự Khát khao bị chặn, sự Bám giữ bị chặn..."
"'Do Cảm Giác bị chặn, sự Khát khao bị chặn'... "Bạch Thế Tôn, do Cảm Giác bị chặn, sự Khát khao bị chặn..."
"'Do Xúc bị chặn, Cảm Giác bị chặn'... "Bạch Thế Tôn, do Xúc bị chặn, Cảm Giác bị chặn..."
"'Do sáu Xứ bị chặn, Xúc bị chặn'... "Bạch Thế Tôn, do sáu Xứ bị chặn, Xúc bị chặn..."
"'Do Tâm-Vật bị chặn, sáu Xứ bị chặn'... "Bạch Thế Tôn, do Tâm-Vật bị chặn, sáu Xứ bị chặn..."
"'Do sự Nhận biết bị chặn, Tâm-Vật bị chặn'... "Bạch Thế Tôn, do sự Nhận biết bị chặn, Tâm-Vật bị chặn..."
"'Do Hoạt động bị chặn, sự Nhận biết bị chặn'... "Bạch Thế Tôn, do Hoạt động bị chặn, sự Nhận biết bị chặn..."
"'Do Không Hiểu Biết bị chặn, Hoạt động bị chặn', điều này đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải do Không Hiểu Biết bị chặn, Hoạt động bị chặn hay không, hay ở đây là thế nào?" "Bạch Thế Tôn, do Không Hiểu Biết bị chặn, Hoạt động bị chặn; chúng con hiểu ở đây là: do Không Hiểu Biết bị chặn, Hoạt động bị chặn."
"Tốt lắm, các tỳ kheo. Như vậy, các ông nói thế này, và ta cũng nói thế này: Khi cái này không có, cái kia không có; do cái này bị chặn, cái kia chấm dứt. Tức là: do Không Hiểu Biết bị chặn, Hoạt động bị chặn; do Hoạt động bị chặn, sự Nhận biết bị chặn; do sự Nhận biết bị chặn, Tâm-Vật bị chặn; do Tâm-Vật bị chặn, sáu Xứ bị chặn; do sáu Xứ bị chặn, Xúc bị chặn; do Xúc bị chặn, Cảm Giác bị chặn; do Cảm Giác bị chặn, sự Khát khao bị chặn; do sự Khát khao bị chặn, sự Bám giữ bị chặn; do sự Bám giữ bị chặn, Mầm sống bị chặn; do Mầm sống bị chặn, Sinh bị chặn; do Sinh bị chặn, Già chết, sầu, bi, đau khổ, ưu phiền, tuyệt vọng chấm dứt. Như vậy là sự bị chặn của toàn bộ khối đau khổ này.
"Này các tỳ kheo, biết như vậy, thấy như vậy, các ông có chạy theo quá khứ: 'Ta có mặt trong quá khứ không? Ta không có mặt trong quá khứ sao? Ta là gì trong quá khứ? Ta như thế nào trong quá khứ? Từ cái gì, ta đã trở thành cái gì trong quá khứ?' không?" "Dạ không, bạch Thế Tôn."
"Biết như vậy, thấy như vậy, các ông có chạy theo tương lai: 'Ta sẽ có mặt trong tương lai không? Ta sẽ không có mặt trong tương lai sao? Ta sẽ là gì trong tương lai? Ta sẽ như thế nào trong tương lai? Từ cái gì, ta sẽ trở thành cái gì trong tương lai?' không?" "Dạ không, bạch Thế Tôn."
"Biết như vậy, thấy như vậy, các ông có Nghi ngờ về hiện tại ở ngay bên trong mình: 'Ta có mặt không? Ta không có mặt sao? Ta là gì? Ta như thế nào? Chúng sinh này từ đâu đến, và sẽ đi về đâu?' không?" "Dạ không, bạch Thế Tôn."
"Biết như vậy, thấy như vậy, các ông có nói: 'Bậc Đạo Sư là tôn kính của chúng ta, vì tôn kính Bậc Đạo Sư nên chúng ta nói như vậy' không?" "Dạ không, bạch Thế Tôn."
"Biết như vậy, thấy như vậy, các ông có nói: 'Sa môn nói như vậy, và vì là sa môn nên chúng ta nói như vậy' không?" "Dạ không, bạch Thế Tôn."
