So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery.
Then, late at night, a glorious deity, lighting up the entire Jeta’s Grove, went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and said to him, “Good fellow, how did you cross the flood?”
“Neither standing nor swimming, good sir, I crossed the flood.”
“But in what way did you cross the flood neither standing nor swimming?”
“When I stood, I sank under. When I swam, I was swept away. That’s how I crossed the flood neither standing nor swimming.”
“After a long time I see
a brahmin fully quenched.
Neither standing nor swimming,
he’s crossed over clinging to the world.”
This is what that deity said, and the teacher approved. Then that deity, knowing that the teacher approved, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before vanishing right there.
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
Rồi một vị Thiên, khi đêm đã gần tàn, với nhan sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị Thiên ấy bạch Thế Tôn:
− Thưa Tôn giả, làm sao Ngài vượt khỏi bộc lưu?
− Này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu.
− Thưa Tôn giả, làm sao không đứng lại, không bước tới, Ngài vượt khỏi bộc lưu?
− Này Hiền giả, khi Ta đứng lại, thời Ta chìm xuống. Này Hiền giả, khi Ta bước tới, thời Ta trôi giạt; do vậy, này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu.
(Vị Thiên):
Từ lâu, tôi mới thấy
Bà-la-môn tịch tịnh.
Không đứng, không bước tới,
Vượt chấp trước ở đời.
Vị Thiên ấy nói như vậy và bậc Ðạo Sư chấp nhận. Vị Thiên ấy biết được: “Thế Tôn đã chấp nhận ta”. Vị ấy đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, rồi biến mất tại chỗ.
At Sāvatthī.
Then, late at night, a glorious deity, lighting up the entire Jeta’s Grove, went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and said to him, “Good fellow, do you understand liberation, emancipation, and seclusion for sentient beings?”
“I do, sir.”
“But how is it that you understand liberation, emancipation, and seclusion for sentient beings?”
“Because I have ended relish for rebirth, and finished with perception and consciousness. Due to the cessation and stilling of feelings, that, good sir, is how I understand liberation, emancipation, and seclusion for sentient beings.”
… Ở Sàvatthi. Rồi một vị Thiên, khi đêm đã gần tàn, với nhan sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, vị ấy đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị Thiên ấy bạch Thế Tôn:
− Thưa Tôn giả, Ngài có biết giải thoát, thoát ly, viễn ly cho các chúng sanh không?
− Này Hiền giả, Ta có biết giải thoát, thoát ly, viễn ly cho các chúng sanh.
− Thưa Tôn giả, như thế nào Ngài biết giải thoát, thoát ly, viễn ly cho các chúng sanh?
Hỷ, tái sanh đoạn tận,
Tưởng, thức được trừ diệt,
Các thọ diệt, tịch tịnh,
Như vậy này Hiền giả,
Ta biết sự giải thoát,
Thoát ly và viễn ly,
Cho các loại chúng sanh.
At Sāvatthī.
Standing to one side, that deity recited this verse in the Buddha’s presence:
“This life, so very short, is led onward.
One led on to old age has no shelter.
Seeing this peril in death,
do good deeds that bring you joy.”“This life, so very short, is led onward;
one led on to old age has no shelter.
Seeing this peril in death,
a seeker of peace would drop the world’s bait.”
… Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Mạng sống bị dắt dẫn,
Tuổi thọ chẳng là bao,
Bị dẫn đến già nua,
Không có nơi dừng bước.
Ai đem tâm quán tưởng,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy làm các công đức,
Ðưa đến chơn an lạc.
(Thế Tôn):
Mạng sống bị dắt dẫn,
Tuổi thọ chẳng là bao,
Bị dẫn đến già nua,
Không có nơi dừng bước.
Ai đem tâm quán tưởng,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy bỏ mọi thế lợi,
Tâm hướng cầu tịch tịnh.
At Sāvatthī.
Standing to one side, that deity recited this verse in the Buddha’s presence:
“Time flies, nights pass by,
the stages of life leave us one by one.
Seeing this peril in death,
do good deeds that bring you joy.”“Time flies, nights pass by,
the stages of life leave us one by one.
Seeing this peril in death,
a seeker of peace would drop the world’s bait.”
… (Nhân duyên ở (Sàvatthi ), đứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Thời gian (lặng) trôi qua,
Ðêm (ngày luôn) di động,
Tuổi tác buổi thanh xuân,
Tiếp tục bỏ chúng ta.
Những ai chịu quán sát,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy làm các công đức,
Ðưa đến (chơn) an lạc.
(Thế Tôn):
(Thời gian lặng) trôi qua,
Ðêm (ngày luôn) di động,
Tuổi tác buổi thanh xuân,
Tiếp tục bỏ chúng ta.
Những ai chịu quán sát,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy bỏ mọi thế lợi,
Tâm hướng cầu tịch tịnh.
At Sāvatthī.
Standing to one side, that deity recited this verse in the Buddha’s presence:
“Cut how many? Drop how many?
Develop how many more?
When a mendicant slips how many chains
are they said to have crossed the flood?”“Five to cut, five to drop,
and five more to develop.
When a mendicant slips five chains
they’re said to have crossed the flood.”
… Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Phải cắt đoạn bao nhiêu,
Phải từ bỏ bao nhiêu,
Tu tập thêm bao nhiêu,
Vượt qua bao trói buộc,
Ðể được có danh xưng,
Tỷ-kheo vượt bộc lưu?
(Thế Tôn):
Phải cắt đoạn đến năm,
Phải từ bỏ đến năm,
Tu tập thêm năm pháp (lực),
Vượt qua năm trói buộc,
Ðể được có danh xưng,
Tỷ-kheo “vượt bộc lưu”.
At Sāvatthī.
Standing to one side, that deity recited this verse in the Buddha’s presence:
“How many sleep among the waking?
How many wake among the sleeping?
By how many do you gather dust?
By how many are you cleansed?”“Five sleep among the waking.
Five wake among the sleeping.
By five you gather dust.
By five you’re cleansed.”
… Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Có bao pháp mê ngủ,
Khi pháp khác tỉnh giác?
Có bao pháp tỉnh giác,
Khi pháp khác mê ngủ?
Có bao nhiêu việc làm
Ðưa ta đến trần cấu?
Có bao nhiêu việc làm
Khiến ta được thanh tịnh?
(Thế Tôn):
Có năm pháp mê ngủ,
Khi pháp khác tỉnh giác,
Có năm pháp tỉnh giác,
Khi pháp khác mê ngủ.
Chính có năm việc làm
Ðưa ta đến trần cấu,
Chính có năm việc làm
Khiến ta được thanh tịnh.
At Sāvatthī.
Standing to one side, that deity recited this verse in the Buddha’s presence:
“Those have not deciphered the teachings
may be led astray by the doctrines of others.
Asleep, they have not woken up:
it is time for them to wake!”“Those who have well deciphered the teachings
won’t be led astray by the doctrines of others.
They have woken up, they rightly know,
smoothly they walk in the rough.”
… Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Những ai với các pháp,
Không liễu tri thấu suốt,
Bị hướng dẫn lầm lạc,
Vòng quanh các dị giáo.
Họ mê ngủ triền miên,
Họ không có tỉnh giác,
Nay thật đã đến thời,
Họ cần phải thức tỉnh.
(Thế Tôn):
Những ai với các pháp,
Khéo liễu tri sáng suốt,
Không bị dẫn lầm lạc,
Vòng quanh các dị giáo,
Họ chứng Chánh đẳng giác.
Họ liễu tri viên mãn,
Trên đường không thăng bằng,
Họ bước thật thăng bằng.
At Sāvatthī.
Standing to one side, that deity recited this verse in the Buddha’s presence:
“Those who are very confused about the teachings
may be led astray by the doctrines of others.
Asleep, they have not woken up:
it is time for them to wake!”“Those who are unconfused about the teachings,
won’t be led astray by the doctrines of others.
They have woken up, they rightly know,
smoothly they walk in the rough.”
… Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Những ai đối các pháp,
Quá đắm say mê loạn,
Bị hướng dẫn lầm lạc,
Vòng quanh các dị giáo,
Họ mê ngủ triền miên,
Họ không có tỉnh giác,
Nay thật đã đến thời,
Họ cần phải thức tỉnh.
(Thế Tôn):
Những ai đối các pháp,
Không đắm say mê loạn,
Không bị dẫn lầm lạc,
Vòng quanh các dị giáo,
Họ chứng Chánh đẳng giác.
Họ liễu tri viên mãn,
Trên đường không thăng bằng,
Họ bước thật thăng bằng.
At Sāvatthī.
Standing to one side, that deity recited this verse in the Buddha’s presence:
“One fond of conceit can’t be tamed,
no sage is lacking immersion.
Living negligent alone in the wilderness,
they can’t pass beyond Death’s dominion.”“Having given up conceit, serene within oneself,
with a good heart, everywhere free;
living diligent alone in the wilderness,
they pass beyond Death’s dominion.”
… Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Ðối vị ưa kiêu mạn,
Ở đây không điều phục,
Không trí tuệ sáng suốt,
Không định tĩnh nhiếp tâm,
Ðộc thân trú rừng núi,
Sống với tâm phóng dật,
Vị ấy không vượt khỏi,
Sự chi phối ma lực.
(Thế Tôn):
Từ bỏ mọi kiêu mạn,
Tâm tư khéo nhiếp định,
Với tâm khéo tư sát,
Giải thoát mọi phiền trược,
Ðộc thân trú rừng núi (giới),
Với tâm không phóng dật,
Vị ấy vượt thoát khỏi,
Sự chi phối ma lực.
At Sāvatthī.
Standing to one side, that deity addressed the Buddha in verse:
“Living in the wilderness,
peaceful spiritual practitioners
eat just one meal a day:
so why is their complexion so clear?”"They don’t grieve for the past,
nor do they long for the future;
they feed on whatever comes that day,
that’s why their complexion’s so clear.Because they long for the future,
and grieve for the past,
fools wither away,
like a green reed mowed down."
… Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Thường sống trong rừng núi,
Bậc Thánh sống Phạm hạnh,
Một ngày ăn một buổi,
Sao sắc họ thù diệu?
(Thế Tôn):
Không than việc đã qua,
Không mong việc sắp tới,
Sống ngay với hiện tại,
Do vậy, sắc thù diệu.
Do mong việc sắp tới,
Do than việc đã qua,
Nên kẻ ngu héo mòn,
Như lau xanh rời cành.
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!”
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
"Once upon a time, mendicants, a certain deity of the company of the thirty-three was amusing themselves in the Garden of Delight, escorted by a band of nymphs, and supplied and provided with the five kinds of heavenly sensual stimulation. On that occasion they recited this verse:
‘They don’t know pleasure
who don’t see the Garden of Delight!
It’s the abode of lordly gods,
the glorious host of Thirty!’
When they had spoken, another deity replied with this verse:
‘Fool, don’t you understand
the saying of the perfected ones:
All conditions are impermanent,
their nature is to rise and fall;
having arisen, they cease;
their stilling is blissful.’"
(Tạp 22.1, Ðại 2,153c) (S.i,5) (Tăng 31.9. Tứ Lạc, Ðại 2,672b) (Biệt Tạp 9.1, Ðại2,435a)
Như vậy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc). Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo” − “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
− Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có vị Thiên thuộc cõi trời Ba mươi ba, với chúng Thiên nữ vây quanh, du hí ở vườn Hoan Hỷ, thọ hưởng năm thiên dục công đức. Bây giờ, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này:
Chúng không biết đến lạc,
Nếu không thấy Hoan Hỷ,
Chỗ trú cả Trời, Người,
Cõi ba mươi lừng danh.
Ðược nghe nói vậy, này các Tỷ-kheo, một vị Thiên khác đáp vị Thiên ấy với bài kệ:
Kẻ ngu, sao không biết,
Vị Ứng cúng đã nói:
"Mọi hành là vô thường,
Tự tánh phải sanh diệt,
Sau khi sanh, chúng diệt,
Nhiếp chúng là an lạc."
At Sāvatthī.
Standing to one side, that deity recited this verse in the Buddha’s presence:
“Your children bring you delight!
Your cattle also bring you delight!
For attachments are a man’s delight;
without attachments there’s no delight.”“Your children bring you sorrow.
Your cattle also bring you sorrow.
For attachments are a man’s sorrow;
without attachments there are no sorrows.”
(Tạp 36.12,Ðại 2,263a) (S.i,6) (Biệt Tạp 8,11, Ðại 2,428a)
… Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Cha đối con vui thích,
Chủ với bò vui thích,
Người sanh y, vui thích,
Không sanh y, không vui.
(Thế Tôn):
Cha đối con sầu muộn,
Chủ với bò sầu muộn,
Người sanh y, sầu muộn,
Không sanh y, không sầu.
At Sāvatthī.
Standing to one side, that deity recited this verse in the Buddha’s presence:
“There’s no love like that for a child,
no wealth equal to cattle,
no light like that of the sun,
and of waters the ocean is paramount.”“There’s no love like that for oneself,
no wealth equal to grain,
no light like that of wisdom,
and of waters the rain is paramount.”
… Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Thương ai bằng thương con,
Của nào bằng bò nhà,
Sáng nào bằng mặt trời,
Nước nào hơn biển cả.
(Thế Tôn):
Thương ai bằng thương mình,
Của nào bằng lúa gạo,
Sáng nào bằng trí tuệ,
Nước nào hơn mưa rào.
“An aristocrat is the best of bipeds,
an ox is the best of quadrupeds,
a maiden is the best of wives,
and a first-born the best of sons.”“A Buddha is the best of bipeds,
a thoroughbred, the best of quadrupeds,
a good listener is the best of wives,
and the best of sons is loyal.”
Giữa các hàng hai chân,
Sát-lỵ là tối thắng,
Giữa các loài bốn chân,
Bò đực là tối thắng,
Trong các hàng thê thiếp,
Quý nữ là tối thắng.
Trong các hàng con trai,
Trưởng nam là tối thắng.
(Thế Tôn):
Giữa các loài hai chân,
Chánh giác là tối thắng.
Giữa các loài bốn chân,
Thuần chủng là tối thắng.
