DN 1. KINH LƯỚI TRỜI (Tóm Lược)
(Brahmajālasutta)
Bản đầy đủ
1. Bối cảnh: Cuộc tranh luận của các đạo sĩ (Paribbājakakathā)
Một thời, tôi được nghe như sau: Thế Tôn đang trên đường du hành giữa Rājagaha và Nāḷanda cùng một Tăng đoàn lớn gồm khoảng năm trăm tỳ kheo. Cùng lúc đó, đạo sĩ lang thang Suppiya cũng đi trên tuyến đường này cùng đệ tử là thanh niên Brahmadatta. Dọc đường, đạo sĩ Suppiya liên tục dùng nhiều lý lẽ để chê bai Phật, chê bai Điều dạy (Pháp / dhamma) và chê bai Tăng đoàn. Ngược lại, người đệ tử Brahmadatta lại hết lời ca ngợi Phật, ca ngợi Điều dạy và ca ngợi Tăng đoàn. Hai thầy trò cứ thế đưa ra những quan điểm hoàn toàn trái ngược nhau, bám sát phía sau Thế Tôn và Tăng đoàn.
Đến tối, Thế Tôn cùng Tăng đoàn dừng chân nghỉ lại tại nhà nghỉ của nhà vua trong khu vườn Ambalaṭṭhikā. Đạo sĩ Suppiya và đệ tử Brahmadatta cũng nghỉ lại tại đây. Cuộc tranh luận trái chiều giữa hai thầy trò về việc khen chê Tam Bảo vẫn tiếp tục diễn ra không dứt.
Sáng sớm hôm sau, khi nhiều tỳ kheo thức dậy và tập trung tại ngôi nhà tròn, một cuộc thảo luận đã nổ ra: "Thưa các hiền giả, thật kỳ diệu và phi thường làm sao! Thế Tôn – bậc biết rõ (tuệ tri / pajānāti), thấy rõ, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác – lại thấu hiểu tường tận khuynh hướng đa dạng của chúng sinh đến thế. Bằng chứng là đạo sĩ Suppiya thì liên tục chê bai, trong khi người đệ tử Brahmadatta lại không ngừng ca ngợi Phật, Điều dạy và Tăng đoàn. Họ mang những quan điểm đối lập nhau hoàn toàn dù đi ngay sát phía sau Thế Tôn."
Nhận biết được chủ đề thảo luận này, Thế Tôn đi đến ngôi nhà tròn, an tọa và hỏi các tỳ kheo về câu chuyện đang bị bỏ dở. Sau khi nghe các tỳ kheo trình bày lại sự việc, Ngài đã đưa ra lời khuyên:
"Thưa các tỳ kheo, nếu có ai chê bai Ta, chê bai Điều dạy, hoặc chê bai Tăng đoàn, các vị không nên tức giận, bất mãn hay để tâm oán hận. Bởi lẽ, nếu các vị sinh lòng bực tức hay phiền muộn, điều đó sẽ chỉ tạo thành chướng ngại tâm lý cho chính các vị. Hơn nữa, khi tâm trí bị kích động, liệu các vị có còn đủ sáng suốt để phân định lời chê bai đó là đúng hay sai chăng?"
Các tỳ kheo đáp: "Dạ không thể, bạch Thế Tôn."
Thế Tôn tiếp tục: "Do đó, trước những lời chê bai, các vị chỉ cần bình tâm giải thích rõ những điểm sai sự thật: 'Điều này là không đúng, điều này thiếu chính xác, điều này không tồn tại ở chúng tôi'.
Ngược lại, nếu có người ca ngợi Ta, ca ngợi Điều dạy, hoặc ca ngợi Tăng đoàn, các vị cũng không nên vui sướng, hân hoan hay để tâm bay bổng. Sự hưng phấn thái quá đó cũng sẽ trở thành chướng ngại cho sự tu tập của các vị. Trước những lời khen ngợi, các vị chỉ cần xác nhận những gì đúng với thực tế: 'Điều này là đúng sự thật, điều này là chính xác, điều này hiện hữu ở chúng tôi'."