"Biết như vậy, thấy như vậy, các ông có tôn xưng một vị đạo sư khác không?" "Dạ không, bạch Thế Tôn."
"Biết như vậy, thấy như vậy, các ông có quay lại với các nghi lễ, sự kiêng kỵ, và những điều mê tín của các sa môn, bà la môn khác, xem đó là cốt lõi không?" "Dạ không, bạch Thế Tôn."
"Này các tỳ kheo, chỉ những gì các ông tự mình biết, tự mình thấy, tự mình hiểu, các ông mới nói điều đó, phải không?" "Thưa vâng, bạch Thế Tôn."
"Tốt lắm, các tỳ kheo. Các ông đã được ta dẫn dắt bởi Điều dạy này, một Điều dạy có thể thấy ngay trong hiện tại (thiết thực hiện tại / sandiṭṭhika), không phụ thuộc thời gian (vượt thời gian / akālika), đến để tự thấy (đến để mà thấy / ehipassika), dẫn dắt vào trong (hướng thượng / opaneyyika), được người trí tự mình hiểu rõ (người trí tự mình giác hiểu / paccattaṁ veditabbo viññūhi). Điều dạy này có thể thấy ngay trong hiện tại, không phụ thuộc thời gian, đến để tự thấy, dẫn dắt vào trong, được người trí tự mình hiểu rõ—điều này đã được nói dựa trên cơ sở đó.
"Này các tỳ kheo, sự hình thành bào thai (nhập thai / gabbhassāvakkanti) xảy ra do sự hội tụ của ba yếu tố. Ở đây, cha mẹ có giao hợp, nhưng người mẹ không trong thời kỳ thụ thai, và chúng sinh chuẩn bị tái sinh (hương ấm / gandhabba) không hiện diện, thì bào thai không hình thành. Ở đây, cha mẹ có giao hợp, người mẹ trong thời kỳ thụ thai, nhưng chúng sinh chuẩn bị tái sinh không hiện diện, thì bào thai không hình thành. Nhưng khi cha mẹ có giao hợp, người mẹ trong thời kỳ thụ thai, và chúng sinh chuẩn bị tái sinh hiện diện—do sự hội tụ của ba yếu tố này, bào thai hình thành.
"Này các tỳ kheo, người mẹ mang thai trong bụng chín hoặc mười tháng, chịu đựng gánh nặng lớn lao với nhiều âu lo. Sau chín hoặc mười tháng, người mẹ sinh con ra, chịu đựng gánh nặng lớn lao với nhiều âu lo. Khi đứa trẻ sinh ra, người mẹ nuôi dưỡng nó bằng chính máu của mình. Này các tỳ kheo, trong kỷ luật của bậc thánh, sữa mẹ được gọi là máu.
"Này các tỳ kheo, khi đứa trẻ lớn lên và các giác quan trưởng thành, nó chơi những trò chơi của trẻ con, như chơi xe đất, chơi cù, chơi nhào lộn, chơi chong chóng, chơi đong lá, chơi xe nhỏ, chơi cung nhỏ.
"Này các tỳ kheo, khi đứa trẻ lớn lên và các giác quan trưởng thành, nó tận hưởng năm sợi dây trói buộc của dễ chịu giác quan (ngũ dục / kāmaguṇa): hình ảnh nhận biết bởi mắt, đáng khao khát, hấp dẫn, dễ chịu, kích thích sự dễ chịu giác quan (dục / kāma), đầy cám dỗ; âm thanh nhận biết bởi tai... mùi nhận biết bởi mũi... vị nhận biết bởi lưỡi... xúc chạm nhận biết bởi cơ thể, đáng khao khát, hấp dẫn, dễ chịu, kích thích sự dễ chịu giác quan, đầy cám dỗ.
"Thấy một hình ảnh bằng mắt, nó say đắm hình ảnh dễ chịu, ghét bỏ hình ảnh không dễ chịu. Nó sống không có sự Tự Quan Sát (chánh niệm / sati) về cơ thể, với tâm hạn hẹp. Nó không hiểu đúng như thật về sự giải thoát của tâm và giải thoát bằng trí tuệ, nơi những điều không thiện (bất thiện pháp / akusalā dhammā) chấm dứt không còn dư tàn.
"Bị vướng vào sự thuận và nghịch như vậy, bất cứ Cảm Giác nào nó cảm nhận—Cảm Giác Dễ Chịu (thọ lạc / sukha), Cảm Giác Khó Chịu (thọ khổ / dukkha), hay Không Dễ Chịu Không Khó Chịu (bất khổ bất lạc / adukkhamasukha)—nó đều vui thú chạy theo (dục hỷ / abhinandati), chào đón, và bám chặt lấy Cảm Giác đó. Do nó vui thú chạy theo, chào đón và bám chặt lấy Cảm Giác đó, sự vui thích (hỷ / nandī) phát sinh. sự vui thích đối với các Cảm Giác chính là sự Bám giữ. Phụ thuộc vào sự Bám giữ làm điều kiện sinh, Mầm sống phát sinh; phụ thuộc vào Mầm sống làm điều kiện sinh, Sinh phát sinh; phụ thuộc vào Sinh làm điều kiện sinh, Già chết, sầu, bi, đau khổ, ưu phiền, tuyệt vọng phát sinh. Như vậy là sự hình thành của toàn bộ khối đau khổ này.
"Nghe một âm thanh bằng tai... "Ngửi một mùi bằng mũi... "Nếm một vị bằng lưỡi... "Cảm nhận một xúc chạm bằng cơ thể... "Nhận biết một Điều bằng giác quan Suy Nghĩ, nó say đắm Điều dễ chịu, ghét bỏ Điều không dễ chịu. Nó sống không có sự Tự Quan Sát về cơ thể, với tâm hạn hẹp. Nó không hiểu đúng như thật về sự giải thoát của tâm và giải thoát bằng trí tuệ, nơi những điều không thiện chấm dứt không còn dư tàn.
"Bị vướng vào sự thuận và nghịch như vậy, bất cứ Cảm Giác nào nó cảm nhận—Cảm Giác Dễ Chịu, Cảm Giác Khó Chịu, hay Không Dễ Chịu Không Khó Chịu—nó đều vui thú chạy theo, chào đón, và bám chặt lấy Cảm Giác đó. Do nó vui thú chạy theo, chào đón và bám chặt lấy Cảm Giác đó, sự vui thích phát sinh. sự vui thích đối với các Cảm Giác chính là sự Bám giữ. Phụ thuộc vào sự Bám giữ làm điều kiện sinh, Mầm sống phát sinh; phụ thuộc vào Mầm sống làm điều kiện sinh, Sinh phát sinh; phụ thuộc vào Sinh làm điều kiện sinh, Già chết, sầu, bi, đau khổ, ưu phiền, tuyệt vọng phát sinh. Như vậy là sự hình thành của toàn bộ khối đau khổ này.
"Này các tỳ kheo, ở đây Như Lai xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài tự mình chứng ngộ và tuyên thuyết cho thế giới này, bao gồm chư thiên, ma vương, phạm thiên, cùng với quần chúng sa môn, bà la môn, chư thiên và loài người. Ngài thuyết giảng Điều dạy toàn thiện ở đoạn đầu, toàn thiện ở đoạn giữa, toàn thiện ở đoạn cuối, đầy đủ ý nghĩa và văn tự; Ngài phơi bày một đời sống phạm hạnh hoàn toàn viên mãn và thanh tịnh.
"Một gia chủ, hay con của một gia chủ, hay một người sinh ra trong một gia đình nào đó nghe được Điều dạy ấy. Sau khi nghe Điều dạy, người ấy khởi lên niềm tin nơi Như Lai. Có được niềm tin ấy, người ấy suy nghĩ: 'Đời sống gia đình thật chật hẹp, là con đường đầy bụi bặm; đời sống xuất gia rộng mở như hư không. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể thực hành đời sống phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn thanh tịnh, sáng bóng như vỏ ốc. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, rời bỏ gia đình, sống không nhà.' Sau một thời gian, người ấy từ bỏ tài sản nhỏ hay lớn, từ bỏ quyến thuộc ít hay nhiều, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, rời bỏ gia đình, sống không nhà.
"Đã xuất gia như vậy, sống trong sự rèn luyện và sinh kế của các tỳ kheo, vị ấy từ bỏ sát sinh, tránh xa sát sinh, bỏ gậy gộc, bỏ đao kiếm, biết xấu hổ, có lòng từ bi, sống thương xót đến hạnh phúc của mọi sinh linh.
"Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa việc lấy của không cho, chỉ nhận những gì được cho, mong đợi những gì được cho, sống với tâm thanh tịnh, không trộm cắp.
"Vị ấy từ bỏ đời sống không phạm hạnh, sống đời phạm hạnh, sống cách biệt, tránh xa việc giao cấu là thói tục của dân làng.
"Vị ấy từ bỏ nói dối, tránh xa nói dối, nói lời chân thật, gắn bó với sự thật, đáng tin cậy, không lừa gạt thế gian.
"Vị ấy từ bỏ lời nói chia rẽ, tránh xa lời nói chia rẽ—nghe ở đây không đem kể lại ở kia để gây chia rẽ những người này, nghe ở kia không đem kể lại ở đây để gây chia rẽ những người kia. Vị ấy hàn gắn những người chia rẽ, khuyến khích những người hòa hợp, vui thích sự hòa hợp, yêu mến sự hòa hợp, hân hoan trong sự hòa hợp, nói những lời tạo ra sự hòa hợp.
"Vị ấy từ bỏ lời nói thô ác, tránh xa lời nói thô ác—vị ấy nói những lời nhu hòa, êm tai, dễ thương, đi vào lòng người, lịch sự, được nhiều người yêu thích, làm vui lòng nhiều người.
"Vị ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng lúc, nói sự thật, nói điều có lợi ích, nói về Điều dạy, nói về kỷ luật, nói những lời đáng ghi nhớ, hợp thời, có lý lẽ, có chừng mực, mang lại lợi ích.
"Vị ấy tránh xa việc làm tổn hại hạt giống và cây cỏ; ăn một bữa mỗi ngày, không ăn vào ban đêm, tránh xa việc ăn sái giờ. Tránh xa việc xem múa, hát, nhạc, các buổi trình diễn; tránh xa việc mang vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, đồ trang sức để làm đẹp; tránh xa việc nằm giường cao, giường lớn; tránh xa việc nhận vàng bạc; tránh xa việc nhận hạt giống sống; tránh xa việc nhận thịt sống; tránh xa việc nhận phụ nữ và thiếu nữ; tránh xa việc nhận nô tỳ nam nữ; tránh xa việc nhận dê cừu; tránh xa việc nhận gà lợn; tránh xa việc nhận voi, bò, ngựa, ngựa cái; tránh xa việc nhận ruộng đất; tránh xa việc làm môi giới hay chạy việc vặt; tránh xa việc mua bán; tránh xa việc gian lận bằng cân, tiền giả, thước đo; tránh xa việc hối lộ, lừa gạt, lừa đảo; tránh xa việc đả thương, giết chóc, trói buộc, cướp bóc, cướp đoạt, bạo lực.
"Vị ấy bằng lòng với y áo để che thân, thức ăn để no bụng. Đi đến đâu, vị ấy mang theo tất cả những thứ ấy. Giống như con chim có cánh, bay đến đâu cũng mang theo đôi cánh của mình; cũng vậy, tỳ kheo bằng lòng với y áo để che thân, thức ăn để no bụng, đi đến đâu cũng mang theo tất cả. Thành tựu khối đạo đức (giới uẩn / sīlakkhandha) cao quý này, vị ấy cảm nhận hạnh phúc không tì vết bên trong.
"Thấy một hình ảnh bằng mắt, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Vì nếu để giác quan mắt không được bảo vệ, lòng tham (ái dục / abhijjhā) và ưu phiền—những những điều không thiện—sẽ tràn vào, nên vị ấy thực hành để bảo vệ nó, canh giữ giác quan mắt, thực hành bảo vệ các giác quan (hộ trì các căn / indriyasaṁvara) đối với giác quan mắt.
"Nghe một âm thanh bằng tai... "Ngửi một mùi bằng mũi... "Nếm một vị bằng lưỡi... "Cảm nhận một xúc chạm bằng cơ thể... "Nhận biết một Điều bằng giác quan Suy Nghĩ, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Vì nếu để giác quan Suy Nghĩ không được bảo vệ, lòng tham và ưu phiền—những những điều không thiện—sẽ tràn vào, nên vị ấy thực hành để bảo vệ nó, canh giữ giác quan Suy Nghĩ, thực hành bảo vệ các giác quan đối với giác quan Suy Nghĩ. Thành tựu sự bảo vệ các giác quan cao quý này, vị ấy cảm nhận hạnh phúc không bị vấy bẩn bên trong.