Trong các hàng thê thiếp,
Nhu thuận là tối thắng.
Trong các hàng con trai,
Trung thành là tối thắng.
“In the still of high noon,
when the birds have settled down,
the formidable jungle whispers to itself:
that strikes me as so scary!”“In the still of high noon,
when the birds have settled down,
the formidable jungle whispers to itself:
that strikes me as so delightful!”
Ðại 2,490b)
Nay là thời giữa trưa,
Loài chim nghỉ yên lặng,
Vang động tiếng rừng sâu,
Ta run, ta khiếp sợ.
(Thế Tôn):
Nay là thời giữa trưa,
Loài chim nghỉ yên lặng,
Vang động tiếng rừng sâu,
Ta vui, Ta thích thú.
“Sleepiness, sloth, and yawning,
discontent, and grogginess after eating:
because of this the noble path
doesn’t shine for creatures here.”“Sleepiness, sloth, and yawning,
discontent, and grogginess after eating:
when this is energetically fended off,
the noble path is purified.”
Ngủ gục, nhác, ngáp dài,
Không vui, ăn quá độ,
Ở đây, đối chúng sanh,
Thánh đạo không hiển lộ.
Ngủ gục, nhác, ngáp dài,
Không vui, ăn quá độ,
Với tinh tấn, đoạn chúng,
Thánh đạo được thanh tịnh.
“Hard to do, hard to endure,
is the ascetic life for the inept,
for it has many narrow passes
where the fool founders.”"How many days could an ascetic live
without controlling the mind?
They’d founder with each step,
under the sway of thoughts.A mendicant should collect their thoughts
as a tortoise draws its limbs into its shell.
Independent, not disturbing others,
quenched: they wouldn’t blame anyone."
Khó làm, khó kham nhẫn,
Thiếu trí, hành Sa-môn,
Chỗ kẻ ngu thối đọa,
Chỗ ấy đầy chướng ngại.
Bao ngày hành Sa-môn
Nếu tâm không chế ngự,
Mỗi bước, phải sa đọa,
Nô lệ cho suy tư,
Như rùa rút chân cẳng,
Trong mai rùa của mình.
Vị Tỷ-kheo cũng vậy,
Thâu nhiếp mọi suy tư,
Không tham dính vật gì,
Không làm hại người nào,
Hoàn toàn thật tịch tịnh,
Không chỉ trích một ai.
“Can a person constrained by conscience
be found in the world?
Who shies away from blame,
like a fine horse from the whip?”“Few are those constrained by conscience,
who live always mindful.
Having reached the end of suffering,
smoothly they walk in the rough.”
Người được tàm chế ngự,
Tìm được ai ở đời?
Ai biết ngăn chỉ trích,
Như ngựa hiền bóng roi.
Người được tàm chế ngự,
Sống thường thường chánh niệm,
Vị ấy đạt kết quả,
Khổ đau được đoạn tận,
Bước những bước thăng bằng,
Trên đường không thăng bằng.
“Don’t you have a little hut?
Don’t you have a little nest?
Don’t you have any networks?
Aren’t you free of shackles?”“Indeed I have no little hut.
Indeed I have no little nest.
Indeed I have no networks.
Indeed I’m free from shackles.”“What do you think I call a little hut?
What do I call a little nest?
What do you think I call a network?
And what do I call a shackle?”“You call a mother a little hut;
and a wife a little nest.
You call children a network,
and you tell me craving’s a shackle.”“It’s good you have no little hut!
It’s good you have no little nest!
It’s good you have no networks!
And good that you’re free from shackles.”
Ngài không có am tranh,
Ngài không có tổ ấm,
Ngài không có dây giăng,
Ngài thoát khỏi hệ phược.
(Thế Tôn):
Ta không có am tranh,
Ta không có tổ ấm,
Ta không có dây giăng,
Ta thoát khỏi hệ phược.
(Vị Thiên):
Con nói am là gì?
Nói tổ ấm là gì?
Nói dây giăng là gì?
Nói hệ phược là gì?
(Thế Tôn):
Ông nói am là mẹ,
Nói tổ ấm là vợ,
Nói dây giăng là con,
Nói hệ phược là ái.
(Vị Thiên):
Lành thay, Ngài không am!
Lành thay, không tổ ấm!
Lành thay, không dây giăng!
Lành thay, Ngài thoát phược!
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Rājagaha in the Hot Springs Monastery.
Then Venerable Samiddhi rose at the crack of dawn and went to the hot springs to bathe. When he had bathed and emerged from the water he stood in one robe drying his limbs.
Then, late at night, a glorious deity, lighting up the entire hot springs, went up to Samiddhi, and, standing in the air, addressed him in verse:
“Mendicant, you seek alms before you eat;
you wouldn’t seek alms after eating.
But you should eat first, then seek alms:
don’t let the time pass you by.”“I actually don’t know the time;
it’s hidden and unseen.
That’s why I seek alms before eating,
so that the time may not pass me by!”
Then that deity landed on the ground and said to Samiddhi, “You’ve gone forth while young, mendicant. With pristine black hair, you’re blessed with youth, in the prime of life, and you’ve never flirted with sensual pleasures. Enjoy human sensual pleasures! Don’t give up what is apparent in the present to chase after what takes effect over time.”
“I’m not, good fellow; I’m giving up what takes effect over time to chase after what is apparent in the present. For the Buddha has said that sensual pleasures take effect over time, with much suffering and distress, and they’re all the more full of drawbacks. But this teaching is apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.”
“But in what way, mendicant, has the Buddha said that sensual pleasures take effect over time, with much suffering and distress, and they’re all the more full of drawbacks? And how is this teaching apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves?”
“I’m junior, good fellow, recently gone forth, newly come to this teaching and training. I’m not able to explain this in detail. But the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha is staying near Rājagaha in the Hot Springs Monatery. You should go to him and ask about this matter. And you should remember it in line with the Buddha’s answer.”
“It’s not easy for us to approach the Buddha, as he is surrounded by other illustrious deities. If you go to the Buddha and ask him about this matter, we’ll come along and listen to the teaching.”
“Yes, good fellow,” Venerable Samiddhi replied. He went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened. Then he added:
“Sir, if that deity spoke the truth, he’ll be close by.”
When he had spoken, that deity said to Samiddhi, “Ask, mendicant, ask! For I have arrived.”
Then the Buddha addressed the deity in verse:
"Sentient beings who perceive the communicable,
become established in the communicable.
Not understanding the communicable,
they fall under the yoke of Death.But having fully understood the communicable,
they don’t conceive a communicator,
for they have nothing
by which they might be described.
Tell me if you understand, spirit."
“I don’t understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement. Please teach me this matter so I can understand the detailed meaning.”
"If you think that ‘I’m equal,
special, or worse’, you’ll get into arguments.
Unwavering in the face of the three discriminations,
you’ll have no thought ‘I’m equal or special’.
“I don’t understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement. Please teach me this matter so I can understand the detailed meaning.”
"Assessment was given up, conceit rejected;
craving for name and form was cut off right here.
They cut the ties, untroubled,
- with no need for hope.
Though gods and humans search for them
in this world and the world beyond,
- they never find them,
not in heaven nor in any abode.
Tell me if you understand, spirit."
"This is how I understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement:
You should never do anything bad
by speech or mind or body in all the world.
Having given up sensual pleasures,
- mindful and aware,
you shouldn’t keep doing
- what’s painful and pointless."
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Vương Xá tại Tapodàràma (Tịnh xá Suối nước nóng).
2. Tôn giả Samiddhi, khi đêm đã gần tàn, thức dậy và đi đến suối nước nóng để tắm rửa tay chân. Sau khi tắm rửa tay chân, ra khỏi suối nước nóng, Tôn giả đứng, đắp một tấm y để phơi tay chân cho khô.
3. Rồi một vị Thiên, khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng suối nước nóng, đi đến Tôn giả Samiddhi, sau khi đến, đứng giữa hư không, nói lên bài kệ với Tôn giả Samiddhi:
Không hưởng, Ông khất thực,
Nay khất thực, không hưởng,
Hãy hưởng rồi khất thực,
Chớ uổng phí thời gian.
(Samiddhi):
Thời Ông, ta không biết.
Thời ta, ẩn không hiện.
Không hưởng, ta khất thực,
Không uổng thời gian ta.
4. Rồi vị Thiên ấy đứng xuống đất và thưa với Tôn giả Samiddhi:
− Này Tỷ-kheo, Ông còn trẻ tuổi mà đã xuất gia, niên thiếu, tóc còn đen nhánh trong tuổi thanh xuân. Trong thời trẻ thơ của tuổi đời, Ông không thọ hưởng các ái dục. Này Tỷ-kheo, hãy thọ hưởng các ái dục của người đời. Chớ có bỏ hiện tại mà chạy theo những gì bị thời gian chi phối.
5. − Này Hiền giả, ta không bỏ hiện tại và chạy theo những gì bị thời gian chi phối. Và này Hiền giả, chính ta bỏ những gì bị thời gian chi phối để chạy theo hiện tại. Này Hiền giả, Thế Tôn đã nói, các dục bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não (Upàyàsà); nguy hiểm ở đấy càng nhiều hơn. Còn pháp này thuộc về hiện tại, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người trí mới tự mình giác hiểu.
6. − Và này Tỷ-kheo, như thế nào mà Thế Tôn đã nói các dục bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não, nguy hiểm ở đấy càng nhiều hơn? Như thế nào thuộc về hiện tại là pháp này, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người trí mới tự mình giác hiểu?
7. − Này Hiền giả, tôi là người mới xuất gia, mới đến đây không bao lâu. Tôi không thể giải thích rộng rãi cho Ông pháp và luật này. Nhưng Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nay ở Ràjagaha (Vương Xá) tại tịnh xá Tapoda (Suối nước nóng) hãy đi đến Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế Tôn trả lời cho Ông như thế nào, hãy như vậy thọ trì.
8. − Này Tỷ-kheo, không dễ gì cho chúng tôi được đến gặp bậc Thế Tôn ấy, một bậc được chư Thiên khác, có đại uy lực đoanh vây. Này Tỷ-Kheo, nếu Ngài đi đến bậc Thế Tôn ấy và hỏi ý nghĩa này, chúng tôi có thể đến để nghe pháp.
9. − Thưa vâng, Hiền giả.
Tôn giả Samiddhi vâng đáp vị Thiên ấy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Samiddhi bạch Thế Tôn:
10. − Ở đây, bạch Thế Tôn, sau khi đêm đã gần tàn, con thức dậy và đi đến suối nước nóng để tắm rửa tay chân. Sau khi tắm rửa tay chân, ra khỏi suối nước nóng, con đứng đắp một tấm y để phơi tay chân cho khô. Bạch Thế Tôn, rồi một vị Thiên, sau khi đêm vừa mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng nước nóng, đi đến con, sau khi đến, đứng giữa hư không và nói lên bài kệ này:
"Không hưởng, Ông khất thực,
Nay khất thực, không hưởng,
Hãy hưởng rồi khất thực,
Chớ uổng phí thời gian."
11. Khi nghe nói vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời với vị Thiên ấy bằng bài kệ:
"Thời Ông, ta không biết,
Thời ta, ẩn không hiện,
Không hưởng, ta khất thực,
Không uổng thời gian ta."
12. Bạch Thế Tôn, rồi vị Thiên ấy đứng xuống đất và thưa với con:
“− Này Tỷ-kheo, Ông còn trẻ tuổi mà đã xuất gia, niên thiếu, tóc đen nhánh, trong tuổi thanh xuân. Trong thời trẻ thơ của tuổi đời, Ông không thọ hưởng các dục. Này Tỷ-kheo, hãy thọ hưởng các dục lạc của người đời. Chớ có bỏ hiện tại để chạy theo những gì bị thời gian chi phối.”
13. Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với vị Thiên ấy:
“− Này Hiền giả, ta không bỏ hiện tại để chạy theo những gì bị thời gian chi phối. Và này Hiền giả, chính ta bỏ những gì bị thời gian chi phối để chạy theo hiện tại. Những gì thuộc thời gian, này Hiền giả, là các dục, được nói đến là nhiều khổ đau, nhiều phiền não (upàyàsa), nguy hiểm ở đấy lại nhiều hơn. Còn pháp này thuộc hiện tại, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người trí mới tự mình giác hiểu.”
14. Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, vị Thiên ấy nói với con:
“− Và này Tỷ-kheo, như thế nào mà Thế Tôn đã nói các dục bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não, nguy hiểm ở đây càng nhiều hơn? Như thế nào thuộc về hiện tại là pháp này không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người trí mới tự mình giác hiểu?”
15. Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với vị Thiên ấy:
“− Này Hiền giả, tôi là người mới xuất gia, mới đến đây không bao lâu. Tôi không thể giải thích rộng rãi cho Ông về pháp và luật này. Nhưng Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nay ở Ràjagaha (Vương Xá), tại tịnh xá Tapoda (Suối nước nóng). Hãy đi đến Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế Tôn trả lời cho Ông như thế nào, hãy như vậy thọ trì.”
16. Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, vị Thiên ấy nói với con:
" − Này Tỷ-kheo, không dễ gì cho chúng tôi được đến gặp bậc Thế Tôn ấy, một bậc được các chư Thiên khác có đại uy lực đoanh vây. Này Tỷ-kheo, nếu Ngài đi đến bậc Thế Tôn và hỏi ý nghĩa ấy, chúng tôi cũng sẽ đến và nghe pháp."
− Bạch Thế Tôn, nếu vị Thiên ấy nói sự thật, thời vị ấy ở đây, không xa bao nhiêu.
17. Khi được nói vậy, vị Thiên ấy nói với Tôn giả Samiddhi như sau:
− Hãy hỏi đi, Tỷ-kheo! Hãy hỏi đi, Tỷ-kheo! Tôi đã đến rồi.
18. Rồi Thế Tôn nói lên bài kệ với vị Thiên ấy:
Chúng sanh được hiểu biết,
Những điều được nói lên,
Và chấp trước thái độ,
Trên những điều được nói.
Nếu họ không liễu tri
Những điều được nói lên,
Họ đi đến trói buộc.
