Skip to content

MN 148. KINH SÁU NHÓM SÁU

Chachakkasutta

Tôi đã nghe như vầy: Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, tại rừng Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika. Tại đó, Thế Tôn gọi các tỳ kheo: "Này các tỳ kheo."

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này:

"Này các tỳ kheo, Ta sẽ thuyết giảng cho các ông mọi Điều (pháp / dhamma) tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, tốt đẹp ở đoạn cuối, đầy đủ ý nghĩa và văn tự; Ta sẽ làm sáng tỏ đời sống phạm hạnh hoàn toàn viên mãn và thanh tịnh, đó là—sáu nhóm sáu. Hãy lắng nghe, suy nghĩ đến (tác ý / manasikāra) kỹ lưỡng, Ta sẽ giảng."

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này:

"Sáu Xứ (xứ / āyatana) nội tại cần được biết, sáu Xứ bên ngoài cần được biết, sáu nhóm Cái Biết phân biệt (thức / viññāṇa) cần được biết, sáu nhóm Xúc (xúc / phassa) cần được biết, sáu nhóm Cảm Giác (thọ / vedanā) cần được biết, sáu nhóm Khát ái (ái / taṇhā) cần được biết.

'Sáu Xứ nội tại cần được biết'—điều này đã được nói đến. Vì duyên (duyên / paṭicca) gì mà điều này được nói đến? giác quan mắt (nhãn căn / cakkhāyatana), giác quan tai (nhĩ căn / sotāyatana), giác quan mũi (tỷ căn / ghānāyatana), giác quan lưỡi (thiệt căn / jivhāyatana), giác quan cơ thể (thân căn / kāyāyatana), giác quan não (ý căn / manāyatana). 'Sáu Xứ nội tại cần được biết'—điều đã được nói đến là Vì duyên điều này mà được nói đến. Đây là nhóm sáu thứ nhất.

'Sáu Xứ bên ngoài cần được biết'—điều này đã được nói đến. Vì duyên gì mà điều này được nói đến? Xứ hình ảnh (sắc / rūpa), Xứ âm thanh, Xứ mùi, Xứ vị, Xứ xúc chạm, Xứ mọi Điều. 'Sáu Xứ bên ngoài cần được biết'—điều đã được nói đến là Vì duyên điều này mà được nói đến. Đây là nhóm sáu thứ hai.

'Sáu nhóm Cái Biết phân biệt cần được biết'—điều này đã được nói đến. Vì duyên gì mà điều này được nói đến? Vì duyên mắt gặp hình ảnh Nên sinh ra sự phân biệt hình ảnh bởi mắt (mắt thức / cakkhuviññāṇa); Vì duyên tai gặp âm thanh Nên sinh ra sự phân biệt âm thanh bởi tai (nhĩ thức / sotaviññāṇa); Vì duyên mũi gặp mùi Nên sinh ra sự phân biệt mùi bởi mũi (tỷ thức / ghānaviññāṇa); Vì duyên lưỡi gặp vị Nên sinh ra sự phân biệt vị bởi lưỡi (thiệt thức / jivhāviññāṇa); Vì duyên cơ thể gặp xúc chạm Nên sinh ra sự phân biệt xúc chạm bởi cơ thể (thân thức / kāyaviññāṇa); Vì duyên não gặp mọi Điều Nên sinh ra sự phân biệt ý nghĩ bởi não (ý thức / manoviññāṇa). 'Sáu nhóm Cái Biết phân biệt cần được biết'—điều đã được nói đến là Vì duyên điều này mà được nói đến. Đây là nhóm sáu thứ ba.

'Sáu nhóm Xúc cần được biết'—điều này đã được nói đến. Vì duyên gì mà điều này được nói đến? Vì duyên mắt gặp hình ảnh Nên sinh ra sự phân biệt hình ảnh bởi mắt, sự gặp gỡ của ba yếu tố này là Xúc; Vì duyên tai gặp âm thanh Nên sinh ra sự phân biệt âm thanh bởi tai, sự gặp gỡ của ba yếu tố này là Xúc; Vì duyên mũi gặp mùi Nên sinh ra sự phân biệt mùi bởi mũi, sự gặp gỡ của ba yếu tố này là Xúc; Vì duyên lưỡi gặp vị Nên sinh ra sự phân biệt vị bởi lưỡi, sự gặp gỡ của ba yếu tố này là Xúc; Vì duyên cơ thể gặp xúc chạm Nên sinh ra sự phân biệt xúc chạm bởi cơ thể, sự gặp gỡ của ba yếu tố này là Xúc; Vì duyên não gặp mọi Điều Nên sinh ra sự phân biệt ý nghĩ bởi não, sự gặp gỡ của ba yếu tố này là Xúc. 'Sáu nhóm Xúc cần được biết'—điều đã được nói đến là Vì duyên điều này mà được nói đến. Đây là nhóm sáu thứ tư.

'Sáu nhóm Cảm Giác cần được biết'—điều này đã được nói đến. Vì duyên gì mà điều này được nói đến? Vì duyên mắt gặp hình ảnh Nên sinh ra sự phân biệt hình ảnh bởi mắt, sự gặp gỡ của ba yếu tố này là Xúc, do điều kiện Xúc nên có Cảm Giác; Vì duyên tai gặp âm thanh Nên sinh ra sự phân biệt âm thanh bởi tai, sự gặp gỡ của ba yếu tố này là Xúc, do điều kiện Xúc nên có Cảm Giác; Vì duyên mũi gặp mùi Nên sinh ra sự phân biệt mùi bởi mũi, sự gặp gỡ của ba yếu tố này là Xúc, do điều kiện Xúc nên có Cảm Giác; Vì duyên lưỡi gặp vị Nên sinh ra sự phân biệt vị bởi lưỡi, sự gặp gỡ của ba yếu tố này là Xúc, do điều kiện Xúc nên có Cảm Giác; Vì duyên cơ thể gặp xúc chạm Nên sinh ra sự phân biệt xúc chạm bởi cơ thể, sự gặp gỡ của ba yếu tố này là Xúc, do điều kiện Xúc nên có Cảm Giác; Vì duyên não gặp mọi Điều Nên sinh ra sự phân biệt ý nghĩ bởi não, sự gặp gỡ của ba yếu tố này là Xúc, do điều kiện Xúc nên có Cảm Giác. 'Sáu nhóm Cảm Giác cần được biết'—điều đã được nói đến là Vì duyên điều này mà được nói đến. Đây là nhóm sáu thứ năm.

'Sáu nhóm Khát ái cần được biết'—điều này đã được nói đến. Vì duyên gì mà điều này được nói đến? Vì duyên mắt gặp hình ảnh Nên sinh ra sự phân biệt hình ảnh bởi mắt, sự gặp gỡ của ba yếu tố này là Xúc, do điều kiện Xúc nên có Cảm Giác, do điều kiện Cảm Giác nên có Khát ái; Vì duyên tai gặp âm thanh Nên sinh ra sự phân biệt âm thanh bởi tai... Vì duyên mũi gặp mùi Nên sinh ra sự phân biệt mùi bởi mũi... Vì duyên lưỡi gặp vị Nên sinh ra sự phân biệt vị bởi lưỡi... Vì duyên cơ thể gặp xúc chạm Nên sinh ra sự phân biệt xúc chạm bởi cơ thể... Vì duyên não gặp mọi Điều Nên sinh ra sự phân biệt ý nghĩ bởi não, sự gặp gỡ của ba yếu tố này là Xúc, do điều kiện Xúc nên có Cảm Giác, do điều kiện Cảm Giác nên có Khát ái. 'Sáu nhóm Khát ái cần được biết'—điều đã được nói đến là Vì duyên điều này mà được nói đến. Đây là nhóm sáu thứ sáu.

Nếu ai đó nói rằng: 'Mắt là cái tôi (ngã / attā)', điều đó không hợp lý. sự hình thành (sinh / uppāda) và sự tàn hoại (diệt / vaya) của mắt được nhận thấy rõ. Mà đối với cái gì có sự hình thànhsự tàn hoại được nhận thấy rõ, thì sẽ dẫn đến kết luận: 'cái tôi của tôi sinh ra và mất đi'. Do đó, điều này không hợp lý khi nói: 'Mắt là cái tôi'. Như vậy, mắt là không phải cái tôi (vô ngã / anattā).

Nếu ai đó nói rằng: 'hình ảnhcái tôi', điều đó không hợp lý. sự hình thànhsự tàn hoại của hình ảnh được nhận thấy rõ. Mà đối với cái gì có sự hình thànhsự tàn hoại được nhận thấy rõ, thì sẽ dẫn đến kết luận: 'cái tôi của tôi sinh ra và mất đi'. Do đó, điều này không hợp lý khi nói: 'hình ảnhcái tôi'. Như vậy, mắt là không phải cái tôi, hình ảnhkhông phải cái tôi.

Nếu ai đó nói rằng: 'sự phân biệt hình ảnh bởi mắtcái tôi', điều đó không hợp lý. sự hình thànhsự tàn hoại của sự phân biệt hình ảnh bởi mắt được nhận thấy rõ. Mà đối với cái gì có sự hình thànhsự tàn hoại được nhận thấy rõ, thì sẽ dẫn đến kết luận: 'cái tôi của tôi sinh ra và mất đi'. Do đó, điều này không hợp lý khi nói: 'sự phân biệt hình ảnh bởi mắtcái tôi'. Như vậy, mắt là không phải cái tôi, hình ảnhkhông phải cái tôi, sự phân biệt hình ảnh bởi mắtkhông phải cái tôi.

Nếu ai đó nói rằng: 'Xúc ở mắt là cái tôi', điều đó không hợp lý. sự hình thànhsự tàn hoại của Xúc ở mắt được nhận thấy rõ. Mà đối với cái gì có sự hình thànhsự tàn hoại được nhận thấy rõ, thì sẽ dẫn đến kết luận: 'cái tôi của tôi sinh ra và mất đi'. Do đó, điều này không hợp lý khi nói: 'Xúc ở mắt là cái tôi'. Như vậy, mắt là không phải cái tôi, hình ảnhkhông phải cái tôi, sự phân biệt hình ảnh bởi mắtkhông phải cái tôi, Xúc ở mắt là không phải cái tôi.

Nếu ai đó nói rằng: 'Cảm Giáccái tôi', điều đó không hợp lý. sự hình thànhsự tàn hoại của Cảm Giác được nhận thấy rõ. Mà đối với cái gì có sự hình thànhsự tàn hoại được nhận thấy rõ, thì sẽ dẫn đến kết luận: 'cái tôi của tôi sinh ra và mất đi'. Do đó, điều này không hợp lý khi nói: 'Cảm Giáccái tôi'. Như vậy, mắt là không phải cái tôi, hình ảnhkhông phải cái tôi, sự phân biệt hình ảnh bởi mắtkhông phải cái tôi, Xúc ở mắt là không phải cái tôi, Cảm Giáckhông phải cái tôi.

Nếu ai đó nói rằng: 'Khát áicái tôi', điều đó không hợp lý. sự hình thànhsự tàn hoại của Khát ái được nhận thấy rõ. Mà đối với cái gì có sự hình thànhsự tàn hoại được nhận thấy rõ, thì sẽ dẫn đến kết luận: 'cái tôi của tôi sinh ra và mất đi'. Do đó, điều này không hợp lý khi nói: 'Khát áicái tôi'. Như vậy, mắt là không phải cái tôi, hình ảnhkhông phải cái tôi, sự phân biệt hình ảnh bởi mắtkhông phải cái tôi, Xúc ở mắt là không phải cái tôi, Cảm Giáckhông phải cái tôi, Khát áikhông phải cái tôi.

Nếu ai đó nói rằng: 'Tai là cái tôi'... 'Mũi là cái tôi'... 'Lưỡi là cái tôi'... 'Cơ thể là cái tôi'... 'Não là cái tôi', điều đó không hợp lý. sự hình thànhsự tàn hoại của não được nhận thấy rõ. Mà đối với cái gì có sự hình thànhsự tàn hoại được nhận thấy rõ, thì sẽ dẫn đến kết luận: 'cái tôi của tôi sinh ra và mất đi'. Do đó, điều này không hợp lý khi nói: 'Não là cái tôi'. Như vậy, não là không phải cái tôi.

Nếu ai đó nói rằng: 'mọi Điềucái tôi', điều đó không hợp lý. sự hình thànhsự tàn hoại của mọi Điều được nhận thấy rõ. Mà đối với cái gì có sự hình thànhsự tàn hoại được nhận thấy rõ, thì sẽ dẫn đến kết luận: 'cái tôi của tôi sinh ra và mất đi'. Do đó, điều này không hợp lý khi nói: 'mọi Điềucái tôi'. Như vậy, não là không phải cái tôi, mọi Điềukhông phải cái tôi.

Nếu ai đó nói rằng: 'sự phân biệt ý nghĩ bởi nãocái tôi', điều đó không hợp lý. sự hình thànhsự tàn hoại của sự phân biệt ý nghĩ bởi não được nhận thấy rõ. Mà đối với cái gì có sự hình thànhsự tàn hoại được nhận thấy rõ, thì sẽ dẫn đến kết luận: 'cái tôi của tôi sinh ra và mất đi'. Do đó, điều này không hợp lý khi nói: 'sự phân biệt ý nghĩ bởi nãocái tôi'. Như vậy, não là không phải cái tôi, mọi Điềukhông phải cái tôi, sự phân biệt ý nghĩ bởi nãokhông phải cái tôi.

Nếu ai đó nói rằng: 'Xúc ở não là cái tôi', điều đó không hợp lý. sự hình thànhsự tàn hoại của Xúc ở não được nhận thấy rõ. Mà đối với cái gì có sự hình thànhsự tàn hoại được nhận thấy rõ, thì sẽ dẫn đến kết luận: 'cái tôi của tôi sinh ra và mất đi'. Do đó, điều này không hợp lý khi nói: 'Xúc ở não là cái tôi'. Như vậy, não là không phải cái tôi, mọi Điềukhông phải cái tôi, sự phân biệt ý nghĩ bởi nãokhông phải cái tôi, Xúc ở não là không phải cái tôi.

Nếu ai đó nói rằng: 'Cảm Giáccái tôi', điều đó không hợp lý. sự hình thànhsự tàn hoại của Cảm Giác được nhận thấy rõ. Mà đối với cái gì có sự hình thànhsự tàn hoại được nhận thấy rõ, thì sẽ dẫn đến kết luận: 'cái tôi của tôi sinh ra và mất đi'. Do đó, điều này không hợp lý khi nói: 'Cảm Giáccái tôi'. Như vậy, não là không phải cái tôi, mọi Điềukhông phải cái tôi, sự phân biệt ý nghĩ bởi nãokhông phải cái tôi, Xúc ở não là không phải cái tôi, Cảm Giáckhông phải cái tôi.

Nếu ai đó nói rằng: 'Khát áicái tôi', điều đó không hợp lý. sự hình thànhsự tàn hoại của Khát ái được nhận thấy rõ. Mà đối với cái gì có sự hình thànhsự tàn hoại được nhận thấy rõ, thì sẽ dẫn đến kết luận: 'cái tôi của tôi sinh ra và mất đi'. Do đó, điều này không hợp lý khi nói: 'Khát áicái tôi'. Như vậy, não là không phải cái tôi, mọi Điềukhông phải cái tôi, sự phân biệt ý nghĩ bởi nãokhông phải cái tôi, Xúc ở não là không phải cái tôi, Cảm Giáckhông phải cái tôi, Khát áikhông phải cái tôi.

Này các tỳ kheo, đây là con đường đưa đến sự hình thành (sinh / samudaya) sự Thấy mình là thật (thân kiến / sakkāya)—người ấy quan sát (quán / samanupassati) mắt là: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là cái tôi của tôi'; quan sát hình ảnh là: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là cái tôi của tôi'; quan sát sự phân biệt hình ảnh bởi mắt là: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là cái tôi của tôi'; quan sát Xúc ở mắt là: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là cái tôi của tôi'; quan sát Cảm Giác là: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là cái tôi của tôi'; quan sát Khát ái là: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là cái tôi của tôi'; quan sát tai là: 'Cái này là của tôi...' ... mũi là: 'Cái này là của tôi...' ... lưỡi là: 'Cái này là của tôi...' ... cơ thể là: 'Cái này là của tôi...' ... não là: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là cái tôi của tôi', quan sát mọi Điều là: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là cái tôi của tôi', quan sát sự phân biệt ý nghĩ bởi não là: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là cái tôi của tôi', quan sát Xúc ở não là: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là cái tôi của tôi', quan sát Cảm Giác là: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là cái tôi của tôi', quan sát Khát ái là: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là cái tôi của tôi'.

Này các tỳ kheo, đây là con đường đưa đến bị chặn (diệt / nirodha) sự Thấy mình là thật—người ấy quan sát mắt là: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là cái tôi của tôi'. quan sát hình ảnh là: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là cái tôi của tôi'. quan sát sự phân biệt hình ảnh bởi mắt là: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là cái tôi của tôi'. quan sát Xúc ở mắt là: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là cái tôi của tôi'. quan sát Cảm Giác là: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là cái tôi của tôi'. quan sát Khát ái là: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là cái tôi của tôi'. quan sát tai là: 'Cái này không phải của tôi...' ... mũi là: 'Cái này không phải của tôi...' ... lưỡi là: 'Cái này không phải của tôi...' ... cơ thể là: 'Cái này không phải của tôi...' ... não là: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là cái tôi của tôi'. quan sát mọi Điều là: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là cái tôi của tôi'. quan sát sự phân biệt ý nghĩ bởi não là: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là cái tôi của tôi'. quan sát Xúc ở não là: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là cái tôi của tôi'. quan sát Cảm Giác là: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là cái tôi của tôi'. quan sát Khát ái là: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là cái tôi của tôi'.

Này các tỳ kheo, Vì duyên mắt gặp hình ảnh Nên sinh ra sự phân biệt hình ảnh bởi mắt, sự gặp gỡ của ba yếu tố này là Xúc, do điều kiện Xúc nên sinh ra cảm thọ, hoặc là Cảm Giác Dễ Chịu (thọ lạc / sukha-vedanā), hoặc là Cảm Giác Khó Chịu (thọ khổ / dukkha-vedanā), hoặc là Cảm Giác Không Dễ Chịu Không Khó Chịu (bất lạc bất khổ thọ / adukkhamasukha-vedanā). Khi được xúc chạm bởi Cảm Giác Dễ Chịu, người ấy vui thú chạy theo (hỷ lạc / abhinandati), chào đón, và bám víu vào nó. Đối với người ấy, khuynh hướng ngầm (tùy miên / anusaya) đắm nhiễm (tham / rāga) ngủ ngầm bên trong. Khi được xúc chạm bởi Cảm Giác Khó Chịu, người ấy sầu muộn, mệt mỏi, than khóc, đấm ngực, rơi vào trạng thái mê muội. Đối với người ấy, khuynh hướng ngầm Ghét bỏ và hận thù (sân / paṭigha) ngủ ngầm bên trong. Khi được xúc chạm bởi Cảm Giác Không Dễ Chịu Không Khó Chịu, người ấy không thấy rõ (tuệ tri / pajānāti) đúng như thật về sự hình thành, sự biến mất (diệt / atthaṅgama), sự hấp dẫn (vị ngọt / assāda), sự nguy hiểm (nguy hiểm / ādīnava), và thoát khỏi (xuất ly / nissaraṇa) của Cảm Giác ấy. Đối với người ấy, khuynh hướng ngầm Không Hiểu Biết (vô minh / avijjā) ngủ ngầm bên trong. Này các tỳ kheo, nếu người ấy không hoàn toàn từ bỏ (xả / pahāya) khuynh hướng ngầm đắm nhiễm đối với Cảm Giác Dễ Chịu, không loại trừ khuynh hướng ngầm Ghét bỏ và hận thù đối với Cảm Giác Khó Chịu, không nhổ tận gốc khuynh hướng ngầm Không Hiểu Biết đối với Cảm Giác Không Dễ Chịu Không Khó Chịu, không hoàn toàn từ bỏ Không Hiểu Biết và không làm phát sinh minh, mà có thể chấm dứt đau khổ (khổ / dukkha) ngay trong hiện tại—điều này không thể xảy ra.

Vì duyên tai gặp âm thanh Nên sinh ra sự phân biệt âm thanh bởi tai... Vì duyên mũi gặp mùi Nên sinh ra sự phân biệt mùi bởi mũi... Vì duyên lưỡi gặp vị Nên sinh ra sự phân biệt vị bởi lưỡi... Vì duyên cơ thể gặp xúc chạm Nên sinh ra sự phân biệt xúc chạm bởi cơ thể... Vì duyên não gặp mọi Điều Nên sinh ra sự phân biệt ý nghĩ bởi não, sự gặp gỡ của ba yếu tố này là Xúc, do điều kiện Xúc nên sinh ra cảm thọ, hoặc là Cảm Giác Dễ Chịu, hoặc là Cảm Giác Khó Chịu, hoặc là Cảm Giác Không Dễ Chịu Không Khó Chịu. Khi được xúc chạm bởi Cảm Giác Dễ Chịu, người ấy vui thú chạy theo, chào đón, và bám víu vào nó. Đối với người ấy, khuynh hướng ngầm đắm nhiễm ngủ ngầm bên trong. Khi được xúc chạm bởi Cảm Giác Khó Chịu, người ấy sầu muộn, mệt mỏi, than khóc, đấm ngực, rơi vào trạng thái mê muội. Đối với người ấy, khuynh hướng ngầm Ghét bỏ và hận thù ngủ ngầm bên trong. Khi được xúc chạm bởi Cảm Giác Không Dễ Chịu Không Khó Chịu, người ấy không thấy rõ đúng như thật về sự hình thành, sự biến mất, sự hấp dẫn, sự nguy hiểm, và thoát khỏi của Cảm Giác ấy. Đối với người ấy, khuynh hướng ngầm Không Hiểu Biết ngủ ngầm bên trong. Này các tỳ kheo, nếu người ấy không hoàn toàn từ bỏ khuynh hướng ngầm đắm nhiễm đối với Cảm Giác Dễ Chịu, không loại trừ khuynh hướng ngầm Ghét bỏ và hận thù đối với Cảm Giác Khó Chịu, không nhổ tận gốc khuynh hướng ngầm Không Hiểu Biết đối với Cảm Giác Không Dễ Chịu Không Khó Chịu, không hoàn toàn từ bỏ Không Hiểu Biết và không làm phát sinh minh, mà có thể chấm dứt đau khổ ngay trong hiện tại—điều này không thể xảy ra.

Này các tỳ kheo, Vì duyên mắt gặp hình ảnh Nên sinh ra sự phân biệt hình ảnh bởi mắt, sự gặp gỡ của ba yếu tố này là Xúc, do điều kiện Xúc nên sinh ra cảm thọ, hoặc là Cảm Giác Dễ Chịu, hoặc là Cảm Giác Khó Chịu, hoặc là Cảm Giác Không Dễ Chịu Không Khó Chịu. Khi được xúc chạm bởi Cảm Giác Dễ Chịu, người ấy không vui thú chạy theo, không chào đón, và không bám víu vào nó. Đối với người ấy, khuynh hướng ngầm đắm nhiễm không ngủ ngầm bên trong. Khi được xúc chạm bởi Cảm Giác Khó Chịu, người ấy không sầu muộn, không mệt mỏi, không than khóc, không đấm ngực, không rơi vào trạng thái mê muội. Đối với người ấy, khuynh hướng ngầm Ghét bỏ và hận thù không ngủ ngầm bên trong. Khi được xúc chạm bởi Cảm Giác Không Dễ Chịu Không Khó Chịu, người ấy thấy rõ đúng như thật về sự hình thành, sự biến mất, sự hấp dẫn, sự nguy hiểm, và thoát khỏi của Cảm Giác ấy. Đối với người ấy, khuynh hướng ngầm Không Hiểu Biết không ngủ ngầm bên trong. Này các tỳ kheo, nếu người ấy hoàn toàn từ bỏ khuynh hướng ngầm đắm nhiễm đối với Cảm Giác Dễ Chịu, loại trừ khuynh hướng ngầm Ghét bỏ và hận thù đối với Cảm Giác Khó Chịu, nhổ tận gốc khuynh hướng ngầm Không Hiểu Biết đối với Cảm Giác Không Dễ Chịu Không Khó Chịu, hoàn toàn từ bỏ Không Hiểu Biết và làm phát sinh minh, mà có thể chấm dứt đau khổ ngay trong hiện tại—điều này hoàn toàn có thể xảy ra.

Vì duyên tai gặp âm thanh Nên sinh ra sự phân biệt âm thanh bởi tai...

Vì duyên mũi gặp mùi Nên sinh ra sự phân biệt mùi bởi mũi...

Vì duyên lưỡi gặp vị Nên sinh ra sự phân biệt vị bởi lưỡi...

Vì duyên cơ thể gặp xúc chạm Nên sinh ra sự phân biệt xúc chạm bởi cơ thể...

Vì duyên não gặp mọi Điều Nên sinh ra sự phân biệt ý nghĩ bởi não, sự gặp gỡ của ba yếu tố này là Xúc, do điều kiện Xúc nên sinh ra cảm thọ, hoặc là Cảm Giác Dễ Chịu, hoặc là Cảm Giác Khó Chịu, hoặc là Cảm Giác Không Dễ Chịu Không Khó Chịu. Khi được xúc chạm bởi Cảm Giác Dễ Chịu, người ấy không vui thú chạy theo, không chào đón, và không bám víu vào nó. Đối với người ấy, khuynh hướng ngầm đắm nhiễm không ngủ ngầm bên trong. Khi được xúc chạm bởi Cảm Giác Khó Chịu, người ấy không sầu muộn, không mệt mỏi, không than khóc, không đấm ngực, không rơi vào trạng thái mê muội. Đối với người ấy, khuynh hướng ngầm Ghét bỏ và hận thù không ngủ ngầm bên trong. Khi được xúc chạm bởi Cảm Giác Không Dễ Chịu Không Khó Chịu, người ấy thấy rõ đúng như thật về sự hình thành, sự biến mất, sự hấp dẫn, sự nguy hiểm, và thoát khỏi của Cảm Giác ấy. Đối với người ấy, khuynh hướng ngầm Không Hiểu Biết không ngủ ngầm bên trong. Này các tỳ kheo, nếu người ấy hoàn toàn từ bỏ khuynh hướng ngầm đắm nhiễm đối với Cảm Giác Dễ Chịu, loại trừ khuynh hướng ngầm Ghét bỏ và hận thù đối với Cảm Giác Khó Chịu, nhổ tận gốc khuynh hướng ngầm Không Hiểu Biết đối với Cảm Giác Không Dễ Chịu Không Khó Chịu, hoàn toàn từ bỏ Không Hiểu Biết và làm phát sinh minh, mà có thể chấm dứt đau khổ ngay trong hiện tại—điều này hoàn toàn có thể xảy ra.

Thấy vậy, này các tỳ kheo, vị đệ tử bậc thánh có học chán ngán (nhàm chán / nibbindati) đối với mắt, chán ngán đối với hình ảnh, chán ngán đối với sự phân biệt hình ảnh bởi mắt, chán ngán đối với Xúc ở mắt, chán ngán đối với Cảm Giác, chán ngán đối với Khát ái.

Vị ấy chán ngán đối với tai, chán ngán đối với âm thanh... chán ngán đối với mũi, chán ngán đối với mùi... chán ngán đối với lưỡi, chán ngán đối với vị... chán ngán đối với cơ thể, chán ngán đối với xúc chạm... chán ngán đối với não, chán ngán đối với mọi Điều, chán ngán đối với sự phân biệt ý nghĩ bởi não, chán ngán đối với Xúc ở não, chán ngán đối với Cảm Giác, chán ngán đối với Khát ái. Do chán ngán, vị ấy cạn hết đắm nhiễm (ly tham / virāgā). Do cạn hết đắm nhiễm, vị ấy được giải phóng (giải thoát / vimuccati). Khi được giải phóng, có sự hiểu biết rằng: 'Ta đã được giải phóng'.

Vị ấy thấy rõ rằng: 'Sinh (sinh / jāti) đã cạn sạch (đoạn tận / khīṇā), đời sống phạm hạnh đã hoàn tất, những việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái tồn tại này nữa'.

Thế Tôn đã nói những điều này. Các tỳ kheo ấy hoan hỷ, vui mừng đón nhận (hoan hỷ / abhinandunti) lời Thế Tôn dạy. Và trong khi lời giảng này đang được nói ra, tâm của khoảng sáu mươi vị tỳ kheo đã được giải phóng khỏi các nguồn ác (lậu hoặc / āsava) mà không còn bám víu.

Kinh Sáu Nhóm Sáu kết thúc.

Bảng thuật ngữ:

Thuật ngữ PaliTừ cũ (Hán-Việt)Từ mới (Hiện đại)Ghi chú
āyatanaxứXứ
viññāṇathứcCái Biết phân biệt
phassaxúcXúc
vedanāthọCảm Giác
taṇhāáiKhát ái
cakkhāyatananhãn căngiác quan mắt
manāyatanaý căngiác quan não
rūpasắchình ảnh
dhammaphápmọi Điều
cakkhuviññāṇanhãn thứcsự phân biệt hình ảnh bởi mắt
manoviññāṇaý thứcsự phân biệt ý nghĩ bởi não
paṭiccaduyênVì duyên... Nên...
uppādasinhsự hình thành
vayadiệtsự tàn hoại
attāngãcái tôi
anattāvô ngãkhông phải cái tôi
sakkāyathân kiếnThấy mình là thật
samudayatập / sinhsự hình thành
nirodhadiệtbị chặn
sukha-vedanāthọ lạcCảm Giác Dễ Chịu
dukkha-vedanāthọ khổCảm Giác Khó Chịu
adukkhamasukha-vedanābất lạc bất khổ thọCảm Giác Không Dễ Chịu Không Khó Chịu
abhinandatihỷ lạcvui thú chạy theo
rāgathamđắm nhiễm
[!] anusayatùy miênkhuynh hướng ngầmxu hướng ngủ ngầm sâu trong tâm trí
paṭighasânGhét bỏ và hận thù
avijjāvô minhKhông Hiểu Biết
atthaṅgamadiệtsự biến mất
[!] assādavị ngọtsự hấp dẫnsự thỏa mãn bề mặt
[!] ādīnavasự nguy hiểmsự nguy hiểmhậu quả tiêu cực
nissaraṇaxuất lythoát khỏi
pajānātituệ trithấy rõ
pahāyaxả / đoạn trừhoàn toàn từ bỏ
[!] nibbindatinhàm chánchán ngánmất đi sự hứng thú
virāgāly thamcạn hết đắm nhiễm
[!] vimuccatigiải thoátđược giải phóngthoát khỏi sự trói buộc
khīṇāđoạn tậncạn sạch
āsavalậu hoặcnguồn ác
abhinanduntihoan hỷvui mừng đón nhận
manasikāratác ýsuy nghĩ đến
samanupassatiquánquan sát
dukkhakhổđau khổ
jātisinhSinh

Bản dịch: