Mahānidānasutta (Kinh Đại Duyên)
1. Paṭiccasamuppāda (Sự hình thành qua phụ thuộc)
Tôi nghe như vầy: Một thời Thế Tôn trú ở Kurū, tại một thị trấn của người Kurū tên là Kammāsadhamma.
Khi ấy, tôn giả Ananda đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn điều này: "Kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn, hy hữu thay, bạch Thế Tôn. Sự hình thành qua phụ thuộc (duyên khởi / paṭiccasamuppāda) này thật sâu sắc và có vẻ ngoài sâu sắc, nhưng đối với con, nó dường như quá rõ ràng, dễ hiểu."
"Này Ananda, chớ nói vậy, này Ananda, chớ nói vậy. Sự hình thành qua phụ thuộc này thật sâu sắc và có vẻ ngoài sâu sắc. Này Ananda, chính vì không hiểu biết, không thấu đạt Điều dạy (pháp / dhamma) này mà chúng sinh này trở nên rối ren như cuộn chỉ, như tổ kén, như cỏ munja và cỏ babbaja, không thể thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ, luân hồi.
Này Ananda, nếu có ai hỏi: 'Có điều chắc chắn (duyên / paccaya) nào sinh ra già-chết (lão-tử / jarāmaraṇa) không?', cần phải đáp là 'Có'. Nếu hỏi: 'Cái gì là điều chắc chắn sinh ra già-chết?', cần phải đáp: 'sự Sinh (sinh / jāti) làm điều chắc chắn sinh ra già-chết'.
Này Ananda, nếu có ai hỏi: 'Có điều chắc chắn nào sinh ra sự Sinh không?', cần phải đáp là 'Có'. Nếu hỏi: 'Cái gì là điều chắc chắn sinh ra sự Sinh?', cần phải đáp: 'Mầm sống (hữu / bhava) làm điều chắc chắn sinh ra sự Sinh'.
Này Ananda, nếu có ai hỏi: 'Có điều chắc chắn nào sinh ra Mầm sống không?', cần phải đáp là 'Có'. Nếu hỏi: 'Cái gì là điều chắc chắn sinh ra Mầm sống?', cần phải đáp: 'sự bám giữ (chấp thủ / upādāna) làm điều chắc chắn sinh ra Mầm sống'.
Này Ananda, nếu có ai hỏi: 'Có điều chắc chắn nào sinh ra sự bám giữ không?', cần phải đáp là 'Có'. Nếu hỏi: 'Cái gì là điều chắc chắn sinh ra sự bám giữ?', cần phải đáp: 'sự thèm khát (tham ái / taṇhā) làm điều chắc chắn sinh ra sự bám giữ'.
Này Ananda, nếu có ai hỏi: 'Có điều chắc chắn nào sinh ra sự thèm khát không?', cần phải đáp là 'Có'. Nếu hỏi: 'Cái gì là điều chắc chắn sinh ra sự thèm khát?', cần phải đáp: 'Cảm Giác (thọ / vedanā) làm điều chắc chắn sinh ra sự thèm khát'.
Này Ananda, nếu có ai hỏi: 'Có điều chắc chắn nào sinh ra Cảm Giác không?', cần phải đáp là 'Có'. Nếu hỏi: 'Cái gì là điều chắc chắn sinh ra Cảm Giác?', cần phải đáp: 'Xúc (xúc / phassa) làm điều chắc chắn sinh ra Cảm Giác'.
Này Ananda, nếu có ai hỏi: 'Có điều chắc chắn nào sinh ra Xúc không?', cần phải đáp là 'Có'. Nếu hỏi: 'Cái gì là điều chắc chắn sinh ra Xúc?', cần phải đáp: 'Danh-sắc (danh-sắc / nāmarūpa) làm điều chắc chắn sinh ra Xúc'.
Này Ananda, nếu có ai hỏi: 'Có điều chắc chắn nào sinh ra Danh-sắc không?', cần phải đáp là 'Có'. Nếu hỏi: 'Cái gì là điều chắc chắn sinh ra Danh-sắc?', cần phải đáp: 'sự Nhận biết (thức / viññāṇa) làm điều chắc chắn sinh ra Danh-sắc'.
Này Ananda, nếu có ai hỏi: 'Có điều chắc chắn nào sinh ra sự Nhận biết không?', cần phải đáp là 'Có'. Nếu hỏi: 'Cái gì là điều chắc chắn sinh ra sự Nhận biết?', cần phải đáp: 'Danh-sắc là điều chắc chắn sinh ra sự Nhận biết'.
Như vậy, này Ananda, Danh-sắc là điều chắc chắn sinh ra sự Nhận biết, sự Nhận biết là điều chắc chắn sinh ra Danh-sắc, Danh-sắc là điều chắc chắn sinh ra Xúc, Xúc là điều chắc chắn sinh ra Cảm Giác, Cảm Giác là điều chắc chắn sinh ra sự thèm khát, sự thèm khát là điều chắc chắn sinh ra sự bám giữ, sự bám giữ là điều chắc chắn sinh ra Mầm sống, Mầm sống là điều chắc chắn sinh ra sự Sinh, sự Sinh là điều chắc chắn sinh ra già-chết, sầu, bi, khổ, ưu, não cùng phát sinh. Như vậy là sự hình thành (tập / samudaya) của toàn bộ khối đau khổ này.
'sự Sinh là điều chắc chắn sinh ra già-chết' như đã nói, này Ananda, thì cần được hiểu như nào ? làm thế nào sự Sinh là điều chắc chắn sinh ra già-chết. Này Ananda, nếu hoàn toàn không có sự Sinh dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ đâu, của bất kỳ ai, trong bất kỳ loài nào—như sự sinh của chư thiên vào cõi chư thiên, của Càn-thát-bà vào cõi Càn-thát-bà, của Dạ-xoa vào cõi Dạ-xoa, của quỷ thần vào cõi quỷ thần, của loài người vào cõi người, của loài bốn chân vào cõi bốn chân, của loài chim vào cõi chim, của loài bò sát vào cõi bò sát—nếu không có sự sinh của các chúng sinh ấy vào các cõi ấy. Khi hoàn toàn không có sự Sinh, do sự Sinh bị chặn (diệt / nirodha), liệu già-chết có thể xuất hiện được không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Do đó, này Ananda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là điều chắc chắn của già-chết, đó chính là sự Sinh.
'Mầm sống là điều chắc chắn sinh ra sự Sinh' như đã nói, này Ananda, thì cần được hiểu như nào ? làm thế nào Mầm sống là điều chắc chắn sinh ra sự Sinh. Này Ananda, nếu hoàn toàn không có Mầm sống dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ đâu, của bất kỳ ai, trong bất kỳ cõi nào—như Mầm sống trong cõi dục, Mầm sống trong cõi sắc, hoặc Mầm sống trong cõi vô sắc—khi hoàn toàn không có Mầm sống, do Mầm sống bị chặn, liệu sự Sinh có thể xuất hiện được không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Do đó, này Ananda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là điều chắc chắn của sự Sinh, đó chính là Mầm sống.
'sự bám giữ là điều chắc chắn sinh ra Mầm sống' như đã nói, này Ananda, thì cần được hiểu như nào ? làm thế nào sự bám giữ là điều chắc chắn sinh ra Mầm sống. Này Ananda, nếu hoàn toàn không có sự bám giữ dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ đâu, của bất kỳ ai, đối với bất kỳ điều gì—như sự bám giữ vào sự dễ chịu giác quan (dục), sự bám giữ vào quan điểm, sự bám giữ vào giới cấm, hoặc sự bám giữ vào học thuyết về ngã—khi hoàn toàn không có sự bám giữ, do sự bám giữ bị chặn, liệu Mầm sống có thể xuất hiện được không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Do đó, này Ananda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là điều chắc chắn của Mầm sống, đó chính là sự bám giữ.
'sự thèm khát là điều chắc chắn sinh ra sự bám giữ' như đã nói, này Ananda, thì cần được hiểu như nào ? làm thế nào sự thèm khát là điều chắc chắn sinh ra sự bám giữ. Này Ananda, nếu hoàn toàn không có sự thèm khát dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ đâu, của bất kỳ ai, đối với bất kỳ điều gì—như sự thèm khát hình ảnh, sự thèm khát âm thanh, sự thèm khát mùi hương, sự thèm khát mùi vị, sự thèm khát xúc chạm, sự thèm khát quy luật—khi hoàn toàn không có sự thèm khát, do sự thèm khát bị chặn, liệu sự bám giữ có thể xuất hiện được không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Do đó, này Ananda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là điều chắc chắn của sự bám giữ, đó chính là sự thèm khát.
'Cảm Giác là điều chắc chắn sinh ra sự thèm khát' như đã nói, này Ananda, thì cần được hiểu như nào ? làm thế nào Cảm Giác là điều chắc chắn sinh ra sự thèm khát. Này Ananda, nếu hoàn toàn không có Cảm Giác dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ đâu, của bất kỳ ai, đối với bất kỳ điều gì—như Cảm Giác sinh ra từ Xúc của mắt, Cảm Giác sinh ra từ Xúc của tai, Cảm Giác sinh ra từ Xúc của mũi, Cảm Giác sinh ra từ Xúc của lưỡi, Cảm Giác sinh ra từ Xúc của thân, Cảm Giác sinh ra từ Xúc của ý—khi hoàn toàn không có Cảm Giác, do Cảm Giác bị chặn, liệu sự thèm khát có thể xuất hiện được không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Do đó, này Ananda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là điều chắc chắn của sự thèm khát, đó chính là Cảm Giác.
Như vậy, này Ananda, Cảm Giác là điều kiện sinh ra sự thèm khát, sự thèm khát là điều kiện sinh ra tìm kiếm (cầu / pariyesanā), tìm kiếm là điều kiện sinh ra đạt được (lợi / lābha), đạt được là điều kiện sinh ra đánh giá (quyết định / vinicchaya), đánh giá là điều kiện sinh ra nhiễm vào sự ước mong (dục tham / chandarāga), nhiễm vào sự ước mong là điều kiện sinh ra trói buộc (hệ lụy / ajjhosāna), trói buộc là điều kiện sinh ra chiếm hữu (chấp thủ / pariggaha), chiếm hữu là điều kiện sinh ra tham lam (bủn xỉn / macchariya), tham lam là điều kiện sinh ra canh giữ (thủ hộ / ārakkha). Do lấy canh giữ làm nguyên nhân, nên việc cầm gậy, cầm kiếm, tranh cãi, xung đột, tranh chấp, mắng mỏ, vu khống, và nói dối—nhiều những điều không thiện (bất thiện pháp / akusalā dhammā) tồi tệ cùng phát sinh.
'Do lấy canh giữ làm nguyên nhân, nên việc cầm gậy, cầm kiếm, tranh cãi, xung đột, tranh chấp, mắng mỏ, vu khống, và nói dối—nhiều những điều không thiện tồi tệ cùng phát sinh' như đã nói, này Ananda, thì cần được hiểu như nào ? làm thế nào do lấy canh giữ làm nguyên nhân mà nhiều những điều không thiện tồi tệ cùng phát sinh. Này Ananda, nếu hoàn toàn không có canh giữ dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ đâu, của bất kỳ ai, đối với bất kỳ điều gì, khi hoàn toàn không có canh giữ, do canh giữ bị chặn, liệu việc cầm gậy, cầm kiếm, tranh cãi, xung đột, tranh chấp, mắng mỏ, vu khống, và nói dối—nhiều những điều không thiện tồi tệ có thể phát sinh được không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Do đó, này Ananda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là điều chắc chắn để phát sinh việc cầm gậy, cầm kiếm, tranh cãi, xung đột, tranh chấp, mắng mỏ, vu khống, và nói dối—nhiều những điều không thiện tồi tệ, đó chính là canh giữ.
'tham lam là điều kiện sinh ra canh giữ' như đã nói, này Ananda, thì cần được hiểu như nào ? làm thế nào tham lam là điều kiện sinh ra canh giữ. Này Ananda, nếu hoàn toàn không có tham lam dưới bất kỳ hình thức nào... khi hoàn toàn không có tham lam, do tham lam bị chặn, liệu canh giữ có thể xuất hiện được không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Do đó, này Ananda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là điều chắc chắn của canh giữ, đó chính là tham lam.
'chiếm hữu là điều kiện sinh ra tham lam' như đã nói, này Ananda, thì cần được hiểu như nào ? làm thế nào chiếm hữu là điều kiện sinh ra tham lam. Này Ananda, nếu hoàn toàn không có chiếm hữu dưới bất kỳ hình thức nào... khi hoàn toàn không có chiếm hữu, do chiếm hữu bị chặn, liệu tham lam có thể xuất hiện được không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Do đó, này Ananda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là điều chắc chắn của tham lam, đó chính là chiếm hữu.