Do thần chết chi phối,
Nếu họ liễu tri được
Những điều được nói lên,
Họ không có tưởng tri,
Những điều được nói ra.
Ðối với vị như vậy,
Lỗi lầm nhất định không.
Nếu các Ông có biết,
Hãy nói lên Dạ-xoa.
19. − Bạch Thế Tôn, con không có hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt. Lành thay, nếu Thế Tôn nói lên cho con để con có thể hiểu một cách rộng rãi những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt.
(Thế Tôn):
20.
Bằng, thắng hay thua Ta,
Nghĩ vậy đấu tranh khởi;
Cả ba không dao động,
Bằng, thắng không khởi lên.
Nếu như Ông có biết,
Hãy nói lên, Dạ-xoa.
21. − Bạch Thế Tôn, con không có hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt. Lành thay, nếu Thế Tôn nói lên cho con để con có thể hiểu một cách rộng rãi những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt.
22. (Thế Tôn):
Hãy từ bỏ tính toán,
Không chạy theo hư tưởng,
Từ bỏ mọi tham ái,
Ðối danh sắc ở đời,
Vị ấy đoạn triền phược,
Không lo âu, không ái.
Chư Thiên và loài Người,
Ðời này hay đời sau,
Ở cảnh giới chư Thiên,
Hay tại mọi trú xứ,
Tìm cầu nhưng không gặp,
Vết tích của vị ấy.
Nếu Ông biết người ấy
Hãy nói lên, Dạ-xoa.
23. − Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt của Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa rộng rãi như sau:
Khắp thế giới chớ làm,
Ðiều ác thân, miệng, ý,
Từ bỏ mọi ái dục,
Chánh niệm, tâm tỉnh giác,
Không khổ hạnh ép xác,
Vô bổ, không lợi ích.
At Sāvatthī.
Standing to one side, that deity recited this verse in the Buddha’s presence:
“Like they’re struck by a sword,
like their head was on fire,
a mendicant, mindful, should go forth,
to give up sensual desire.”“Like they’re struck by a sword,
like their head was on fire,
a mendicant, mindful, should go forth,
to give up substantialist view.”
… (Nhân duyên ở Sàvatthi). Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Như kiếm đã chạm da,
Như lửa cháy trên đầu,
Tỷ-kheo hãy chánh niệm,
Xuất gia bỏ ái dục.
(Thế Tôn):
Như kiếm đã chạm da,
Như lửa cháy trên đầu,
Tỷ-kheo hãy chánh niệm,
Xuất gia bỏ thân kiến.
“It doesn’t impact a person who doesn’t impact others.
It impacts a person because they impact others.
That’s why it impacts one who impacts,
who wrongs one who’s done no wrong.”“Whoever wrongs a man who’s done no wrong,
a pure man who has not a blemish,
the evil backfires on the fool,
like fine dust thrown upwind.”
Không xúc, không có chạm,
Có xúc, thời có chạm,
Nên hại người không hại,
Tức có xúc, có chạm,
Ai hại người không hại,
Người tịnh, không ô nhiễm,
Kẻ ngu hái quả ác,
Như ngược gió tung bụi.
“Tangled within, tangled without:
these people are tangled in tangles.
I ask you this, Gotama:
who can untangle this tangle?”"A wise person grounded in ethics,
developing the mind and wisdom,
a keen and alert mendicant—
they can untangle this tangle.Those in whom greed, hate, and ignorance
have faded away;
the perfected ones with defilements ended—
they have untangled the tangle.And where name and form
cease with nothing left over;
as well as impingement and perception of form:
it’s there that the tangle is cut."
Nội triền và ngoại triền,
Chúng sanh bị triền phược,
Con hỏi Gotama,
Ai thoát khỏi triền này?
(Thế Tôn):
Người trú giới có trí,
Tu tập tâm và tuệ,
Nhiệt tâm và thận trọng,
Tỷ-kheo ấy thoát triền.
Với ai, đã từ bỏ
Tham, sân và vô minh,
Bậc Lậu tận, ứng cúng,
Vị ấy thoát triền phược.
Chỗ nào danh và sắc,
Ðược đoạn tận, vô dư,
Ðoạn chướng ngại, sắc tưởng,
Chỗ ấy triền phược đoạn.
“Whatever you’ve shielded the mind from
can’t cause you suffering.
So you should shield the mind from everything,
then you’re freed from all suffering.”“You needn’t shield the mind from everything.
When the mind is under control,
you need only shield the mind
from where the bad things come.”
Chỗ nào ý chế ngự,
Chỗ ấy đau khổ tận.
Ý chế ngự hoàn toàn,
Thoát đau khổ hoàn toàn.
(Thế Tôn):
Không nên chế ngự ý,
Hoàn toàn về mọi mặt,
Chớ có chế ngự ý,
Nếu tự chủ đạt được.
Chỗ nào ác pháp khởi,
Chỗ ấy chế ngự ý.
“When a mendicant is perfected, proficient,
with defilements ended, bearing the final body:
would they say, ‘I speak’,
or even ‘they speak to me’?”“When a mendicant is perfected, proficient,
with defilements ended, bearing the final body:
they would say, ‘I speak’,
and also ‘they speak to me’.
Skillful, understanding the world’s labels,
they’d use these terms as no more than expressions.”“When a mendicant is perfected, proficient,
with defilements ended, bearing the final body:
is such a mendicant drawing close to conceit
if they’d say, ‘I speak’,
or even ‘they speak to me’?”"Someone who has given up conceit has no ties,
the ties of conceit are all dissipated.
Though that intelligent person has transcended conceiving,
they’d still say, ‘I speak’,and also ‘they speak to me’.
Skillful, understanding the world’s labels,
they’d use these terms as no more than expressions."
Vị Tỷ-kheo La-hán,
Ðã làm điều phải làm,
Các lậu được đoạn tận,
Thân này, thân tối hậu.
Vị ấy có thể nói:
“Chính tôi vừa nói lên”
Vị ấy có thể nói:
“Họ nói là của tôi”.
(Thế Tôn):
Vị Tỷ-kheo La-hán,
Ðã làm điều phải làm,
Các lậu được đoạn tận,
Thân này, thân tối hậu.
Vị ấy có thể nói:
“Chính tôi vừa nói lên”,
Vị ấy có thể nói:
“Họ nói là của tôi”.
Vị ấy khéo biết rõ,
Danh xưng ở thế gian,
Vì chỉ là danh xưng,
Vị ấy cũng danh xưng.
(Vị Thiên):
Vị Tỷ-kheo La-hán,
Ðã làm điều phải làm,
Các lậu được đoạn tận,
Thân này, thân tối hậu.
Có phải Tỷ-kheo ấy,
Ði gần đến kiêu mạn,
Khi vị ấy có nói:
“Chính tôi vừa nói lên”.
Khi vị ấy có nói:
“Họ nói là của tôi”?
(Thế Tôn):
Ai đoạn tận kiêu mạn,
Không còn những buộc ràng,
Mọi hệ phược kiêu mạn,
Ðược hoàn toàn đoạn tận.
Vị có trí sáng suốt,
Vượt khỏi mọi hư tưởng,
Vị ấy có thể nói:
“Chính tôi vừa nói lên”,
Vị ấy có thể nói:
“Họ nói là của tôi”.
Vị ấy khéo biết rõ,
Danh xưng ở thế gian,
Vì chỉ là danh xưng,
Vị ấy cũng danh xưng.
“How many lamps are there
that light up the world?
We’ve come to ask you, sir:
how are we to understand this?”"There are four lamps in the world,
a fifth is not found.
The sun blazes by day,
the moon glows at night,while a fire lights up both
by day and by night.
But a Buddha is the best of lights:
this is the supreme radiance."
Vật gì chiếu sáng đời,
Do chúng, đời chói sáng?
Con đến hỏi Thế Tôn,
Muốn biết lời giải đáp.
(Thế Tôn):
Bốn vật chiếu sáng đời,
Thứ năm, đây không có.
Ngày, mặt trời sáng chói,
Ðêm, mặt trăng tỏ rạng,
Lửa cháy đỏ đêm ngày,
Chói sáng khắp mọi nơi.
Chánh giác sáng tối thắng,
Sáng này, sáng vô thượng.
“From where do streams turn back?
Where does the cycle spin no more?
Where do name and form
cease with nothing left over?”"Where water and earth,
fire and air find no footing—from here the streams turn back;
here the cycle spins no more;
here name-and-form
cease with nothing left over."
Chỗ nào nước chảy ngược?
Chỗ nào nước xoáy dừng?
Chỗ nào danh và sắc,
Ðược đoạn diệt, không dư?
Chỗ nào nước và đất,
Lửa, gió không vững trú,
Do vậy nước chảy ngược,
Chỗ ấy nước xoáy dừng,
Chỗ ấy danh và sắc,
Ðược đoạn diệt, không dư.
"The affluent and the wealthy,
even the aristocrats who rule the land,
are jealous of each other,
insatiable in sensual pleasures.Among those of such an avid nature,
flowing along the stream of lives,
who here has given up craving?
Who in the world is not avid?"“Having given up their home, their child, their cattle,
and all that they love, they went forth.
Having given up desire and hate,
having dispelled ignorance,
the perfected ones with defilements ended—
they in the world are not avid.”
Sát-đế-lỵ giàu lớn,
Tài sản, quốc độ lớn,
Luôn luôn ganh tị nhau,
Hưởng dục không biết ngán,
Giữa người sống dao động,
Trôi theo dòng tái sanh.
Ai bỏ tật và ái,
Không dao động giữa đời.
(Thế Tôn):
Vị xuất gia bỏ nhà,
Bỏ con, gia súc, thân,
Bỏ tham và bỏ sân,
Và từ bỏ vô minh,
Bậc Lậu tận, La-hán,
Không dao động giữa đời.
“Four are its wheels, and nine its doors;
it’s stuffed full, bound with greed,
and born from a bog.
Great hero, how will I keep going?”“Having cut the strap and harness—
the wicked desire and greed—
and having plucked out craving, root and all:
that’s how you will keep going.”
Bốn bánh xe, chín cửa,
Ðầy uế, hệ lụy tham,
Chìm đắm trong bùn nhơ,
Ôi, thưa bậc Ðại Hùng,
Sanh thú người như vậy,
Tương lai sẽ thế nào?
(Thế Tôn):
Cắt hỷ và buộc ràng,
Dục tham và tà ác,
Ái căn được đoạn tận,
Sanh thú sẽ như vậy.
“O hero so lean, with antelope calves,
not greedy, eating little,
an elephant, wandering alone like a lion,
you’re not concerned for sensual pleasures.
We’ve come to ask a question:
How is one released from all suffering?”“The world has five kinds of sensual stimulation,
and the mind is said to be the sixth.
When you’ve discarded desire for these,
you’re released from all suffering.”
Chân như chân sơn dương,
Vừa thon lại vừa mạnh,
Ăn uống có chừng mực,
Không tham lam, say đắm,
Như sư tử, voi rừng,
Ðộc hành, không dục vọng.
Sau khi đến, con hỏi,
Làm sao thoát khổ đau?
(Thế Tôn):
Có năm dục ở đời,
Ý căn là thứ sáu,
Ở đây, từ ước muốn,
Như vậy thoát khổ đau.
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery.
Then, late at night, several glorious deities of the Satullapa Group, lighting up the entire Jeta’s Grove, went up to the Buddha, bowed, and stood to one side. Standing to one side, one deity recited this verse in the Buddha’s presence:
“Associate only with the virtuous!
Try to get close to the virtuous!
Understanding the true teaching of the good,
things get better, not worse.”
Then another deity recited this verse in the Buddha’s presence:
“Associate only with the virtuous!
Try to get close to the virtuous!
Understanding the true teaching of the good,
wisdom is gained—but not from anyone else.”
Then another deity recited this verse in the Buddha’s presence:
“Associate only with the virtuous!
Try to get close to the virtuous!
Understanding the true teaching of the good,
you grieve not among the grieving.”
Then another deity recited this verse in the Buddha’s presence:
“Associate only with the virtuous!
Try to get close to the virtuous!
Understanding the true teaching of the good,
you shine among your relatives.”
Then another deity recited this verse in the Buddha’s presence:
“Associate only with the virtuous!
Try to get close to the virtuous!
Understanding the true teaching of the good,
sentient beings go to a good place.”
Then another deity recited this verse in the Buddha’s presence:
“Associate only with the virtuous!
Try to get close to the virtuous!
Understanding the true teaching of the good,
sentient beings live happily.”
Then another deity said to the Buddha, “Sir, who has spoken well?”
"You’ve all spoken well in your own way. However, listen to me also:
Associate only with the virtuous!
Try to get close to the virtuous!
Understanding the true teaching of the good,
you’re released from all suffering."
That is what the Buddha said. Then those deities, knowing that the teacher approved, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on their right, before vanishing right there.
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
2. Rồi rất nhiều quần tiên Satullapa, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
3. Ðứng một bên, một vị Thiên nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Ðược tốt hơn, không xấu.
4. Rồi một vị Thiên khác lại nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Ðược tuệ, không gì khác.
5. Rồi một vị Thiên khác lại nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Không sầu, giữa sầu muộn.
6. Rồi một vị Thiên khác lại nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Chúng sanh sanh thiện thú.
8. Rồi một vị Thiên khác lại nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Chúng sanh thường hưởng lạc.
9. Rồi một vị Thiên khác bạch Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, trong tất cả vị ấy, ai đã nói lên một cách tốt đẹp?
− Về vấn đề này, tất cả các Ông đều nói lên một cách tốt đẹp. Tuy vậy, hãy nghe lời Ta nói:
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Giải thoát mọi khổ đau.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Quần Tiên ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Then, late at night, several glorious deities of the Satullapa Group, lighting up the entire Jeta’s Grove, went up to the Buddha, bowed, and stood to one side. Standing to one side, one deity recited this verse in the Buddha’s presence:
“Because of stinginess and negligence
a gift is not given.
Wanting merit,
a smart person would give.”
Then another deity recited these verses in the Buddha’s presence:
"When a miser fails to give because of fear,
the very thing they’re afraid of comes to pass.
The hunger and thirst
that a miser fears
hurt the fool
in this world and the next.So you should dispel stinginess,
overcoming that stain, and give a gift.
The good deeds of sentient beings
support them in the next world."
Then another deity recited these verses in the Buddha’s presence:
"Among the dead they do not die,
those who, like fellow travelers on the road,
are happy to provide, though they have but little.
This is an ancient teaching.Some who have little are happy to provide,
while some who have much don’t wish to give.
An offering given from little
is multiplied a thousand times."
Then another deity recited these verses in the Buddha’s presence:
"Giving what’s hard to give,
doing what’s hard to do;
the wicked don’t act like this,
for the teaching of the good is hard to follow.That’s why the virtuous and the wicked
have different destinations after here.
The wicked go to hell,
while the virtuous are bound for heaven."
Then another deity said to the Buddha, “Sir, who has spoken well?”
"You’ve all spoken well in your own way. However, listen to me also:
A hundred thousand people
- making a thousand sacrifices
isn’t worth a fraction
of one who lives rightly, wandering for gleanings,
or one who supports their partner
- from what little they have."
Then another deity addressed the Buddha in verse:
“Why doesn’t that sacrifice of theirs, so abundant and magnificent,
equal the value of a moral person’s gift?
How is it that a hundred thousand people
- making a thousand sacrifices
isn’t worth a fraction
- of what’s offered by such a person?”"Some give based on immorality—
after injuring, killing, and tormenting.
Such an offering—tearful, violent—
in no way equals the value of a moral person’s gift.That’s how it is that a hundred thousand people
- making a thousand sacrifices
isn’t worth a fraction
- of what’s offered by such a person."
1. Một thời Thế Tôn trú ơ ủ Sà vatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.
2. Rồi rất nhiều quần tiên Satullapa, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
3. Ðứng một bên, một vị Thiên nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Vì xan tham, phóng dật,
Như vậy không bố thí,
Ai ước mong công đức,
Có trí nên bố thí.
4. Rồi một vị Thiên khác nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Ðiều kẻ xan tham sợ,
Nên không dám bố thí,
Sợ ấy đến với họ,
Chính vì không bố thí.
Ðiều kẻ xan tham sợ,
Chính là đói và khát,
Kẻ ngu phải cảm thọ,
Ðời này và đời sau.
Vậy hãy chế xan tham,
Bố thí, nhiếp cấu uế,
Chúng sanh vững an trú,
Công đức trong đời sau.
5. Rồi một vị Thiên khác nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Không chết giữa người chết,
Như thiện hữu trên đường,
San sẻ lương thực hiếm,
Thường pháp là như vậy.
Kẻ ít, vui san sẻ,
Kẻ nhiều khó, đem cho,
Bố thí từ kẻ khó,
Ðong được ngàn đồng vàng.
6. Rồi một vị Thiên khác nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Khó thay sự đem cho,
Khó thay làm hạnh ấy.
Kẻ ác khó tùy thuận,
Khó thay pháp bậc lành.
Do vậy kẻ hiền, ác,
Sanh thú phải sai khác,
Kẻ ác sanh địa ngục,
Người lành lên cõi trời.
7. Rồi một vị Thiên khác bạch Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, trong tất cả vị ấy, vị nào đã nói một cách tốt đẹp?
− Về vấn đề này, tất cả các Ông đã nói một cách tốt đẹp. Tuy vậy hãy nghe Ta:
Sở hành vẫn chơn chánh,
Dầu phải sống vụn vặt,
Dầu phải nuôi vợ con,
Với đồ ăn lượm lặt,
Nhưng vẫn bố thí được,
Từ vật chứa ít ỏi,
Từ ngàn người bố thí,
Từ trăm ngàn vật cho,
Trị giá không ngang bằng,
Kẻ bố thí như vậy.
8. Rồi một vị Thiên khác nói lên bài kệ này với Thế Tôn:
Vì sao họ bố thí,
Rộng lớn nhiều như vậy,
Trị giá không ngang bằng,
Kẻ nghèo, chơn bố thí?
Sao ngàn người bố thí,
Từ trăm ngàn vật cho,
Trị giá không ngang bằng,
Kẻ bố thí như vậy?
9. Rồi Thế Tôn nói lên bài kệ này với vị Thiên ấy:
Có những người bố thí,
Một cách bất bình thường,
Sau khi chém và giết,
Mới làm vơi nỗi sầu.
Sự bố thí như vậy,
Ðầy nước mắt đánh đập,
Trị giá không ngang bằng,
Kẻ nghèo, chơn bố thí.
Từ ngàn người bố thí,
Từ trăm ngàn vật cho,
Trị giá không ngang bằng,
Kẻ bố thí như vậy.
At Sāvatthī.
Then, late at night, several glorious deities of the Satullapa Group, lighting up the entire Jeta’s Grove, went up to the Buddha, bowed, and stood to one side. Standing to one side, one deity expressed this heartfelt sentiment in the Buddha’s presence:
“Good, sir, is giving!
Because of stinginess and negligence
a gift is not given.
Wanting merit,
a smart person would give.”
Then another deity expressed this heartfelt sentiment in the Buddha’s presence:
"Good, sir, is giving!
Even when one has little, giving is good.Some who have little are happy to provide,
while some who have much don’t wish to give.
An offering given from little
is multiplied a thousand times."
Then another deity expressed this heartfelt sentiment in the Buddha’s presence:
“Good, sir, is giving!
Even when one has little, giving is good.
And it’s also good to give out of faith.
Giving and warfare are similar, they say,
for even a few of the good may conquer the many.
If a faithful person gives even a little,
it still brings them happiness in the hereafter.”
Then another deity expressed this heartfelt sentiment in the Buddha’s presence:
"Good, sir, is giving!
Even when one has little, giving is good.
And it’s also good to give out of faith.
And it’s also good to give legitimate wealth.A man who gives legitimate wealth,
earned by his efforts and initiative,
has passed over Yama’s Vetaraṇi River;
that mortal arrives at celestial fields."
Then another deity expressed this heartfelt sentiment in the Buddha’s presence:
"Good, sir, is giving!
Even when one has little, giving is good.
And it’s also good to give out of faith.
And it’s also good to give legitimate wealth.
And it’s also good to give intelligently.The Holy One praises giving intelligently
to those worthy of offerings here
- in the world of the living.
What’s given to these is very fruitful,
like seeds sown in a fertile field."
Then another deity expressed this heartfelt sentiment in the Buddha’s presence:
"Good, sir, is giving!
Even when one has little, giving is good.
And it’s also good to give out of faith.
And it’s also good to give legitimate wealth.
And it’s also good to give intelligently.
And it’s also good to be restrained
- when it comes to living creatures.One who lives without harming any living being
never does bad because of others’ blame;
for in that case they praise the coward, not the brave;
and the virtuous never do bad out of fear."
Then another deity said to the Buddha, “Sir, who has spoken well?”
"You’ve all spoken well in your own way. However, listen to me also:
It’s true that giving is praised in many ways
but the path of the teaching is better than giving,
for in days old and older still,
the wise and virtuous even attained extinction."
1. Ở Sàvatthi.
2. Rồi rất nhiều quần tiên Satullapa, khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
3. Ðứng một bên, một vị Thiên nói lên lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:
Lành thay sự bố thí!
Kính thưa bậc Tôn giả.
Vì xan tham, phóng dật,
Như vậy không bố thí,
Ai ước mong công đức,
Có trí nên bố thí.
4. Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm ứng này trước mặt Thế Tôn:
Lành thay sự bố thí,
Kính thưa bậc Tôn giả!
Nhưng thật tốt lành thay,
Bố thí trong thiếu thốn!
Kẻ ít, vui san sẻ,
Kẻ nhiều khó, đem cho,
Bố thí từ kẻ khó,
Ðong được ngàn đồng vàng.
5. Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:
Lành thay sự bố thí,
Kính thưa bậc Tôn giả!
Nhưng thật tốt lành thay,
Bố thí trong thiếu thốn!
Lành thay sự bố thí,
Phát xuất từ lòng tin.
Bố thí và đánh nhau,
Ðược nói là bằng nhau,
Một số ít kẻ lành,
Thắng xa số đông người.
Ví dầu cho có ít,
Nhưng cho với lòng tin,
Do vậy được an lạc,
Vì lợi ích cho người.
6. Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:
Lành thay sự bố thí,
Kính thưa bậc Tôn giả!
Nhưng thật tốt lành thay,
Bố thí trong thiếu thốn!
Lành thay sự bố thí,
Phát xuất từ lòng tin!
Lành thay sự bố thí,
Với tài sản hợp pháp!
Ai là người bố thí,
Với tàn sản hợp pháp,
Do nỗ lực tinh tấn,
Nhờ vậy thâu hoạch được;
Vị ấy vượt dòng suối,
Thần chết Dạ-ma giới,
Sau khi chết được sanh,
Chỗ trú xứ chư Thiên.
7. Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:
Lành thay sự bố thí,
Kính thưa bậc Tôn giả!
Nhưng thật tốt lành thay,
Bố thí trong thiếu thốn!
Lành thay sự bố thí,
Phát xuất từ lòng tin!
Lành thay sự bố thí,
Với tài sản hợp pháp!
Lành thay sự bố thí,
Có suy tư sáng suốt!
Bố thí có suy tư,
Bậc Thiện Thệ tán thán.
Bố thí cho những vị,
Ðáng kính trọng ở đời,
Bố thí những vị ấy,
Ðược hưởng quả phước lớn,
Như hạt giống tốt đẹp,
Gieo vào ruộng tốt lành.
8. Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:
Lành thay sự bố thí,
Kính thưa bậc Tôn giả!
Nhưng thật tốt lành thay,
Bố thí trong thiếu thốn!
Lành thay sự bố thí,
Phát xuất từ lòng tin!
Lành thay sự bố thí,
Với tài sản hợp pháp!
Lành thay sự bố thí,
Có suy tư sáng suốt!
Lành thay sự tự chế,
Ðối với các chúng sanh!
Giữa chúng sanh hữu tình,
Ai sống không làm hại,
Sợ người khác chỉ trích,
Không làm ác, bất thiện,
Họ khen kẻ nhút nhát,
Nhưng chỉ trích người hùng,
Chính sợ bị chỉ trích,
Người lành không làm ác.
9. Rồi một vị Thiên khác bạch Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, giữa chúng con, lời nói ai được tốt lành?
− Về vấn đề này, tất cả các Ông đều nói lên một cách tốt đẹp. Tuy vậy hãy nghe lời của Ta:
Bố thí với lòng tin,
Ðược tán thán nhiều mặt,
Có pháp hơn bố thí,
Pháp ấy là Pháp cú.
Từ xưa, từ xa xưa,
Người lành, người chơn thiện,
Với trí tuệ sáng suốt,
Ðạt đến cảnh Niết-bàn.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery.
Then, late at night, several glorious deities of the Satullapa Group, lighting up the entire Jeta’s Grove, went up to the Buddha, bowed, and stood to one side. Standing to one side, one deity recited this verse in the Buddha’s presence:
“Among humans there are no sensual pleasures
- that are permanent.
Here there are sensuous things, bound to which,
drunk on which, there’s no coming back.
That person doesn’t return from Death’s dominion.”“Misery is born of desire; suffering is born of desire;
when desire is removed, misery is removed;
when misery is removed, suffering is removed.”"The world’s pretty things aren’t sensual pleasures.
Greedy intention is a person’s sensual pleasure.
The world’s pretty things stay just as they are,
but the attentive remove desire for them.Give up anger, get rid of conceit,
and get past all the fetters.
Sufferings don’t torment the one who has nothing,
not clinging to name and form.Assessment was given up, conceit rejected;
craving for name and form was cut off right here.
They cut the ties, untroubled,
- with no need for hope.
Though gods and humans search for them
in this world and the world beyond,
- they never find them,
not in heaven nor in any abode."“If neither gods nor humans see one freed in this way,”
said Venerable Mogharājā,
“in this world or the world beyond,
are those who revere that supreme person,
who lives for the good of mankind,
- also worthy of praise?”“The mendicants who revere one freed in this way,”
said the Buddha,
“are also worthy of praise, Mogharājā.
Having understood the teaching
- and given up doubt,
those mendicants can slip their chains.”
1. Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
2. Rồi rất nhiều quần tiên Satullapa, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
3. Ðứng một bên, một vị Thiên nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Giữa loài Người chúng ta,
Có các dục vô thường.
Ai hưởng chúng ở đời,
Bị chúng trói, chúng buộc.
Phóng dật đối với chúng,
Khó thoát ly với chúng,
Người nào khó thoát ly,
Bị thần chết chinh phục.
Họa từ dục vọng sanh,
Khổ từ dục vọng khởi,
Dục vọng được nhiếp phục,
Nhờ vậy họa nhiếp phục,
Tai họa được nhiếp phục,
Nhờ vậy khổ nhiếp phục.
Vật sai biệt ở đời,
Chúng không phải các dục,
Chính tư niệm tham ái,
Là dục vọng con người.
Vật sai biệt tồn tại,
Như vậy ở trên đời,
Do vậy bậc Hiền trí,
Ðiều phục các dục vọng.
Hãy từ bỏ phẫn nộ,
Hãy nhiếp phục kiêu mạn,
Hãy vượt qua tất cả,
Mọi kiết sử trói buộc.
Chớ có quá chấp trước,
Ðối với danh sắc ấy,
Khổ không thể đến được,
Với ai không có gì.
Hãy từ bỏ tính toán,
Không chạy theo hư tưởng,
Cắt đứt mọi tham ái,
Với danh sắc ở đời.
Vị ấy đoạn phiền trược,
Không lo âu, không ái;
Chư Thiên và loài Người,
Ðời này hay đời sau,
Ở cảnh giới chư Thiên,
Hay tại mọi trú xứ,
Tìm cầu nhưng không gặp,
Vết tích của vị ấy,
Họ tìm nhưng không thấy,
Vị giải thoát như vậy.
(Tôn giả Mogharàjà nói như vầy)
Chư Thiên và loài Người,
Ðời này hay đời sau,
Bậc tối thượng loài Người,
Lo hạnh phúc chúng sanh,
Họ đảnh lễ vị ấy,
Nên tán thán họ không?