"Vị ấy hành động với sự nhận biết rõ ràng (tỉnh giác / sampajāno) khi đi tới đi lui; hành động với sự nhận biết rõ ràng khi nhìn thẳng nhìn quanh; hành động với sự nhận biết rõ ràng khi co tay duỗi chân; hành động với sự nhận biết rõ ràng khi mang y tăng già lê, bình bát và y áo; hành động với sự nhận biết rõ ràng khi ăn, uống, nhai, nếm; hành động với sự nhận biết rõ ràng khi đại tiện, tiểu tiện; hành động với sự nhận biết rõ ràng khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng.
"Thành tựu khối đạo đức cao quý này, thành tựu sự bằng lòng cao quý này, thành tựu sự bảo vệ các giác quan cao quý này, thành tựu sự Tự Quan Sát và sự nhận biết rõ ràng cao quý này, vị ấy tìm đến một nơi thanh vắng—rừng núi, gốc cây, sườn đồi, hang đá, nghĩa địa, rừng sâu, bãi đất trống, đống rơm.
"Sau bữa ăn, khi đi khất thực về, vị ấy ngồi kiết già, giữ lưng thẳng, thiết lập sự Tự Quan Sát trước mặt. Vị ấy loại bỏ lòng tham ở đời, sống với tâm thoát khỏi lòng tham, gột rửa tâm khỏi lòng tham; loại bỏ ác ý hãm hại (sân hận / byāpāda), sống với tâm không ác ý hãm hại, thương xót đến hạnh phúc của mọi sinh linh, gột rửa tâm khỏi ác ý hãm hại; loại bỏ uể oải, buồn ngủ (hôn trầm thụy miên / thīnamiddha), sống thoát khỏi uể oải, buồn ngủ, nhận biết ánh sáng, có sự Tự Quan Sát và sự nhận biết rõ ràng, gột rửa tâm khỏi uể oải, buồn ngủ; loại bỏ bồn chồn, hối hận (trạo cử hối quá / uddhaccakukkucca), sống không bồn chồn, tâm lắng dịu (diệt / vūpasama) bên trong, gột rửa tâm khỏi bồn chồn, hối hận; loại bỏ Nghi ngờ, sống vượt qua Nghi ngờ, không còn do dự về những điều thiện, gột rửa tâm khỏi Nghi ngờ.
"Sau khi loại bỏ năm sự làm Mờ Yếu (triền cái / nīvaraṇa) này—những thứ làm suy yếu trí tuệ—vị ấy hoàn toàn rời bỏ khỏi (ly / vivicca) sự dễ chịu giác quan, rời bỏ những điều không thiện, đạt và an trú Thiền-na (thiền / jhāna) thứ nhất, trạng thái có chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (tầm tứ / vitakkavicāra), có hân hoan (hỷ / pīti) và hạnh phúc sinh ra từ sự rời bỏ (viễn ly / viveka). Lại nữa, này các tỳ kheo, do lắng dịu chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, vị ấy đạt sự lắng trong nội tại (nội tĩnh / ajjhattaṁ sampasādanaṁ), tâm hợp thành một (nhất tâm / cetaso ekodibhāvaṁ), Không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (không tầm không tứ / avitakka avicāra), có hân hoan và hạnh phúc sinh ra từ Định, đạt và an trú Thiền-na thứ hai... Thiền-na thứ ba... Thiền-na thứ tư.
"Thấy một hình ảnh bằng mắt, vị ấy không say đắm hình ảnh dễ chịu, không ghét bỏ hình ảnh không dễ chịu. Vị ấy sống có sự Tự Quan Sát về cơ thể, với tâm vô lượng. Vị ấy hiểu đúng như thật về sự giải thoát của tâm và giải thoát bằng trí tuệ, nơi những điều không thiện chấm dứt không còn dư tàn.
"Đã từ bỏ sự thuận và nghịch như vậy, bất cứ Cảm Giác nào vị ấy cảm nhận—Cảm Giác Dễ Chịu, Cảm Giác Khó Chịu, hay Không Dễ Chịu Không Khó Chịu—vị ấy KHÔNG vui thú chạy theo, không chào đón, không bám chặt lấy Cảm Giác đó. Do vị ấy không vui thú chạy theo, không chào đón, không bám chặt lấy Cảm Giác đó, sự vui thích đối với các Cảm Giác chấm dứt. Do sự vui thích bị chặn, sự Bám giữ bị chặn; do sự Bám giữ bị chặn, Mầm sống bị chặn; do Mầm sống bị chặn, Sinh bị chặn; do Sinh bị chặn, Già chết, sầu, bi, đau khổ, ưu phiền, tuyệt vọng chấm dứt. Như vậy là sự bị chặn của toàn bộ khối đau khổ này.
"Nghe một âm thanh bằng tai... "Ngửi một mùi bằng mũi... "Nếm một vị bằng lưỡi... "Cảm nhận một xúc chạm bằng cơ thể... "Nhận biết một Điều bằng giác quan Suy Nghĩ, vị ấy không say đắm Điều dễ chịu, không ghét bỏ Điều không dễ chịu. Vị ấy sống có sự Tự Quan Sát về cơ thể, với tâm vô lượng. Vị ấy hiểu đúng như thật về sự giải thoát của tâm và giải thoát bằng trí tuệ, nơi những điều không thiện chấm dứt không còn dư tàn.
"Đã từ bỏ sự thuận và nghịch như vậy, bất cứ Cảm Giác nào vị ấy cảm nhận—Cảm Giác Dễ Chịu, Cảm Giác Khó Chịu, hay Không Dễ Chịu Không Khó Chịu—vị ấy KHÔNG vui thú chạy theo, không chào đón, không bám chặt lấy Cảm Giác đó. Do vị ấy không vui thú chạy theo, không chào đón, không bám chặt lấy Cảm Giác đó, sự vui thích đối với các Cảm Giác chấm dứt. Do sự vui thích bị chặn, sự Bám giữ bị chặn; do sự Bám giữ bị chặn, Mầm sống bị chặn; do Mầm sống bị chặn, Sinh bị chặn; do Sinh bị chặn, Già chết, sầu, bi, đau khổ, ưu phiền, tuyệt vọng chấm dứt. Như vậy là sự bị chặn của toàn bộ khối đau khổ này.
"Này các tỳ kheo, hãy ghi nhớ sự giải thoát nhờ cạn sạch (đoạn tận / khayā) sự Khát khao tóm tắt này của ta; còn tỳ kheo Sāti thì bị mắc kẹt trong mạng lưới khổng lồ của sự Khát khao."
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các tỳ kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bảng thuật ngữ:
| Thuật ngữ Pali | Từ cũ (Hán-Việt) | Từ mới (Hiện đại) | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| khayā | đoạn tận | cạn sạch | |
| taṇhā | tham ái | sự Khát khao | |
| diṭṭhigata | ác kiến | quan điểm sai | |
| dhamma | pháp | Điều dạy / mọi Điều | |
| viññāṇa | thức | sự Nhận biết | |
| [!] sandhāvati | luân chuyển | trôi dạt | chạy vòng quanh, trôi dạt |
| [!] saṁsarati | luân hồi | luân chuyển | đi lang thang, luân chuyển trong sinh tử |
| [!] anañña | không phải cái khác | không đổi khác | giống hệt, không thay đổi |
| paṭiccasamuppanna | duyên sinh | thứ hình thành qua phụ thuộc | |
| paccaya | duyên | điều kiện sinh | |
| [!] vipāka | quả báo | kết quả | kết quả của hành động |
| [!] saṅkhyaṁ gacchati | được gọi tên | được gọi tên | được phân loại, được tính là |
| cakkhu | nhãn căn | giác quan mắt | |
| rūpa | sắc | hình ảnh | |
| cakkhuviññāṇa | nhãn thức | sự phân biệt hình ảnh bởi mắt | |
| sota | nhĩ căn | giác quan tai | |
| sadda | thanh | âm thanh | |
| sotaviññāṇa | nhĩ thức | sự phân biệt âm thanh bởi tai | |
| ghāna | tỷ căn | giác quan mũi | |
| gandha | hương | mùi | |
| ghānaviññāṇa | tỷ thức | sự phân biệt mùi bởi mũi | |
| jivhā | thiệt căn | giác quan lưỡi | |
| rasa | vị | vị | |
| jivhāviññāṇa | thiệt thức | sự phân biệt vị bởi lưỡi | |
| kāya | thân căn | giác quan cơ thể | |
| phoṭṭhabba | xúc | xúc chạm | |
| kāyaviññāṇa | thân thức | sự phân biệt xúc chạm bởi cơ thể | |
| mana | ý căn | giác quan Suy Nghĩ | |
| manoviññāṇa | ý thức | sự Nhận biết ý nghĩ ở giác quan Suy Nghĩ | |
| [!] bhūta | đã sinh | sự hiện hữu | cái đã trở thành, đã sinh ra |
| [!] āhāra | thức ăn | nguồn nuôi dưỡng | thức ăn, điều kiện duy trì |
| nirodha | diệt | bị chặn / hết | |
| [!] nirodhadhamma | pháp diệt | có bản chất bị chặn đứng | quy luật tự nhiên của sự chấm dứt |
| vicikicchā | nghi | Nghi ngờ | |
| [!] yathābhūtaṁ sammappaññāya | như thật với chánh tuệ | đúng như thật bằng trí tuệ chân chính | |
| [!] nittharaṇa | xuất ly | thoát khỏi | vượt qua, thoát ra |
| kabaḷīkāro āhāro | đoàn thực | thức ăn vật lý | |
| phassa | xúc | Xúc | |
| [!] manosañcetanā | tư niệm thực | ý chí | sự cố ý của tâm |
| vedanā | thọ | Cảm Giác | |
| saḷāyatana | lục nhập | sáu Xứ | |
| nāmarūpa | danh-sắc | Tâm-Vật | |
| saṅkhārā | hành | Hoạt động | |
| avijjā | vô minh | Không Hiểu Biết | |
| upādāna | chấp thủ | sự Bám giữ | |
| bhava | hữu | Mầm sống | |
| jāti | sinh | Sinh | |
| jarāmaraṇa | lão-tử | Già chết | |
| dukkha | khổ | đau khổ | |
| domanassa | ưu | ưu phiền | |
| samudaya | sinh | sự hình thành | |
| asesavirāganirodhā | ly tham đoạn diệt không có dư tàn | chặn sạch hết đắm nhiễm | |
| nirujjhati | diệt | chấm dứt | |
| [!] sandiṭṭhika | thiết thực hiện tại | có thể thấy ngay trong hiện tại | |
| [!] akālika | vượt thời gian | không phụ thuộc thời gian | |
| [!] ehipassika | đến để mà thấy | đến để tự thấy | |
| [!] opaneyyika | hướng thượng | dẫn dắt vào trong | |
| [!] paccattaṁ veditabbo viññūhi | người trí tự mình giác hiểu | được người trí tự mình hiểu rõ | |
| [!] gabbhassāvakkanti | nhập thai | sự hình thành bào thai | |
| [!] gandhabba | hương ấm | chúng sinh chuẩn bị tái sinh | thức tái sinh đang tìm chỗ thác sinh |
| kāmaguṇa | ngũ dục | sợi dây trói buộc của dễ chịu giác quan | |
| sati | chánh niệm | sự Tự Quan Sát | |
| akusalā dhammā | bất thiện pháp | những điều không thiện | |
| sukha | lạc | Cảm Giác Dễ Chịu / hạnh phúc | |
| adukkhamasukha | bất khổ bất lạc | Không Dễ Chịu Không Khó Chịu | |
| abhinandati | dục hỷ | vui thú chạy theo | |
| [!] nandī | hỷ | sự vui thích | sự thích thú, tận hưởng |
| sīlakkhandha | giới uẩn | khối đạo đức | |
| indriyasaṁvara | hộ trì các căn | bảo vệ các giác quan | |
| sampajāno | tỉnh giác | sự nhận biết rõ ràng | |
| nīvaraṇa | triền cái | sự làm Mờ Yếu | |
| abhijjhā | ái dục | lòng tham | |
| byāpāda | sân hận | ác ý hãm hại | |
| thīnamiddha | hôn trầm thụy miên | uể oải, buồn ngủ | |
| uddhaccakukkucca | trạo cử hối quá | bồn chồn, hối hận | |
| jhāna | thiền | Thiền-na | |
| kāma | dục | sự dễ chịu giác quan | |
| vitakka vicāra | tầm tứ | chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý | |
| viveka | viễn ly | rời bỏ | |
| pīti | hỷ | hân hoan | |
| vūpasama | diệt | lắng dịu | |
| ajjhattaṁ sampasādanaṁ | nội tĩnh | sự lắng trong nội tại | |
| cetaso ekodibhāvaṁ | nhất tâm | tâm hợp thành một | |
| avitakka avicāra | không tầm không tứ | Không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý |