Kinh Poṭṭhapāda (Bố-tra-bà-lâu)
1. Câu chuyện về du sĩ Poṭṭhapāda
Như vầy tôi nghe — Một thời Thế Tôn đang trú tại Sāvatthi (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại khu vườn của ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
Lúc bấy giờ, du sĩ Poṭṭhapāda đang ở tại khu vườn của hoàng hậu Mallikā, nơi có hàng cây Tinduka, trong ngôi nhà tròn dùng để biện luận, cùng với một hội chúng du sĩ đông đảo khoảng ba trăm người. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng, đắp y, cầm bát và y, đi vào thành Sāvatthi để khất thực.
Lúc ấy, Thế Tôn khởi lên ý nghĩ: "Vẫn còn quá sớm để đi khất thực ở Sāvatthi. Hay là ta đi đến khu vườn của hoàng hậu Mallikā, nơi có hàng cây Tinduka, ngôi nhà tròn dùng để biện luận, để gặp du sĩ Poṭṭhapāda". Rồi Thế Tôn đi đến đó.
Lúc bấy giờ, du sĩ Poṭṭhapāda đang ngồi với hội chúng du sĩ đông đảo, đang ồn ào, huyên náo, lớn tiếng bàn tán về đủ loại chuyện phù phiếm (tiracchānakatha). Đó là: chuyện vua chúa, chuyện trộm cướp, chuyện quan lại, chuyện quân binh, chuyện hiểm nguy, chuyện chiến tranh, chuyện đồ ăn, chuyện thức uống, chuyện y phục, chuyện giường nằm, chuyện vòng hoa, chuyện hương liệu, chuyện bà con, chuyện xe cộ, chuyện làng mạc, chuyện thị tứ, chuyện thành phố, chuyện quốc độ, chuyện phụ nữ, chuyện dũng sĩ, chuyện đường phố, chuyện bến nước, chuyện người đã khuất, chuyện linh tinh, chuyện nguồn gốc thế giới, chuyện nguồn gốc đại dương, chuyện sự hiện hữu và không hiện hữu thế này hay thế khác.
Du sĩ Poṭṭhapāda nhìn thấy Thế Tôn từ xa đi đến; thấy vậy, ông liền nhắc nhở hội chúng của mình: "Các ông hãy nhỏ tiếng, các ông chớ làm ồn. Sa-môn Gotama đang đi đến. Vị Tôn giả ấy ưa thích sự yên lặng, ca ngợi sự yên lặng. Biết đâu khi thấy hội chúng yên lặng, ông ấy sẽ ghé vào". Nghe vậy, các du sĩ liền im lặng.
Rồi Thế Tôn đi đến chỗ du sĩ Poṭṭhapāda. Du sĩ Poṭṭhapāda bạch Thế Tôn: "Mời Thế Tôn lại đây. Lành thay, bạch Thế Tôn! Đã lâu lắm rồi Thế Tôn mới có dịp quang lâm đến đây. Mời Thế Tôn ngồi, đây là chỗ đã soạn sẵn".
Thế Tôn ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn. Du sĩ Poṭṭhapāda lấy một ghế thấp khác và ngồi xuống một bên. Khi du sĩ Poṭṭhapāda đã ngồi xuống một bên, Thế Tôn nói với ông: "Này Poṭṭhapāda, các ông đang ngồi bàn luận câu chuyện gì? Câu chuyện gì đang bị gián đoạn?"
1.1. Bàn về sự diệt tận của Tưởng (Abhisaññānirodhakathā)
Nghe vậy, du sĩ Poṭṭhapāda bạch Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, hãy gác lại câu chuyện mà chúng con đang bàn luận. Câu chuyện ấy Thế Tôn có thể nghe lại sau cũng không khó.
Bạch Thế Tôn, mấy ngày trước, tại ngôi nhà thảo luận, khi các sa-môn, bà-la-môn thuộc các giáo phái khác nhau tụ họp và ngồi lại, một cuộc thảo luận về sự diệt tận của tưởng (abhisaññānirodha) đã nảy sinh: 'Thưa các bạn, làm thế nào sự diệt tận của tưởng (abhisaññānirodha) xảy ra?'
Tại đó, một số người nói như sau: 'Tưởng (saññā) của con người sinh khởi và diệt đi không có nhân, không có duyên (ahetū appaccayā). Khi nào nó sinh khởi thì người đó có tưởng; khi nào nó diệt đi thì người đó không có tưởng (asaññī)'. Một số người chủ trương sự diệt tận của tưởng như vậy.
Một người khác nói: 'Thưa các bạn, không phải như vậy. Tưởng (saññā) chính là ngã (attā) của con người. Nó đến và đi. Khi nào nó đến, người đó có tưởng; khi nào nó đi, người đó không có tưởng'. Một số người chủ trương sự diệt tận của tưởng như vậy.
Một người khác nữa nói: 'Thưa các bạn, không phải như vậy. Có những sa-môn, bà-la-môn có đại thần lực, có đại uy lực. Họ kéo tưởng (saññā) vào trong người này hoặc rút nó ra. Khi nào họ kéo vào, người đó có tưởng; khi nào họ rút ra, người đó không có tưởng'. Một số người chủ trương sự diệt tận của tưởng như vậy.
Một người khác nữa nói: 'Thưa các bạn, không phải như vậy. Có những vị chư thiên có đại thần lực, có đại uy lực. Họ kéo tưởng vào trong người này hoặc rút nó ra. Khi nào họ kéo vào, người đó có tưởng; khi nào họ rút ra, người đó không có tưởng'. Một số người chủ trương sự diệt tận của tưởng như vậy.
Bạch Thế Tôn, lúc đó con nhớ đến Ngài: 'Chắc chắn là Thế Tôn, chắc chắn là bậc Thiện Thệ, Ngài rất rành rẽ về các pháp này'. Bạch Thế Tôn, Ngài là bậc thiện xảo, Ngài thấu hiểu về sự diệt tận của tưởng. Bạch Thế Tôn, làm thế nào sự diệt tận của tưởng (abhisaññānirodha) xảy ra?"
1.2. Bàn về sự sinh và diệt của Tưởng có nguyên nhân
"Này Poṭṭhapāda, về vấn đề này, những sa-môn, bà-la-môn nào nói rằng: 'Tưởng của con người sinh khởi và diệt đi không có nhân, không có duyên', thì ngay từ đầu họ đã sai lầm. Vì sao vậy? Này Poṭṭhapāda, tưởng của con người sinh khởi và diệt đi đều có nhân, có duyên (sahetū sappaccayā). Do sự tu tập (sikkhā) mà một tưởng sinh khởi, do sự tu tập mà một tưởng diệt đi.
Sự tu tập (sikkhā) đó là gì?" Thế Tôn nói.
"Này Poṭṭhapāda, ở đây Như Lai xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác... (như đoạn kinh tiêu chuẩn về giới luật)... Này Poṭṭhapāda, vị Tỳ-kheo đầy đủ giới hạnh như vậy...
Khi quán sát thấy năm triền cái (pañcanīvaraṇe) này đã được đoạn trừ nơi tự thân, hân hoan (pāmojja) sinh khởi; do hân hoan, hỷ (pīti) sinh khởi; do tâm có hỷ, thân được khinh an (passaddhi); do thân khinh an, người ấy cảm giác lạc (sukha); do có lạc, tâm được định tĩnh (samādhi).
Vị ấy ly dục, ly các bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất (paṭhamaṁ jhānaṁ), một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh (vivekajaṁ pītisukhaṁ), có tầm (savitakkaṁ), có tứ (savicāraṁ). Khi ấy, dục tưởng (kāmasaññā) trước kia của vị ấy diệt đi. Một tưởng vi tế chân thật về hỷ lạc do ly dục sanh (vivekajapītisukhasukhumasaccasaññā) có mặt vào lúc đó; và lúc đó vị ấy trở thành người có tưởng vi tế chân thật về hỷ lạc do ly dục sanh. Như vậy, do sự tu tập mà một tưởng sinh khởi, do sự tu tập mà một tưởng diệt đi. Đây là sự tu tập," Thế Tôn nói.
"Lại nữa, này Poṭṭhapāda, làm tịnh chỉ tầm và tứ, vị ấy chứng và trú Thiền thứ hai (dutiyaṁ jhānaṁ), một trạng thái hỷ lạc do định sanh (samādhijaṁ pītisukhaṁ), không tầm (avitakkaṁ), không tứ (avicāraṁ), nội tĩnh, nhất tâm (ekodibhāvaṁ). Khi ấy, tưởng vi tế chân thật về hỷ lạc do ly dục sanh trước kia diệt đi. Một tưởng vi tế chân thật về hỷ lạc do định sanh có mặt vào lúc đó... Như vậy, do sự tu tập mà một tưởng sinh khởi, do sự tu tập mà một tưởng diệt đi. Đây cũng là sự tu tập," Thế Tôn nói.
"Lại nữa, này Poṭṭhapāda, ly hỷ (pīti), vị ấy trú xả (upekkhā), chánh niệm (sato) và tỉnh giác (sampajāno), cảm nhận lạc (sukha) nơi thân, trạng thái mà các bậc Thánh gọi là: 'Xả, chánh niệm, trú lạc', vị ấy chứng và trú Thiền thứ ba (tatiyaṁ jhānaṁ). Khi ấy, tưởng vi tế chân thật về hỷ lạc do định sanh trước kia diệt đi. Một tưởng vi tế chân thật về lạc và xả (upekkhāsukhasukhumasaccasaññā) có mặt vào lúc đó... Như vậy, do sự tu tập mà một tưởng sinh khởi, do sự tu tập mà một tưởng diệt đi. Đây cũng là sự tu tập," Thế Tôn nói.
"Lại nữa, này Poṭṭhapāda, xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, vị ấy chứng và trú Thiền thứ tư (catutthaṁ jhānaṁ), không khổ không lạc (adukkhamasukhaṁ), xả niệm thanh tịnh (upekkhāsatipārisuddhiṁ). Khi ấy, tưởng vi tế chân thật về lạc và xả trước kia diệt đi. Một tưởng vi tế chân thật về không khổ không lạc (adukkhamasukhasukhumasaccasaññā) có mặt vào lúc đó... Như vậy, do sự tu tập mà một tưởng sinh khởi, do sự tu tập mà một tưởng diệt đi. Đây cũng là sự tu tập," Thế Tôn nói.
"Lại nữa, này Poṭṭhapāda, vượt qua mọi sắc tưởng (rūpasaññā), diệt trừ các tưởng về đối ngại (paṭighasaññā), không tác ý đến các tưởng về sai biệt (nānattasaññā), nghĩ rằng 'Hư không là vô biên', vị ấy chứng và trú Không vô biên xứ (ākāsānañcāyatanaṁ). Khi ấy, sắc tưởng trước kia diệt đi. Một tưởng vi tế chân thật về Không vô biên xứ có mặt vào lúc đó... Như vậy, do sự tu tập mà một tưởng sinh khởi, do sự tu tập mà một tưởng diệt đi. Đây cũng là sự tu tập," Thế Tôn nói.
"Lại nữa, này Poṭṭhapāda, vượt qua hoàn toàn Không vô biên xứ, nghĩ rằng 'Thức là vô biên', vị ấy chứng và trú Thức vô biên xứ (viññāṇañcāyatanaṁ). Khi ấy, tưởng vi tế chân thật về Không vô biên xứ trước kia diệt đi. Một tưởng vi tế chân thật về Thức vô biên xứ có mặt vào lúc đó... Như vậy, do sự tu tập mà một tưởng sinh khởi, do sự tu tập mà một tưởng diệt đi. Đây cũng là sự tu tập," Thế Tôn nói.
"Lại nữa, này Poṭṭhapāda, vượt qua hoàn toàn Thức vô biên xứ, nghĩ rằng 'Không có gì cả', vị ấy chứng và trú Vô sở hữu xứ (ākiñcaññāyatanaṁ). Khi ấy, tưởng vi tế chân thật về Thức vô biên xứ trước kia diệt đi. Một tưởng vi tế chân thật về Vô sở hữu xứ có mặt vào lúc đó... Như vậy, do sự tu tập mà một tưởng sinh khởi, do sự tu tập mà một tưởng diệt đi. Đây cũng là sự tu tập," Thế Tôn nói.
"Này Poṭṭhapāda, khi vị Tỳ-kheo ở đây có tưởng của riêng mình (sakasaññī), vị ấy đi từ giai đoạn này đến giai đoạn khác và tuần tự chạm đến đỉnh cao của tưởng (saññagga). Khi đứng tại đỉnh cao của tưởng, vị ấy nghĩ như sau: 'Nếu ta tư duy (cetayamānassa) thì thật tệ cho ta, nếu ta không tư duy thì tốt hơn cho ta. Nếu ta tư duy, tạo tác (abhisaṅkhareyyaṁ), thì các tưởng này sẽ diệt đi, nhưng các tưởng thô phù khác sẽ sinh khởi. Hay là ta không tư duy, không tạo tác nữa'. Vị ấy không tư duy, không tạo tác. Do không tư duy, không tạo tác, các tưởng ấy diệt đi và các tưởng thô phù khác không sinh khởi. Vị ấy chạm đến sự diệt (nirodha). Này Poṭṭhapāda, như vậy là sự chứng đạt diệt tận của tưởng một cách tuần tự và có tỉnh giác (anupubbābhisaññānirodhasampajānasamāpatti).
Này Poṭṭhapāda, ông nghĩ thế nào? Trước đây ông đã từng nghe về sự chứng đạt diệt tận của tưởng một cách tuần tự và có tỉnh giác như vậy chưa?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn. Giờ đây con hiểu lời Thế Tôn dạy là: 'Khi vị Tỳ-kheo ở đây có tưởng của riêng mình, vị ấy đi từ giai đoạn này đến giai đoạn khác và tuần tự chạm đến đỉnh cao của tưởng... Vị ấy chạm đến sự diệt. Như vậy là sự chứng đạt diệt tận của tưởng một cách tuần tự và có tỉnh giác'."
"Đúng vậy, này Poṭṭhapāda."
"Bạch Thế Tôn, Ngài chủ trương chỉ có một đỉnh cao của tưởng (saññagga) hay nhiều đỉnh cao của tưởng?"
"Này Poṭṭhapāda, Ta chủ trương có một đỉnh cao của tưởng và Ta cũng chủ trương có nhiều đỉnh cao của tưởng."
"Bạch Thế Tôn, làm thế nào Ngài chủ trương cả một và nhiều đỉnh cao của tưởng?"
"Này Poṭṭhapāda, tùy theo cách vị ấy chạm đến sự diệt (nirodha) ở cấp độ nào, Ta gọi đó là đỉnh cao của tưởng ở cấp độ đó. Như vậy, Ta chủ trương có một đỉnh cao của tưởng và cũng chủ trương có nhiều đỉnh cao của tưởng."
"Bạch Thế Tôn, tưởng (saññā) sinh khởi trước rồi trí (ñāṇaṁ) sinh khởi sau, hay trí sinh khởi trước rồi tưởng sinh khởi sau, hay cả tưởng và trí sinh khởi cùng một lúc, không trước không sau?"
"Này Poṭṭhapāda, tưởng sinh khởi trước, trí sinh khởi sau; do tưởng sinh khởi mà trí sinh khởi. Vị ấy biết rõ: 'Do duyên này mà trí của ta sinh khởi'. Này Poṭṭhapāda, theo pháp môn này cần phải hiểu rằng: Tưởng sinh khởi trước, trí sinh khởi sau; do tưởng sinh khởi mà trí sinh khởi."
1.3. Bàn về Tưởng và Ngã (Saññāattakathā)
"Bạch Thế Tôn, tưởng (saññā) là ngã (attā) của con người, hay tưởng là khác và ngã là khác?"
"Này Poṭṭhapāda, ông quan niệm ngã là gì?"
"Bạch Thế Tôn, con quan niệm ngã là thô phù (oḷārika), có hình sắc, cấu tạo bởi bốn đại, tiêu thụ đoàn thực."
"Này Poṭṭhapāda, nếu ngã của ông là thô phù, có hình sắc, cấu tạo bởi bốn đại, tiêu thụ đoàn thực, thì trong trường hợp đó, tưởng là khác và ngã là khác. Này Poṭṭhapāda, theo pháp môn này cần phải hiểu rằng tưởng là khác và ngã là khác. Này Poṭṭhapāda, hãy để cái ngã thô phù, có hình sắc, cấu tạo bởi bốn đại, tiêu thụ đoàn thực ấy sang một bên; thì nơi con người này, các tưởng khác sinh khởi và các tưởng khác diệt đi. Theo pháp môn này, cần phải hiểu rằng tưởng là khác và ngã là khác."
"Bạch Thế Tôn, con quan niệm ngã là do ý tạo (manomaya), có đầy đủ chân tay và các bộ phận lớn nhỏ, không thiếu căn nào."
"Này Poṭṭhapāda, nếu ngã của ông là do ý tạo... thì trong trường hợp đó, tưởng là khác và ngã là khác... Theo pháp môn này, cần phải hiểu rằng tưởng là khác và ngã là khác."
"Bạch Thế Tôn, con quan niệm ngã là vô sắc (arūpa), do tưởng làm thành (saññāmaya)."
"Này Poṭṭhapāda, nếu ngã của ông là vô sắc, do tưởng làm thành, thì ngay cả trong trường hợp đó, tưởng là khác và ngã là khác... Theo pháp môn này, cần phải hiểu rằng tưởng là khác và ngã là khác."
"Bạch Thế Tôn, con có thể nào biết được: 'Tưởng là ngã của con người' hay 'Tưởng là khác, ngã là khác' không?"
"Này Poṭṭhapāda, thật khó cho ông, một người có kiến giải khác, có sự chấp nhận khác, có sở thích khác, có sự thực hành khác, có vị thầy khác, để biết được: 'Tưởng là ngã của con người' hay 'Tưởng là khác, ngã là khác'."
"Bạch Thế Tôn, nếu thật khó cho con... để biết được điều đó, vậy thì bạch Thế Tôn, có phải 'Thế giới là thường hằng (sassato loko), chỉ điều này là sự thật, các điều khác là rỗng tuếch' không?"
"Này Poṭṭhapāda, điều này Ta không tuyên bố (abyākata)."
"Vậy bạch Thế Tôn, có phải 'Thế giới là vô thường (asassato loko), chỉ điều này là sự thật, các điều khác là rỗng tuếch' không?"
"Này Poṭṭhapāda, điều này Ta cũng không tuyên bố."
"Vậy bạch Thế Tôn, có phải 'Thế giới là hữu biên... Thế giới là vô biên... Sinh mạng (jīva) và thân thể (sarīra) là một... Sinh mạng và thân thể là khác... Như Lai có tồn tại sau khi chết... Như Lai không tồn tại sau khi chết... Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết... Như Lai chẳng phải tồn tại cũng chẳng phải không tồn tại sau khi chết, chỉ điều này là sự thật, các điều khác là rỗng tuếch' không?"
"Này Poṭṭhapāda, điều này Ta cũng không tuyên bố."
"Bạch Thế Tôn, tại sao Ngài không tuyên bố điều đó?"
"Này Poṭṭhapāda, vì điều đó không liên hệ đến mục đích (attha), không liên hệ đến pháp (dhamma), không phải là căn bản của phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, không đưa đến ly tham, không đưa đến đoạn diệt, không đưa đến an tịnh, không đưa đến thắng trí, không đưa đến giác ngộ, không đưa đến Niết-bàn (Nibbāna). Do đó Ta không tuyên bố."
"Vậy bạch Thế Tôn, Ngài tuyên bố điều gì?"
"Này Poṭṭhapāda, Ta tuyên bố: 'Đây là Khổ (Dukkha)'; Ta tuyên bố: 'Đây là Nguyên nhân của Khổ (Dukkhasamudaya)'; Ta tuyên bố: 'Đây là Sự diệt khổ (Dukkhanirodha)'; Ta tuyên bố: 'Đây là Con đường đưa đến diệt khổ (Dukkhanirodhagāminī paṭipadā)'."
"Bạch Thế Tôn, tại sao Ngài tuyên bố điều đó?"
"Này Poṭṭhapāda, vì điều đó liên hệ đến mục đích, liên hệ đến pháp, là căn bản của phạm hạnh, đưa đến yếm ly, đưa đến ly tham, đưa đến đoạn diệt, đưa đến an tịnh, đưa đến thắng trí, đưa đến giác ngộ, đưa đến Niết-bàn. Do đó Ta tuyên bố."
"Thật vậy, bạch Thế Tôn! Thật vậy, bạch Thiện Thệ! Giờ đây, xin Thế Tôn làm những gì Ngài nghĩ là hợp thời." Rồi Thế Tôn đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra về.
Sau khi Thế Tôn ra về chưa bao lâu, các du sĩ ấy dùng những lời châm chọc như giáo nhọn (vācā sannitodakena) tấn công du sĩ Poṭṭhapāda từ mọi phía: "Ông Poṭṭhapāda này cái gì cũng tán đồng với Sa-môn Gotama: 'Thật vậy, bạch Thế Tôn! Thật vậy, bạch Thiện Thệ!'. Chúng tôi chẳng thấy Sa-môn Gotama giảng dạy một pháp nào dứt khoát (ekaṁsika) cả, như là: 'Thế giới là thường hằng' hay 'Thế giới là vô thường'..."
Nghe vậy, du sĩ Poṭṭhapāda nói với các du sĩ kia: "Này các bạn, tôi cũng không thấy Sa-môn Gotama giảng dạy một pháp nào dứt khoát như 'Thế giới là thường hằng'... Nhưng Sa-môn Gotama trình bày một con đường thực tiễn, chân xác, như thật, hợp với pháp tánh, hợp với pháp quy. Khi Ngài trình bày một con đường thực tiễn, chân xác, như thật... như vậy, làm sao một người có trí như tôi lại không tán thán lời khéo nói của Sa-môn Gotama là khéo nói được?"
2. Câu chuyện về Citta Hatthisāriputta và Poṭṭhapāda
Hai, ba ngày sau, Citta Hatthisāriputta (Citta con trai người huấn luyện voi) và du sĩ Poṭṭhapāda đi đến chỗ Thế Tôn. Đến nơi, Citta Hatthisāriputta đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Còn du sĩ Poṭṭhapāda nói những lời chào đón thân tình với Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống, du sĩ Poṭṭhapāda thuật lại cho Thế Tôn nghe chuyện các du sĩ khác đã chế giễu ông như thế nào và ông đã trả lời họ ra sao.
[Thế Tôn dạy:] "Này Poṭṭhapāda, tất cả những du sĩ ấy đều mù lòa, không có mắt; chỉ có ông là người có mắt trong số họ. Này Poṭṭhapāda, Ta có giảng dạy và tuyên bố những pháp dứt khoát (ekaṁsika); Ta cũng có giảng dạy và tuyên bố những pháp không dứt khoát (anekaṁsika).
Này Poṭṭhapāda, những pháp nào Ta giảng dạy và tuyên bố là không dứt khoát? 'Thế giới là thường hằng'... 'Như Lai chẳng phải tồn tại cũng chẳng phải không tồn tại sau khi chết' là những pháp Ta giảng dạy và tuyên bố là không dứt khoát.
Tại sao Ta giảng dạy và tuyên bố chúng là không dứt khoát? Vì chúng không liên hệ đến mục đích, không liên hệ đến pháp... không đưa đến Niết-bàn. Do đó Ta tuyên bố chúng là không dứt khoát.
2.1. Các pháp dứt khoát (Ekaṁsikadhammā)
Này Poṭṭhapāda, những pháp nào Ta giảng dạy và tuyên bố là dứt khoát? 'Đây là Khổ'... 'Đây là Con đường đưa đến diệt khổ' là những pháp Ta giảng dạy và tuyên bố là dứt khoát.
Tại sao Ta giảng dạy và tuyên bố chúng là dứt khoát? Vì chúng liên hệ đến mục đích, liên hệ đến pháp... đưa đến Niết-bàn. Do đó Ta tuyên bố chúng là dứt khoát.
Này Poṭṭhapāda, có một số sa-môn, bà-la-môn có quan điểm và kiến giải như sau: 'Sau khi chết, ngã hoàn toàn hạnh phúc (ekantasukhī) và vô bệnh'. Ta đi đến và hỏi họ: 'Có thật các tôn giả có quan điểm như vậy không?' Nếu họ xác nhận 'Phải', Ta hỏi tiếp: 'Vậy các tôn giả có sống thấy và biết thế giới hoàn toàn hạnh phúc không?' Họ trả lời: 'Không'.
Ta hỏi: 'Vậy các tôn giả có bao giờ cảm nhận ngã hoàn toàn hạnh phúc dù chỉ một đêm, một ngày, hay nửa đêm, nửa ngày không?' Họ trả lời: 'Không'.
Ta hỏi: 'Vậy các tôn giả có biết con đường, đạo lộ đưa đến sự chứng ngộ thế giới hoàn toàn hạnh phúc không?' Họ trả lời: 'Không'.
Ta hỏi: 'Vậy các tôn giả có nghe tiếng các vị trời đã sanh vào thế giới hoàn toàn hạnh phúc nói rằng: "Chư vị đi đúng đường rồi, chư vị đi thẳng đường rồi... chúng tôi nhờ thực hành như vậy mà sanh vào thế giới hoàn toàn hạnh phúc" không?' Họ trả lời: 'Không'.
Này Poṭṭhapāda, ông nghĩ sao? Nếu sự việc là như vậy, thì lời nói của các sa-môn, bà-la-môn ấy chẳng phải là không có cơ sở sao?"
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn, chắc chắn là lời nói của họ không có cơ sở."
"Này Poṭṭhapāda, ví như một người đàn ông nói: 'Tôi yêu và khao khát cô gái đẹp nhất trong xứ này (janapadakalyāṇī)'. Người ta hỏi anh ta: 'Này anh bạn, cô gái đẹp nhất xứ mà anh yêu và khao khát đó, anh có biết cô ấy thuộc giai cấp sát-đế-lỵ, bà-la-môn, phệ-xá hay thủ-đà-la không?' Anh ta trả lời: 'Không'. Người ta hỏi: 'Anh có biết tên cô ấy, dòng họ cô ấy, cô ấy cao hay thấp, da đen hay ngăm đen, hay da màu đồng, cô ấy ở làng nào, thị trấn nào, thành phố nào không?' Anh ta trả lời: 'Không'. Người ta hỏi: 'Vậy là anh yêu và khao khát cái mà anh không biết, không thấy sao?' Anh ta trả lời: 'Phải'.
Này Poṭṭhapāda, ông nghĩ sao? Nếu sự việc là như vậy, thì lời nói của người đàn ông ấy chẳng phải là không có cơ sở sao?"
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn..."
"Cũng vậy, này Poṭṭhapāda, những sa-môn, bà-la-môn nói rằng: 'Sau khi chết, ngã hoàn toàn hạnh phúc...' nhưng khi được hỏi thì họ đều trả lời 'Không'... Lời nói của họ là không có cơ sở.
Này Poṭṭhapāda, ví như một người đàn ông dựng một cái thang (nisseṇi) tại ngã tư đường để leo lên lầu đài. Người ta hỏi anh ta: 'Này anh bạn, cái lầu đài mà anh dựng thang để leo lên, anh có biết nó ở hướng Đông, hướng Nam, hướng Tây hay hướng Bắc? Nó cao, thấp hay trung bình?' Anh ta trả lời: 'Không'. Người ta hỏi: 'Vậy là anh dựng thang để leo lên cái lầu đài mà anh không biết, không thấy sao?' Anh ta trả lời: 'Phải'.
Này Poṭṭhapāda, ông nghĩ sao? Nếu sự việc là như vậy, thì lời nói của người đàn ông ấy chẳng phải là không có cơ sở sao?"
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn..."
"Cũng vậy, này Poṭṭhapāda, những sa-môn, bà-la-môn ấy... lời nói của họ là không có cơ sở."
2.2. Ba sự thọ đắc ngã (Tayoattapaṭilābha)
"Này Poṭṭhapāda, có ba sự thọ đắc ngã (attapaṭilābha) này: sự thọ đắc ngã thô phù (oḷāriko), sự thọ đắc ngã do ý tạo (manomayo), và sự thọ đắc ngã vô sắc (arūpo).
Thế nào là sự thọ đắc ngã thô phù? Là có hình sắc, cấu tạo bởi bốn đại, tiêu thụ đoàn thực. Thế nào là sự thọ đắc ngã do ý tạo? Là có hình sắc, do ý làm thành, đầy đủ chân tay và các bộ phận lớn nhỏ, không thiếu căn nào. Thế nào là sự thọ đắc ngã vô sắc? Là vô sắc, do tưởng làm thành.
Này Poṭṭhapāda, Ta thuyết pháp để đoạn trừ sự thọ đắc ngã thô phù, nhờ thực hành theo đó mà các pháp ô nhiễm (saṅkilesikā dhammā) được đoạn trừ, các pháp thanh tịnh (vodāniyā dhammā) được tăng trưởng, và ngay trong hiện tại, tự mình thắng tri, chứng ngộ và an trú trong sự viên mãn và quảng đại của trí tuệ. Này Poṭṭhapāda, có thể ông nghĩ rằng: 'Các pháp ô nhiễm được đoạn trừ... nhưng cuộc sống sẽ khổ sở'. Không nên nhìn nhận như vậy. Khi các pháp ô nhiễm được đoạn trừ... thì sẽ có hân hoan (pāmujja), hỷ (pīti), khinh an (passaddhi), niệm (sati), tỉnh giác (sampajañña) và cuộc sống an lạc (sukha).
Này Poṭṭhapāda, Ta thuyết pháp để đoạn trừ sự thọ đắc ngã do ý tạo... Ta thuyết pháp để đoạn trừ sự thọ đắc ngã vô sắc... (tương tự như trên)... sẽ có hân hoan, hỷ, khinh an, niệm, tỉnh giác và cuộc sống an lạc.
Này Poṭṭhapāda, nếu người khác hỏi Ta: 'Thưa Hiền giả, sự thọ đắc ngã thô phù mà Ngài thuyết pháp để đoạn trừ... là cái gì?' Ta sẽ trả lời họ: 'Chính là cái [ngã] này đây (chỉ vào thân hiện tại) mà Ta thuyết pháp để đoạn trừ...'
Nếu người khác hỏi Ta về sự thọ đắc ngã do ý tạo... hay sự thọ đắc ngã vô sắc... Ta cũng sẽ trả lời tương tự.
Này Poṭṭhapāda, ông nghĩ sao? Nếu sự việc là như vậy, thì lời nói ấy chẳng phải là có cơ sở sao?"
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn, lời nói ấy chắc chắn là có cơ sở."
"Này Poṭṭhapāda, ví như một người đàn ông dựng một cái thang để leo lên lầu đài ngay bên dưới lầu đài ấy. Người ta hỏi anh ta... Anh ta trả lời: 'Chính là cái lầu đài này đây mà tôi dựng thang để leo lên, ngay bên dưới nó'. Ông nghĩ sao, lời nói ấy có cơ sở không?"
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn..."
"Cũng vậy, này Poṭṭhapāda... lời nói của Ta là có cơ sở."
Nghe vậy, Citta Hatthisāriputta bạch Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, khi sự thọ đắc ngã thô phù hiện hữu, thì lúc đó sự thọ đắc ngã do ý tạo và ngã vô sắc là rỗng tuếch (mogha), chỉ có sự thọ đắc ngã thô phù là thật (sacca)? Khi sự thọ đắc ngã do ý tạo hiện hữu... Khi sự thọ đắc ngã vô sắc hiện hữu...?"
"Này Citta, khi sự thọ đắc ngã thô phù hiện hữu, nó không được gọi là sự thọ đắc ngã do ý tạo, cũng không gọi là sự thọ đắc ngã vô sắc; lúc đó nó chỉ được gọi là sự thọ đắc ngã thô phù. Khi sự thọ đắc ngã do ý tạo hiện hữu... Khi sự thọ đắc ngã vô sắc hiện hữu... nó chỉ được gọi là sự thọ đắc ngã vô sắc.
Này Citta, nếu người ta hỏi ông: 'Trong quá khứ ông có tồn tại không, hay không tồn tại? Trong tương lai ông sẽ tồn tại không, hay sẽ không tồn tại? Hiện tại ông đang tồn tại không, hay không tồn tại?' Ông sẽ trả lời thế nào?"
"Bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời: 'Trong quá khứ con đã tồn tại, không phải là không tồn tại. Trong tương lai con sẽ tồn tại, không phải là sẽ không tồn tại. Hiện tại con đang tồn tại, không phải là không tồn tại'."
"Này Citta, nếu người ta hỏi ông: 'Sự thọ đắc ngã quá khứ của ông là thật, còn tương lai và hiện tại là rỗng tuếch? Sự thọ đắc ngã tương lai là thật...? Sự thọ đắc ngã hiện tại là thật...?' Ông sẽ trả lời thế nào?"
"Bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời: 'Sự thọ đắc ngã quá khứ của con là thật vào lúc đó, còn tương lai và hiện tại là rỗng tuếch. Sự thọ đắc ngã tương lai của con sẽ là thật vào lúc đó... Sự thọ đắc ngã hiện tại của con là thật vào lúc này, còn quá khứ và tương lai là rỗng tuếch'."
"Cũng vậy, này Citta, khi sự thọ đắc ngã thô phù hiện hữu... nó chỉ được gọi là sự thọ đắc ngã thô phù...
Này Citta, ví như từ sữa (khīra) làm ra lạc (dadhi - sữa đông), từ lạc làm ra sanh tô (navanīta - bơ tươi), từ sanh tô làm ra thục tô (sappi - bơ lỏng), từ thục tô làm ra đề hồ (sappimaṇḍo - tinh chất bơ). Khi nó là sữa, nó không được gọi là lạc, sanh tô, thục tô hay đề hồ; lúc đó nó chỉ được gọi là sữa. Khi nó là lạc... Khi nó là đề hồ... nó chỉ được gọi là đề hồ.
Cũng vậy, này Citta, khi sự thọ đắc ngã thô phù hiện hữu... nó chỉ được gọi là sự thọ đắc ngã thô phù. Này Citta, đây là những tên gọi thế gian (lokasamaññā), ngôn ngữ thế gian (lokaniruttiyo), danh xưng thế gian (lokavohārā), khái niệm thế gian (lokapaññattiyo) mà Như Lai sử dụng nhưng không chấp thủ (aparāmasan)."
Nghe vậy, du sĩ Poṭṭhapāda bạch Thế Tôn: "Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỳ-kheo. Mong Thế Tôn nhận con làm cư sĩ từ nay cho đến mạng chung."
2.3. Citta Hatthisāriputta xuất gia
Citta Hatthisāriputta bạch Thế Tôn: "Thật vi diệu, bạch Thế Tôn!... Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỳ-kheo. Mong con được xuất gia (pabbajjaṁ), được thọ đại giới (upasampadaṁ) trong sự hiện diện của Thế Tôn."
Citta Hatthisāriputta đã được xuất gia, được thọ đại giới trong sự hiện diện của Thế Tôn. Sau khi thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Citta sống một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Không bao lâu sau, vị ấy tự mình thắng tri, chứng ngộ và an trú ngay trong hiện tại mục đích tối thượng của phạm hạnh mà vì đó các thiện nam tử đã chân chánh xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình. Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa (nāparaṁ itthattāyā)".
Và Tôn giả Citta Hatthisāriputta trở thành một vị A-la-hán.
Kinh Poṭṭhapāda thứ chín hoàn mãn.