(Bậc Thế Tôn lên tiếng)
Này Mogharàjà
Họ cũng nên tán thán,
Bậc giải thoát như vậy.
Này Tỷ-kheo khất sĩ,
Nếu họ biết Chánh pháp,
Ðoạn trừ được nghi hoặc,
Họ trở thành giải thoát.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery.
Then, late at night, several glorious deities of the Disdainful Group, lighting up the entire Jeta’s Grove, went up to the Buddha, and stood in the air. Standing in the air, one deity recited this verse in the Buddha’s presence:
"Someone who pretends
to be other than they really are,
is like a cheating gambler
who enjoys what was gained by theft.You should only say what you would do;
you shouldn’t say what you wouldn’t do.
The wise will recognize
one who talks without doing.""Not just by speaking,
nor solely by listening,
are you able to progress
on this hard path,
by which the attentive practicing absorption
are released from Māra’s bonds.The attentive certainly don’t act like that,
for they understand the way of the world.
The attentive are quenched by understanding,
they’ve crossed over clinging to the world."
Then those deities landed on the ground, bowed with their heads at the Buddha’s feet and said, “We have made a mistake, sir. It was foolish, stupid, and unskillful of us to imagine we could attack the Buddha! Please, sir, accept our mistake for what it is, so we will restrain ourselves in future.”
At that, the Buddha smiled.
Then those deities, becoming even more disdainful, flew up in the air. One deity recited this verse in the Buddha’s presence:
“If you don’t give your pardon
when a mistake is confessed,
with hidden anger and heavy hate,
you’re stuck in your enmity.”“If no mistake is found,
if no-one’s gone astray,
and enmities are settled,
then who could have been unskillful?”“Who makes no mistakes?
Who doesn’t go astray?
Who doesn’t fall into confusion?
Who is attentive, ever mindful?”"The Realized One, the Buddha,
sympathetic for all beings:
that’s who makes no mistakes,
and that’s who doesn’t go astray.
He doesn’t fall into confusion,
for he’s attentive, ever mindful.If you don’t give your pardon
when a mistake is confessed,
with hidden anger and heavy hate,
you’re stuck in your enmity.
I don’t approve of such enmity,
and so I pardon your mistake."
1. Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
2. Rồi rất nhiều quần tiên Ujjhànasannà (Hiềm trách thiên), sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, các vị ấy đứng giữa hư không.
3. Rồi một vị Thiên đứng giữa hư không, nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Những ai nói mình khác
Với điều họ thực có,
Thời mọi vật thọ dụng,
Xem như do trộm cắp,
Chẳng khác kẻ gian manh,
Dùng lừa đảo trộm cắp.
Hãy nói điều có làm,
Không nói điều không làm,
Không làm nói có làm,
Kẻ trí biết rõ họ.
(Thế Tôn):
Những ai chỉ biết nói,
Hay chỉ biết nghe thôi,
Những hạng người như vậy,
Không thể nào tiến bộ.
Khó nhọc thay con đường,
Giúp kẻ trí giải thoát.
Nhờ Thiền định thiêu cháy,
Mọi trói buộc quần ma,
Kẻ trí không làm vậy,
Sau khi biết thế tình,
Với trí, chứng Niết-bàn,
Vượt chấp trước ở đời.
4. Rồi các quần tiên ấy đứng xuống đất, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, và bạch Thế Tôn:
− Ðây là tội lỗi của chúng con, bạch Thế Tôn. Chúng con đi đến tội lỗi, vì ngu xuẩn, vì mê mờ, vì bất thiện. Chúng con nghĩ chúng con có thể công kích Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận cho chúng con, lỗi lầm là lỗi lầm để gìn giữ trong tương lai.
5. Rồi Thế Tôn mỉm cười.
6. Các quần tiên ấy càng tức tối thêm và bay lên hư không.
7. Một vị Thiên nói bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Ai không chịu chấp nhận,
Tội lỗi được phát lộ,
Nội phẫn, ưa sân hận,
Hận thù càng kiên chặt.
Nếu không có tội lỗi,
Ở đây không lầm lạc,
Hận thù không thể tiêu.
Do gì xem là thiện?
Với ai không tội lỗi?
Với ai không lầm lạc?
Ai không bị si mê?
Ai kẻ tri thường niệm?
(Thế Tôn):
Như Lai, bậc Giác Ngộ,
Thương xót mọi hữu tình,
Nơi Ngài không tội lỗi,
Nơi Ngài không lầm lạc.
Ngài không bị si mê,
Ngài chánh trí thường niệm.
Ai không chịu chấp nhận,
Tội lỗi được phát lộ,
Nội phẫn, ưa sân hận,
Hận thù càng kiên chặt.
Ta không thích hận thù,
Ta nhận tội các Ông.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Then, late at night, several glorious deities of the Satullapa Group, lighting up the entire Jeta’s Grove, went up to the Buddha, bowed, and stood to one side. Standing to one side, one deity recited this verse in the Buddha’s presence:
“Faith is a person’s partner.
If faithlessness doesn’t linger,
fame and renown are theirs,
and when they discard this corpse they go to heaven.”
Then another deity recited these verses in the Buddha’s presence:
“Give up anger, get rid of conceit,
and get past all the fetters.
Chains don’t torment one who has nothing,
not clinging to name and form.”"Fools and simpletons
devote themselves to negligence.
But the wise protect diligence
as their best treasure.Don’t devote yourself to negligence,
or delight in erotic intimacy.
For if you’re diligent and practice absorption,
you’ll attain ultimate happiness."
1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm) tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
2. Rồi rất nhiều quần tiên SatullapaKàyikà, khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
3. Ðứng một bên, một vị Thiên nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Tín là người thứ hai,
Là bạn của loài Người,
Nếu không trú bất tín,
Ðược danh dự, xưng tán,
Sau khi bỏ thân này,
Ðược sanh lên Thiên giới.
Hãy từ bỏ phẫn nộ,
Hãy nhiếp phục kiêu mạn,
Hãy vượt qua tất cả
Mọi kiết sử trói buộc.
Chớ có quá chấp trước,
Ðối với danh sắc ấy.
Tham không thể đến được,
Với ai không có gì.
Kẻ ngu không trí tuệ,
Mới đam mê, phóng dật,
Kẻ trí không phóng dật,
Như giữ tài vật quý.
Chớ đam mê, phóng dật,
Chớ đắm say ái dục,
Thiền tư, không phóng dật,
Ðạt được tối thắng lạc.
So I have heard. At one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans, in the Great Wood near Kapilavatthu, together with a large Saṅgha of five hundred mendicants, all of whom were perfected ones. And most of the deities from ten solar systems had gathered to see the Buddha and the Saṅgha of mendicants.
Then four deities of the Pure Abodes, aware of what was happening, thought: “Why don’t we go to the Buddha and each recite a verse in his presence?”
Then, as easily as a strong person would extend or contract their arm, they vanished from the Pure Abodes and reappeared in front of the Buddha. They bowed to the Buddha and stood to one side. Standing to one side, one deity recited this verse in the Buddha’s presence:
“There’s a great congregation in the woods,
where hosts of gods have assembled.
We’ve come to this righteous congregation
to see the invincible Saṅgha!”
Then another deity recited this verse in the Buddha’s presence:
“The mendicants there have immersion,
they’ve straightened their own minds.
Like a charioteer holding the reins,
the astute ones protect their senses.”
Then another deity recited this verse in the Buddha’s presence:
“They snapped the post and snapped the cross-bar,
unstirred, they tore out the boundary post.
They live pure and immaculate,
the young giants tamed by the Clear-eyed One.”
Then another deity recited this verse in the Buddha’s presence:
“Anyone who has gone to the Buddha for refuge
won’t go to a plane of loss.
After giving up this human body,
they swell the hosts of gods.”
Ðại 1,79b - 81b)
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở giữa dòng họ Sakka (Thích-ca), tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), ở rừng Ðại Lâm, cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng 500 vị, tất cả là bậc A-la-hán. Và chư Thiên ở mười phương thế giới phần lớn cũng thường tập hội để chiêm ngưỡng Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo.
2. Rồi bốn vị Tịnh cư thiên (Suddàvàsà) suy nghĩ như sau: “Thế Tôn nay ở giữa dân chúng Sakka, thành Kapilavatthu, rừng Ðại Lâm, cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng 500 vị, tất cả đều là bậc A-la-hán. Và chư Thiên ở mười phương thế giới, phần lớn cũng thường tập hội để chiêm ngưỡng Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo. Vậy chúng ta hãy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, mỗi chúng ta đọc một bài kệ dâng lên Thế Tôn.”
3. Rồi chư Thiên ấy nhanh như nhà lực sĩ duỗi cánh tay đã co lại, hay co cánh tay đã duỗi ra, biến mất từ Tịnh cư thiên và hiện ra trước mặt Thế Tôn.
4. Chư Thiên ấy đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Sau khi đứng một bên, một vị Thiên đọc bài kệ trước Thế Tôn:
Ðại hội tại Ðại Lâm,
Chư Thiên đồng tụ tập,
Chúng con đến Pháp hội,
Ðảnh lễ chúng Bất thắng.
5. Rồi các vị Thiên khác cũng đọc lên một bài kệ trước Thế Tôn:
Tại đây chúng Tỷ-kheo,
Thiền định, tâm chánh trực,
Như chủ xe nắm cương,
Bậc hiền hộ các căn.
6. Lại một vị Thiên khác cũng đọc lên một bài kệ trước Thế Tôn:
Như khóa gãy, chốt tháo,
Trụ bị đào, tham đoạn,
Sống thanh tịnh, vô cấu,
Có mắt, voi khéo điều.
7. Lại một vị Thiên khác cũng đọc lên một bài kệ trước mặt Thế Tôn:
Những ai quy y Phật,
Sẽ không đọa ác thú,
Sau khi bỏ thân Người,
Sẽ sanh làm chư Thiên.
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Rājagaha in the Maddakucchi deer park.
Now at that time the Buddha’s foot had been cut by a splinter. The Buddha was stricken by harrowing pains; physical feelings that were painful, sharp, severe, acute, unpleasant, and disagreeable. But he endured unbothered, with mindfulness and situational awareness. And then he spread out his outer robe folded in four and laid down in the lion’s posture—on the right side, placing one foot on top of the other—mindful and aware.
Then, late at night, seven hundred glorious deities of the Satullapa Group, lighting up the entire Maddakucchi, went up to the Buddha, bowed, and stood to one side.
Standing to one side, one deity expressed this heartfelt sentiment in the Buddha’s presence: “The ascetic Gotama is such an elephant, sir! And as an elephant, he endures painful physical feelings that have come up—sharp, severe, acute, unpleasant, and disagreeable—unbothered, with mindfulness and situational awareness.”
Then another deity expressed this heartfelt sentiment in the Buddha’s presence: “The ascetic Gotama is such a lion, sir! And as a lion, he endures painful physical feelings … unbothered.”
Then another deity expressed this heartfelt sentiment in the Buddha’s presence: “The ascetic Gotama is such a thoroughbred, sir! And as a thoroughbred, he endures painful physical feelings … unbothered.”
Then another deity expressed this heartfelt sentiment in the Buddha’s presence: “The ascetic Gotama is such a chief bull, sir! And as a chief bull, he endures painful physical feelings … unbothered.”
Then another deity expressed this heartfelt sentiment in the Buddha’s presence: “The ascetic Gotama is such a behemoth, sir! And as a behemoth, he endures painful physical feelings … unbothered.”
Then another deity expressed this heartfelt sentiment in the Buddha’s presence: “The ascetic Gotama is truly tamed, sir! And as someone tamed, he endures painful physical feelings … unbothered.”
Then another deity expressed this heartfelt sentiment in the Buddha’s presence: “See, his immersion is so well developed, and his mind is so well freed—not leaning forward or pulling back, and not held in place by forceful suppression. If anyone imagines that they can overcome such an elephant of a man, a lion of a man, a thoroughbred of a man, a chief bull of a man, a behemoth of a man, a tamed man—what is that but a failure to see?”
"Learned in the five Vedas, brahmins practice
mortification for a full century.
But their minds are not properly freed,
for those of base character don’t cross to the far shore.Seized by craving,
- attached to precepts and observances,
they practice rough and fervent mortification for a hundred years.
But their minds are not properly freed,
for those of base character don’t cross to the far shore.Someone who’s fond of conceit can’t be tamed,
and someone without immersion can’t be a sage.
Living negligent alone in the wilderness,
they can’t pass beyond Death’s dominion."“Having given up conceit, serene within oneself,
with a good heart, everywhere free;
living diligent alone in the wilderness,
they pass beyond Death’s dominion.”
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở tại Ràjagaha (Vương Xá), tại vườn Nai (Maddakucchi)
2. Lúc bấy giờ, chân Thế Tôn bị miếng đá bể đâm phải. Cảm thọ Thế Tôn mãnh liệt. Thân cảm thọ khổ đau, nhói đau, nhức nhối, khốc liệt, không khoái tâm, không thích thú. Nhưng Thế Tôn chánh niệm tỉnh giác, nhẫn chịu, không phiền não.
3. Rồi Thế Tôn cho trải áo Sanghàti (Tăng-già-lê) xếp tư lại, nằm xuống phía hông bên phải như dáng điệu con sư tử, chân đặt trên chân, chánh niệm tỉnh giác.
4. Rồi bảy trăm quần tiên Satullapakàyikà, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Maddakucchi, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
5. Ðứng một bên, một vị Thiên đọc lên lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:
− Sa-môn Gotama thật là bậc Long tượng. Và với tư cách Long tượng, Ngài nhẫn chịu thân thọ khởi lên, đau khổ, nhói đau, nhức nhối, khốc liệt, không khoái tâm, không thích thú, Ngài chánh niệm tỉnh giác, nhẫn chịu, không phiền não.
6. Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:
− Sa-môn Gotama thật là bậc Sư tử. Và với tư cách Sư tử, Ngài nhẫn chịu thân thọ khởi lên, khổ đau… không có phiền não.
7. Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:
− Sa-môn Gotama thật là Lương tuấn mã. Và với tư cách Lương tuấn mã, Ngài nhẫn chịu thân thọ khởi lên, khổ đau… không có phiền não.
8. Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:
− Sa-môn Gotama thật là bậc Ngưu vương. Và với tư cách Ngưu vương, Ngài nhẫn chịu thân thọ khởi lên, khổ đau… không có phiền não.
9. Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:
− Sa-môn Gotama thật là bậc Nhẫn nại Kiên cường. Và với tư cách bậc Nhẫn nại Kiên cường, Ngài nhẫn chịu thân thọ khởi lên, khổ đau… không có phiền não.
10. Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:
− Sa-môn Gotama thật là một bậc Khéo điều phục. Và với tư cách là một bậc Khéo điều phục, Ngài nhẫn chịu thân thọ khởi lên, khổ đau… không có phiền não.
11. Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:
− Hãy xem tâm của Ngài khéo được tu tập Thiền định và giải thoát, không có nổi lên, không có chìm xuống, mọi hành động được tác thành, không có ai kích thích. Ai có thể nghĩ mình đi ngược lại một Long tượng như vậy, một bậc Sư tử như vậy, một bậc Lương tuấn mã như vậy, một bậc Ngưu vương như vậy, một bậc Nhẫn nại Kiên cường như vậy, một bậc Nhiếp phục như vậy, trừ phi là một người mù.
Các vị Bà-la-môn,
Tinh thông năm Vệ-đà,
Dầu tu tập khổ hạnh,
Cho đến hàng trăm năm,
Tâm họ không có thể,
Chơn chánh được giải thoát.
Tự tánh quá hạ liệt,
Không đến bờ bên kia,
Bị khát ái chi phối,
Bị giới cấm trói buộc,
Dầu tu tập khổ hạnh,
Cho đến hàng trăm năm,
Tâm họ không có thể,
Chơn chánh được giải thoát.
Tự tánh quá hạ liệt,
Không đến bờ bên kia.
Ở đời không nhiếp phục,
Kiêu mạn cùng các dục,
Tâm không được an tịnh,
Không tu tập Thiền định.
Ở trong rừng cô độc,
Nhưng tâm tư phóng dật,
Vị ấy khó vượt khỏi,
Sự chinh phục tử thần.
Nhiếp phục được kiêu mạn,
Khéo tu tập Thiền định,
Tâm tư khéo an tịnh,
Giải thoát được viên mãn,
Ở trong rừng cô độc,
Tâm tư không phóng dật,
Vị ấy khéo vượt khỏi,
Sự chinh phục tử thần.
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Vesālī, at the Great Wood, in the hall with the peaked roof.
Then, late at night, the beautiful Kokanadā, Pajjunna’s daughter, lighting up the entire Great Wood, went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and recited these verses in the Buddha’s presence:
"Staying in the woods of Vesālī
is the Buddha, best of beings.
Kokanadā am I who worships him,
Kokanadā, Pajjuna’s daughter.Previously I had only heard
the teaching realized by the Clear-eyed One.
But now I know it as a witness
while the sage, the Holy One teaches.There are simpletons who go about
denouncing the teaching of the noble ones.
They fall into the terrible Hell of Screams
where they suffer long.There are those who have found
- acceptance and peace
in the teaching of the noble ones.
After giving up this human body,
they swell the hosts of gods."
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Vesàli, Ðại Lâm, tại Trùng Các giảng đường.
2. Rồi Kokanadà, con gái của Pajjunna, sau khi đêm vừa mãn, với dung sắc thù thắng chiếu sáng toàn vùng Ðại Lâm, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
3. Ðứng một bên, Thiên nữ Kokanadà, con gái của Pajjunna, nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác,
Thượng thủ các chúng sanh,
Nay an trú Ðại Lâm,
Tại thành Vesàli,
Hãy để con đảnh lễ,
Con gái Pajjunna,
Tên Kokanadà.
Từ trước con chỉ nghe,
Bậc chứng ngộ Chánh Giác.
Bậc vô thượng Pháp Nhãn,
Bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Ngày nay con có thể,
Biết được Chánh pháp ấy,
Do Thiện Thệ thuyết giảng,
Bậc Mâu-ni Chánh Giác.
Những ai kém trí tuệ,
Khinh bác chống Thánh pháp,
Sẽ rơi vào địa ngục,
Mệnh danh Roruva,
Trải thời gian lâu dài,
Thọ lãnh nhiều thống khổ.
Những ai đối Thánh pháp,
Kham nhẫn, tâm tịch tịnh,
Từ bỏ thân làm người,
Viên mãn thân chư Thiên.
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Vesālī, at the Great Wood, in the hall with the peaked roof.
Then, late at night, the beautiful Kokanadā the Younger, Pajjunna’s daughter, lighting up the entire Great Wood, went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and recited these verses in the Buddha’s presence:
"Kokanadā, Pajjunna’s daughter, came here,
beautiful as a flash of lightning.
Revering the Buddha and the teaching,
she spoke these verses full of meaning.The teaching is such that
I could analyze it in many different ways.
However, I will state the meaning in brief
as far as I have learned it by heart.You should never do anything bad
by speech or mind or body in all the world.
Having given up sensual pleasures,
- mindful and aware,
you shouldn’t keep doing
- what’s painful and pointless."
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Vesàli, Ðại Lâm, tại Trùng Các giảng đường.
2. Rồi Cùla - Kokanadà, con gái của Pajjunna, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Ðại Lâm đi đến Thế Tôn; sau khi đi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Cùla-Kokanadà, con gái của Pajjunna, nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Con gái Pajjunna,
Tên Kokanadà.
Nhan sắc như điện quang,
Nàng đã đến tại đây,
Ðảnh lễ Phật và Pháp,
Nói kệ lợi ích này,
Dầu với nhiều pháp môn,
Con phân tích pháp này.
Nhưng lược nghĩa con nói,
Theo ý con hiểu biết,
Ở đời, chớ làm ác,
Cả ba: thân, khẩu, ý,
Từ bỏ mọi thứ dục,
Chánh niệm, tâm tỉnh giác,
Không khổ hạnh ép xác,
Vô bổ, không lợi ích.
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery.
Then, late at night, a glorious deity, lighting up the entire Jeta’s Grove, went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and recited these verses in the Buddha’s presence:
"When your house is on fire,
you rescue the pot
that’s useful,
not the one that’s burnt.And as the world is on fire
with old age and death,
you should rescue by giving,
for what’s given is rescued.What’s given has happiness as its fruit,
but not what isn’t given.
Bandits take it, or rulers,
it’s consumed by fire, or lost.Then in the end this corpse is cast off,
along with all your possessions.
Knowing this, a clever person
would enjoy what they have and also give it away.
After giving and using according to their means,
blameless, they go to a heavenly place."
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc). Rồi một vị Thiên, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Trong ngôi nhà thiêu cháy,
Vật dụng đem ra ngoài,
Vật ấy có lợi ích,
Không phải vật bị thiêu.
Cũng vậy trong đời này,
Bị già chết thiêu cháy,
Hãy đem ra, bằng thí,
Vật thí, khéo đem ra.
Có thí, có lạc quả,
Không thí, không như vậy.
Kẻ trộm, vua cướp đoạt,
Lửa thiêu đốt hủy hoại,
Khi giờ cuối cùng đến,
Bỏ thân, bỏ sở hữu.
Kẻ trí, hiểu biết vậy,
Thọ dụng và bố thí,
Thí xong, thọ dụng xong,
Theo lực hành động ấy,
Không bị ai chỉ trích,
Vị ấy được sanh Thiên.
“Giving what do you give strength?
Giving what do you give beauty?
Giving what do you give happiness?
Giving what do you give vision?
And who is the giver of all?
Please answer my question.”"Giving food you give strength.
Giving clothes you give beauty.
Giving a vehicle you give happiness.
Giving a lamp you give vision.And the giver of all
is the one who gives a residence.
But a person who teaches the Dhamma
gives the gift of freedom from death."
Cho gì là cho lực?
Cho gì là cho sắc?
Cho gì là cho lạc?
Cho gì là cho mắt?
Cho gì cho tất cả?
Xin đáp điều con hỏi?
(Thế Tôn):
Cho ăn là cho lực,
Cho mặc là cho sắc,
Cho xe là cho lạc,
Cho đèn là cho mắt.
Ai cho chỗ trú xứ,
Vị ấy cho tất cả,
Ai giảng dạy Chánh pháp,
Vị ấy cho bất tử.
“Both gods and humans
enjoy their food.
So what’s the name of the spirit
who doesn’t like food?”"Those who give with faith
and a clear and confident heart,
partake of food
in this world and the next.So you should dispel stinginess,
overcoming that stain, and give a gift.
The good deeds of sentient beings
support them in the next world."
Trời, Người, cả hai loài,
Ðều ưa thích ăn uống,
Vị Dạ-xoa tên gì,
Lại không thích ăn uống?
(Thế Tôn):
Ai cho với lòng tin,
Với tâm tư thanh tịnh,
Ðược phần món ăn ấy,
Ðời này và đời sau.
Vậy hãy ngừa xan tham,
Bố thí, nhiếp cấu uế,
Hữu tình vững an trú,
Công đức trong đời sau.
“One is the root, two are the whirlpools,
three are the stains, five the spreads,
twelve the ocean’s whirlpools:
such is the abyss crossed over by the seer.”
Một rễ, hai phương diện,
Ba uế, năm môi trường,
Biển lớn, mười hai họa,
Vực xoáy bậc Thánh siêu.
Behold him of peerless name
- who sees the subtle meaning,
giver of wisdom,
- unattached to the realm of sensuality:
the all-knower, so very intelligent,
the great seer treading the noble road."
Bậc viên mãn toàn diện,
Thấy được nghĩa bí huyền,
Ban phát chân trí tuệ,
Thoát ly khỏi dục tạng,
Thấy được bậc toàn trí,
Bậc Thiện tuệ trí giác.
Vị Ðại Thánh dấn bước,
Trên con đường Thánh đạo.
“It’s resounding with a group of nymphs,
but haunted by a gang of goblins!
This grove is called ‘Delusion’.
How will I keep going?”"That path is called ‘the straight way’,
and it’s headed for the place called ‘fearless’.
The chariot is called ‘unswerving’,
fitted with wheels of skillful thoughts.Conscience is its bench-back,
mindfulness its upholstery.
I say the teaching is the driver,
with right view running out in front.Any woman or man
who has such a vehicle,
by means of this vehicle
has drawn near to extinguishment."
Thiên nữ đoàn tụ hội,
Ngạ quỷ chúng tới lui,
Rừng ấy danh rừng si,
Làm sao có lối thoát?
(Thế Tôn):
Ðường ấy tên chơn trực,
Phương ấy danh vô úy,
Cỗ xe gọi vô thanh,
Với pháp luân khéo ráp,
Tàm là dàn xe dựa,
Niệm là trướng màn xe,
Ta nói vị đánh xe,
Tức là chơn diệu pháp,
Và chính chánh tri kiến,
Mau chóng đi tiền phong.
Không kể nam hay nữ,
Ðều dùng cỗ xe ấy.
Chính nhờ cỗ xe ấy,
Hướng tiến đến Niết-bàn.
“Whose merit always grows
by day and by night?
Firm in principle, accomplished in conduct,
who is going to heaven?”"Planters of parks or groves,
those who build a bridge,
a drinking place and well,
and those who give a residence.Their merit always grows
by day and by night.
Firm in principle, accomplished in conduct,
they are going to heaven."
Những ai ngày lẫn đêm,
Công đức luôn tăng trưởng,
Trú pháp, cụ túc giới,
Kẻ nào sanh thiên giới?
Ai trồng vườn, trồng rừng,
Ai dựng xây cầu cống,
Ðào giếng, cho nước uống,
Những ai cho nhà cửa,
Những vị ấy ngày đêm,
Công đức luôn tăng trưởng,
Trú pháp, cụ túc giới,
Những vị ấy sanh Thiên.
"This is indeed that Jeta’s Grove,
frequented by the Saṅgha of seers,
where the King of Dhamma stayed:
it brings me joy!Deeds, knowledge, and principle;
ethical conduct, an excellent livelihood;
by these are mortals purified,
not by clan or wealth.That’s why an astute person,
seeing what’s good for themselves,
would examine the teaching properly,
and thus be purified in it.Sāriputta is full of wisdom,
ethics, and peace.
Even a mendicant who has crossed over
might at best equal him."
Ðây là rừng Kỳ Viên.
Chỗ trú xứ Thánh chúng,
Chỗ ở đấng Pháp Vương,
Khiến tâm con hoan hỷ.
Nghiệp minh và tâm pháp,
Giới và tối thắng mạng,
Chính những diệu pháp ấy,
Khiến chúng sanh thanh tịnh,
Không phải vì dòng họ,
Không phải vì tài sản.
Do vậy bậc Hiền trí,
Thấy lợi ích chính mình,
Chánh giác sát tâm pháp,
Như vậy được thanh tịnh.
Như ngài Xá-lợi-phất,
Tuệ giới và tịch tịnh,
Tỷ-kheo đến bờ giác,
Ở đây là tối thượng.
"Those folk in the world who are stingy,
miserly and abusive,
setting up obstacles
for others who give.What kind of result do they reap?
What kind of future life?
We’ve come to ask you, sir:
how are we to understand this?""Those folk in the world who are stingy,
miserly and abusive,
setting up obstacles
for others who give:they’re reborn in hell,
the animal realm, or Yama’s world.
If they return to the human state,
they’re born in a poor family,where clothes, food, pleasure, and play
are hard to find.
They don’t even get
what they hope for from others.
This is the result in the present life,
and in the next, a bad destination.""We understand what you’re saying,
and ask another question, Gotama.
What about those who’ve gained the human state,
who are bountiful and rid of stinginess,confident in the Buddha and the teaching,
with keen respect for the Saṅgha?
What kind of result do they reap?
What kind of future life?
We’ve come to ask you, sir:
how are we to understand this?""Those who’ve gained the human state
who are bountiful and rid of stinginess,
confident in the Buddha and the teaching,
with keen respect for the Saṅgha:
they illuminate the heavens
wherever they’re reborn.If they return to the human state,
they’re reborn in a rich family,
where clothes, food, pleasure, and play
are easy to find.They rejoice like those
who control the possessions of others.
This is the result in the present life,
and in the next, a good destination."
Ở đời kẻ xan tham,
Keo kiết hay khước từ,
Tạo nên những chướng ngại,
Ngăn kẻ khác bố thí,
Ðời này và đời sau,
Quả báo họ là gì?
Chúng con đến tại đây,
Chính muốn hỏi Thế Tôn,
Chúng con muốn được biết,
Thế Tôn đáp thế nào?
(Thế Tôn):
Ở đời kẻ xan tham,
Keo kiết hay khước từ,
Tạo nên những chướng ngại,
Ngăn kẻ khác bố thí,
Bị tái sanh địa ngục,
Bàng sanh, Dạ-ma giới.
Nếu được sanh làm người,
Sanh gia đình nghèo khó,
Y, thực, dục, hỷ lạc,
Họ được rất khó khăn.
Ðiều kẻ ngu ước vọng,
Họ không thâu hoạch được,
Quả hiện tại là vậy,
Ðời sau sanh ác thú.
(Vị Thiên):
Nhờ những điều Ngài nói,
Chúng con được hiểu vậy,
Tôn giả Gotama,
Con xin hỏi câu khác.
Ở đây được thân người,
Từ tốn không xan tham,
Tin Phật và Chánh pháp,
Cùng tôn trọng chúng Tăng,
Ðời này và đời sau,
Quả báo họ là gì?
Chúng con đến tại đây,
Chính muốn hỏi Thế Tôn,
Chúng con muốn được biết,
Thế Tôn đáp thế nào?
(Thế Tôn):
Ở đây được thân người,
Từ tốn không xan tham,
Tin Phật và Chánh pháp,
Cùng tôn trọng chúng Tăng,
Họ chói sáng chư Thiên,
Tại đấy họ tái sanh.
Nếu họ sanh làm người,
Họ sanh nhà phú gia,
Y, thực, dục, hỷ lạc,
Họ được không khó khăn,
Như các Tự tại thiên,
Hân hoan được thọ hưởng,
Giữa vật dụng tài sản,
Ðược người khác quy tụ,
Quả hiện tại là vậy,
Ðời sau sanh Thiên giới.
“Seven mendicants reborn in Aviha
have been freed.
With the complete ending of greed and hate,
they’ve crossed over clinging to the world.”“Who are those who’ve crossed the bog,
Death’s dominion so hard to pass?
Who, after leaving behind the human body,
have risen above celestial yokes?”“Upaka and Palagaṇḍa,
and Pukkusāti, these three;
Bhaddiya and Bhaddadeva,
and Bāhudantī and Piṅgiya.
They, after leaving behind the human body,
have risen above celestial yokes.”“You speak well of them,
who have let go the snares of Māra.
Whose teaching did they understand
to cut the bonds of rebirth?”"None other than the Blessed One!
None other than your instruction!
It was your teaching that they understood
to cut the bonds of rebirth.Where name and form
cease with nothing left over;
understanding this teaching,
they cut the bonds of rebirth."“The words you say are deep,
hard to understand, so very hard to wake up to.
Whose teaching did you understand
that you can say such things?”"In the past I was a potter
in Vebhaliṅga called Ghaṭīkāra.
I took care of my parents
as a lay follower of Buddha Kassapa.I refrained from sexual intercourse,
I was celibate, spiritual.
We lived in the same village;
in the past I was your friend.I am the one who understands
that these seven mendicants have been freed.
With the complete ending of greed and hate,
they’ve crossed over clinging to the world.""That’s exactly how it was,
just as you say, Bhaggava.
In the past you were a potter
in Vebhaliṅga called Ghaṭīkāra.
You took care of your parents
as a lay follower of Buddha Kassapa.You refrained from sexual intercourse,
you were celibate, spiritual.
We lived in the same village;
in the past you were my friend."“That’s how it was
when those friends of old met again.
Both of them are evolved,
and bear their final body.”
Ðược sanh Vô phiền thiên,
Bảy Tỷ-kheo giải thoát,
Ðoạn tận tham và sân,
Vượt qua đời triền phược.
Vượt bùn, họ là ai,
Khéo vượt lệnh thần chết,
Sau khi bỏ thân người,
Họ thoát ách chư Thiên?
Họ là Upaka,
Với Pukkusàti,
Hợp thành là ba vị,
Và Phalaganda,
Lại thêm Bhaddiya,
Với Khandadeva,
Và Bàhuraggi,
Cùng với Pingiya,
Sau khi bỏ thân người,
Họ thoát ách chư Thiên.
(Thế Tôn):
Người nói điều tốt lành,
Về bảy Tỷ-kheo ấy,
Họ thoát ly, đoạn trừ,
Các cạm bẫy Ma vương,
Pháp họ biết, của ai,
Ðoạn diệt hữu kiết sử?
(Ghatìkàra):
Không ai ngoài Thế Tôn,
Chính thật giáo lý Ngài,
Họ biết pháp của Ngài,
Ðoạn được hữu kiết sử.
Chỗ nào danh và sắc,
Ðược đoạn diệt, không dư,
Họ học được pháp ấy,
Ở đây từ nơi Ngài.
Nhờ vậy họ đoạn trừ,
Hữu kiết sử trói buộc.
(Thế Tôn):
Lời nói người thâm sâu,
Khó biết, khó chứng ngộ,
Pháp Ông biết của ai,
Sao Ông không nói được?
(Ghatìkàra):
Thuở xưa, con thợ gốm,
Tại Vehalinga,
Và con được tên gọi,
Là Ghatìkàra.
Chính con lo nuôi dưỡng,
Cả mẹ lẫn cả cha,
Ðối với Phật Ca-diếp,
Con đệ tử tại gia.
Con viễn ly dâm dục,
Phạm hạnh, không thế vật,
Thuở xưa con đồng hương,
Cũng là bạn của họ,
Do vậy con biết họ,
Bảy Tỷ-kheo giải thoát,
Ðoạn tận tham và sân,
Vượt qua đời triền phược.
(Thế Tôn):
Vậy này Bhaggava,
Chính như Ông vừa nói,
Thuở xưa, Ông thợ gốm,
Tại Vehalinga,
Và Ông được tên gọi,
Là Ghatìkàra.
Chính Ông lo nuôi dưỡng,
Cả mẹ lẫn cả cha,
Ðối với Phật Ca-diếp,
Ông đệ tử tại gia.
Ông viễn ly dâm dục,
Phạm hạnh, không thế vật.
Thuở xưa Ông đồng hương,
Cũng là bạn của Ta,
Như vậy là hội ngộ,
Giữa những bạn thời xưa,
Cả hai khéo tu tập,
Mang thân này tối hậu.
“What’s still good in old age?
What’s good when grounded?
What is people’s treasure?
What’s hard for thieves to take?”“Ethics are still good in old age.
Faith is good when grounded.
Wisdom is people’s treasure.
Merit’s hard for thieves to take.”
− Vật gì tốt đến già?
Vật gì tốt kiên trú?
Vật gì vật báu người?
Vật gì cướp khó đoạt?
− Giới là tốt đến già,
Tín là tốt kiên trú,
Tuệ, vật báu loài Người,
Công đức, cướp khó đoạt .
“What’s good because it never gets old?
What’s good when committed?
What is people’s treasure?
What can thieves never take?”“Ethics are good because they never grow old.
Faith is good when committed.
Wisdom is people’s treasure.
Merit’s what thieves can never take.”
− Vật gì tốt không già?
Vật gì tốt trường cửu?
Vật gì vật báu người?
Vật gì cướp không đoạt?
− Giới là tốt không già,
Tín là tốt trường cửu,
Tuệ, vật báu loài Người,
Công đức, cướp không đoạt.
“Who’s your friend abroad?
Who’s your friend at home?
Who’s your friend in need?
Who’s your friend in the next life?”“A caravan is your friend abroad.
Mother is your friend at home.
A comrade in a time of need
is a friend time and again.
But the good deeds you’ve done yourself—
that’s your friend in the next life.”
−
Ai bạn kẻ đi đường?
Ai bạn người ở nhà?
Ai bạn khi cần thiết?
Ai bạn cho đời sau?
Bạn đường, bạn đi đường,
−
Bạn ở nhà là mẹ,
Bạn bè khi cần thiết,
Mới là bạn thường xuyên,
Công đức tự mình làm,
Là bạn cho đời sau.
“What is the ground of human beings?
What is the best companion here?
By what do the creatures who live off the earth
sustain their life?”“Children are the ground of human beings.
A wife is the best companion.
The creatures who live off the earth
sustain their life by rain.”
− Vật gì, cơ sở người?
Vật gì, bạn tối thượng (ở đời)?
Hữu tình gì trì mạng?
Y cứ vào địa đại?
− Con là cơ sở người,
Vợ là bạn tối thượng,
Thần mưa là trì mạng,
Y cứ vào địa đại.
“What gives birth to a person?
What do they have that runs about?
What enters transmigration?
What’s their greatest fear?”“Craving gives birth to a person.
Their mind is what runs about.
A sentient being enters transmigration.
Suffering is their greatest fear.”
− Cái gì sanh thành người?
Cái gì luôn dong ruỗi?
Cái gì chịu luân hồi?
Cái gì người sợ hãi?
− Ái dục sanh thành người,
Chính tâm luôn dong ruỗi,
Chúng sanh chịu luân hồi,
Ðau khổ, người sợ hãi.
“What gives birth to a person?
What do they have that runs about?
What enters transmigration?
From what are they not free?”“Craving gives birth to a person.
Their mind is what runs about.
A sentient being enters transmigration.
From suffering they are not free.”
− Cái gì sanh thành người?
Cái gì luôn dong ruỗi?
Cái gì chịu luân hồi?
Vì đâu, không giải thoát?
− Ái dục sanh thành người,
Chính tâm luôn rong ruỗi,
Chúng sanh chịu luân hồi,
Vì khổ, không giải thoát.
“What gives birth to a person?
What do they have that runs about?
What enters transmigration?
What is their destiny?”“Craving gives birth to a person.
Their mind is what runs about.
A sentient being enters transmigration.
Deeds are their destiny.”
− Cái gì sanh thành người?
Cái gì luôn dong ruỗi?
Cái gì chịu luân hồi?
Cái gì người nương tựa?
− Ái dục sanh thành người,
Chính tâm luôn dong ruỗi,
Chúng sanh chịu luân hồi,
Chính nghiệp, người nương tựa.
“What’s declared to be a deviation?
What is ending day and night?
What’s the stain of celibacy?
What’s the waterless bath?”“Lust is declared to be a deviation.
Youth is ending day and night.
Women are the stain of celibacy,
to which this generation clings.
Fervor and celibacy
are the waterless bath.”
− Cái gì gọi phi đạo?
Cái gì diệt ngày đêm?
Cái gì uế Phạm hạnh?
Cái gì tắm không nước?
− Tham dục gọi phi đạo,
Tuổi tác diệt ngày đêm,
Nữ nhân uế Phạm hạnh,
Khiến loài Người hệ lụy,
Khổ hạnh và Phạm hạnh,
Là tắm không cần nước.
“What is a person’s partner?
What instructs them?
Enjoying what is a mortal
released from all suffering?”“Faith is a person’s partner.
Wisdom instructs them.
Delighting in extinguishment a mortal
is released from all suffering.”
− Cái gì làm người bạn?
Cái gì giáo hóa người?
Cái gì người ái lạc?
Giải thoát mọi khổ đau?
− Tín thành làm bạn người,
Trí tuệ giáo hóa người,
Người ái lạc Niết-bàn,
Giải thoát mọi khổ đau.
“What’s the basis of verses?
What’s their detailed expression?
What do verses depend upon?
What underlies verses?”“Metre is the basis of verses.
Syllables are their detailed expression.
Verses depend on names.
A poet underlies verses.”
− Vật gì nhân kệ tụng?
Vật gì làm tự cú?
Vật gì kệ y cứ?
Vật gì kệ an trú?
− Âm vận nhân kệ tụng,
Văn tự làm tự cú,
Kệ ý cứ đề danh,
Kệ an trú thi nhân.
“What oppresses everything?
What is nothing bigger than?
What is the one thing
that has everything under its sway?”“Name oppresses everything.
Nothing’s bigger than name.
Name is the one thing
that has everything under its sway.”
− Vật gì thắng tất cả?
Vật gì không số hơn?
Và có một pháp nào,
Mọi vật đều tùy thuộc?
− Danh vượt thắng tất cả,
Danh không số nào hơn,
Chính danh là một pháp,
Mọi vật đều tùy thuộc.
“What leads the world on?
What drags it around?
What is the one thing
that has everything under its sway?”“The mind leads the world on.
The mind drags it around.
Mind is the one thing
that has everything under its sway.”
− Vật gì dắt dẫn đời?
Vật gì tự não hại?
Và có một pháp nào,
Mọi vật đều tùy thuộc?
− Chính tâm dắt dẫn đời,
Chính tâm tự não hại,
Chính tâm là một pháp,
Mọi vật đều tùy thuộc.
“What leads the world on?
What drags it around?
What is the one thing
that has everything under its sway?”“Craving leads the world on.
Craving drags it around.
Craving is the one thing
that has everything under its sway.”
− Vật gì dẫn dắt đời?
Vật gì tự não hại?
Và có một pháp nào,
Mọi vật đều tùy thuộc?
− Chính ái là một đời,
Chính ái tự não hại,
Chính ái là một pháp,
Mọi vật đều tùy thuộc.
“What fetters the world?
How does it travel about?
With the giving up of what
is extinguishment spoken of?”“Delight fetters the world.
It travels about by means of thought.
With the giving up of craving
extinguishment is spoken of.”
− Vật gì trói buộc đời?
Vật gì dẫn hành đời?
Do đoạn trừ pháp gì,
Mới được gọi Niết-bàn?
− Chính hỷ trói buộc đời,
Tầm cầu dẫn hành đời,
Do đoạn trừ khát ái,
Mới được gọi Niết-bàn.
“What binds the world?
How does it travel about?
With the giving up of what
are all bonds severed?”“Delight binds the world.
It travels about by means of thought.
With the giving up of craving
all bonds are severed.”
− Vật gì triền phược đời?
Vật gì dẫn hành đời?
Do đoạn trừ pháp gì,
Mọi triền phược đoạn diệt?
− Chính hỷ triền phược đời,
Tầm cầu dẫn hành đời,
Do đoạn trừ khát ái,
Mọi triền phược đoạn diệt.
“By what is the world beaten down?
By what is it surrounded?
What dart has laid it low?
With what is it always fuming?”“The world is beaten down by death.
It’s surrounded by old age.
The dart of craving has struck it down.
It’s always fuming with desire.”
− Vật gì áp đảo đời?
Vật gì bao phủ đời?
Tên gì bắn trúng đời?
Bởi gì thường huân tập?
− Sự chết áp đảo đời,
Già nua bao phủ đời,
Tên ái bắn trúng đời,
Bởi dục, thường huân tập.
“What has trapped the world?
By what is it surrounded?
What has the world fastened shut?
On what is the world grounded?”“Craving has trapped the world.
It’s surrounded by old age.
Mortality has the world fastened shut.
The world is grounded on suffering.”
− Vật gì treo cột đời?
Vật gì bao phủ đời?
Vật gì đóng kín đời?
Trên gì đời an trú?
− Khát ái treo cột đời,
Già nua bao phủ đời,
Sự chết đóng kín đời,
Trên khổ, đời an trú.
“What has the world fastened shut?
On what is the world grounded?
What has trapped the world?
By what is it surrounded?”“Mortality has the world fastened shut.
The world is grounded on suffering.
Craving has trapped the world.
It’s surrounded by old age.”
− Vật gì đóng kín đời?
Trên gì đời an trú?
Vật gì treo cột đời?
Vật gì bao phủ đời?
− Sự chết đóng kín đời,
Trên khổ, đời an trú,
Khát ái treo cột đời,
Già nua bao phủ đời.
“What is it that binds the world?
By removing what is it freed?
With the giving up of what
are all bonds severed?”“Desire is what binds the world.
By the removing of desire it’s freed.
With the giving up of craving,
all bonds are severed.”
− Vật gì trói buộc đời?
Ðiều phục gì được thoát?
Vật gì được đoạn trừ,
Khiến mọi phược đoạn tận?
− Ước muốn trói buộc đời,
Ðiều phục dục được thoát,
Ước muốn được đoạn trừ,
Mọi triền phược đoạn tận.
“What has the world arisen in?
What does it get close to?
By grasping what
is the world troubled in what?”“The world’s arisen in six.
It gets close to six.
By grasping at these six,
the world’s troubled in six.”
− Trên gì thế gian sanh?
Trên gì được giao tiếp?
Thế gian chấp trước gì?
Trên gì đời khổ não?
− Trên sáu, thế gian sanh,
Trên sáu, được giao tiếp,
Thế gian chấp trước sáu,
Trên sáu, đời khổ não.
At Sāvatthī.
Standing to one side, that deity addressed the Buddha in verse:
“When what is incinerated do you sleep at ease?
When what is incinerated is there no sorrow?
What’s the one thing, Gotama,
whose killing you approve?”“When anger’s incinerated you sleep at ease.
When anger’s incinerated there is no sorrow.
O deity, anger has a poisonous root
and a honey tip.
The noble ones praise its killing,
for when it’s incinerated there is no sorrow.”
… Ðứng một bên, vị Thiên nhân ấy nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Sát vật gì được lạc?
Sát vật gì không sầu?
Có một pháp loại gì,
Ngài tán đồng sát hại,
Tôn giả Gotama?
(Thế Tôn):
Sát phẫn nộ được lạc,
Sát phẫn nộ không sầu,
Phẫn nộ với độc căn,
Với vị ngọt tối thượng,
Pháp ấy, bậc Thánh Hiền,
Tán đồng sự sát hại.
Sát pháp ấy không sầu,
Này (Hiền giả) Thiên nhân.
“What’s the mark of a chariot?
What’s the mark of fire?
What’s the mark of a nation?
What’s the mark of a woman?”“A banner is the mark of a chariot.
Smoke is the mark of fire.
A ruler is a nation’s mark.
And a husband is the mark of a woman.”
− Cỗ xe hiện tướng gì?
Ngọn lửa hiện tướng gì?
Vương quốc hiện tướng gì?
Phụ nữ hiện tướng gì?
− Cờ hiện tướng cỗ xe,
Khói hiện tướng ngọn lửa,
Vua hiện tướng vương quốc,
Chồng hiện tướng nữ nhân.
“What’s a person’s best wealth?
What brings happiness when practiced well?
What’s the sweetest taste of all?
The one they say has the best life: how do they live?”“Faith here is a person’s best wealth.
The teaching brings happiness when practiced well.
Truth is the sweetest taste of all.
The one they say has the best life lives by wisdom.”
− Tài sản gì ở đời,
Ðối người là tối thượng?
Sự gì khéo tu trì,
Ðưa đến chơn an lạc?
Vật gì ngọt tối thượng,
Trong tất cả vị ngọt?
Sống cuộc sống thế nào,
Ðược gọi sống tối thượng?
− Lòng tin ở đời này,
Là tài sản tối thượng.
Chánh pháp khéo tu trì,
Ðưa đến chơn an lạc.
Sự thật ngọt tối thượng,
Trong tất cả vị ngọt.
Sống cuộc sống trí tuệ,
Ðược gọi sống tối thượng.
“What’s the best of things that rise?
And what’s the finest of things that fall?
And what of the things that go forth?
And who’s the finest speaker?”“A seed’s the best of things that rise.
Rain’s the finest thing that falls.
Cattle, of things that go forth.
And a child is the finest speaker.”“Knowledge is best of things that rise.
Ignorance the finest thing that falls.
The Saṅgha, of things that go forth.
And the Buddha is the finest speaker.”
Vật gì được mọc lên,
Là mọc lên tối thượng?
Vật gì được rơi xuống,
Là rơi xuống tối thượng?
Vật gì thường bộ hành?
Vật gì thuyết tối thượng?
(Một Thiên nhân):
Hột giống được mọc lên,
Là mọc lên tối thượng.
Cơn mưa được rơi xuống,
Là rơi xuống tối thượng.
Con bò thường bộ hành,
Con trai thuyết tối thượng.
(Thế Tôn):
Huệ minh được mọc lên,
Là mọc lên tối thượng.
Vô minh được rơi xuống,
Là rơi xuống tối thượng.
Tăng-già thường bộ hành,
Ðức Phật thuyết tối thượng.
“Why are so many people here afraid,
when the path has been taught
- with so many dimensions?
I ask you, Gotama, whose wisdom is vast:
Standing on what need one not fear the next world?”“When speech and mind are directed right,
and you don’t do anything bad with the body
while dwelling at home with plenty of food and drink.
Faithful, gentle, charitable, and bountiful:
standing on these four principles,
standing on the teaching
- one need not fear the next world.”
Vì sao ở đời này,
Rất nhiều người sợ hãi,
Dầu con đường đề cập,
Dưới hình thức sai biệt?
Con hỏi Gotama,
Bậc trí tuệ sáng suốt,
Phải an trú chỗ nào,
Khỏi sợ hãi đời sau?
(Thế Tôn):
Hãy chánh trú lời, ý,
Thân nghiệp chớ làm ác.
Nếu an trú trong nhà,
Với tài sản dồi dào,
Hãy tín tâm, nhu hòa,
Chia tài sản, hòa nhã.
An trú bốn pháp này,
Không sợ hãi đời sau.
"What gets old, what doesn’t grow old?
What’s called a deviation?
What’s a roadblock for skillful qualities?
What is ending day and night?
What’s the stain of celibacy?
What’s the waterless bath?How many holes are there in the world,
where one’s wealth leaks out?
We’ve come to ask you, sir:
how are we to understand this?""The physical form of mortals gets old,
but their name and clan don’t.
Lust is called a deviation,and greed is a roadblock for skillful qualities.
Youth is ending day and night.
Women are the stain of celibacy,
to which this generation clings.
Fervor and celibacy
are the waterless bath.There are six holes in the world,
where one’s wealth leaks out:
laziness and negligence,
lack of initiative and lack of restraint,
sleepiness and sloth.
You should completely get rid of these holes!"
− Ai già, ai không già?
Thế nào gọi phi đạo?
Vật gì chướng ngại pháp?
Vật gì đêm ngày diệt?
Vật gì uế Phạm hạnh?
Vật gì tắm không nước?
Ðời bao nhiêu lỗ trống,
Trên ấy, tâm không trú?
Con đến hỏi Thế Tôn,
Mong biết câu trả lời!
− Sắc hữu tình bị già,
Danh tánh lại không già,
Tham dục gọi phi đạo,
Tham ái, chướng ngại pháp.
Tuổi tác đêm, ngày diệt,
Nữ nhân uế Phạm hạnh,
Ðắm trước trong uế này,
Là toàn thể chúng sanh.
Khổ hạnh và Phạm hạnh,
Là tắm không cần nước,
Sáu lỗ trống ở đời,
Trên ấy, tâm không trú,
Biếng nhác và phóng dật,
Uể oải, không tự chế,
Thụy miên và hôn trầm,
Cả sáu lỗ trống này,
Cần ly khai tất cả.
"What is authority in the world?
What’s the best of valuables?
What in the world is a rusty sword?
Who is a plague on the world?Who gets arrested when they take things away?
And who is loved when they take things away?
And who is approved by the astute
when they come again and again?""Power is authority in the world.
A woman is the best of valuables.
Anger in the world is a rusty sword.
A bandit is a plague on the world.A bandit gets arrested when they take things away.
And an ascetic is loved when they take things away.
An ascetic is approved by the astute
when they come again and again."
− Vật gì chủ ở đời?
Hàng hóa gì tối thượng?
Vật gì làm rỉ sét,
Lưỡi kiếm ở trên đời?
Vật gì ở đời này,
Tác thành cõi địa ngục?
Ai đem đi, bị chận?
Ai đem đi, được ưa?
Ai thường xuyên đi lại,
Ðược kẻ trí hoan hỷ?
− Thế lực chủ ở đời,
Nữ nhân, vật tối thượng.
Phẫn nộ làm rỉ sét,
Lưỡi kiếm ở trên đời.
Kẻ trộm ở đời này,
Tác thành cõi địa ngục.
Trộm đem đi, bị chận,
Sa-môn đem, được ưa,
Sa-môn thường đi lại,
Ðược kẻ trí hoan hỷ.
“What should one who desires the good
- not give away?
What should a mortal not forsake?
What should be let out when it’s good,
but not when it’s bad?”“A man shouldn’t give away himself.
He shouldn’t forsake himself.
Speech should be let out when it’s good,
but not when it’s bad.”
− Nghĩ lợi, không cho ai,
Con người từ bỏ gì?
Thiện gì nên thốt ra?
Ác gì nên ngăn chận?
− Con người không cho mình,
Không nên từ bỏ mình,
Lời thiện, nên thốt ra,
Lời ác, nên ngăn chận.
“How should provisions be tied up?
What’s the lair of wealth?
What drags a person around?
What in the world is hard to give up?
What are many beings tied up with,
like birds in a snare?”“Provisions should be tied up with faith.
Glory is the lair of wealth.
Desire drags a person around.
Desire in the world is hard to give up.
Many beings are tied up with desire,
like birds in a snare.”
− Cái gì cột lương thực?
Cái gì hút tài sản?
Cái gì lôi cuốn người?
Ở đời, khó bỏ gì?
Cái gì buộc phàm nhân,
Như chim bị bẫy sập?
− Lòng tin cột lương thực,
Thần tài hút tài sản.
Lòng muốn lôi cuốn người,
Ở đời, muốn (icchà) khó bỏ.
Ham muốn buộc phàm nhân,
Như chim bị bẫy sập.
"What’s the lamp for the world?
What in the world is wakeful?
Who are one’s work colleagues?
What is one’s walk of life?What nurtures the idle and the tireless,
like a mother her child?
By what do the creatures who live off the earth
sustain their life?""Wisdom is the lamp for the world.
Mindfulness in the world is wakeful.
Cattle are one’s work colleagues,
and the furrow is one’s walk of life.Rain nurtures the idle and the tireless,
like a mother her child.
The creatures who live off the earth
sustain their life by rain."
− Vật gì chiếu sáng đời?
Vật gì thức tỉnh đời?
Ai cọng nghiệp với người?
Cử chỉ chúng là gì?
Ai nuôi kẻ nhác, siêng,
Như mẹ nuôi con cái?
Hữu tình gì trì mạng,
Y cứ vào địa đại?
− Trí tuệ chiếu sáng đời,
Chánh niệm thức tỉnh đời,
Bò cọng nghiệp với người,
Ðường cày là con đường.
Mưa nuôi kẻ nhác, siêng,
Như mẹ nuôi con cái.
Mưa trì mạng chúng sanh,
Y cứ vào địa đại.
"Who in the world has no conflict?
Whose life is not lost?
Who here completely understands desire?
Who always lives as their own master?To whom do mother, father, and brothers
bow when they’re established?
Who here, though low born,
is bowed to even by aristocrats?""Ascetics have no conflict in the world.
The life of ascetics is not lost.
Ascetics completely understand desire.
Ascetics always live as their own master.Mother, father, and brothers
bow to ascetics when they’re established.
Even though an ascetic is low born,
they’re bowed to even by aristocrats."
− Ai không tranh luận đời?
Ai sống không hoại diệt?
Ai rõ ham muốn đời?
Ai thường xuyên tự tại?
Ai an trú như vậy,
Cha, mẹ, anh đảnh lễ?
Ai dầu có hạ sanh,
Ðược Sát-lỵ tôn kính?
− Sa-môn không tranh đời,
Sa-môn sống không diệt,
Sa-môn rõ dục vọng,
Sa-môn thường tự tại,
Sa-môn trú như vậy,
Cha, mẹ, anh kính lễ.
Sa-môn dầu hạ sanh,
Ðược Sát-lỵ tôn kính.
-ooOoo-