2. Các cấp độ Đạo đức (Sīla)
2.1. Đạo đức nền tảng (Cūḷasīla)
Thưa các tỳ kheo, những lời ca ngợi mà một người thường (phàm phu / puthujjana) dành cho Người Đến Như Vậy (Như Lai / Tathāgata) thực chất chỉ xoay quanh những tiêu chuẩn đạo đức nền tảng, nhỏ bé. Cụ thể, họ có thể nhận xét rằng:
- 'Sa-môn Gotama đã từ bỏ việc giết hại sinh mệnh, vứt bỏ vũ khí, sống với lòng hổ thẹn, từ bi và quan tâm đến lợi ích của mọi sinh vật.'
- 'Ngài từ bỏ việc lấy của không cho, sống thanh sạch, không trộm cắp và chỉ nhận những gì được trao tặng.'
- 'Ngài sống đời sống phạm hạnh trong sạch, cách biệt hoàn toàn với các hành vi giao cấu của người đời.'
- 'Ngài từ bỏ nói dối, luôn gắn bó với sự thật, đáng tin cậy và không lừa dối thế gian.'
- 'Ngài từ bỏ lời nói chia rẽ; không dùng lời lẽ nghe được ở nơi này để gây xích mích ở nơi khác. Ngài là người hàn gắn những rạn nứt, khuyến khích sự đoàn kết và luôn nói những lời tạo ra sự hòa hợp.'
- 'Ngài từ bỏ lời nói thô lỗ, chỉ dùng những từ ngữ êm ái, lịch sự, đi vào lòng người và làm hài lòng đại chúng.'
- 'Ngài từ bỏ lời nói nhảm nhí; chỉ phát ngôn đúng lúc, đúng sự thật, nói về Điều dạy và kỷ luật với những lý lẽ hợp thời, có chừng mực và mang lại lợi ích.'
Họ cũng có thể ca ngợi rằng sa-môn Gotama tránh xa việc làm tổn hại hạt giống và cây cỏ; chỉ ăn một bữa mỗi ngày; không xem các buổi biểu diễn ca múa nhạc; không sử dụng hương liệu hay mỹ phẩm trang điểm; không nằm giường cao rộng; không nhận vàng bạc, thịt sống, phụ nữ, nô lệ hay các loại gia súc, đất đai. Ngài cũng không làm người chạy việc, không tham gia mua bán, không gian lận đo lường, và hoàn toàn tránh xa các hành vi hối lộ, lừa đảo hay bạo lực.
Đó là những vấn đề đạo đức nền tảng mà một người thường có thể đề cập khi ca ngợi Người Đến Như Vậy.
2.2. Đạo đức trung bình (Majjhimasīla)
Tiếp đến, họ có thể ca ngợi dựa trên việc so sánh: 'Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn dù thọ dụng thức ăn do tín tâm dâng cúng nhưng vẫn tiếp tục làm tổn hại các loại hạt giống và cây cỏ; hoặc tiếp tục tích trữ tài sản, thức ăn, y phục; hoặc đam mê xem các buổi biểu diễn giải trí, chọi thú, diễn tập quân sự; hoặc sa đà vào các trò chơi cờ bạc; hoặc thích sử dụng giường nệm xa hoa và mỹ phẩm trang điểm; hoặc dành thời gian cho những câu chuyện phiếm về vua chúa, chiến tranh, đường phố; hoặc tham gia vào những cuộc tranh cãi vô bổ để giành phần thắng; hoặc làm người đưa tin, môi giới, lừa đảo và nịnh hót để trục lợi — thì sa-môn Gotama hoàn toàn tránh xa tất cả những hành vi này.'
2.3. Đạo đức bậc cao (Mahāsīla)
Hơn thế nữa, họ có thể nhận xét: 'Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn thọ dụng thức ăn dâng cúng nhưng lại nuôi sống bản thân bằng tà mạng thông qua các môn khoa học thấp kém (như bói toán, xem tướng, giải mộng, tế lễ, dự đoán các hiện tượng thiên văn, thời tiết, mùa màng, xem ngày giờ cưới hỏi, làm bùa chú, hoặc hành nghề y thuật dân gian) — thì sa-môn Gotama hoàn toàn tránh xa những phương thức tà mạng này.'
Thưa các tỳ kheo, tất cả những điều trên chỉ là những tiêu chuẩn đạo đức thông thường mà một người thường có thể nhìn thấy và ca ngợi ở Người Đến Như Vậy.
3. Phân tích các quan điểm triết học sai lầm (Diṭṭhi)
3.1. Những người suy đoán về quá khứ (Pubbantakappika)
Thưa các tỳ kheo, tồn tại những Nguyên lý khác sâu sắc, khó thấy, khó hiểu, tĩnh lặng, cao thượng, vượt ngoài phạm vi của lý luận, vô cùng tinh tế và chỉ những bậc trí giả mới có thể tự mình trải nghiệm. Người Đến Như Vậy đã trực tiếp biết rõ, chứng ngộ và tuyên thuyết những Nguyên lý này. Chính dựa trên những nền tảng đó, những ai muốn ca ngợi Người Đến Như Vậy một cách chân thực mới có thể phát ngôn chuẩn xác. Những Nguyên lý đó là gì?
Có một số sa-môn và bà-la-môn là người suy đoán về quá khứ (bản kiếp mạt kiếp / pubbantakappika). Họ mang quan điểm sai (tà kiến / diṭṭhi) về quá khứ, bám víu vào đó và kiến tạo nên nhiều lý thuyết khác nhau dựa trên mười tám cơ sở.
3.1.1. Thuyết thường hằng (Sassatavāda)
Có những vị theo thuyết thường hằng (thường kiến / sassatavāda), tuyên bố rằng bản ngã và thế giới là vĩnh cửu dựa trên bốn cơ sở:
1. Cơ sở thứ nhất: Nhờ nỗ lực tu tập, một vị đạt đến trạng thái định tâm. Trong sự tĩnh lặng đó, vị ấy nhớ lại vô số đời sống quá khứ (từ một đời cho đến hàng trăm ngàn đời) với đầy đủ chi tiết về tên tuổi, dòng họ, trải nghiệm hạnh phúc hay đau khổ (khổ / dukkha). Từ trải nghiệm này, vị ấy kết luận: "Bản ngã và thế giới là vĩnh cửu, đứng vững như đỉnh núi; dẫu chúng sinh có luân hồi sinh tử, bản ngã và thế giới vẫn tồn tại vĩnh viễn."
2. Cơ sở thứ hai: Tương tự, vị ấy nhớ lại quá khứ kéo dài qua nhiều chu kỳ vũ trụ co lại và giãn nở (lên đến mười chu kỳ), và cũng đi đến kết luận tương tự.
3. Cơ sở thứ ba: Vị ấy nhớ lại quá khứ kéo dài qua bốn mươi chu kỳ vũ trụ, và tiếp tục khẳng định sự vĩnh cửu của bản ngã và thế giới.
4. Cơ sở thứ tư: Một vị không dựa trên thiền định mà dựa trên lý luận và suy diễn logic để tự mình đưa ra kết luận rằng bản ngã và thế giới là vĩnh cửu.
Bất kỳ ai tuyên bố thuyết thường hằng đều không nằm ngoài bốn cơ sở này. Người Đến Như Vậy biết rõ cơ chế hình thành của những quan điểm này và hệ quả tương lai của chúng. Ngài thấu hiểu những điều vượt trội hơn thế, nhưng không bám víu vào sự hiểu biết đó. Nhờ thấu suốt sự hình thành (sinh / samudaya), sự tan biến (diệt / atthaṅgama), sự hấp dẫn (vị ngọt / assāda), mặt trái (sự nguy hiểm / ādīnava) và sự thoát ly (xuất ly / nissaraṇa) của các Cảm Giác (thọ / vedanā), Người Đến Như Vậy đạt được sự giải thoát hoàn toàn do không còn nắm chặt (thủ / upādāna).
3.1.2. Thuyết thường hằng một phần (Ekaccasassatavāda)
Có những vị theo thuyết thường hằng một phần, cho rằng bản ngã và thế giới một phần là vĩnh cửu, một phần là vô thường, dựa trên bốn cơ sở:
1. Cơ sở thứ nhất (Sự ngộ nhận của Phạm thiên): Khi vũ trụ giãn nở, một chúng sinh sinh vào cung điện Phạm thiên trống rỗng. Sống cô độc quá lâu, vị này khởi sinh mong muốn có bạn đồng hành. Tình cờ lúc đó, các chúng sinh khác cũng sinh vào cõi này. Vị sinh ra đầu tiên (có tuổi thọ và quyền năng lớn hơn) lầm tưởng mình là Đấng Tạo Hóa đã tạo ra những người đến sau. Những người đến sau cũng tin như vậy. Khi một trong những chúng sinh đến sau này tái sinh làm người, tu tập thiền định và nhớ lại kiếp sống đó, vị ấy kết luận: "Đấng Tạo Hóa là vĩnh cửu, còn chúng ta – những kẻ được tạo ra – là vô thường và phải chịu sự chết."
2. Cơ sở thứ hai (Sự sa ngã do vui đùa): Có những vị trời do đắm chìm trong khoái lạc vui đùa nên đánh mất sự Tự Quan Sát (chánh niệm / sati) và bị đọa lạc. Khi tái sinh làm người và nhớ lại kiếp đó, vị ấy kết luận: "Những vị trời không sa ngã thì vĩnh cửu, còn chúng ta do sa ngã nên vô thường."
3. Cơ sở thứ hai (Sự sa ngã do ác ý): Có những vị trời do nhìn nhau với sự đố kỵ, sinh tâm thù ghét khiến cơ thể và tâm trí suy kiệt rồi đọa lạc. Khi tái sinh làm người, vị ấy kết luận: "Những vị trời không có ác ý thì vĩnh cửu, còn chúng ta do ác ý nên vô thường."
4. Cơ sở thứ tư (Suy diễn logic): Dựa trên lý luận, một vị cho rằng các giác quan (Vật chất / rūpa) là vô thường, nhưng tâm trí hay sự Phân Biệt (thức / viññāṇa) lại là bản ngã vĩnh cửu, không thay đổi.
3.1.3. Thuyết hữu hạn và vô hạn (Antānantavāda)
Có những vị tuyên bố thế giới là hữu hạn hoặc vô hạn dựa trên bốn cơ sở:
1. Nhờ thiền định, an trú trong Nhận Thức (tưởng / saññā) rằng thế giới có giới hạn, nên kết luận thế giới là hữu hạn.
2. An trú trong Nhận Thức rằng thế giới không có giới hạn, nên kết luận thế giới là vô hạn.
3. An trú trong Nhận Thức rằng thế giới hữu hạn theo chiều dọc nhưng vô hạn theo chiều ngang, nên kết luận thế giới vừa hữu hạn vừa vô hạn.
4. Dựa trên lý luận, kết luận thế giới không phải hữu hạn cũng không phải vô hạn.
3.1.4. Thuyết trườn uốn (Amarāvikkhepavāda)
Có những vị theo thuyết trườn uốn (ngụy biện / amarāvikkhepavāda), luôn lảng tránh trả lời trực tiếp các câu hỏi triết học dựa trên bốn cơ sở:
1. Sợ nói dối vì bản thân không thực sự biết rõ điều gì là thiện hay không thiện.
2. Sợ sinh tâm bám víu (mong muốn hoặc ghét bỏ) nếu đưa ra một câu trả lời dứt khoát.
3. Sợ bị các học giả sắc sảo chất vấn và đánh bại trong tranh luận.
4. Do bản tính quá ngu ngốc và u mê, nên khi được hỏi về sự tồn tại của thế giới khác, luật nhân quả, hay trạng thái sau khi chết, vị ấy chỉ trả lời nước đôi: "Tôi không nghĩ vậy, cũng không nói là không phải vậy."
3.1.5. Thuyết phát sinh ngẫu nhiên (Adhiccasamuppannavāda)
Có những vị theo thuyết phát sinh ngẫu nhiên (vô nhân kiến / adhiccasamuppannavāda), cho rằng mọi thứ tự nhiên sinh ra không có nguyên nhân, dựa trên hai cơ sở:
1. Một chúng sinh từ cõi trời "không có Nhận Thức" tái sinh làm người. Vị ấy chỉ nhớ được khoảnh khắc Nhận Thức đầu tiên khởi lên và kết luận: "Trước đây tôi không tồn tại, nay tự nhiên tôi xuất hiện, vậy bản ngã phát sinh ngẫu nhiên."
2. Dựa trên lý luận và suy diễn logic để đưa ra kết luận tương tự.
Tất cả những người suy đoán về quá khứ đều bị giới hạn trong mười tám cơ sở này. Người Đến Như Vậy thấu suốt tất cả và hoàn toàn giải thoát khỏi chúng.
(Kết thúc phần tụng thứ hai)
3.2. Những người suy đoán về tương lai (Aparantakappika)
Thưa các tỳ kheo, lại có những sa-môn và bà-la-môn là người suy đoán về tương lai (tùy miên / aparantakappika). Họ bám víu vào các lý thuyết về trạng thái sau khi chết dựa trên bốn mươi bốn cơ sở.
3.2.1. Thuyết có nhận thức (Saññīvāda)
Họ tuyên bố bản ngã vẫn tồn tại và có Nhận Thức sau khi chết dựa trên mười sáu biến thể: Bản ngã có hình thể (Vật chất), hoặc không có hình thể (Phi vật chất / arūpa), hoặc cả hai, hoặc không thuộc cả hai; bản ngã hữu hạn, vô hạn, cả hai, hoặc không thuộc cả hai; bản ngã có Nhận Thức đồng nhất, đa dạng, hạn hẹp, hoặc vô hạn; bản ngã hoàn toàn hạnh phúc, hoàn toàn đau khổ, cả hai, hoặc không hạnh phúc cũng không đau khổ.
3.2.2. Thuyết không có nhận thức (Asaññīvāda)
Họ tuyên bố bản ngã tồn tại nhưng không có Nhận Thức sau khi chết dựa trên tám biến thể (tương tự như trên về mặt hình thể và giới hạn, nhưng loại trừ yếu tố Nhận Thức).
3.2.3. Thuyết không phải có nhận thức cũng không phải không có nhận thức (Nevasaññīnāsaññīvāda)
Họ tuyên bố bản ngã tồn tại ở trạng thái vi tế (không hẳn có cũng không hẳn không có Nhận Thức) dựa trên tám biến thể tương tự.
3.2.4. Thuyết đoạn diệt (Ucchedavāda)
Có những vị theo thuyết đoạn diệt (đoạn kiến / ucchedavāda), cho rằng chết là sự tiêu diệt hoàn toàn, dựa trên bảy cơ sở: 1. Bản ngã vật lý này tan rã là chấm dứt hoàn toàn.
2. Bản ngã vật lý tan rã chưa phải là hết, phải đến khi bản ngã thuộc cõi trời (có hình thể, ăn thức ăn) tan rã mới là chấm dứt.
3. Phải đến khi bản ngã cõi trời (tạo ra từ tâm trí) tan rã.
4. Phải đến khi bản ngã đạt cõi Không Gian là Vô Tận (không vô biên xứ / ākāsānañcāyatana) tan rã.
5. Phải đến khi bản ngã đạt cõi Sự Phân Biệt là Vô Tận (thức vô biên xứ / viññāṇañcāyatana) tan rã.
6. Phải đến khi bản ngã đạt cõi Không Có Vật Gì (vô sở hữu xứ / ākiñcaññāyatana) tan rã.
7. Phải đến khi bản ngã đạt cõi Không Phải "Có Nhận Thức"; Cũng Không Phải "Mất Nhận Thức" (phi tưởng phi phi tưởng xứ / nevasaññānāsaññāyatana) tan rã thì mới thực sự bị tiêu diệt hoàn toàn.
3.2.5. Thuyết Niết-bàn ngay trong hiện tại (Diṭṭhadhammanibbānavāda)
Có những vị theo thuyết Niết-bàn ngay trong hiện tại (hiện tại niết bàn luận / diṭṭhadhammanibbānavāda), cho rằng sự giải thoát tối hậu có thể đạt được ngay lúc này, dựa trên năm cơ sở:
1. Sự thỏa mãn tột đỉnh của năm sợi dây trói buộc của dễ chịu giác quan (ngũ dục / kāmaguṇa) chính là Niết-bàn.
2. Bác bỏ điều trên vì khoái lạc giác quan mang lại đau khổ. Họ cho rằng đạt được Thiền-na (Thiền / jhāna) thứ nhất (trạng thái có chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý / savitakka savicāra) mới là Niết-bàn.
3. Bác bỏ điều trên vì sự chú ý chủ động vẫn mang tính máy móc (thô / oḷārika). Họ cho rằng đạt được Thiền-na thứ hai (trạng thái Không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý / avitakka avicāra) mới là Niết-bàn.
4. Bác bỏ điều trên vì sự hân hoan (hỷ / pīti) vẫn làm tâm dao động. Họ cho rằng đạt được Thiền-na thứ ba (an trú trong Tâm bình thản / xả / upekkhā, có sự nhận biết rõ ràng / tỉnh giác / sampajāna) mới là Niết-bàn.
5. Bác bỏ điều trên vì tâm vẫn hướng đến ý nghĩ về hạnh phúc. Họ cho rằng đạt được Thiền-na thứ tư (trạng thái Không Dễ Chịu Không Khó Chịu / bất lạc bất khổ / adukkhamasukha) mới là Niết-bàn tối hậu.
Thưa các tỳ kheo, tất cả những ai đưa ra các lý thuyết về quá khứ hay tương lai đều không nằm ngoài sáu mươi hai cơ sở này. Người Đến Như Vậy thấu hiểu toàn bộ cơ chế này, không bám víu vào chúng, và nhờ thấu suốt bản chất của các Cảm Giác, Ngài đã đạt được sự giải thoát hoàn toàn.
4. Bản chất tâm lý của các quan điểm (Attālokapaññattivatthu)
4.1. Sự lo âu và dao động (Paritassitavipphanditavāra)
Thưa các tỳ kheo, khi các sa-môn và bà-la-môn đưa ra sáu mươi hai quan điểm này, thực chất đó chỉ là sự cảm nhận chủ quan của những người không hiểu rõ và không thấy rõ sự thật. Đó là biểu hiện của sự lo âu và dao động trong tâm trí của những người đang bị sự thèm khát (ái / taṇhā) chi phối.
4.2. Cơ chế hình thành do tiếp xúc (Phassapaccayāvāra)
Tất cả sáu mươi hai quan điểm này đều được hình thành do Điều Kiện (duyên / paccayā) của sự tiếp xúc (xúc / phassa) giữa các giác quan và đối tượng.
4.3. Tính tất yếu của sự tiếp xúc (Netaṁṭhānaṁvijjativāra)
Việc những sa-môn và bà-la-môn này cho rằng họ có thể cảm nhận và đưa ra các quan điểm triết học đó mà không cần thông qua cơ chế tiếp xúc của giác quan là một điều hoàn toàn không thể xảy ra.
4.4. Vòng lặp tâm lý của sự bám víu (Diṭṭhigatikādhiṭṭhānavaṭṭakathā)
Thưa các tỳ kheo, tất cả những người bám víu vào sáu mươi hai quan điểm này đều cảm nhận thế giới thông qua sáu trường tiếp xúc. Đối với họ, vòng lặp tâm lý diễn ra như sau: do Điều Kiện Cảm Giác nên sinh ra thèm khát; do Điều Kiện thèm khát nên sinh ra sự nắm chặt; do Điều Kiện nắm chặt nên sinh ra cõi tồn tại (hữu / bhava); do Điều Kiện cõi tồn tại nên Sinh (jāti) xuất hiện; và do Điều Kiện Sinh nên Già chết (lão-tử / jarāmaraṇa), đau buồn, than khóc, đau khổ, ưu phiền và tuyệt vọng bắt đầu sự hình thành.
5. Kết luận: Tháo gỡ mạng lưới triết học (Vivaṭṭakathādi)
Thưa các tỳ kheo, khi một tỳ kheo biết rõ đúng như thật về sự hình thành, sự tan biến, sự hấp dẫn, mặt trái và sự thoát ly của sáu trường tiếp xúc, vị ấy đã đạt đến một sự hiểu biết vượt trội hơn tất cả những quan điểm triết học kia.
Giống như một người đánh cá lành nghề quăng tấm lưới mắt nhỏ bao trùm toàn bộ một hồ nước. Người ấy biết rõ: 'Bất kỳ sinh vật nào đủ lớn trong hồ này đều đã nằm gọn trong lưới. Dù chúng có vùng vẫy, trồi lên hay ngụp xuống, chúng vẫn bị mắc kẹt bên trong'. Tương tự như vậy, bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào đưa ra các lý thuyết suy đoán về quá khứ hay tương lai, tất cả đều bị bủa vây trong mạng lưới của sáu mươi hai cơ sở này. Dù họ có lập luận vòng vo thế nào, họ vẫn không thể thoát ra khỏi tấm lưới đó.
Thưa các tỳ kheo, cơ thể của Người Đến Như Vậy vẫn hiện hữu, nhưng sợi dây liên kết dẫn đến cõi tồn tại đã bị cắt đứt hoàn toàn. Giống như một chùm xoài khi bị cắt rời khỏi cuống, tất cả những quả xoài dính trên đó đều đi theo; chừng nào cơ thể này còn tồn tại, chư thiên và loài người vẫn còn nhìn thấy Ngài. Nhưng một khi cơ thể tan rã và mạng sống kết thúc, không một ai còn có thể nhìn thấy Ngài nữa."
Nghe xong những lời này, Tôn giả Ānanda thưa với Thế Tôn: "Thật kỳ diệu và phi thường, bạch Thế Tôn! Phương pháp giảng dạy này tên là gì?"
Thế Tôn đáp: "Này Ānanda, ông hãy ghi nhớ phương pháp giảng dạy này với các tên gọi: 'Mạng lưới ý nghĩa', 'Mạng lưới Nguyên lý', 'Mạng lưới tối thượng' (Phạm võng), 'Mạng lưới tháo gỡ các quan điểm sai', và 'Chiến thắng tối thượng trong trận chiến'."
Thế Tôn đã thuyết giảng như vậy. Các tỳ kheo vô cùng hoan hỷ và vui mừng đón nhận (abhinandunti) lời dạy của Ngài. Và khi bản kinh này được tuyên thuyết, mười ngàn hệ thống thế giới đã rung chuyển.
(Kết thúc Kinh Phạm Võng)