KINH LƯỚI TRỜI
(Brahmajālasutta)
1. Câu chuyện về những người du sĩ (Paribbājakakathā)
Tôi đã nghe như vầy: Một thời Thế Tôn đang đi trên con đường cái giữa Rājagaha (Vương Xá) và Nāḷanda cùng với một Tăng chúng tỳ kheo đông đảo, khoảng năm trăm vị. Lúc bấy giờ, du sĩ Suppiya cũng đang đi trên con đường cái giữa Rājagaha và Nāḷanda cùng với người đệ tử là thanh niên Brahmadatta. Tại đó, du sĩ Suppiya dùng nhiều phương thức để nói lời chê bai Phật, chê bai Điều dạy (Pháp / Dhamma), chê bai Tăng chúng; trong khi đó, người đệ tử của du sĩ Suppiya là thanh niên Brahmadatta lại dùng nhiều phương thức để nói lời ca ngợi Phật, ca ngợi Điều dạy, ca ngợi Tăng chúng. Như vậy, hai thầy trò có những quan điểm hoàn toàn trái ngược nhau, cứ đi theo sát phía sau Thế Tôn và Tăng chúng tỳ kheo.
Sau đó, Thế Tôn đi đến khu vườn Ambalaṭṭhikā, vào nghỉ một đêm tại nhà nghỉ của nhà vua cùng với Tăng chúng tỳ kheo. Du sĩ Suppiya cũng đi đến khu vườn Ambalaṭṭhikā, vào nghỉ một đêm tại nhà nghỉ của nhà vua cùng với người đệ tử là thanh niên Brahmadatta. Tại đó, du sĩ Suppiya lại dùng nhiều phương thức để nói lời chê bai Phật, chê bai Điều dạy, chê bai Tăng chúng; còn người đệ tử Brahmadatta lại dùng nhiều phương thức để nói lời ca ngợi Phật, ca ngợi Điều dạy, ca ngợi Tăng chúng. Như vậy, hai thầy trò có những quan điểm hoàn toàn trái ngược nhau trong lúc lưu trú.
Đến lúc rạng sáng, nhiều tỳ kheo thức dậy, ngồi tụ họp tại ngôi nhà tròn và câu chuyện sau đây được khởi lên:
"Thật kỳ diệu, thưa các hiền giả! Thật phi thường, thưa các hiền giả! Thế Tôn, bậc thấy rõ (tuệ tri / pajānāti), bậc thấy, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác đã thấu hiểu rõ ràng sự đa dạng về khuynh hướng của chúng sinh. Vì du sĩ Suppiya này dùng nhiều phương thức chê bai Phật, chê bai Điều dạy, chê bai Tăng chúng; trong khi người đệ tử Brahmadatta lại dùng nhiều phương thức ca ngợi Phật, ca ngợi Điều dạy, ca ngợi Tăng chúng. Hai thầy trò có những quan điểm hoàn toàn trái ngược nhau, cứ đi theo sát phía sau Thế Tôn và Tăng chúng tỳ kheo."
Thế Tôn biết được câu chuyện của các tỳ kheo, liền đi đến ngôi nhà tròn, ngồi xuống chỗ đã được dọn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi các tỳ kheo: "Này các tỳ kheo, các vị đang ngồi tụ họp ở đây bàn luận về chủ đề gì, và câu chuyện gì đang bị bỏ dở?"
Khi được hỏi vậy, các tỳ kheo bạch Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, lúc rạng sáng chúng con thức dậy, ngồi tụ họp tại ngôi nhà tròn và câu chuyện này được khởi lên: 'Thật kỳ diệu... [như trên]... cứ đi theo sát phía sau Thế Tôn và Tăng chúng tỳ kheo'. Bạch Thế Tôn, đây là câu chuyện của chúng con đang bị bỏ dở thì Thế Tôn quang lâm."
"Này các tỳ kheo, nếu có người khác chê bai Ta, chê bai Điều dạy, hay chê bai Tăng chúng, các vị không nên vì thế mà sinh lòng oán hận, bất mãn hay phật ý. Này các tỳ kheo, nếu có người khác chê bai Ta, chê bai Điều dạy, hay chê bai Tăng chúng, mà các vị lại tức giận hay không vui, thì điều đó sẽ trở thành chướng ngại cho chính các vị. Này các tỳ kheo, nếu có người khác chê bai Ta, chê bai Điều dạy, hay chê bai Tăng chúng, mà các vị lại tức giận hay không vui, thì liệu các vị có thể nhận biết được lời nói của người khác là đúng hay sai không?"
"Dạ không thể, bạch Thế Tôn."
"Này các tỳ kheo, nếu có người khác chê bai Ta, chê bai Điều dạy, hay chê bai Tăng chúng, các vị cần phải giải thích rõ những điều không đúng sự thật là không đúng sự thật: 'Điều này là không đúng sự thật, điều này là không chính xác, điều này không có ở nơi chúng tôi, điều này không tồn tại ở nơi chúng tôi'.
Này các tỳ kheo, nếu có người khác ca ngợi Ta, ca ngợi Điều dạy, hay ca ngợi Tăng chúng, các vị không nên vì thế mà sinh lòng vui sướng, hân hoan hay tự mãn trong tâm. Này các tỳ kheo, nếu có người khác ca ngợi Ta, ca ngợi Điều dạy, hay ca ngợi Tăng chúng, mà các vị lại vui sướng, hân hoan, tự mãn, thì điều đó sẽ trở thành chướng ngại cho chính các vị. Này các tỳ kheo, nếu có người khác ca ngợi Ta, ca ngợi Điều dạy, hay ca ngợi Tăng chúng, các vị cần phải xác nhận những điều đúng sự thật là đúng sự thật: 'Điều này là đúng sự thật, điều này là chính xác, điều này có ở nơi chúng tôi, điều này tồn tại ở nơi chúng tôi'.
2. Giới đức (Sīla)
2.1. Giới đức nhỏ (Cūḷasīla)
Này các tỳ kheo, khi một người thường ca ngợi Người Đến Như Vậy (Như Lai / tathāgata), họ chỉ nói đến những điều nhỏ nhặt, thấp kém, chỉ thuộc về giới đức. Vậy những điều nhỏ nhặt, thấp kém, thuộc về giới đức ấy là gì?
'Sa-môn Gotama đã từ bỏ việc sát sinh, tránh xa việc sát sinh, bỏ gậy gộc, bỏ vũ khí, có lòng tàm quý, có lòng từ bi, sống thương xót đến lợi ích của mọi sinh vật và loài hữu tình' — Này các tỳ kheo, người thường có thể nói như vậy khi ca ngợi Người Đến Như Vậy .
'Sa-môn Gotama đã từ bỏ việc lấy của không cho, tránh xa việc lấy của không cho, chỉ nhận những gì được cho, chỉ mong đợi những gì được cho, sống với tâm thanh sạch, không trộm cắp' — ...
'Sa-môn Gotama đã từ bỏ đời sống không phạm hạnh, sống đời phạm hạnh, sống tách biệt, tránh xa hành vi giao cấu của người đời' — ...
'Sa-môn Gotama đã từ bỏ lời nói dối, tránh xa lời nói dối, nói lời chân thật, giữ lời hứa, đáng tin cậy, không lừa gạt thế gian' — ...
'Sa-môn Gotama đã từ bỏ lời nói chia rẽ, tránh xa lời nói chia rẽ; nghe điều gì ở đây không đem kể lại ở kia để gây chia rẽ những người này, nghe điều gì ở kia không đem kể lại ở đây để gây chia rẽ những người kia. Ngài là người hàn gắn những kẻ ly gián, khuyến khích những người hòa hợp, yêu thích sự hòa hợp, vui thích sự hòa hợp, hân hoan trong sự hòa hợp, nói những lời tạo ra sự hòa hợp' — ...
'Sa-môn Gotama đã từ bỏ lời nói thô ác, tránh xa lời nói thô ác; ngài chỉ nói những lời không lỗi lầm, êm tai, dễ thương, đi vào lòng người, tao nhã, được nhiều người yêu thích, làm hài lòng nhiều người' — ...
'Sa-môn Gotama đã từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm; ngài nói đúng lúc, nói sự thật, nói điều có ý nghĩa, nói về Điều dạy, nói về kỷ luật; ngài nói những lời đáng được ghi nhớ, hợp thời, có lý lẽ, có chừng mực, mang lại lợi ích' — ...
'Sa-môn Gotama tránh xa việc làm tổn hại hạt giống và cây cối' — Này các tỳ kheo... [giản lược]...
'Sa-môn Gotama chỉ ăn một bữa, không ăn vào ban đêm, tránh xa việc ăn sái giờ....
Tránh xa việc xem múa, hát, nhạc, các buổi biểu diễn....
Tránh xa việc đeo vòng hoa, dùng hương liệu, thoa phấn, trang điểm và làm đẹp....
Tránh xa việc nằm giường cao và giường lớn....
Tránh xa việc nhận vàng và bạc.... Tránh xa việc nhận hạt ngũ cốc sống.... Tránh xa việc nhận thịt sống.... Tránh xa việc nhận phụ nữ và thiếu nữ.... Tránh xa việc nhận nô lệ nam và nữ.... Tránh xa việc nhận dê và cừu.... Tránh xa việc nhận gà và lợn.... Tránh xa việc nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái.... Tránh xa việc nhận ruộng đất và tài sản....
Tránh xa việc làm người đưa tin hay chạy việc.... Tránh xa việc mua và bán.... Tránh xa việc gian lận bằng cân, gian lận bằng tiền kim loại, gian lận bằng đấu lường.... Tránh xa việc hối lộ, lừa gạt, lừa đảo và các thủ đoạn quanh co.... Tránh xa việc cắt xẻo, giết hại, trói buộc, cướp bóc, cướp đoạt và bạo lực' — Này các tỳ kheo, người thường có thể nói như vậy khi ca ngợi Người Đến Như Vậy .
Kết thúc phần Giới đức nhỏ.
2.2. Giới đức trung bình (Majjhimasīla)
'Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn ăn những thức ăn được cúng dường bởi người có lòng tin, họ lại sống làm tổn hại hạt giống và cây cối như là: hạt giống từ rễ, hạt giống từ thân, hạt giống từ đốt, hạt giống từ ngọn, và thứ năm là hạt giống từ chính hạt; Sa-môn Gotama tránh xa việc làm tổn hại hạt giống và cây cối như vậy' — Này các tỳ kheo, người thường có thể nói như vậy khi ca ngợi Người Đến Như Vậy.
'Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn... sống đam mê việc tích trữ đồ dùng, cụ thể là: tích trữ thức ăn, tích trữ đồ uống, tích trữ quần áo, tích trữ xe cộ, tích trữ giường nằm, tích trữ hương liệu, tích trữ vật dụng; Sa-môn Gotama tránh xa việc tích trữ đồ dùng như vậy' — ...
'Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn... sống đam mê việc xem các buổi biểu diễn, cụ thể là: múa, hát, nhạc, kịch, kể chuyện, gõ nhịp bằng tay, gọi hồn, đánh trống, cảnh đẹp, trò xiếc của người chiên-đà-la, leo sào, nhào lộn, chọi voi, chọi ngựa, chọi trâu, chọi bò, chọi dê, chọi cừu, chọi gà, chọi chim cút, đấu gậy, đấu quyền anh, đấu vật, diễn tập quân sự, duyệt binh, dàn trận, xem quân đội; Sa-môn Gotama tránh xa việc xem các buổi biểu diễn như vậy' — ...
'Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn... sống đam mê các trò chơi cờ bạc gây lơ đễnh, cụ thể là: cờ tám ô, cờ mười ô, cờ trên không, nhảy lò cò, xếp hình, chơi súc sắc, chơi gậy, nhúng tay vào thuốc nhuộm rồi in lên tường, chơi bi, thổi ống tiêu bằng lá, cày bằng cày đồ chơi, nhào lộn, chong chóng, đo lường bằng lá, xe đồ chơi, cung đồ chơi, đoán chữ, đoán ý nghĩ, bắt chước dị tật; Sa-môn Gotama tránh xa các trò chơi cờ bạc gây lơ đễnh như vậy' — ...
'Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn... sống đam mê việc sử dụng giường cao và giường lớn, cụ thể là: ghế dài, giường có nệm, thảm lông dài, thảm dệt nhiều màu, thảm trắng, thảm len thêu hoa, thảm bông, thảm len thêu hình thú, thảm len có lông hai mặt, thảm len có lông một mặt, thảm lụa đính ngọc, thảm lụa, thảm dệt bằng lông, thảm trải lưng voi, thảm trải lưng ngựa, thảm trải xe, thảm da linh dương, thảm da nai cao cấp, thảm có mái che, ghế có gối tựa đầu và chân màu đỏ; Sa-môn Gotama tránh xa việc sử dụng giường cao và giường lớn như vậy' — ...
'Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn... sống đam mê việc trang điểm và làm đẹp, cụ thể là: xoa bóp, đấm bóp, tắm gội, xoa nắn, dùng gương, dùng phấn mắt, đeo vòng hoa, dùng hương liệu, thoa phấn, xoa phấn mặt, bôi kem mặt, đeo vòng tay, buộc tóc, mang gậy, mang ống thuốc, mang gươm, che ô, mang giày thêu, đội khăn xếp, đeo ngọc, cầm quạt đuôi ngựa, mặc áo trắng có tua dài; Sa-môn Gotama tránh xa việc trang điểm và làm đẹp như vậy' — ...
'Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn... sống đam mê những câu chuyện vô bổ, cụ thể là: chuyện về vua chúa, chuyện về kẻ trộm, chuyện về quan lại, chuyện về quân đội, chuyện về sự sợ hãi, chuyện về chiến tranh, chuyện về thức ăn, chuyện về đồ uống, chuyện về quần áo, chuyện về giường nằm, chuyện về vòng hoa, chuyện về hương liệu, chuyện về họ hàng, chuyện về xe cộ, chuyện về làng mạc, chuyện về thị trấn, chuyện về thành phố, chuyện về quốc gia, chuyện về phụ nữ, chuyện về anh hùng, chuyện về đường phố, chuyện về bến nước, chuyện về người chết, chuyện tạp nham, chuyện về nguồn gốc thế giới, chuyện về nguồn gốc đại dương, chuyện về sự tồn tại và không tồn tại; Sa-môn Gotama tránh xa những câu chuyện vô bổ như vậy' — ...
'Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn... sống đam mê những cuộc tranh luận gay gắt, cụ thể là: "Ông không hiểu Điều dạy và kỷ luật này, tôi mới hiểu Điều dạy và kỷ luật này. Làm sao ông hiểu được Điều dạy và kỷ luật này? Ông đang thực hành sai, tôi mới thực hành đúng. Lời của tôi có lý, lời của ông vô lý. Điều nên nói trước ông lại nói sau, điều nên nói sau ông lại nói trước. Những gì ông suy nghĩ kỹ đã bị lật ngược. Quan điểm của ông đã bị bác bỏ, ông đã bị đánh bại. Hãy đi tìm cách gỡ rối cho quan điểm của mình, hoặc hãy tự giải thoát nếu ông có thể"; Sa-môn Gotama tránh xa những cuộc tranh luận gay gắt như vậy' — ...
'Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn... sống đam mê việc làm người đưa tin hay chạy việc, cụ thể là: cho các vị vua, quan lại, quý tộc, bà-la-môn, gia chủ, thanh niên, với yêu cầu "Hãy đi đến đây, hãy đi đến kia, hãy mang cái này đi, hãy mang cái kia về"; Sa-môn Gotama tránh xa việc làm người đưa tin hay chạy việc như vậy' — ...
'Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn ăn những thức ăn được cúng dường bằng đức tin, họ lại là những kẻ lừa đảo, nịnh hót, bói toán, tống tiền, dùng lợi lộc để kiếm lợi lộc; Sa-môn Gotama tránh xa sự lừa đảo và nịnh hót như vậy' — Này các tỳ kheo, người thường có thể nói như vậy khi ca ngợi Người Đến Như Vậy.
Kết thúc phần Giới đức trung bình.
2.3. Giới đức lớn (Mahāsīla)
'Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn ăn những thức ăn được cúng dường bởi người có lòng tin, họ lại nuôi sống bản thân bằng tà mạng qua các môn tà thuật, cụ thể là: xem tướng tay chân, xem điềm báo, xem sấm sét, giải mộng, xem tướng, xem vết chuột cắn, tế lửa bằng bơ, tế lửa bằng muôi, tế lửa bằng vỏ trấu, tế lửa bằng cám, tế lửa bằng gạo, tế lửa bằng bơ lỏng, tế lửa bằng dầu, tế lửa bằng miệng, tế lửa bằng máu, xem tướng cơ thể, xem phong thủy nhà cửa, xem tướng đất đai, bói toán ở nghĩa địa, trừ tà, bói toán bằng bùa chú, bói rắn, bói độc, bói bò cạp, bói chuột, bói chim, bói quạ, đoán tuổi thọ, làm bùa hộ mệnh chống tên bắn, hiểu tiếng kêu của thú; Sa-môn Gotama tránh xa tà mạng qua các môn tà thuật như vậy' — Này các tỳ kheo, người thường có thể nói như vậy khi ca ngợi Người Đến Như Vậy .
'Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn... nuôi sống bản thân bằng tà mạng qua các môn tà thuật, cụ thể là: xem tướng ngọc, xem tướng áo, xem tướng gậy, xem tướng vũ khí, xem tướng gươm, xem tướng mũi tên, xem tướng cung, xem tướng binh khí, xem tướng phụ nữ, xem tướng đàn ông, xem tướng bé trai, xem tướng bé gái, xem tướng nô lệ nam, xem tướng nô lệ nữ, xem tướng voi, xem tướng ngựa, xem tướng trâu, xem tướng bò đực, xem tướng bò cái, xem tướng dê, xem tướng cừu, xem tướng gà, xem tướng chim cút, xem tướng kỳ đà, xem tướng khuyên tai, xem tướng rùa, xem tướng nai; Sa-môn Gotama tránh xa tà mạng qua các môn tà thuật như vậy' — ...
'Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn... nuôi sống bản thân bằng tà mạng qua các môn tà thuật, cụ thể là: đoán vua sẽ xuất quân, đoán vua sẽ không xuất quân, đoán vua phe mình sẽ tấn công, đoán vua phe địch sẽ rút lui, đoán vua phe địch sẽ tấn công, đoán vua phe mình sẽ rút lui, đoán vua phe mình sẽ thắng, đoán vua phe địch sẽ thua, đoán vua phe địch sẽ thắng, đoán vua phe mình sẽ thua, đoán người này sẽ thắng, đoán người này sẽ thua; Sa-môn Gotama tránh xa tà mạng qua các môn tà thuật như vậy' — ...
'Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn... nuôi sống bản thân bằng tà mạng qua các môn tà thuật, cụ thể là: đoán nhật thực, đoán nguyệt thực, đoán sao che khuất nhau, đoán mặt trời mặt trăng đi đúng quỹ đạo, đoán mặt trời mặt trăng đi chệch quỹ đạo, đoán các vì sao đi đúng quỹ đạo, đoán các vì sao đi chệch quỹ đạo, đoán sao băng rơi, đoán cháy chân trời, đoán động đất, đoán sấm sét, đoán mặt trời mặt trăng các vì sao mọc lặn mờ tỏ, đoán kết quả của nhật thực, đoán kết quả của nguyệt thực, đoán kết quả của sao che khuất nhau, đoán kết quả của mặt trời mặt trăng đi đúng quỹ đạo, đoán kết quả của mặt trời mặt trăng đi chệch quỹ đạo, đoán kết quả của các vì sao đi đúng quỹ đạo, đoán kết quả của các vì sao đi chệch quỹ đạo, đoán kết quả của sao băng rơi, đoán kết quả của cháy chân trời, đoán kết quả của động đất, đoán kết quả của sấm sét, đoán kết quả của mặt trời mặt trăng các vì sao mọc lặn mờ tỏ; Sa-môn Gotama tránh xa tà mạng qua các môn tà thuật như vậy' — ...
'Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn... nuôi sống bản thân bằng tà mạng qua các môn tà thuật, cụ thể là: đoán mưa thuận, đoán mưa nghịch, đoán được mùa, đoán mất mùa, đoán an ninh, đoán nguy hiểm, đoán bệnh tật, đoán sức khỏe, tính toán bằng ngón tay, tính toán bằng trí nhớ, tính toán bằng con số, làm thơ, tranh luận triết học; Sa-môn Gotama tránh xa tà mạng qua các môn tà thuật như vậy' — ...
'Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn... nuôi sống bản thân bằng tà mạng qua các môn tà thuật, cụ thể là: xem ngày cưới hỏi, xem ngày ly hôn, xem ngày hòa giải, xem ngày chia rẽ, xem ngày thu tiền, xem ngày chi tiền, làm bùa may mắn, làm bùa xui xẻo, làm bùa sẩy thai, làm phép cứng lưỡi, làm phép khóa hàm, làm phép vẫy tay, làm phép ù tai, bói gương, bói thiếu nữ, bói thần linh, thờ mặt trời, thờ Đại Phạm Thiên, gọi lửa từ miệng, gọi nữ thần may mắn; Sa-môn Gotama tránh xa tà mạng qua các môn tà thuật như vậy' — ...
'Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn... nuôi sống bản thân bằng tà mạng qua các môn tà thuật, cụ thể là: làm lễ cầu an, làm lễ khấn vái, làm phép trừ tà, làm phép cầu tài, làm phép cầu mưa, làm phép cầu tạnh, làm lễ động thổ, làm lễ cất nhà, súc miệng, tắm rửa, cúng tế, cho thuốc mửa, cho thuốc xổ, cho thuốc xổ trên, cho thuốc xổ dưới, cho thuốc xổ đầu, nhỏ dầu vào tai, nhỏ thuốc vào mắt, hít thuốc qua mũi, bôi thuốc mỡ, bôi thuốc làm mát, chữa bệnh bằng kim, chữa bệnh bằng phẫu thuật, chữa bệnh cho trẻ em, kê đơn thuốc rễ cây, kê đơn thuốc thảo mộc; Sa-môn Gotama tránh xa tà mạng qua các môn tà thuật như vậy' — Này các tỳ kheo, người thường có thể nói như vậy khi ca ngợi Người Đến Như Vậy .
Này các tỳ kheo, đây chỉ là những điều nhỏ nhặt, thấp kém, chỉ thuộc về giới đức, mà người thường có thể nói đến khi ca ngợi Người Đến Như Vậy.
Kết thúc phần Giới đức lớn.
3. Quan điểm sai (tà kiến / diṭṭhi)
3.1. Người suy đoán về quá khứ (bản tế trạch kiếp / pubbantakappika)
Này các tỳ kheo, có những Điều khác sâu kín, khó thấy, khó hiểu, bình an, cao tột, vượt ngoài tầm lý luận, tinh tế, chỉ những bậc trí mới có thể trải nghiệm, mà Người Đến Như Vậy đã tự mình hiểu biết trực tiếp (thắng tri / abhiññā), chứng ngộ và thuyết giảng, và chính những Điều này mà những ai nói lời ca ngợi chân thực về Người Đến Như Vậy sẽ là nói một cách đúng đắn. Này các tỳ kheo, những Điều sâu kín, khó thấy, khó hiểu... mà Người Đến Như Vậy đã tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ và thuyết giảng đó là gì?
Này các tỳ kheo, có một số sa-môn, bà-la-môn là những người suy đoán về quá khứ, có những quan điểm sai về quá khứ, họ đưa ra nhiều lập luận khác nhau về quá khứ dựa trên mười tám cơ sở. Những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu, căn cứ vào đâu mà trở thành những người suy đoán về quá khứ, có những quan điểm sai về quá khứ, đưa ra nhiều lập luận khác nhau về quá khứ dựa trên mười tám cơ sở?
3.1.1. Thuyết vĩnh hằng (thường kiến / sassatavāda)
Này các tỳ kheo, có một số sa-môn, bà-la-môn theo thuyết vĩnh hằng, họ tuyên bố rằng bản ngã (ngã / attā) và thế giới (thế giới / loka) là vĩnh hằng dựa trên bốn cơ sở. Những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu, căn cứ vào đâu mà theo thuyết vĩnh hằng, tuyên bố rằng bản ngã và thế giới là vĩnh hằng dựa trên bốn cơ sở?
Ở đây, này các tỳ kheo, có một sa-môn hay bà-la-môn nhờ nỗ lực, nhờ tinh tấn, nhờ chuyên tâm, nhờ không phóng dật, nhờ suy nghĩ đúng đắn (chánh tác ý / sammāmanasikāra) mà đạt đến một trạng thái định tâm; khi tâm đã định tĩnh (...) vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ. Cụ thể là—nhớ lại một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều trăm đời, nhiều ngàn đời, nhiều trăm ngàn đời: 'Tại nơi kia, ta đã có tên như thế này, dòng họ như thế này, ngoại hình như thế này, thức ăn như thế này, trải nghiệm hạnh phúc (lạc / sukha) và đau khổ (khổ / dukkha) như thế này, tuổi thọ như thế này; sau khi chết từ đó, ta sinh ra ở nơi nọ; tại nơi nọ, ta cũng có tên như thế này, dòng họ như thế này, ngoại hình như thế này, thức ăn như thế này, trải nghiệm hạnh phúc và đau khổ như thế này, tuổi thọ như thế này; sau khi chết từ đó, ta sinh ra ở đây'. Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ cùng với các đặc điểm và chi tiết.
Vị ấy nói thế này: 'Bản ngã và thế giới là vĩnh hằng, vô sinh, đứng vững như đỉnh núi, kiên cố như trụ đá; còn những chúng sinh kia thì chạy vòng quanh, luân hồi, chết đi và sinh lại, nhưng vẫn có một cái gì đó tồn tại vĩnh hằng. Vì sao vậy? Vì ta nhờ nỗ lực, nhờ tinh tấn, nhờ chuyên tâm, nhờ không phóng dật, nhờ suy nghĩ đúng đắn mà đạt đến một trạng thái định tâm; khi tâm đã định tĩnh, ta nhớ lại nhiều đời sống quá khứ... [như trên]... Như vậy, ta nhớ lại nhiều đời sống quá khứ cùng với các đặc điểm và chi tiết.
Nhờ điều này mà ta biết được điều này:
"Rằng bản ngã và thế giới là vĩnh hằng, vô sinh, đứng vững như đỉnh núi, kiên cố như trụ đá; còn những chúng sinh kia thì chạy vòng quanh, luân hồi, chết đi và sinh lại, nhưng vẫn có một cái gì đó tồn tại vĩnh hằng"'. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ nhất, dựa vào đó, căn cứ vào đó mà một số sa-môn, bà-la-môn theo thuyết vĩnh hằng, tuyên bố rằng bản ngã và thế giới là vĩnh hằng.
Thứ hai, những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu, căn cứ vào đâu mà theo thuyết vĩnh hằng, tuyên bố rằng bản ngã và thế giới là vĩnh hằng? Ở đây, này các tỳ kheo, có một sa-môn hay bà-la-môn nhờ nỗ lực... nhờ suy nghĩ đúng đắn mà đạt đến một trạng thái định tâm; khi tâm đã định tĩnh, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ. Cụ thể là—nhớ lại một sự co lại và giãn nở của vũ trụ (hoại kiếp và thành kiếp / saṁvaṭṭavivaṭṭa), hai sự co lại và giãn nở của vũ trụ, ba sự co lại và giãn nở của vũ trụ, bốn sự co lại và giãn nở của vũ trụ, năm sự co lại và giãn nở của vũ trụ, mười sự co lại và giãn nở của vũ trụ: 'Tại nơi kia, ta đã có tên như thế này... [như trên]... sinh ra ở đây'. Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ cùng với các đặc điểm và chi tiết.
Vị ấy nói thế này: 'Bản ngã và thế giới là vĩnh hằng... [như trên]... Nhờ điều này mà ta biết được điều này: "Rằng bản ngã và thế giới là vĩnh hằng..."'. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ hai, dựa vào đó, căn cứ vào đó mà một số sa-môn, bà-la-môn theo thuyết vĩnh hằng, tuyên bố rằng bản ngã và thế giới là vĩnh hằng.
Thứ ba, những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu, căn cứ vào đâu mà theo thuyết vĩnh hằng, tuyên bố rằng bản ngã và thế giới là vĩnh hằng? Ở đây, này các tỳ kheo, có một sa-môn hay bà-la-môn nhờ nỗ lực... nhờ suy nghĩ đúng đắn mà đạt đến một trạng thái định tâm; khi tâm đã định tĩnh, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ. Cụ thể là—nhớ lại mười sự co lại và giãn nở của vũ trụ, hai mươi sự co lại và giãn nở của vũ trụ, ba mươi sự co lại và giãn nở của vũ trụ, bốn mươi sự co lại và giãn nở của vũ trụ: 'Tại nơi kia, ta đã có tên như thế này... [như trên]... sinh ra ở đây'. Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ cùng với các đặc điểm và chi tiết.
Vị ấy nói thế này: 'Bản ngã và thế giới là vĩnh hằng... [như trên]... Nhờ điều này mà ta biết được điều này: "Rằng bản ngã và thế giới là vĩnh hằng..."'. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ ba, dựa vào đó, căn cứ vào đó mà một số sa-môn, bà-la-môn theo thuyết vĩnh hằng, tuyên bố rằng bản ngã và thế giới là vĩnh hằng.
Thứ tư, những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu, căn cứ vào đâu mà theo thuyết vĩnh hằng, tuyên bố rằng bản ngã và thế giới là vĩnh hằng? Ở đây, này các tỳ kheo, có một sa-môn hay bà-la-môn là nhà logic học, nhà suy luận. Vị ấy dựa trên sự suy luận logic, dựa trên sự tìm tòi nghiên cứu, tự mình phát biểu thế này: 'Bản ngã và thế giới là vĩnh hằng, vô sinh, đứng vững như đỉnh núi, kiên cố như trụ đá; còn những chúng sinh kia thì chạy vòng quanh, luân hồi, chết đi và sinh lại, nhưng vẫn có một cái gì đó tồn tại vĩnh hằng'. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ tư, dựa vào đó, căn cứ vào đó mà một số sa-môn, bà-la-môn theo thuyết vĩnh hằng, tuyên bố rằng bản ngã và thế giới là vĩnh hằng.
Này các tỳ kheo, chính nhờ bốn cơ sở này mà những sa-môn, bà-la-môn ấy theo thuyết vĩnh hằng, tuyên bố rằng bản ngã và thế giới là vĩnh hằng. Này các tỳ kheo, bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào theo thuyết vĩnh hằng, tuyên bố rằng bản ngã và thế giới là vĩnh hằng, tất cả họ đều dựa vào bốn cơ sở này, hoặc một trong số đó; không có cơ sở nào khác ngoài những điều này.
Này các tỳ kheo, Người Đến Như Vậy thấy rõ (tuệ tri / pajānāti) điều này: 'Những lập trường quan điểm sai này, nếu được nắm giữ như vậy, bám víu như vậy, sẽ dẫn đến những cõi đến như vậy, sẽ dẫn đến những kết cục ở đời sau như vậy'. Người Đến Như Vậy thấy rõ điều đó, và còn thấy rõ xa hơn thế nữa; nhưng vị ấy không bám víu vào sự thấy rõ đó, và nhờ không bám víu, vị ấy tự mình trải nghiệm sự tịch diệt. Này các tỳ kheo, sau khi thấy rõ đúng như thật sự hình thành (sinh / samudaya), sự tan biến (diệt / atthaṅgama), vị ngọt, sự nguy hiểm và sự thoát khỏi của các Cảm Giác (thọ / vedanā), Người Đến Như Vậy được giải thoát không bám giữ (vô thủ giải thoát / anupādāvimutto).
Này các tỳ kheo, đây chính là những Điều sâu kín, khó thấy, khó hiểu, bình an, cao tột, vượt ngoài tầm lý luận, tinh tế, chỉ những bậc trí mới có thể trải nghiệm, mà Người Đến Như Vậy đã tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ và thuyết giảng, và chính những Điều này mà những ai nói lời ca ngợi chân thực về Người Đến Như Vậy sẽ là nói một cách đúng đắn.
(Hết phần tụng thứ nhất).
3.1.2. Thuyết một phần vĩnh hằng (Ekaccasassatavāda)
Này các tỳ kheo, có một số sa-môn, bà-la-môn theo thuyết một phần vĩnh hằng, một phần không vĩnh hằng, họ tuyên bố rằng bản ngã và thế giới một phần là vĩnh hằng, một phần không vĩnh hằng dựa trên bốn cơ sở. Những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu, căn cứ vào đâu mà tuyên bố rằng bản ngã và thế giới một phần là vĩnh hằng, một phần không vĩnh hằng dựa trên bốn cơ sở?
Này các tỳ kheo, có một thời điểm nào đó, sau một khoảng thời gian rất dài, thế giới này co lại. Khi thế giới đang co lại, phần lớn chúng sinh sinh về cõi Quang Âm thiên. Tại đó, họ được tạo ra từ tâm, nuôi dưỡng bằng hân hoan (hỷ / pīti), tự phát sáng, bay lượn trong không gian, sống trong sự rực rỡ, và họ tồn tại ở đó trong một thời gian rất dài.
Này các tỳ kheo, có một thời điểm nào đó, sau một khoảng thời gian rất dài, thế giới này giãn nở ra. Khi thế giới đang giãn nở, một cung điện Phạm thiên trống rỗng xuất hiện. Khi ấy, có một chúng sinh do hết tuổi thọ hoặc hết phước báu, chết từ cõi Quang Âm thiên và sinh vào cung điện Phạm thiên trống rỗng đó. Tại đó, vị ấy được tạo ra từ tâm, nuôi dưỡng bằng hân hoan, tự phát sáng, bay lượn trong không gian, sống trong sự rực rỡ, và tồn tại ở đó trong một thời gian rất dài.
Vì sống một mình ở đó quá lâu, vị ấy sinh ra sự buồn chán và khao khát: 'Ôi, ước gì có những chúng sinh khác cũng đến trạng thái này'. Sau đó, có những chúng sinh khác do hết tuổi thọ hoặc hết phước báu, chết từ cõi Quang Âm thiên và sinh vào cung điện Phạm thiên, trở thành bạn đồng hành của chúng sinh ấy. Tại đó, họ cũng được tạo ra từ tâm, nuôi dưỡng bằng hân hoan, tự phát sáng, bay lượn trong không gian, sống trong sự rực rỡ, và tồn tại ở đó trong một thời gian rất dài.
Này các tỳ kheo, tại đó, chúng sinh sinh ra đầu tiên có suy nghĩ thế này: 'Ta là Phạm thiên, Đại Phạm thiên, Đấng Chiến Thắng, Đấng Không Bị Đánh Bại, Đấng Toàn Tri, Đấng Tối Cao, Đấng Chúa Tể, Đấng Sáng Tạo, Đấng Hóa Sinh, Đấng Tối Thượng, Đấng Sắp Đặt, Đấng Tự Tại, là Cha của những chúng sinh đã sinh và sẽ sinh. Những chúng sinh này do chính ta tạo ra. Vì sao vậy? Vì trước đây ta đã có ý nghĩ: "Ôi, ước gì có những chúng sinh khác cũng đến trạng thái này". Đó là ý nguyện của ta, và những chúng sinh này đã đến trạng thái này'.
Còn những chúng sinh sinh ra sau, họ cũng có suy nghĩ thế này: 'Vị này là Phạm thiên, Đại Phạm thiên... là Cha của những chúng sinh đã sinh và sẽ sinh. Chúng ta do chính vị Phạm thiên này tạo ra. Vì sao vậy? Vì chúng ta thấy vị này sinh ra ở đây trước, còn chúng ta thì sinh ra sau'.
Này các tỳ kheo, tại đó, chúng sinh sinh ra đầu tiên có tuổi thọ dài hơn, ngoại hình đẹp hơn và có quyền lực lớn hơn. Còn những chúng sinh sinh ra sau có tuổi thọ ngắn hơn, ngoại hình kém hơn và quyền lực nhỏ hơn.
Này các tỳ kheo, có trường hợp một chúng sinh chết từ cõi đó và đến trạng thái này (cõi người). Khi đến trạng thái này, người ấy từ bỏ gia đình, xuất gia sống không nhà. Sau khi xuất gia, nhờ nỗ lực... nhờ suy nghĩ đúng đắn mà đạt đến một trạng thái định tâm; khi tâm đã định tĩnh, người ấy nhớ lại đời sống quá khứ đó, nhưng không nhớ xa hơn được nữa.
Người ấy nói thế này: 'Vị Phạm thiên, Đại Phạm thiên... Đấng Sáng Tạo... là Cha của những chúng sinh đã sinh và sẽ sinh, vị Phạm thiên đã tạo ra chúng ta đó, ngài là thường hằng, kiên cố, vĩnh hằng, không chịu quy luật biến đổi, ngài sẽ tồn tại vĩnh viễn như vậy. Còn chúng ta, những người được vị Phạm thiên đó tạo ra, chúng ta là vô thường, không kiên cố, tuổi thọ ngắn ngủi, phải chịu quy luật chết đi, nên đã đến trạng thái này'. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ nhất, dựa vào đó, căn cứ vào đó mà một số sa-môn, bà-la-môn tuyên bố rằng bản ngã và thế giới một phần là vĩnh hằng, một phần không vĩnh hằng.
Thứ hai, những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu... tuyên bố rằng bản ngã và thế giới một phần là vĩnh hằng, một phần không vĩnh hằng? Này các tỳ kheo, có những chư thiên tên là 'Bị hoại vì vui đùa' (khiḍḍāpadosikā). Họ dành quá nhiều thời gian đắm chìm trong sự vui đùa, cười cợt và khoái lạc. Vì dành quá nhiều thời gian đắm chìm trong sự vui đùa, cười cợt và khoái lạc, sự Tự Quan Sát (chánh niệm / sati) của họ bị lãng quên. Do mất sự Tự Quan Sát, những chư thiên ấy chết từ cõi đó.
Này các tỳ kheo, có trường hợp một chúng sinh chết từ cõi đó và đến trạng thái này. Khi đến trạng thái này, người ấy xuất gia... nhờ nỗ lực... đạt đến định tâm, nhớ lại đời sống quá khứ đó, nhưng không nhớ xa hơn được nữa.
Người ấy nói thế này: 'Những vị chư thiên không thuộc loại "Bị hoại vì vui đùa", họ không dành quá nhiều thời gian đắm chìm trong sự vui đùa, cười cợt và khoái lạc. Vì vậy, sự Tự Quan Sát của họ không bị lãng quên. Do không mất sự Tự Quan Sát, những chư thiên ấy không chết từ cõi đó; họ là thường hằng, kiên cố, vĩnh hằng, không chịu quy luật biến đổi, sẽ tồn tại vĩnh viễn như vậy. Còn chúng ta, những người thuộc loại "Bị hoại vì vui đùa", chúng ta đã dành quá nhiều thời gian đắm chìm trong sự vui đùa... Do mất sự Tự Quan Sát, chúng ta đã chết từ cõi đó, là vô thường, không kiên cố, tuổi thọ ngắn ngủi, phải chịu quy luật chết đi, nên đã đến trạng thái này'. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ hai...
Thứ ba, những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu... tuyên bố rằng bản ngã và thế giới một phần là vĩnh hằng, một phần không vĩnh hằng? Này các tỳ kheo, có những chư thiên tên là 'Bị hoại vì ý phẫn nộ' (manopadosikā). Họ dành quá nhiều thời gian nhìn chằm chằm vào nhau với ác ý. Vì nhìn nhau với ác ý quá lâu, tâm lý (tâm / citta) của họ trở nên thù ghét lẫn nhau. Do tâm thù ghét lẫn nhau, cơ thể họ mệt mỏi, tâm lý họ mệt mỏi. Những chư thiên ấy chết từ cõi đó.
Này các tỳ kheo, có trường hợp một chúng sinh chết từ cõi đó và đến trạng thái này. Khi đến trạng thái này, người ấy xuất gia... nhờ nỗ lực... đạt đến định tâm, nhớ lại đời sống quá khứ đó, nhưng không nhớ xa hơn được nữa.
Người ấy nói thế này: 'Những vị chư thiên không thuộc loại "Bị hoại vì ý phẫn nộ", họ không dành quá nhiều thời gian nhìn chằm chằm vào nhau với ác ý... tâm lý họ không thù ghét lẫn nhau... cơ thể và tâm lý không mệt mỏi. Những chư thiên ấy không chết từ cõi đó, họ là thường hằng, kiên cố, vĩnh hằng... Còn chúng ta, những người thuộc loại "Bị hoại vì ý phẫn nộ"... do tâm thù ghét lẫn nhau, cơ thể và tâm lý mệt mỏi, chúng ta đã chết từ cõi đó, là vô thường... nên đã đến trạng thái này'. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ ba...
Thứ tư, những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu... tuyên bố rằng bản ngã và thế giới một phần là vĩnh hằng, một phần không vĩnh hằng? Ở đây, này các tỳ kheo, có một sa-môn hay bà-la-môn là nhà logic học, nhà suy luận. Vị ấy dựa trên sự suy luận logic, dựa trên sự tìm tòi nghiên cứu, tự mình phát biểu thế này: 'Cái được gọi là mắt, tai, mũi, lưỡi, cơ thể này, bản ngã này là vô thường, không kiên cố, không vĩnh hằng, chịu quy luật biến đổi. Nhưng cái được gọi là tâm lý hay ý, hay Phân Biệt (thức / viññāṇa) này, bản ngã này là thường hằng, kiên cố, vĩnh hằng, không chịu quy luật biến đổi, sẽ tồn tại vĩnh viễn như vậy'. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ tư...
Này các tỳ kheo, chính nhờ bốn cơ sở này mà những sa-môn, bà-la-môn ấy tuyên bố rằng bản ngã và thế giới một phần là vĩnh hằng, một phần không vĩnh hằng. Bất kỳ ai tuyên bố như vậy đều dựa vào bốn cơ sở này, hoặc một trong số đó; không có cơ sở nào khác.
Này các tỳ kheo, Người Đến Như Vậy thấy rõ điều này: 'Những lập trường quan điểm sai này... sẽ dẫn đến những kết cục ở đời sau như vậy'. Người Đến Như Vậy thấy rõ điều đó... và nhờ không bám víu, vị ấy tự mình trải nghiệm sự tịch diệt. Sau khi thấy rõ đúng như thật sự hình thành, sự tan biến, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các Cảm Giác, Người Đến Như Vậy được giải thoát không bám giữ.
Này các tỳ kheo, đây chính là những Điều sâu kín, khó thấy, khó hiểu... mà Người Đến Như Vậy đã tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ và thuyết giảng...
3.1.3. Thuyết hữu hạn và vô hạn (Antānantavāda)
Này các tỳ kheo, có một số sa-môn, bà-la-môn theo thuyết hữu hạn và vô hạn, họ tuyên bố rằng thế giới là hữu hạn hoặc vô hạn dựa trên bốn cơ sở. Những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu... tuyên bố rằng thế giới là hữu hạn hoặc vô hạn dựa trên bốn cơ sở?
Ở đây, này các tỳ kheo, có một sa-môn hay bà-la-môn nhờ nỗ lực... đạt đến một trạng thái định tâm; khi tâm đã định tĩnh, vị ấy an trú với Nhận Thức (tưởng / saññā) rằng thế giới là hữu hạn.
Vị ấy nói thế này: 'Thế giới này là hữu hạn, có giới hạn bao quanh. Vì sao vậy? Vì ta nhờ nỗ lực... đạt đến định tâm, an trú với Nhận Thức rằng thế giới là hữu hạn. Nhờ điều này mà ta biết được điều này: "Rằng thế giới này là hữu hạn, có giới hạn bao quanh"'. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ nhất...
Thứ hai... Ở đây, này các tỳ kheo, có một sa-môn hay bà-la-môn nhờ nỗ lực... đạt đến định tâm; khi tâm đã định tĩnh, vị ấy an trú với Nhận Thức rằng thế giới là vô hạn.
Vị ấy nói thế này: 'Thế giới này là vô hạn, không có giới hạn. Những sa-môn, bà-la-môn nào nói rằng: "Thế giới này là hữu hạn, có giới hạn bao quanh", lời của họ là sai. Thế giới này là vô hạn, không có giới hạn. Vì sao vậy? Vì ta nhờ nỗ lực... đạt đến định tâm, an trú với Nhận Thức rằng thế giới là vô hạn. Nhờ điều này mà ta biết được điều này: "Rằng thế giới này là vô hạn, không có giới hạn"'. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ hai...
Thứ ba... Ở đây, này các tỳ kheo, có một sa-môn hay bà-la-môn nhờ nỗ lực... đạt đến định tâm; khi tâm đã định tĩnh, vị ấy an trú với Nhận Thức rằng thế giới là hữu hạn theo chiều trên dưới, nhưng vô hạn theo chiều ngang.
Vị ấy nói thế này: 'Thế giới này vừa hữu hạn vừa vô hạn. Những sa-môn, bà-la-môn nào nói rằng thế giới hữu hạn, lời của họ là sai. Những ai nói rằng thế giới vô hạn, lời của họ cũng sai. Thế giới này vừa hữu hạn vừa vô hạn. Vì sao vậy? Vì ta nhờ nỗ lực... đạt đến định tâm, an trú với Nhận Thức rằng thế giới là hữu hạn theo chiều trên dưới, vô hạn theo chiều ngang. Nhờ điều này mà ta biết được điều này: "Rằng thế giới này vừa hữu hạn vừa vô hạn"'. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ ba...
Thứ tư... Ở đây, này các tỳ kheo, có một sa-môn hay bà-la-môn là nhà logic học, nhà suy luận. Vị ấy dựa trên sự suy luận logic... tự mình phát biểu thế này: 'Thế giới này không phải hữu hạn, cũng không phải vô hạn. Những ai nói hữu hạn là sai. Những ai nói vô hạn là sai. Những ai nói vừa hữu hạn vừa vô hạn cũng sai. Thế giới này không phải hữu hạn, cũng không phải vô hạn'. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ tư...
Này các tỳ kheo, chính nhờ bốn cơ sở này mà những sa-môn, bà-la-môn ấy tuyên bố rằng thế giới là hữu hạn hoặc vô hạn... Bất kỳ ai tuyên bố như vậy đều dựa vào bốn cơ sở này...
Này các tỳ kheo, Người Đến Như Vậy thấy rõ điều này... Người Đến Như Vậy được giải thoát không bám giữ.
Này các tỳ kheo, đây chính là những Điều sâu kín... mà Người Đến Như Vậy đã tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ và thuyết giảng...
3.1.4. Thuyết ngụy biện trườn uốn (Amarāvikkhepavāda)
Này các tỳ kheo, có một số sa-môn, bà-la-môn theo thuyết ngụy biện trườn uốn (như con lươn), khi bị hỏi về vấn đề này hay vấn đề khác, họ dùng lời lẽ lảng tránh, ngụy biện trườn uốn dựa trên bốn cơ sở. Những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu... mà dùng lời lẽ lảng tránh, ngụy biện trườn uốn dựa trên bốn cơ sở?
Ở đây, này các tỳ kheo, có một sa-môn hay bà-la-môn không thấy rõ đúng như thật 'đây là điều thiện' (pháp thiện / kusala), không thấy rõ đúng như thật 'đây là điều không thiện' (pháp bất thiện / akusala). Vị ấy có suy nghĩ thế này: 'Ta không thấy rõ đúng như thật "đây là điều thiện", không thấy rõ đúng như thật "đây là điều không thiện". Nếu ta không thấy rõ... mà ta lại xác nhận "đây là điều thiện" hoặc "đây là điều không thiện", thì điều đó của ta sẽ là lời nói dối. Lời nói dối đó sẽ là sự bực dọc cho ta. Sự bực dọc đó sẽ là chướng ngại cho ta'. Vì vậy, do sợ nói dối, do ghê tởm việc nói dối, vị ấy không xác nhận đây là điều thiện, cũng không xác nhận đây là điều không thiện, khi bị hỏi về vấn đề này hay vấn đề khác, vị ấy dùng lời lẽ lảng tránh, ngụy biện trườn uốn: 'Tôi không nghĩ như vậy; tôi cũng không nghĩ là như thế kia; tôi cũng không nghĩ là khác đi; tôi không nói là không phải; tôi cũng không nói là không không phải'. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ nhất...
Thứ hai... Ở đây, này các tỳ kheo, có một sa-môn hay bà-la-môn không thấy rõ đúng như thật 'đây là điều thiện', không thấy rõ đúng như thật 'đây là điều không thiện'. Vị ấy có suy nghĩ thế này: 'Ta không thấy rõ... Nếu ta không thấy rõ... mà ta lại xác nhận "đây là điều thiện" hoặc "đây là điều không thiện", thì ở đó ta có thể sinh ra mong muốn, hoặc đắm nhiễm, hoặc sân hận, hoặc ác ý. Nơi nào ta có mong muốn, đắm nhiễm, sân hận hay ác ý, điều đó sẽ trở thành sự bám giữ (chấp thủ / upādāna) của ta. Sự bám giữ đó sẽ là sự bực dọc cho ta. Sự bực dọc đó sẽ là chướng ngại cho ta'. Vì vậy, do sợ sự bám giữ, do ghê tởm sự bám giữ, vị ấy không xác nhận đây là điều thiện, cũng không xác nhận đây là điều không thiện, khi bị hỏi... vị ấy dùng lời lẽ lảng tránh, ngụy biện trườn uốn: 'Tôi không nghĩ như vậy... tôi cũng không nói là không không phải'. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ hai...
Thứ ba... Ở đây, này các tỳ kheo, có một sa-môn hay bà-la-môn không thấy rõ đúng như thật 'đây là điều thiện', không thấy rõ đúng như thật 'đây là điều không thiện'. Vị ấy có suy nghĩ thế này: 'Ta không thấy rõ... Nếu ta không thấy rõ... mà ta lại xác nhận... thì có những sa-môn, bà-la-môn là những bậc trí, tinh tế, thiện xảo trong việc tranh luận, sắc bén như người bắn đứt sợi tóc, họ dường như đang đi khắp nơi để phá vỡ các quan điểm sai bằng trí tuệ của mình, họ có thể chất vấn ta, dồn ép ta, vặn hỏi ta. Những người chất vấn ta, dồn ép ta, vặn hỏi ta đó, ta sẽ không thể đối đáp lại họ. Việc không thể đối đáp lại họ sẽ là sự bực dọc cho ta. Sự bực dọc đó sẽ là chướng ngại cho ta'. Vì vậy, do sợ bị chất vấn, do ghê tởm việc bị chất vấn, vị ấy không xác nhận đây là điều thiện, cũng không xác nhận đây là điều không thiện, khi bị hỏi... vị ấy dùng lời lẽ lảng tránh, ngụy biện trườn uốn: 'Tôi không nghĩ như vậy... tôi cũng không nói là không không phải'. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ ba...
Thứ tư... Ở đây, này các tỳ kheo, có một sa-môn hay bà-la-môn là người đần độn, cực kỳ ngu muội. Do đần độn, cực kỳ ngu muội, khi bị hỏi về vấn đề này hay vấn đề khác, vị ấy dùng lời lẽ lảng tránh, ngụy biện trườn uốn: 'Nếu bạn hỏi tôi "Có thế giới khác không?", nếu tôi nghĩ là có, tôi sẽ trả lời bạn là "Có thế giới khác". Nhưng tôi không nghĩ như vậy, tôi cũng không nghĩ là như thế kia, tôi cũng không nghĩ là khác đi, tôi không nói là không phải, tôi cũng không nói là không không phải'. 'Không có thế giới khác... v.v... 'Vừa có vừa không có thế giới khác... v.v... 'Không phải có cũng không phải không có thế giới khác... v.v... 'Có chúng sinh hóa sinh... v.v... 'Không có chúng sinh hóa sinh... v.v... 'Vừa có vừa không có chúng sinh hóa sinh... v.v... 'Không phải có cũng không phải không có chúng sinh hóa sinh... v.v... 'Có quả báo của những hành động thiện và ác... v.v... 'Không có quả báo của những hành động thiện và ác... v.v... 'Vừa có vừa không có quả báo... v.v... 'Không phải có cũng không phải không có quả báo... v.v... 'Người Đến Như Vậy tồn tại sau khi chết... v.v... 'Người Đến Như Vậy không tồn tại sau khi chết... v.v... 'Người Đến Như Vậy vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết... v.v... 'Nếu bạn hỏi tôi "Người Đến Như Vậy không phải tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết phải không?", nếu tôi nghĩ là như vậy, tôi sẽ trả lời bạn là như vậy. Nhưng tôi không nghĩ như vậy, tôi cũng không nghĩ là như thế kia, tôi cũng không nghĩ là khác đi, tôi không nói là không phải, tôi cũng không nói là không không phải'. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ tư...
Này các tỳ kheo, chính nhờ bốn cơ sở này mà những sa-môn, bà-la-môn ấy dùng lời lẽ lảng tránh, ngụy biện trườn uốn... Bất kỳ ai làm như vậy đều dựa vào bốn cơ sở này... v.v... chính nhờ những Điều này mà những ai nói lời ca ngợi chân thực về Người Đến Như Vậy sẽ nói một cách đúng đắn.
3.1.5. Thuyết phát sinh ngẫu nhiên (Adhiccasamuppannavāda)
Này các tỳ kheo, có một số sa-môn, bà-la-môn theo thuyết phát sinh ngẫu nhiên, họ tuyên bố rằng bản ngã và thế giới phát sinh ngẫu nhiên dựa trên hai cơ sở. Những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu... tuyên bố rằng bản ngã và thế giới phát sinh ngẫu nhiên dựa trên hai cơ sở?
Này các tỳ kheo, có những chư thiên tên là 'Không có Nhận Thức' (vô tưởng / asaññasattā). Khi một Nhận Thức phát sinh, những chư thiên ấy chết từ cõi đó. Này các tỳ kheo, có trường hợp một chúng sinh chết từ cõi đó và đến trạng thái này. Khi đến trạng thái này, người ấy xuất gia... nhờ nỗ lực... đạt đến định tâm, nhớ lại sự phát sinh của Nhận Thức đó, nhưng không nhớ xa hơn được nữa. Người ấy nói thế này: 'Bản ngã và thế giới phát sinh ngẫu nhiên. Vì sao vậy? Vì trước đây ta không tồn tại, nay từ chỗ không tồn tại, ta đã chuyển hóa thành một thực thể tồn tại'. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ nhất...
Thứ hai... Ở đây, này các tỳ kheo, có một sa-môn hay bà-la-môn là nhà logic học, nhà suy luận. Vị ấy dựa trên sự suy luận logic... tự mình phát biểu thế này: 'Bản ngã và thế giới phát sinh ngẫu nhiên'. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ hai...
Này các tỳ kheo, chính nhờ hai cơ sở này mà những sa-môn, bà-la-môn ấy tuyên bố rằng bản ngã và thế giới phát sinh ngẫu nhiên... Bất kỳ ai tuyên bố như vậy đều dựa vào hai cơ sở này... v.v... chính nhờ những Điều này mà những ai nói lời ca ngợi chân thực về Người Đến Như Vậy sẽ nói một cách đúng đắn.
Này các tỳ kheo, chính nhờ mười tám cơ sở này mà những sa-môn, bà-la-môn là những người suy đoán về quá khứ, có những quan điểm sai về quá khứ, đưa ra nhiều lập luận khác nhau về quá khứ. Bất kỳ ai làm như vậy đều dựa vào mười tám cơ sở này, hoặc một trong số đó; không có cơ sở nào khác.
Này các tỳ kheo, Người Đến Như Vậy thấy rõ điều này: 'Những lập trường quan điểm sai này... sẽ dẫn đến những kết cục ở đời sau như vậy'. Người Đến Như Vậy thấy rõ điều đó... và nhờ không bám víu, vị ấy tự mình trải nghiệm sự tịch diệt. Sau khi thấy rõ đúng như thật sự hình thành, sự tan biến, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các Cảm Giác, Người Đến Như Vậy được giải thoát không bám giữ.
Này các tỳ kheo, đây chính là những Điều sâu kín, khó thấy, khó hiểu... mà Người Đến Như Vậy đã tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ và thuyết giảng...
(Hết phần tụng thứ hai).
3.2. Người suy đoán về tương lai (hậu tế trạch kiếp / aparantakappika)
Này các tỳ kheo, có một số sa-môn, bà-la-môn là những người suy đoán về tương lai, có những quan điểm sai về tương lai, họ đưa ra nhiều lập luận khác nhau về tương lai dựa trên bốn mươi bốn cơ sở. Những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu... đưa ra nhiều lập luận khác nhau về tương lai dựa trên bốn mươi bốn cơ sở?
3.2.1. Thuyết có Nhận Thức sau khi chết (Saññīvāda)
Này các tỳ kheo, có một số sa-môn, bà-la-môn theo thuyết có Nhận Thức sau khi chết, họ tuyên bố rằng bản ngã vẫn có Nhận Thức sau khi chết dựa trên mười sáu cơ sở. Những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu... tuyên bố rằng bản ngã vẫn có Nhận Thức sau khi chết dựa trên mười sáu cơ sở?
Họ tuyên bố rằng: 'Bản ngã có Vật chất (sắc / rūpa), khỏe mạnh sau khi chết, có Nhận Thức'.
Họ tuyên bố rằng: 'Bản ngã không có Vật chất, khỏe mạnh sau khi chết, có Nhận Thức'.
'Bản ngã vừa có Vật chất vừa không có Vật chất... v.v...
'Bản ngã không phải có Vật chất cũng không phải không có Vật chất...
'Bản ngã là hữu hạn...
'Bản ngã là vô hạn...
'Bản ngã vừa hữu hạn vừa vô hạn...
'Bản ngã không phải hữu hạn cũng không phải vô hạn...
'Bản ngã có Nhận Thức đồng nhất...
'Bản ngã có Nhận Thức đa dạng...
'Bản ngã có Nhận Thức hạn hẹp...
'Bản ngã có Nhận Thức vô lượng...
'Bản ngã hoàn toàn hạnh phúc...
'Bản ngã hoàn toàn đau khổ...
'Bản ngã vừa hạnh phúc vừa đau khổ...
Họ tuyên bố rằng: 'Bản ngã không đau khổ không hạnh phúc, khỏe mạnh sau khi chết, có Nhận Thức'.
Này các tỳ kheo, chính nhờ mười sáu cơ sở này mà những sa-môn, bà-la-môn ấy tuyên bố rằng bản ngã vẫn có Nhận Thức sau khi chết. Bất kỳ ai tuyên bố như vậy đều dựa vào mười sáu cơ sở này... v.v... chính nhờ những Điều này mà những ai nói lời ca ngợi chân thực về Người Đến Như Vậy sẽ nói một cách đúng đắn.
3.2.2. Thuyết không có Nhận Thức sau khi chết (Asaññīvāda)
Này các tỳ kheo, có một số sa-môn, bà-la-môn theo thuyết không có Nhận Thức sau khi chết, họ tuyên bố rằng bản ngã không có Nhận Thức sau khi chết dựa trên tám cơ sở. Những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu... tuyên bố rằng bản ngã không có Nhận Thức sau khi chết dựa trên tám cơ sở?
Họ tuyên bố rằng: 'Bản ngã có Vật chất, khỏe mạnh sau khi chết, không có Nhận Thức'.
Họ tuyên bố rằng: 'Bản ngã không có Vật chất, khỏe mạnh sau khi chết, không có Nhận Thức'.
'Bản ngã vừa có Vật chất vừa không có Vật chất... v.v...
'Bản ngã không phải có Vật chất cũng không phải không có Vật chất...
'Bản ngã là hữu hạn...
'Bản ngã là vô hạn...
'Bản ngã vừa hữu hạn vừa vô hạn...
Họ tuyên bố rằng: 'Bản ngã không phải hữu hạn cũng không phải vô hạn, khỏe mạnh sau khi chết, không có Nhận Thức'.
Này các tỳ kheo, chính nhờ tám cơ sở này mà những sa-môn, bà-la-môn ấy tuyên bố rằng bản ngã không có Nhận Thức sau khi chết. Bất kỳ ai tuyên bố như vậy đều dựa vào tám cơ sở này... v.v... chính nhờ những Điều này mà những ai nói lời ca ngợi chân thực về Người Đến Như Vậy sẽ nói một cách đúng đắn.
3.2.3. Thuyết không phải có Nhận Thức cũng không phải không có Nhận Thức sau khi chết (Nevasaññīnāsaññīvāda)
Này các tỳ kheo, có một số sa-môn, bà-la-môn theo thuyết không phải có Nhận Thức cũng không phải không có Nhận Thức sau khi chết, họ tuyên bố rằng bản ngã không phải có Nhận Thức cũng không phải không có Nhận Thức sau khi chết dựa trên tám cơ sở. Những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu... tuyên bố như vậy dựa trên tám cơ sở?
Họ tuyên bố rằng: 'Bản ngã có Vật chất, khỏe mạnh sau khi chết, không phải có Nhận Thức cũng không phải không có Nhận Thức'.
'Bản ngã không có Vật chất... v.v...
'Bản ngã vừa có Vật chất vừa không có Vật chất...
'Bản ngã không phải có Vật chất cũng không phải không có Vật chất...
'Bản ngã là hữu hạn...
'Bản ngã là vô hạn...
'Bản ngã vừa hữu hạn vừa vô hạn...
Họ tuyên bố rằng: 'Bản ngã không phải hữu hạn cũng không phải vô hạn, khỏe mạnh sau khi chết, không phải có Nhận Thức cũng không phải không có Nhận Thức'.
Này các tỳ kheo, chính nhờ tám cơ sở này mà những sa-môn, bà-la-môn ấy tuyên bố rằng bản ngã không phải có Nhận Thức cũng không phải không có Nhận Thức sau khi chết. Bất kỳ ai tuyên bố như vậy đều dựa vào tám cơ sở này... v.v... chính nhờ những Điều này mà những ai nói lời ca ngợi chân thực về Người Đến Như Vậy sẽ nói một cách đúng đắn.
3.2.4. Thuyết hủy diệt hoàn toàn (đoạn kiến / ucchedavāda)
Này các tỳ kheo, có một số sa-môn, bà-la-môn theo thuyết hủy diệt hoàn toàn, họ tuyên bố sự cắt đứt, sự phá hủy, sự biến mất hoàn toàn của một chúng sinh đang tồn tại dựa trên bảy cơ sở. Những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu... tuyên bố sự cắt đứt, sự phá hủy, sự biến mất hoàn toàn của một chúng sinh đang tồn tại dựa trên bảy cơ sở?
Ở đây, này các tỳ kheo, có một sa-môn hay bà-la-môn có lập luận thế này, có quan điểm sai thế này: 'Thưa ngài, vì bản ngã này có Vật chất, được cấu tạo từ bốn nguyên tố lớn, sinh ra từ cha mẹ, nên sau khi cơ thể tan rã, nó bị cắt đứt, bị phá hủy, không còn tồn tại sau khi chết. Thưa ngài, đến mức độ này, bản ngã này hoàn toàn bị hủy diệt'. Như vậy, một số người tuyên bố sự cắt đứt, sự phá hủy, sự biến mất hoàn toàn của một chúng sinh đang tồn tại.
Một người khác nói với người ấy thế này: 'Thưa ngài, bản ngã mà ngài nói đến là có thật, tôi không nói là nó không có; nhưng thưa ngài, bản ngã này không hoàn toàn bị hủy diệt ở mức độ đó. Thưa ngài, có một bản ngã khác thuộc cõi trời, có Vật chất, thuộc cõi sự dễ chịu giác quan (dục / kāma), tiêu thụ thức ăn vật lý. Ngài không biết, không thấy nó. Còn tôi biết, tôi thấy nó. Thưa ngài, chính bản ngã đó sau khi cơ thể tan rã, nó bị cắt đứt, bị phá hủy, không còn tồn tại sau khi chết. Thưa ngài, đến mức độ này, bản ngã này hoàn toàn bị hủy diệt'. Như vậy, một số người tuyên bố sự cắt đứt... của một chúng sinh đang tồn tại.
Một người khác nói với người ấy thế này: 'Thưa ngài, bản ngã mà ngài nói đến là có thật... nhưng không hoàn toàn bị hủy diệt ở mức độ đó. Thưa ngài, có một bản ngã khác thuộc cõi trời, có Vật chất, do tâm tạo ra, có đầy đủ các bộ phận cơ thể, các giác quan không bị khiếm khuyết. Ngài không biết, không thấy nó. Còn tôi biết, tôi thấy nó. Thưa ngài, chính bản ngã đó sau khi cơ thể tan rã... không còn tồn tại sau khi chết. Thưa ngài, đến mức độ này, bản ngã này hoàn toàn bị hủy diệt'. Như vậy, một số người tuyên bố sự cắt đứt...
Một người khác nói với người ấy thế này: 'Thưa ngài, bản ngã mà ngài nói đến là có thật... nhưng không hoàn toàn bị hủy diệt ở mức độ đó. Thưa ngài, có một bản ngã khác, do hoàn toàn vượt qua các Nhận Thức về Vật chất, do sự tan biến của các Nhận Thức về sự va chạm, do không chú ý đến các Nhận Thức đa dạng, nghĩ rằng "Không gian là vô tận", nên đi vào cõi Không Gian là Vô Tận (không vô biên xứ / ākāsānañcāyatana). Ngài không biết, không thấy nó. Còn tôi biết, tôi thấy nó. Thưa ngài, chính bản ngã đó sau khi cơ thể tan rã... không còn tồn tại sau khi chết. Thưa ngài, đến mức độ này, bản ngã này hoàn toàn bị hủy diệt'. Như vậy, một số người tuyên bố sự cắt đứt...
Một người khác nói với người ấy thế này: 'Thưa ngài, bản ngã mà ngài nói đến là có thật... nhưng không hoàn toàn bị hủy diệt ở mức độ đó. Thưa ngài, có một bản ngã khác, do hoàn toàn vượt qua cõi Không Gian là Vô Tận, nghĩ rằng "Phân Biệt là vô tận", nên đi vào cõi Sự Phân Biệt là Vô Tận (thức vô biên xứ / viññāṇañcāyatana). Ngài không biết, không thấy nó. Còn tôi biết, tôi thấy nó. Thưa ngài, chính bản ngã đó sau khi cơ thể tan rã... không còn tồn tại sau khi chết. Thưa ngài, đến mức độ này, bản ngã này hoàn toàn bị hủy diệt'. Như vậy, một số người tuyên bố sự cắt đứt...
Một người khác nói với người ấy thế này: 'Thưa ngài, bản ngã mà ngài nói đến là có thật... nhưng không hoàn toàn bị hủy diệt ở mức độ đó. Thưa ngài, có một bản ngã khác, do hoàn toàn vượt qua cõi Sự Phân Biệt là Vô Tận, nghĩ rằng "Không có vật gì cả", nên đi vào cõi Không Có Vật Gì (vô sở hữu xứ / ākiñcaññāyatana). Ngài không biết, không thấy nó. Còn tôi biết, tôi thấy nó. Thưa ngài, chính bản ngã đó sau khi cơ thể tan rã... không còn tồn tại sau khi chết. Thưa ngài, đến mức độ này, bản ngã này hoàn toàn bị hủy diệt'. Như vậy, một số người tuyên bố sự cắt đứt...
Một người khác nói với người ấy thế này: 'Thưa ngài, bản ngã mà ngài nói đến là có thật... nhưng không hoàn toàn bị hủy diệt ở mức độ đó. Thưa ngài, có một bản ngã khác, do hoàn toàn vượt qua cõi Không Có Vật Gì, nghĩ rằng "Đây là bình an, đây là cao tột", nên đi vào cõi Không Phải "Có Nhận Thức"; Cũng Không Phải "Mất Nhận Thức" (phi tưởng phi phi tưởng xứ / nevasaññānāsaññāyatana). Ngài không biết, không thấy nó. Còn tôi biết, tôi thấy nó. Thưa ngài, chính bản ngã đó sau khi cơ thể tan rã, nó bị cắt đứt, bị phá hủy, không còn tồn tại sau khi chết. Thưa ngài, đến mức độ này, bản ngã này hoàn toàn bị hủy diệt'. Như vậy, một số người tuyên bố sự cắt đứt, sự phá hủy, sự biến mất hoàn toàn của một chúng sinh đang tồn tại.
Này các tỳ kheo, chính nhờ bảy cơ sở này mà những sa-môn, bà-la-môn ấy theo thuyết hủy diệt hoàn toàn, tuyên bố sự cắt đứt, sự phá hủy, sự biến mất hoàn toàn của một chúng sinh đang tồn tại. Bất kỳ ai tuyên bố như vậy đều dựa vào bảy cơ sở này... v.v... chính nhờ những Điều này mà những ai nói lời ca ngợi chân thực về Người Đến Như Vậy sẽ nói một cách đúng đắn.
3.2.5. Thuyết Niết-bàn ngay trong hiện tại (hiện tại Niết-bàn luận / diṭṭhadhammanibbānavāda)
Này các tỳ kheo, có một số sa-môn, bà-la-môn theo thuyết Niết-bàn ngay trong hiện tại, họ tuyên bố Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại cho một chúng sinh đang tồn tại dựa trên năm cơ sở. Những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu... tuyên bố Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại cho một chúng sinh đang tồn tại dựa trên năm cơ sở?
Ở đây, này các tỳ kheo, có một sa-môn hay bà-la-môn có lập luận thế này, có quan điểm sai thế này: 'Thưa ngài, khi nào bản ngã này được cung cấp đầy đủ, được trang bị trọn vẹn và tận hưởng năm sợi dây trói buộc của dễ chịu giác quan (ngũ dục / kāmaguṇa), thưa ngài, đến mức độ này, bản ngã này đã đạt được Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại'. Như vậy, một số người tuyên bố Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại cho một chúng sinh đang tồn tại.
Một người khác nói với người ấy thế này: 'Thưa ngài, bản ngã mà ngài nói đến là có thật, tôi không nói là nó không có; nhưng thưa ngài, bản ngã này không đạt được Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại ở mức độ đó. Vì sao vậy? Thưa ngài, vì các sự dễ chịu giác quan là vô thường, đau khổ, chịu quy luật biến đổi; do sự biến đổi và trở nên khác đi của chúng mà sầu, bi, đau khổ, ưu phiền (ưu / domanassa) và tuyệt vọng phát sinh. Thưa ngài, khi nào bản ngã này hoàn toàn rời bỏ khỏi (ly / vivicca) các sự dễ chịu giác quan, hoàn toàn rời bỏ khỏi các điều không thiện, chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (có tầm có tứ / savitakka savicāra), trải nghiệm hân hoan (hỷ / pīti) và hạnh phúc sinh ra từ sự rời bỏ (viễn ly / viveka), đạt đến và an trú trong Thiền-na (Thiền / jhāna) thứ nhất, thưa ngài, đến mức độ này, bản ngã này đã đạt được Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại'. Như vậy, một số người tuyên bố Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại...
Một người khác nói với người ấy thế này: 'Thưa ngài, bản ngã mà ngài nói đến là có thật... nhưng không đạt được Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại ở mức độ đó. Vì sao vậy? Vì ở đó vẫn còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, điều này được xem là có tính máy móc (thô / oḷārika). Thưa ngài, khi nào bản ngã này làm lắng dịu việc chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, đạt được sự lắng trong nội tại (nội tĩnh / ajjhattaṁ sampasādanaṁ), tâm hợp thành một (nhất tâm / cetaso ekodibhāvaṁ), Không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (không tầm không tứ / avitakka avicāra), trải nghiệm hân hoan và hạnh phúc sinh ra từ định, đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ hai, thưa ngài, đến mức độ này, bản ngã này đã đạt được Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại'. Như vậy, một số người tuyên bố Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại...
Một người khác nói với người ấy thế này: 'Thưa ngài, bản ngã mà ngài nói đến là có thật... nhưng không đạt được Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại ở mức độ đó. Vì sao vậy? Vì ở đó vẫn còn sự phấn khích của tâm lý do hân hoan, điều này được xem là có tính máy móc. Thưa ngài, khi nào bản ngã này phai nhạt hân hoan, an trú với Tâm bình thản (xả / upekkhā), có sự Tự Quan Sát (chánh niệm / sato) và sự nhận biết rõ ràng (tỉnh giác / sampajāno), cảm nhận hạnh phúc bằng cơ thể, trạng thái mà các bậc thánh gọi là "Người có Tâm bình thản, có sự Tự Quan Sát, sống hạnh phúc", đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ ba, thưa ngài, đến mức độ này, bản ngã này đã đạt được Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại'. Như vậy, một số người tuyên bố Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại...
Một người khác nói với người ấy thế này: 'Thưa ngài, bản ngã mà ngài nói đến là có thật, tôi không nói là nó không có; nhưng thưa ngài, bản ngã này không đạt được Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại ở mức độ đó. Vì sao vậy? Vì ở đó vẫn còn sự hướng tâm đến ý nghĩ "đây là hạnh phúc", điều này được xem là có tính máy móc. Thưa ngài, khi nào bản ngã này hoàn toàn từ bỏ (xả / pahānā) hạnh phúc và hoàn toàn từ bỏ đau khổ, cùng với sự tan biến từ trước của thanh thản (hỷ / somanassa) và ưu phiền, đạt đến trạng thái không đau khổ không hạnh phúc, sự Tự Quan Sát hoàn toàn thanh tịnh nhờ Tâm bình thản, đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ tư, thưa ngài, đến mức độ này, bản ngã này đã đạt được Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại'. Như vậy, một số người tuyên bố Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại cho một chúng sinh đang tồn tại.
Này các tỳ kheo, chính nhờ năm cơ sở này mà những sa-môn, bà-la-môn ấy theo thuyết Niết-bàn ngay trong hiện tại, tuyên bố Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại cho một chúng sinh đang tồn tại. Bất kỳ ai tuyên bố như vậy đều dựa vào năm cơ sở này... v.v... chính nhờ những Điều này mà những ai nói lời ca ngợi chân thực về Người Đến Như Vậy sẽ nói một cách đúng đắn.
Này các tỳ kheo, chính nhờ bốn mươi bốn cơ sở này mà những sa-môn, bà-la-môn là những người suy đoán về tương lai, có những quan điểm sai về tương lai, đưa ra nhiều lập luận khác nhau về tương lai. Bất kỳ ai làm như vậy đều dựa vào bốn mươi bốn cơ sở này... v.v... chính nhờ những Điều này mà những ai nói lời ca ngợi chân thực về Người Đến Như Vậy sẽ nói một cách đúng đắn.
Này các tỳ kheo, chính nhờ sáu mươi hai cơ sở này mà những sa-môn, bà-la-môn là những người suy đoán về quá khứ, người suy đoán về tương lai, hoặc suy đoán về cả quá khứ lẫn tương lai, có những quan điểm sai về quá khứ và tương lai, đưa ra nhiều lập luận khác nhau về quá khứ và tương lai.
Này các tỳ kheo, bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào là người suy đoán về quá khứ, người suy đoán về tương lai, hoặc suy đoán về cả quá khứ lẫn tương lai... đưa ra nhiều lập luận khác nhau, tất cả họ đều dựa vào sáu mươi hai cơ sở này, hoặc một trong số đó; không có cơ sở nào khác ngoài những điều này.
Này các tỳ kheo, Người Đến Như Vậy thấy rõ điều này: 'Những lập trường quan điểm sai này, nếu được nắm giữ như vậy, bám víu như vậy, sẽ dẫn đến những cõi đến như vậy, sẽ dẫn đến những kết cục ở đời sau như vậy'. Người Đến Như Vậy thấy rõ điều đó, và còn thấy rõ xa hơn thế nữa; nhưng vị ấy không bám víu vào sự thấy rõ đó, và nhờ không bám víu, vị ấy tự mình trải nghiệm sự tịch diệt. Này các tỳ kheo, sau khi thấy rõ đúng như thật sự hình thành, sự tan biến, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các Cảm Giác, Người Đến Như Vậy được giải thoát không bám giữ.
Này các tỳ kheo, đây chính là những Điều sâu kín, khó thấy, khó hiểu, bình an, cao tột, vượt ngoài tầm lý luận, tinh tế, chỉ những bậc trí mới có thể trải nghiệm, mà Người Đến Như Vậy đã tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ và thuyết giảng, và chính những Điều này mà những ai nói lời ca ngợi chân thực về Người Đến Như Vậy sẽ là nói một cách đúng đắn.
4. Nền tảng của các tuyên bố về Bản ngã và Thế giới (Attālokapaññattivatthu)
4.1. Phần về Sự lo âu và dao động (Paritassitavipphanditavāra)
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương vĩnh cửu (thường kiến / sassatavādā), tuyên bố bản ngã và thế giới là vĩnh cửu dựa trên bốn cơ sở; điều đó chỉ là Cảm Giác (thọ / vedayita) của những sa-môn, bà-la-môn không biết, không thấy, bị chi phối bởi sự khát khao (tham ái / taṇhā), nó chỉ là sự lo âu và dao động (khát ái dao động / paritassitavipphandita).
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương một phần vĩnh cửu (một phần thường kiến / ekaccasassatikā), tuyên bố bản ngã và thế giới một phần là vĩnh cửu, một phần không vĩnh cửu dựa trên bốn cơ sở; điều đó chỉ là Cảm Giác của những sa-môn, bà-la-môn không biết, không thấy, bị chi phối bởi sự khát khao, nó chỉ là sự lo âu và dao động.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương thế giới có giới hạn hay không giới hạn (hữu biên vô biên kiến / antānantikā), tuyên bố về thế giới dựa trên bốn cơ sở; điều đó chỉ là Cảm Giác của những sa-môn, bà-la-môn không biết, không thấy, bị chi phối bởi sự khát khao, nó chỉ là sự lo âu và dao động.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người ngụy biện trốn tránh (ngụy biện như con lươn / amarāvikkhepikā), khi được hỏi các câu hỏi khác nhau đã rơi vào sự ngụy biện trốn tránh dựa trên bốn cơ sở; điều đó chỉ là Cảm Giác của những sa-môn, bà-la-môn không biết, không thấy, bị chi phối bởi sự khát khao, nó chỉ là sự lo âu và dao động.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương sinh ra ngẫu nhiên (vô nhân sinh / adhiccasamuppannikā), tuyên bố bản ngã và thế giới sinh ra ngẫu nhiên dựa trên hai cơ sở; điều đó chỉ là Cảm Giác của những sa-môn, bà-la-môn không biết, không thấy, bị chi phối bởi sự khát khao, nó chỉ là sự lo âu và dao động.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người suy đoán về quá khứ (bản tế trạch / pubbantakappikā), có quan điểm về quá khứ, dựa vào quá khứ để tuyên bố nhiều lập luận khác nhau dựa trên mười tám cơ sở; điều đó chỉ là Cảm Giác của những sa-môn, bà-la-môn không biết, không thấy, bị chi phối bởi sự khát khao, nó chỉ là sự lo âu và dao động.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương có nhận thức sau khi chết (hữu tưởng luận / uddhamāghātanikā saññīvādā), tuyên bố bản ngã có nhận thức sau khi chết dựa trên mười sáu cơ sở; điều đó chỉ là Cảm Giác của những sa-môn, bà-la-môn không biết, không thấy, bị chi phối bởi sự khát khao, nó chỉ là sự lo âu và dao động.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương không có nhận thức sau khi chết (vô tưởng luận / uddhamāghātanikā asaññīvādā), tuyên bố bản ngã không có nhận thức sau khi chết dựa trên tám cơ sở; điều đó chỉ là Cảm Giác của những sa-môn, bà-la-môn không biết, không thấy, bị chi phối bởi sự khát khao, nó chỉ là sự lo âu và dao động.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương không phải có nhận thức cũng không phải không có nhận thức sau khi chết (phi tưởng phi phi tưởng luận / uddhamāghātanikā nevasaññīnāsaññīvādā), tuyên bố bản ngã không phải có nhận thức cũng không phải không có nhận thức sau khi chết dựa trên tám cơ sở; điều đó chỉ là Cảm Giác của những sa-môn, bà-la-môn không biết, không thấy, bị chi phối bởi sự khát khao, nó chỉ là sự lo âu và dao động.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương hủy diệt (đoạn kiến / ucchedavādā), tuyên bố sự cắt đứt, sự phá hủy, sự biến mất của một chúng sinh đang tồn tại dựa trên bảy cơ sở; điều đó chỉ là Cảm Giác của những sa-môn, bà-la-môn không biết, không thấy, bị chi phối bởi sự khát khao, nó chỉ là sự lo âu và dao động.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương Niết-bàn ngay trong hiện tại (hiện tại niết bàn luận / diṭṭhadhammanibbānavādā), tuyên bố Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại cho một chúng sinh đang tồn tại dựa trên năm cơ sở; điều đó chỉ là Cảm Giác của những sa-môn, bà-la-môn không biết, không thấy, bị chi phối bởi sự khát khao, nó chỉ là sự lo âu và dao động.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người suy đoán về tương lai (hậu tế trạch / aparantakappikā), có quan điểm về tương lai, dựa vào tương lai để tuyên bố nhiều lập luận khác nhau dựa trên bốn mươi bốn cơ sở; điều đó chỉ là Cảm Giác của những sa-môn, bà-la-môn không biết, không thấy, bị chi phối bởi sự khát khao, nó chỉ là sự lo âu và dao động.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người suy đoán về quá khứ và người suy đoán về tương lai, có quan điểm về cả quá khứ và tương lai, dựa vào cả quá khứ và tương lai để tuyên bố nhiều lập luận khác nhau dựa trên sáu mươi hai cơ sở; điều đó chỉ là Cảm Giác của những sa-môn, bà-la-môn không biết, không thấy, bị chi phối bởi sự khát khao, nó chỉ là sự lo âu và dao động.
4.2. Phần về phát sinh từ Xúc mà có (Phassapaccayāvāra)
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương vĩnh cửu, tuyên bố bản ngã và thế giới là vĩnh cửu dựa trên bốn cơ sở; điều đó đều phát sinh từ Xúc mà có (phassapaccayā - sự tiếp xúc giữa căn, trần và thức mà có).
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương một phần vĩnh cửu... điều đó cũng phát sinh từ Xúc mà có.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương thế giới có giới hạn hay không giới hạn... điều đó cũng phát sinh từ Xúc mà có.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người ngụy biện trốn tránh... điều đó cũng phát sinh từ Xúc mà có.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương sinh ra ngẫu nhiên... điều đó cũng phát sinh từ Xúc mà có.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người suy đoán về quá khứ... điều đó cũng phát sinh từ Xúc mà có.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương có nhận thức sau khi chết... điều đó cũng phát sinh từ Xúc mà có.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương không có nhận thức sau khi chết... điều đó cũng phát sinh từ Xúc mà có.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương không phải có nhận thức cũng không phải không có nhận thức sau khi chết... điều đó cũng phát sinh từ Xúc mà có.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương hủy diệt... điều đó cũng phát sinh từ Xúc mà có.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương Niết-bàn ngay trong hiện tại... điều đó cũng phát sinh từ Xúc mà có.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người suy đoán về tương lai... điều đó cũng phát sinh từ Xúc mà có.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người suy đoán về quá khứ và người suy đoán về tương lai... điều đó cũng phát sinh từ Xúc mà có.
4.3. Phần về Không có trường hợp đó (Netaṁṭhānaṁvijjativāra)
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương vĩnh cửu, tuyên bố bản ngã và thế giới là vĩnh cửu dựa trên bốn cơ sở; rằng họ có thể trải nghiệm [những cảm giác ấy] mà không có Xúc, điều đó là không thể xảy ra.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương một phần vĩnh cửu... rằng họ có thể trải nghiệm [những cảm giác ấy] mà không có Xúc, điều đó là không thể xảy ra.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương thế giới có giới hạn hay không giới hạn... rằng họ có thể trải nghiệm [những cảm giác ấy] mà không có Xúc, điều đó là không thể xảy ra.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người ngụy biện trốn tránh... rằng họ có thể trải nghiệm [những cảm giác ấy] mà không có Xúc, điều đó là không thể xảy ra.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương sinh ra ngẫu nhiên... rằng họ có thể trải nghiệm [những cảm giác ấy] mà không có Xúc, điều đó là không thể xảy ra.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người suy đoán về quá khứ... rằng họ có thể trải nghiệm [những cảm giác ấy] mà không có Xúc, điều đó là không thể xảy ra.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương có nhận thức sau khi chết... rằng họ có thể trải nghiệm [những cảm giác ấy] mà không có Xúc, điều đó là không thể xảy ra.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương không có nhận thức sau khi chết... rằng họ có thể trải nghiệm [những cảm giác ấy] mà không có Xúc, điều đó là không thể xảy ra.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương không phải có nhận thức cũng không phải không có nhận thức sau khi chết... rằng họ có thể trải nghiệm [những cảm giác ấy] mà không có Xúc, điều đó là không thể xảy ra.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương hủy diệt... rằng họ có thể trải nghiệm [những cảm giác ấy] mà không có Xúc, điều đó là không thể xảy ra.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương Niết-bàn ngay trong hiện tại... rằng họ có thể trải nghiệm [những cảm giác ấy] mà không có Xúc, điều đó là không thể xảy ra.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người suy đoán về tương lai... rằng họ có thể trải nghiệm [những cảm giác ấy] mà không có Xúc, điều đó là không thể xảy ra.
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người suy đoán về quá khứ và người suy đoán về tương lai... rằng họ có thể trải nghiệm [những cảm giác ấy] mà không có Xúc, điều đó là không thể xảy ra.
4.4. Lời giảng về Vòng luân hồi của các tà kiến (Diṭṭhigatikādhiṭṭhānavaṭṭakathā)
Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương vĩnh cửu... những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương một phần vĩnh cửu... những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương thế giới có giới hạn hay không giới hạn... những sa-môn, bà-la-môn nào là người ngụy biện trốn tránh... những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương sinh ra ngẫu nhiên... những sa-môn, bà-la-môn nào là người suy đoán về quá khứ... những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương có nhận thức sau khi chết... những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương không có nhận thức sau khi chết... những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương không phải có nhận thức cũng không phải không có nhận thức sau khi chết... những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương hủy diệt... những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương Niết-bàn ngay trong hiện tại... những sa-môn, bà-la-môn nào là người suy đoán về tương lai... những sa-môn, bà-la-môn nào là người suy đoán về quá khứ và người suy đoán về tương lai, có quan điểm về cả quá khứ và tương lai, dựa vào cả quá khứ và tương lai để tuyên bố nhiều lập luận khác nhau dựa trên sáu mươi hai cơ sở; tất cả họ đều trải nghiệm thông qua Xúc lặp đi lặp lại ở sáu trường tiếp xúc (xúc xứ / phassāyatana). Đối với họ, do Điều Kiện Cảm Giác nên sinh ra sự khát khao; do Điều Kiện của sự khát khao nên có nắm giữ (thủ / upādāna); do Điều Kiện của nắm giữ nên có cõi tồn tại (hữu / bhava); do Điều Kiện của cõi tồn tại nên có sinh (sinh / jāti); do Điều Kiện của sinh nên già chết (lão tử / jarāmaraṇa), sầu muộn, than khóc, đau khổ (khổ / dukkha), ưu phiền (ưu / domanassa) và tuyệt vọng được sự hình thành (sinh / sambhavanti).
5. Lời giảng về Sự thoát ly khỏi vòng luân hồi (Vivaṭṭakathādi)
Này các Tỳ-kheo, khi một Tỳ-kheo thấy rõ (tuệ tri / pajānāti) bản chất thực sự về sự hình thành (sinh / samudaya), sự tan biến (diệt / atthaṅgama), sự hấp dẫn (vị ngọt / assāda), sự nguy hiểm (sự nguy hiểm / ādīnava), và sự thoát khỏi (xuất ly / nissaraṇa) của sáu trường tiếp xúc, vị ấy thấy rõ điều vượt trội hơn tất cả những [quan điểm] này.
Này các Tỳ-kheo, bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào là người suy đoán về quá khứ, hay người suy đoán về tương lai, hay người suy đoán về quá khứ và người suy đoán về tương lai, có quan điểm về cả quá khứ và tương lai, dựa vào cả quá khứ và tương lai để tuyên bố nhiều lập luận khác nhau; tất cả họ đều bị mắc kẹt trong tấm lưới (võng lậu / antojālīkatā) của sáu mươi hai cơ sở này. Dù họ có trồi lên hụp xuống, họ vẫn ở trong đó; dù họ có trồi lên hụp xuống, họ vẫn bị bao hàm và mắc kẹt trong tấm lưới này.
Này các Tỳ-kheo, giống như một người đánh cá khéo léo hay người học việc của người đánh cá quăng một tấm lưới mắt nhỏ bao trùm một vũng nước nhỏ. Người ấy nghĩ rằng: 'Bất kỳ sinh vật lớn nào trong vũng nước này, tất cả chúng đều bị mắc kẹt trong tấm lưới. Dù chúng có trồi lên hụp xuống, chúng vẫn ở trong đó; dù chúng có trồi lên hụp xuống, chúng vẫn bị bao hàm và mắc kẹt trong tấm lưới này'. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào là người suy đoán về quá khứ, hay người suy đoán về tương lai, hay người suy đoán về quá khứ và người suy đoán về tương lai... tất cả họ đều bị mắc kẹt trong tấm lưới của sáu mươi hai cơ sở này. Dù họ có trồi lên hụp xuống, họ vẫn ở trong đó; dù họ có trồi lên hụp xuống, họ vẫn bị bao hàm và mắc kẹt trong tấm lưới này.
Này các Tỳ-kheo, cơ thể của Người Đến Như Vậy vẫn tồn tại nhưng sợi dây trói buộc vào cõi tồn tại (hữu ái / bhavanettika) đã bị cắt đứt. Chừng nào cơ thể Ngài còn tồn tại, chư thiên và loài người còn nhìn thấy Ngài. Khi cơ thể tan vỡ, sau khi mạng sống kết thúc, chư thiên và loài người sẽ không còn nhìn thấy Ngài nữa.
Này các Tỳ-kheo, giống như khi cuống của một chùm xoài bị cắt đứt, bất kỳ quả xoài nào dính liền với cuống đó đều sẽ đi theo nó; cũng vậy, này các Tỳ-kheo, cơ thể của Người Đến Như Vậy vẫn tồn tại nhưng sợi dây trói buộc vào cõi tồn tại đã bị cắt đứt. Chừng nào cơ thể Ngài còn tồn tại, chư thiên và loài người còn nhìn thấy Ngài. Khi cơ thể tan vỡ, sau khi mạng sống kết thúc, chư thiên và loài người sẽ không còn nhìn thấy Ngài nữa.
Khi được nói như vậy, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn: "Thật kỳ diệu, bạch Thế Tôn! Thật phi thường, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, bài giảng về Điều dạy (pháp / dhamma) này tên là gì?"
"Do đó, này Ānanda, hãy ghi nhớ bài giảng về Điều dạy này là Tấm lưới Lợi ích (atthajāla), hãy ghi nhớ nó là Tấm lưới Điều dạy (dhammajāla), hãy ghi nhớ nó là Tấm lưới Phạm thiên (brahmajāla), hãy ghi nhớ nó là Tấm lưới Quan điểm (diṭṭhijāla), hãy ghi nhớ nó là Chiến thắng Tối thượng trong Trận chiến (anuttaro saṅgāmavijayo)."
Thế Tôn đã thuyết giảng như vậy. Các Tỳ-kheo hoan hỷ và vui mừng đón nhận (hoan hỷ / abhinandunti) lời dạy của Thế Tôn. Và khi bài giảng này được thuyết lên, mười ngàn thế giới đã rung chuyển.
Bảng thuật ngữ:
| Thuật ngữ Pali | Từ cũ (Hán-Việt) | Từ mới (Hiện đại) | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Tathāgata | Như Lai | Người Đến Như Vậy | |
| Dhamma | Pháp | Điều | Mọi điều, nguyên lý, lời dạy |
| Pajānāti | Tuệ tri | Thấy rõ | Phân biệt được rõ ràng |
| Vedanā | Thọ | Cảm Giác | |
| Samudaya | Sinh | Sự hình thành | |
| Atthaṅgama | Diệt | Tan biến | Sự phai tàn tự nhiên |
| Taṇhā | Tham ái | Sự khát khao | |
| Upādāna | Thủ | Nắm chặt | Bám giữ |
| Bhava | Hữu | Cõi tồn tại | |
| Jāti | Sinh | Sinh | |
| Jarāmaraṇa | Lão tử | Già chết | |
| Dukkha | Khổ | Đau khổ | |
| Domanassa | Ưu | Ưu phiền | Cảm giác tiêu cực phát ra từ tâm lý |
| Phassa | Xúc | Tiếp xúc | |
| Abhinandunti | Hoan hỷ | Vui mừng đón nhận | |
| [!] sassatavādā | Thường kiến | những người chủ trương thường hằng | Cho rằng bản ngã và thế giới là vĩnh cửu |
| [!] ekaccasassatikā | Một phần thường kiến | những người chủ trương một phần thường hằng | Cho rằng một phần vĩnh cửu, một phần không |
| [!] antānantikā | Hữu biên vô biên kiến | những người chủ trương có giới hạn và không giới hạn | Suy đoán về ranh giới của thế giới |
| [!] amarāvikkhepikā | Ngụy biện trườn uốn | những người ngụy biện trườn uốn | Lảng tránh câu trả lời dứt khoát |
| [!] adhiccasamuppannikā | Vô nhân sinh kiến | những người chủ trương sinh ra không do nguyên nhân | Cho rằng mọi thứ ngẫu nhiên sinh ra |
| [!] pubbantakappikā | Quá khứ kiến | những người suy đoán về quá khứ | |
| [!] aparantakappikā | Tương lai kiến | những người suy đoán về tương lai | |
| [!] uddhamāghātanikā saññīvādā | Hữu tưởng luận | những người chủ trương có nhận thức sau khi chết | |
| [!] uddhamāghātanikā asaññīvādā | Vô tưởng luận | những người chủ trương không có nhận thức sau khi chết | |
| [!] uddhamāghātanikā nevasaññīnāsaññīvādā | Phi tưởng phi phi tưởng luận | những người chủ trương không phải có nhận thức cũng không phải không có nhận thức sau khi chết | |
| [!] ucchedavādā | Đoạn kiến | những người chủ trương đoạn diệt | Cho rằng chết là hết hoàn toàn |
| [!] diṭṭhadhammanibbānavādā | Hiện tại Niết-bàn luận | những người chủ trương Niết-bàn ngay trong hiện tại | Tìm kiếm sự giải thoát tối hậu qua các trạng thái hiện tại |
| [!] paritassitavipphandita | Khát ái và dao động | sự lo âu và vùng vẫy | Trạng thái tâm lý bất an, dao động do tham ái |
| [!] ucchinnabhavanettiko | Hữu ái đã tận | đã cắt đứt sợi dây dẫn đến cõi tồn tại | Không còn nguyên nhân để tái sinh |
| [!] saṁvaṭṭavivaṭṭa | Hoại và thành | chu kỳ co lại và giãn ra của vũ trụ | Quá trình hình thành và hủy diệt của thế giới |