'trói buộc là điều kiện sinh ra chiếm hữu' như đã nói, này Ananda, thì cần được hiểu như nào ? làm thế nào trói buộc là điều kiện sinh ra chiếm hữu. Này Ananda, nếu hoàn toàn không có trói buộc dưới bất kỳ hình thức nào... khi hoàn toàn không có trói buộc, do trói buộc bị chặn, liệu chiếm hữu có thể xuất hiện được không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Do đó, này Ananda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là điều chắc chắn của chiếm hữu, đó chính là trói buộc.
'nhiễm vào sự ước mong là điều kiện sinh ra trói buộc' như đã nói, này Ananda, thì cần được hiểu như nào ? làm thế nào nhiễm vào sự ước mong là điều kiện sinh ra trói buộc. Này Ananda, nếu hoàn toàn không có nhiễm vào sự ước mong dưới bất kỳ hình thức nào... khi hoàn toàn không có nhiễm vào sự ước mong, do nhiễm vào sự ước mong bị chặn, liệu trói buộc có thể xuất hiện được không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Do đó, này Ananda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là điều chắc chắn của trói buộc, đó chính là nhiễm vào sự ước mong.
'đánh giá là điều kiện sinh ra nhiễm vào sự ước mong' như đã nói, này Ananda, thì cần được hiểu như nào ? làm thế nào đánh giá là điều kiện sinh ra nhiễm vào sự ước mong. Này Ananda, nếu hoàn toàn không có đánh giá dưới bất kỳ hình thức nào... khi hoàn toàn không có đánh giá, do đánh giá bị chặn, liệu nhiễm vào sự ước mong có thể xuất hiện được không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Do đó, này Ananda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là điều chắc chắn của nhiễm vào sự ước mong, đó chính là đánh giá.
'đạt được là điều kiện sinh ra đánh giá' như đã nói, này Ananda, thì cần được hiểu như nào ? làm thế nào đạt được là điều kiện sinh ra đánh giá. Này Ananda, nếu hoàn toàn không có đạt được dưới bất kỳ hình thức nào... khi hoàn toàn không có đạt được, do đạt được bị chặn, liệu đánh giá có thể xuất hiện được không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Do đó, này Ananda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là điều chắc chắn của đánh giá, đó chính là đạt được.
'tìm kiếm là điều kiện sinh ra đạt được' như đã nói, này Ananda, thì cần được hiểu như nào ? làm thế nào tìm kiếm là điều kiện sinh ra đạt được. Này Ananda, nếu hoàn toàn không có tìm kiếm dưới bất kỳ hình thức nào... khi hoàn toàn không có tìm kiếm, do tìm kiếm bị chặn, liệu đạt được có thể xuất hiện được không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Do đó, này Ananda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là điều chắc chắn của đạt được, đó chính là tìm kiếm.
1'sự thèm khát là điều kiện sinh ra tìm kiếm' như đã nói, này Ananda, thì cần được hiểu như nào ? làm thế nào sự thèm khát là điều kiện sinh ra tìm kiếm. Này Ananda, nếu hoàn toàn không có sự thèm khát dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ đâu, của bất kỳ ai, đối với bất kỳ điều gì—như sự thèm khát dục, sự thèm khát tồn tại, sự thèm khát không tồn tại—khi hoàn toàn không có sự thèm khát, do sự thèm khát bị chặn, liệu tìm kiếm có thể xuất hiện được không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Do đó, này Ananda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là điều chắc chắn của tìm kiếm, đó chính là sự thèm khát. Như vậy, này Ananda, hai quy luật này thông qua hai ngã rẽ hội tụ lại thành một tại Cảm Giác.
2'Xúc là điều chắc chắn sinh ra Cảm Giác' như đã nói, này Ananda, thì cần được hiểu như nào ? làm thế nào Xúc là điều chắc chắn sinh ra Cảm Giác. Này Ananda, nếu hoàn toàn không có Xúc dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ đâu, của bất kỳ ai, đối với bất kỳ điều gì—như Xúc của mắt, Xúc của tai, Xúc của mũi, Xúc của lưỡi, Xúc của thân, Xúc của ý—khi hoàn toàn không có Xúc, do Xúc bị chặn, liệu Cảm Giác có thể xuất hiện được không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Do đó, này Ananda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là điều chắc chắn của Cảm Giác, đó chính là Xúc.
'Danh-sắc là điều chắc chắn sinh ra Xúc' như đã nói, này Ananda, thì cần được hiểu như nào ? làm thế nào Danh-sắc là điều chắc chắn sinh ra Xúc. Này Ananda, bằng những hình tướng nào, bằng những đặc điểm nào, bằng những dấu hiệu nào, bằng những chỉ định nào mà nhóm Danh được nhận biết; nếu không có những hình tướng ấy, những đặc điểm ấy, những dấu hiệu ấy, những chỉ định ấy, liệu Xúc qua tên gọi (tăng ngữ xúc / adhivacanasamphassa) có thể xuất hiện trong nhóm Sắc được không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Này Ananda, bằng những hình tướng nào, bằng những đặc điểm nào, bằng những dấu hiệu nào, bằng những chỉ định nào mà nhóm Sắc được nhận biết; nếu không có những hình tướng ấy... [lược bỏ]... những chỉ định ấy, liệu Xúc qua va chạm (chướng ngại xúc / paṭighasamphassa) có thể xuất hiện trong nhóm Danh được không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Này Ananda, bằng những hình tướng nào... [lược bỏ]... bằng những chỉ định nào mà nhóm Danh và nhóm Sắc được nhận biết; nếu không có những hình tướng ấy... [lược bỏ]... những chỉ định ấy, liệu Xúc qua tên gọi hoặc Xúc qua va chạm có thể xuất hiện được không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Này Ananda, bằng những hình tướng nào... [lược bỏ]... bằng những chỉ định nào mà Danh-sắc được nhận biết; nếu không có những hình tướng ấy... [lược bỏ]... những chỉ định ấy, liệu Xúc có thể xuất hiện được không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Do đó, này Ananda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là điều chắc chắn của Xúc, đó chính là Danh-sắc.
'sự Nhận biết là điều chắc chắn sinh ra Danh-sắc' như đã nói, này Ananda, thì cần được hiểu như nào ? làm thế nào sự Nhận biết là điều chắc chắn sinh ra Danh-sắc. Này Ananda, nếu sự Nhận biết không đi vào bụng mẹ, liệu Danh-sắc có thể hình thành trong bụng mẹ được không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Này Ananda, nếu sự Nhận biết đi vào bụng mẹ rồi lại rời đi, liệu Danh-sắc có thể sinh ra trong trạng thái này được không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Này Ananda, nếu sự Nhận biết bị cắt đứt khi còn là một cậu bé hay cô bé, liệu Danh-sắc có thể đạt đến sự tăng trưởng, phát triển và trưởng thành được không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Do đó, này Ananda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là điều chắc chắn của Danh-sắc—đó chính là sự Nhận biết.
'Danh-sắc là điều chắc chắn sinh ra sự Nhận biết' như đã nói, này Ananda, thì cần được hiểu như nào ? làm thế nào Danh-sắc là điều chắc chắn sinh ra sự Nhận biết. Này Ananda, nếu sự Nhận biết không tìm được chỗ đứng trong Danh-sắc, liệu trong tương lai sự sinh, già, chết và sự hình thành của đau khổ có thể xuất hiện được không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Do đó, này Ananda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là điều chắc chắn của sự Nhận biết, đó chính là Danh-sắc. Chỉ chừng này, này Ananda, là có sinh, già, chết, hoại diệt, tái sinh. Chỉ chừng này là con đường của tên gọi, chỉ chừng này là con đường của ngôn ngữ, chỉ chừng này là con đường của khái niệm, chỉ chừng này là phạm vi của trí tuệ, chỉ chừng này là vòng luân hồi xoay chuyển để chỉ định trạng thái này: đó là Danh-sắc cùng với sự Nhận biết tồn tại phụ thuộc...sinh (duyên / paṭicca) lẫn nhau.
2. Attapaññatti (Sự chỉ định về cái Tôi)
Và cho đến mức độ nào, này Ananda, một người khi chỉ định về cái Tôi (ngã / attā) thì chỉ định như thế nào? Này Ananda, khi chỉ định về cái Tôi, người ấy chỉ định cái Tôi có vật chất (sắc / rūpī) và nhỏ bé (thiểu / paritta): 'cái Tôi của tôi có vật chất và nhỏ bé'. Hoặc này Ananda, khi chỉ định về cái Tôi, người ấy chỉ định cái Tôi có vật chất và vô tận (vô lượng / ananta): 'cái Tôi của tôi có vật chất và vô tận'. Hoặc này Ananda, khi chỉ định về cái Tôi, người ấy chỉ định cái Tôi không có vật chất (vô sắc / arūpī) và nhỏ bé: 'cái Tôi của tôi không có vật chất và nhỏ bé'. Hoặc này Ananda, khi chỉ định về cái Tôi, người ấy chỉ định cái Tôi không có vật chất và vô tận: 'cái Tôi của tôi không có vật chất và vô tận'.
Ở đây, này Ananda, người nào chỉ định cái Tôi có vật chất và nhỏ bé, người ấy chỉ định cái Tôi có vật chất và nhỏ bé trong hiện tại, hoặc người ấy chỉ định cái Tôi có vật chất và nhỏ bé trong tương lai, hoặc người ấy nghĩ: 'Dù nó không phải như vậy, ta sẽ làm cho nó trở thành như vậy'. Khi sự việc là như thế, này Ananda, thật đủ để nói rằng quan điểm tùy miên về cái Tôi có vật chất và nhỏ bé đang ngủ ngầm trong người ấy.
Ở đây, này Ananda, người nào chỉ định cái Tôi có vật chất và vô tận, người ấy chỉ định cái Tôi có vật chất và vô tận trong hiện tại, hoặc người ấy chỉ định cái Tôi có vật chất và vô tận trong tương lai, hoặc người ấy nghĩ: 'Dù nó không phải như vậy, ta sẽ làm cho nó trở thành như vậy'. Khi sự việc là như thế, này Ananda, thật đủ để nói rằng quan điểm tùy miên về cái Tôi có vật chất và vô tận đang ngủ ngầm trong người ấy. Ở đây, này Ananda, người nào chỉ định cái Tôi không có vật chất và nhỏ bé, người ấy chỉ định cái Tôi không có vật chất và nhỏ bé trong hiện tại, hoặc người ấy chỉ định cái Tôi không có vật chất và nhỏ bé trong tương lai, hoặc người ấy nghĩ: 'Dù nó không phải như vậy, ta sẽ làm cho nó trở thành như vậy'. Khi sự việc là như thế, này Ananda, thật đủ để nói rằng quan điểm tùy miên về cái Tôi không có vật chất và nhỏ bé đang ngủ ngầm trong người ấy. Ở đây, này Ananda, người nào chỉ định cái Tôi không có vật chất và vô tận, người ấy chỉ định cái Tôi không có vật chất và vô tận trong hiện tại, hoặc người ấy chỉ định cái Tôi không có vật chất và vô tận trong tương lai, hoặc người ấy nghĩ: 'Dù nó không phải như vậy, ta sẽ làm cho nó trở thành như vậy'. Khi sự việc là như thế, này Ananda, thật đủ để nói rằng quan điểm tùy miên về cái Tôi không có vật chất và vô tận đang ngủ ngầm trong người ấy. Cho đến mức độ này, này Ananda, là cách một người chỉ định về cái Tôi.
3. Naattapaññatti (Sự không chỉ định về cái Tôi)
Và cho đến mức độ nào, này Ananda, một người khi không chỉ định về cái Tôi thì không chỉ định như thế nào? Này Ananda, khi không chỉ định về cái Tôi, người ấy không chỉ định cái Tôi có vật chất và nhỏ bé: 'cái Tôi của tôi có vật chất và nhỏ bé'. Hoặc này Ananda, khi không chỉ định về cái Tôi, người ấy không chỉ định cái Tôi có vật chất và vô tận: 'cái Tôi của tôi có vật chất và vô tận'. Hoặc này Ananda, khi không chỉ định về cái Tôi, người ấy không chỉ định cái Tôi không có vật chất và nhỏ bé: 'cái Tôi của tôi không có vật chất và nhỏ bé'. Hoặc này Ananda, khi không chỉ định về cái Tôi, người ấy không chỉ định cái Tôi không có vật chất và vô tận: 'cái Tôi của tôi không có vật chất và vô tận'.
Ở đây, này Ananda, người nào không chỉ định cái Tôi có vật chất và nhỏ bé, người ấy không chỉ định cái Tôi có vật chất và nhỏ bé trong hiện tại, người ấy cũng không chỉ định cái Tôi có vật chất và nhỏ bé trong tương lai, người ấy cũng không nghĩ: 'Dù nó không phải như vậy, ta sẽ làm cho nó trở thành như vậy'. Khi sự việc là như thế, này Ananda, thật đủ để nói rằng quan điểm tùy miên về cái Tôi có vật chất và nhỏ bé không ngủ ngầm trong người ấy. Ở đây, này Ananda, người nào không chỉ định cái Tôi có vật chất và vô tận, người ấy không chỉ định cái Tôi có vật chất và vô tận trong hiện tại, người ấy cũng không chỉ định cái Tôi có vật chất và vô tận trong tương lai, người ấy cũng không nghĩ: 'Dù nó không phải như vậy, ta sẽ làm cho nó trở thành như vậy'. Khi sự việc là như thế, này Ananda, thật đủ để nói rằng quan điểm tùy miên về cái Tôi có vật chất và vô tận không ngủ ngầm trong người ấy. Ở đây, này Ananda, người nào không chỉ định cái Tôi không có vật chất và nhỏ bé, người ấy không chỉ định cái Tôi không có vật chất và nhỏ bé trong hiện tại, người ấy cũng không chỉ định cái Tôi không có vật chất và nhỏ bé trong tương lai, người ấy cũng không nghĩ: 'Dù nó không phải như vậy, ta sẽ làm cho nó trở thành như vậy'. Khi sự việc là như thế, này Ananda, thật đủ để nói rằng quan điểm tùy miên về cái Tôi không có vật chất và nhỏ bé không ngủ ngầm trong người ấy. Ở đây, này Ananda, người nào không chỉ định cái Tôi không có vật chất và vô tận, người ấy không chỉ định cái Tôi không có vật chất và vô tận trong hiện tại, người ấy cũng không chỉ định cái Tôi không có vật chất và vô tận trong tương lai, người ấy cũng không nghĩ: 'Dù nó không phải như vậy, ta sẽ làm cho nó trở thành như vậy'. Khi sự việc là như thế, này Ananda, thật đủ để nói rằng quan điểm tùy miên về cái Tôi không có vật chất và vô tận không ngủ ngầm trong người ấy. Cho đến mức độ này, này Ananda, là cách một người không chỉ định về cái Tôi.
4. Attasamanupassanā (Sự quan sát về cái Tôi)
Và cho đến mức độ nào, này Ananda, một người khi quan sát về cái Tôi thì quan sát như thế nào? Này Ananda, khi quan sát về cái Tôi, người ấy quan sát Cảm Giác là cái Tôi: 'Cảm Giác là cái Tôi của tôi'. Hoặc này Ananda, khi quan sát về cái Tôi, người ấy quan sát: 'Cảm Giác không phải là cái Tôi của tôi, cái Tôi của tôi không có cảm nhận'. Hoặc này Ananda, khi quan sát về cái Tôi, người ấy quan sát: 'Cảm Giác không phải là cái Tôi của tôi, cái Tôi của tôi cũng không phải không có cảm nhận; cái Tôi của tôi cảm nhận, vì cái Tôi của tôi có bản chất là Cảm Giác'.
Ở đây, này Ananda, đối với người nói rằng: 'Cảm Giác là cái Tôi của tôi', cần phải nói với người ấy như sau: 'Này hiền giả, có ba loại Cảm Giác này— Cảm Giác Dễ Chịu (thọ lạc / sukhā vedanā), Cảm Giác Khó Chịu (thọ khổ / dukkhā vedanā), Cảm Giác Không Dễ Chịu Không Khó Chịu (bất khổ bất lạc thọ / adukkhamasukhā vedanā). Trong ba loại Cảm Giác này, bạn quan sát loại nào là cái Tôi?'. Này Ananda, trong lúc người ta cảm nhận Cảm Giác Dễ Chịu, lúc đó người ta không cảm nhận Cảm Giác Khó Chịu, không cảm nhận Cảm Giác Không Dễ Chịu Không Khó Chịu; lúc đó người ta chỉ cảm nhận Cảm Giác Dễ Chịu. Này Ananda, trong lúc người ta cảm nhận Cảm Giác Khó Chịu, lúc đó người ta không cảm nhận Cảm Giác Dễ Chịu, không cảm nhận Cảm Giác Không Dễ Chịu Không Khó Chịu; lúc đó người ta chỉ cảm nhận Cảm Giác Khó Chịu. Này Ananda, trong lúc người ta cảm nhận Cảm Giác Không Dễ Chịu Không Khó Chịu, lúc đó người ta không cảm nhận Cảm Giác Dễ Chịu, không cảm nhận Cảm Giác Khó Chịu; lúc đó người ta chỉ cảm nhận Cảm Giác Không Dễ Chịu Không Khó Chịu.
Này Ananda, Cảm Giác Dễ Chịu là không cố định (vô thường / anicca), do Hợp mà thành (hữu vi / saṅkhata), thứ hình thành qua phụ thuộc (duyên sinh / paṭiccasamuppanna), có bản chất cạn sạch (tận pháp / khayadhamma), bản chất tàn hoại (hoại pháp / vayadhamma), bản chất cạn hết đắm nhiễm (ly tham pháp / virāgadhamma), bản chất chấm dứt (diệt pháp / nirodhadhamma). Này Ananda, Cảm Giác Khó Chịu cũng là không cố định, do Hợp mà thành, thứ hình thành qua phụ thuộc, có bản chất cạn sạch, bản chất tàn hoại, bản chất cạn hết đắm nhiễm, bản chất chấm dứt. Này Ananda, Cảm Giác Không Dễ Chịu Không Khó Chịu cũng là không cố định, do Hợp mà thành, thứ hình thành qua phụ thuộc, có bản chất cạn sạch, bản chất tàn hoại, bản chất cạn hết đắm nhiễm, bản chất chấm dứt. Khi người ấy đang cảm nhận Cảm Giác Dễ Chịu, người ấy nghĩ: 'Đây là cái Tôi của tôi'. Khi chính Cảm Giác Dễ Chịu ấy chấm dứt, người ấy nghĩ: 'cái Tôi của tôi đã biến mất'. Khi người ấy đang cảm nhận Cảm Giác Khó Chịu, người ấy nghĩ: 'Đây là cái Tôi của tôi'. Khi chính Cảm Giác Khó Chịu ấy chấm dứt, người ấy nghĩ: 'cái Tôi của tôi đã biến mất'. Khi người ấy đang cảm nhận Cảm Giác Không Dễ Chịu Không Khó Chịu, người ấy nghĩ: 'Đây là cái Tôi của tôi'. Khi chính Cảm Giác Không Dễ Chịu Không Khó Chịu ấy chấm dứt, người ấy nghĩ: 'cái Tôi của tôi đã biến mất'. Như vậy, ngay trong hiện tại, người nói rằng: 'Cảm Giác là cái Tôi của tôi', đang quan sát một cái Tôi không cố định, pha trộn giữa dễ chịu và khó chịu, có bản chất sinh ra và tàn hoại. Do đó, này Ananda, vì lý do này, không thể chấp nhận việc quan sát: 'Cảm Giác là cái Tôi của tôi'.
Ở đây, này Ananda, đối với người nói rằng: 'Cảm Giác không phải là cái Tôi của tôi, cái Tôi của tôi không có cảm nhận', cần phải nói với người ấy như sau: 'Này hiền giả, ở nơi hoàn toàn không có sự cảm nhận nào, liệu ở đó có thể có ý nghĩ "Tôi là thế này" được không?'"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Do đó, này Ananda, vì lý do này, không thể chấp nhận việc quan sát: 'Cảm Giác không phải là cái Tôi của tôi, cái Tôi của tôi không có cảm nhận'.
Ở đây, này Ananda, đối với người nói rằng: 'Cảm Giác không phải là cái Tôi của tôi, cái Tôi của tôi cũng không phải không có cảm nhận; cái Tôi của tôi cảm nhận, vì cái Tôi của tôi có bản chất là Cảm Giác'. Cần phải nói với người ấy như sau: 'Này hiền giả, nếu Cảm Giác hoàn toàn, toàn bộ, bằng mọi cách, không còn sót lại đều chấm dứt. Khi hoàn toàn không có Cảm Giác, do Cảm Giác bị chặn, liệu ở đó có thể có ý nghĩ "Tôi là thế này" được không?'"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Do đó, này Ananda, vì lý do này, không thể chấp nhận việc quan sát: 'Cảm Giác không phải là cái Tôi của tôi, cái Tôi của tôi cũng không phải không có cảm nhận; cái Tôi của tôi cảm nhận, vì cái Tôi của tôi có bản chất là Cảm Giác'.
Này Ananda, khi tỳ kheo không quan sát Cảm Giác là cái Tôi, không quan sát cái Tôi không có cảm nhận, cũng không quan sát 'cái Tôi của tôi cảm nhận, vì cái Tôi của tôi có bản chất là Cảm Giác'. Khi không quan sát như vậy, vị ấy không Bám giữ bất cứ điều gì ở trên đời; không Bám giữ, vị ấy không lo âu; không lo âu, vị ấy tự mình đạt đến Niết-bàn. Vị ấy thấy rõ (tuệ tri / pajānāti): 'sự Sinh đã cạn sạch (đoạn tận / khayā), phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa'.
Này Ananda, đối với một tỳ kheo có tâm giải thoát như vậy, nếu ai nói rằng: 'Người Đến Như Vậy (Như Lai / Tathāgata) tồn tại sau khi chết, đó là quan điểm của vị ấy', điều đó không đúng. 'Người Đến Như Vậy không tồn tại sau khi chết, đó là quan điểm của vị ấy', điều đó không đúng. 'Người Đến Như Vậy vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết, đó là quan điểm của vị ấy', điều đó không đúng. 'Người Đến Như Vậy không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết, đó là quan điểm của vị ấy', điều đó không đúng.
Vì sao vậy? Này Ananda, cho đến chừng nào là tên gọi, cho đến chừng nào là con đường của tên gọi; cho đến chừng nào là ngôn ngữ, cho đến chừng nào là con đường của ngôn ngữ; cho đến chừng nào là khái niệm, cho đến chừng nào là con đường của khái niệm; cho đến chừng nào là trí tuệ, cho đến chừng nào là phạm vi của trí tuệ; cho đến chừng nào là vòng luân hồi, cho đến chừng nào vòng luân hồi xoay chuyển—tỳ kheo đã giải thoát nhờ thấy rõ những điều đó. Đối với tỳ kheo đã giải thoát nhờ thấy rõ những điều đó, nếu nói rằng: 'Vị ấy không biết, không thấy, đó là quan điểm của vị ấy', điều đó không đúng.
5. Sattaviññāṇaṭṭhiti (Các trạm dừng của sự Nhận biết)
Này Ananda, có bảy trạm dừng của sự Nhận biết (thức trú / viññāṇaṭṭhiti) và hai xứ (xứ / āyatana). Bảy trạm đó là gì?
Này Ananda, có những chúng sinh có cơ thể khác biệt (dị thân / nānattakāyā) và Nhận Thức khác biệt (dị tưởng / nānattasaññino), chẳng hạn như loài người, một số chư thiên, và một số chúng sinh ở đọa xứ. Đây là trạm dừng của sự Nhận biết thứ nhất.
Này Ananda, có những chúng sinh có cơ thể khác biệt và Nhận Thức đồng nhất (nhất tưởng / ekattasaññino), chẳng hạn như chư thiên thuộc Phạm chúng mới sinh ra ở đó. Đây là trạm dừng của sự Nhận biết thứ hai.
Này Ananda, có những chúng sinh có cơ thể đồng nhất (nhất thân / ekattakāyā) và Nhận Thức khác biệt, chẳng hạn như chư thiên Quang Âm. Đây là trạm dừng của sự Nhận biết thứ ba.
Này Ananda, có những chúng sinh có cơ thể đồng nhất và Nhận Thức đồng nhất, chẳng hạn như chư thiên Biến Tịnh. Đây là trạm dừng của sự Nhận biết thứ tư.
Này Ananda, có những chúng sinh hoàn toàn vượt qua các Nhận Thức về hình ảnh, với sự tan biến (diệt / atthaṅgama) của các Nhận Thức về va chạm, không chú ý đến các Nhận Thức về sự khác biệt, nhận thức rằng 'Không gian là vô tận', họ đi vào cõi Không Gian là Vô Tận (không vô biên xứ / ākāsānañcāyatana). Đây là trạm dừng của sự Nhận biết thứ năm.
Này Ananda, có những chúng sinh hoàn toàn vượt qua cõi Không Gian là Vô Tận, nhận thức rằng 'sự Nhận biết là vô tận', họ đi vào cõi Sự Phân Biệt là Vô Tận (thức vô biên xứ / viññāṇañcāyatana). Đây là trạm dừng của sự Nhận biết thứ sáu.
Này Ananda, có những chúng sinh hoàn toàn vượt qua cõi Sự Phân Biệt là Vô Tận, nhận thức rằng 'Không có vật gì', họ đi vào cõi Không Có Vật Gì (vô sở hữu xứ / ākiñcaññāyatana). Đây là trạm dừng của sự Nhận biết thứ bảy.
cõi chúng sinh không có Nhận Thức (vô tưởng hữu tình xứ / asaññasattāyatana) là xứ thứ nhất, và cõi Không Phải "Có Nhận Thức"; Cũng Không Phải "Mất Nhận Thức" (phi tưởng phi phi tưởng xứ / nevasaññānāsaññāyatana) là xứ thứ hai.
Ở đây, này Ananda, đối với trạm dừng của sự Nhận biết thứ nhất này, nơi chúng sinh có cơ thể khác biệt và Nhận Thức khác biệt, chẳng hạn như loài người, một số chư thiên, và một số chúng sinh ở đọa xứ. Này Ananda, người nào thấy rõ trạm dừng đó, thấy rõ sự hình thành của nó, thấy rõ sự tan biến của nó, thấy rõ sự ngọt ngào của nó, thấy rõ sự nguy hiểm của nó, và thấy rõ sự thoát khỏi nó, liệu người đó có thích hợp để vui thú chạy theo (dục hỷ / abhinandati) nó không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn." ...[lược bỏ]...
"Ở đây, này Ananda, đối với cõi chúng sinh không có Nhận Thức này. Này Ananda, người nào thấy rõ nó, thấy rõ sự hình thành của nó, thấy rõ sự tan biến của nó, thấy rõ sự ngọt ngào của nó, thấy rõ sự nguy hiểm của nó, và thấy rõ sự thoát khỏi nó, liệu người đó có thích hợp để vui thú chạy theo nó không?" "Thưa không, bạch Thế Tôn." "Ở đây, này Ananda, đối với cõi Không Phải "Có Nhận Thức"; Cũng Không Phải "Mất Nhận Thức" này. Này Ananda, người nào thấy rõ nó, thấy rõ sự hình thành của nó, thấy rõ sự tan biến của nó, thấy rõ sự ngọt ngào của nó, thấy rõ sự nguy hiểm của nó, và thấy rõ sự thoát khỏi nó, liệu người đó có thích hợp để vui thú chạy theo nó không?" "Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Này Ananda, khi tỳ kheo đã biết như thật về sự hình thành, sự tan biến, sự ngọt ngào, sự nguy hiểm, và sự thoát khỏi của bảy trạm dừng của sự Nhận biết này và hai xứ này, vị ấy được giải thoát mà không còn Bám giữ. Này Ananda, tỳ kheo này được gọi là người giải thoát bằng trí tuệ (tuệ giải thoát / paññāvimutti).
6. Aṭṭhavimokkha (Tám sự giải thoát)
Này Ananda, có tám sự giải thoát (giải thoát / vimokkha) này. Tám sự giải thoát đó là gì?
Người có vật chất nhìn thấy các hình ảnh, đây là sự giải thoát thứ nhất.
Người không có Nhận Thức về hình ảnh bên trong, nhìn thấy các hình ảnh bên ngoài, đây là sự giải thoát thứ hai.
Người ấy chú tâm hoàn toàn vào cái đẹp, đây là sự giải thoát thứ ba.
Hoàn toàn vượt qua các Nhận Thức về hình ảnh, với sự tan biến của các Nhận Thức về va chạm, không chú ý đến các Nhận Thức về sự khác biệt, nhận thức rằng 'Không gian là vô tận', người ấy đạt đến và an trú trong cõi Không Gian là Vô Tận, đây là sự giải thoát thứ tư.
Hoàn toàn vượt qua cõi Không Gian là Vô Tận, nhận thức rằng 'sự Nhận biết là vô tận', người ấy đạt đến và an trú trong cõi Sự Phân Biệt là Vô Tận, đây là sự giải thoát thứ năm.
Hoàn toàn vượt qua cõi Sự Phân Biệt là Vô Tận, nhận thức rằng 'Không có vật gì', người ấy đạt đến và an trú trong cõi Không Có Vật Gì, đây là sự giải thoát thứ sáu.
Hoàn toàn vượt qua cõi Không Có Vật Gì, người ấy đạt đến và an trú trong cõi Không Phải "Có Nhận Thức"; Cũng Không Phải "Mất Nhận Thức", đây là sự giải thoát thứ bảy.
Hoàn toàn vượt qua cõi Không Phải "Có Nhận Thức"; Cũng Không Phải "Mất Nhận Thức", người ấy đạt đến và an trú trong sự chấm dứt Nhận Thức và Cảm Giác (diệt thọ tưởng định / saññāvedayitanirodha), đây là sự giải thoát thứ tám.
Này Ananda, đây là tám sự giải thoát.
Này Ananda, khi tỳ kheo nhập vào tám sự giải thoát này theo chiều thuận, nhập vào theo chiều nghịch, nhập vào theo cả chiều thuận và chiều nghịch; vị ấy nhập vào và xuất ra ở bất cứ nơi nào vị ấy muốn, bất cứ lúc nào vị ấy muốn, và trong bao lâu vị ấy muốn. Và nhờ sự cạn sạch các nguồn ác (lậu hoặc / āsava), vị ấy tự mình thấy rõ, chứng ngộ, đạt đến và an trú ngay trong hiện tại sự giải thoát bằng tâm (tâm giải thoát / cetovimutti) không còn nguồn ác và sự giải thoát bằng trí tuệ. Này Ananda, tỳ kheo này được gọi là người giải thoát cả hai phần (câu phần giải thoát / ubhatobhāgavimutta). Và này Ananda, không có sự giải thoát cả hai phần nào khác cao thượng hơn hay thù thắng hơn sự giải thoát cả hai phần này."
Thế Tôn đã thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ananda hoan hỷ, vui thú chạy theo lời Thế Tôn dạy.
Kinh Đại Duyên thứ hai đã kết thúc.
Bảng thuật ngữ:
| Thuật ngữ Pali | Từ cũ (Hán-Việt) | Từ mới (Hiện đại) | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Paṭiccasamuppāda | Duyên khởi | sự hình thành qua phụ thuộc | |
| Dhamma | Pháp | Điều dạy / quy luật | Tùy ngữ cảnh: lời dạy của Phật hoặc các hiện tượng/quy luật. |
| Nissaraṇa | Xuất ly | thoát khỏi | |
| Paccaya | Duyên | điều chắc chắn / điều kiện sinh | |
| Jarāmaraṇa | Lão-tử | già-chết | |
| Jāti | Sinh | sự Sinh | |
| Bhava | Hữu | Mầm sống | Dùng trong ngữ cảnh Duyên khởi. |
| Upādāna | Chấp thủ | sự bám giữ | |
| Taṇhā | Tham ái | sự thèm khát | |
| Vedanā | Thọ | Cảm Giác | |
| Phassa | Xúc | Xúc | |
| Nāmarūpa | Danh-sắc | Danh-sắc | |
| Viññāṇa | Thức | sự Nhận biết | |
| Samudaya | Tập / Sinh | sự hình thành | |
| Nirodha | Diệt | bị chặn / chấm dứt | |
| [!] pariyesanā | Cầu | tìm kiếm | sự tìm kiếm, theo đuổi |
| [!] lābha | Lợi | đạt được | thu được, có được |
| [!] vinicchaya | Quyết định | đánh giá | sự phán xét, phân định |
| [!] chandarāga | Dục tham | mong muốn đắm nhiễm | sự khao khát và dính mắc |
| [!] ajjhosāna | Hệ lụy | trói buộc | sự dính mắc sâu sắc, trói buộc tâm trí |
| [!] pariggaha | Chấp thủ | chiếm hữu | sự nắm giữ làm của riêng |
| [!] macchariya | Bủn xỉn / tham lam | tham lam | sự keo kiệt, không muốn chia sẻ |
| [!] ārakkha | Thủ hộ | bảo vệ | sự canh giữ, bảo vệ tài sản |
| Akusalā dhammā | Bất thiện pháp | những điều không thiện | |
| [!] adhivacanasamphassa | Tăng ngữ xúc | Xúc qua tên gọi | sự tiếp xúc của tâm trí với các khái niệm, tên gọi |
| [!] paṭighasamphassa | Chướng ngại xúc | Xúc qua va chạm | sự tiếp xúc vật lý của năm giác quan |
| Paṭicca | Duyên | phụ thuộc...sinh | |
| [!] attā | Ngã | cái Tôi | bản ngã, tự ngã |
| [!] rūpī | Sắc | có vật chất | thuộc về hình thể, vật chất |
| [!] arūpī | Vô sắc | không có vật chất | không có hình thể |
| [!] paritta | Thiểu | nhỏ bé | giới hạn, nhỏ hẹp |
| [!] ananta | Vô lượng | vô tận | không có giới hạn |
| Sukhā vedanā | Thọ lạc | Cảm Giác Dễ Chịu | |
| Dukkhā vedanā | Thọ khổ | Cảm Giác Khó Chịu | |
| Adukkhamasukhā vedanā | Bất khổ bất lạc thọ | Cảm Giác Không Dễ Chịu Không Khó Chịu | |
| [!] anicca | Vô thường | không cố định | luôn thay đổi |
| Saṅkhata | Hữu vi | do Hợp mà thành | |
| Paṭiccasamuppanna | Duyên sinh | thứ hình thành qua phụ thuộc | |
| [!] khayadhamma | Tận pháp | bản chất cạn sạch | quy luật đi đến sự cạn kiệt |
| [!] vayadhamma | Hoại pháp | bản chất tàn hoại | quy luật đi đến sự suy tàn |
| [!] virāgadhamma | Ly tham pháp | bản chất cạn hết đắm nhiễm | quy luật đi đến sự phai nhạt tham ái |
| [!] nirodhadhamma | Diệt pháp | bản chất chấm dứt | quy luật đi đến sự diệt tận |
| Pajānāti | Tuệ tri | thấy rõ | |
| Khayā | Đoạn tận | cạn sạch | |
| Tathāgata | Như Lai | Người Đến Như Vậy | |
| [!] viññāṇaṭṭhiti | Thức trú | trạm dừng của sự Nhận biết | nơi tâm thức an trú |
| Āyatana | Xứ | xứ | |
| [!] nānattakāyā | Dị thân | cơ thể khác biệt | thân thể đa dạng |
| [!] nānattasaññino | Dị tưởng | Nhận Thức khác biệt | nhận thức đa dạng |
| [!] ekattasaññino | Nhất tưởng | Nhận Thức đồng nhất | nhận thức giống nhau |
| [!] ekattakāyā | Nhất thân | cơ thể đồng nhất | thân thể giống nhau |
| Ākāsānañcāyatana | Không vô biên xứ | cõi Không Gian là Vô Tận | |
| Viññāṇañcāyatana | Thức vô biên xứ | cõi Sự Phân Biệt là Vô Tận | |
| Ākiñcaññāyatana | Vô sở hữu xứ | cõi Không Có Vật Gì | |
| Nevasaññānāsaññāyatana | Phi tưởng phi phi tưởng xứ | cõi Không Phải "Có Nhận Thức"; Cũng Không Phải "Mất Nhận Thức" | |
| [!] asaññasattāyatana | Vô tưởng hữu tình xứ | cõi chúng sinh không có Nhận Thức | cảnh giới không có hoạt động nhận thức |
| Atthaṅgama | Diệt | tan biến | |
| Abhinandati | Dục hỷ | vui thú chạy theo | |
| [!] vimokkha | Giải thoát | sự giải thoát | sự thoát khỏi các trói buộc thiền định |
| [!] saññāvedayitanirodha | Diệt thọ tưởng định | sự chấm dứt Nhận Thức và Cảm Giác | trạng thái thiền định ngưng bặt thọ và tưởng |
| Āsava | Lậu hoặc | nguồn ác | |
| [!] cetovimutti | Tâm giải thoát | giải thoát bằng tâm | sự giải thoát của tâm khỏi các lậu hoặc |
| [!] paññāvimutti | Tuệ giải thoát | giải thoát bằng trí tuệ | sự giải thoát thông qua tuệ giác |
| [!] ubhatobhāgavimutta | Câu phần giải thoát | giải thoát cả hai phần | giải thoát qua cả thiền định (tâm) và trí tuệ |