So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Then, late at night, the glorious god Kassapa, lighting up the entire Jeta’s Grove, went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and said to him, “The Buddha has revealed the mendicant, but not his instructions to a mendicant.”
“Well then, Kassapa, clarify this matter yourself.”
“They should train in following good advice,
in attending closely to ascetics,
in sitting alone in hidden places,
and in calming the mind.”
That’s what the god Kassapa said, and the teacher approved. Then Kassapa, knowing that the teacher approved, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before vanishing right there.
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc). Rồi Thiên tử Kassapa (Ca-diếp), sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Kassapa bạch Thế Tôn:
− Thế Tôn đề cao Tỷ-kheo và sự giáo giới vị Tỷ kheo cho chúng con.
2. − Vậy này Kassapa, hãy nói lên ở đây về vấn đề ấy.
3. (Kassapa):
Hãy học điều khéo nói,
Trong hạnh nghiệp Sa-môn,
Vắng lặng, ngồi một mình,
Với tâm tư an tịnh.
4. Thiên tử Kassapa nói như vậy. Bậc Ðạo Sư chấp nhận. Rồi Thiên tử Kassapa, sau khi được biết: “Bậc Ðạo Sư đã chấp nhận ta”, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, rồi biến mất từ chỗ ấy.
At Sāvatthī.
Standing to one side, the god Kassapa recited this verse in the Buddha’s presence:
“Suppose a mendicant is a meditator, freed in mind.
If they want to reach the heart’s peace,
having known the arising and passing of the world,
good-hearted, independent, that is their reward.”
1. Tại Sàvatthi.
2. Ðứng một bên, Thiên tử Kassapa nói lên bài kệ này trước Thế Tôn:
Với tâm tư giải thoát,
Vị Tỷ-kheo tu thiền,
Và với lòng ước vọng,
Ðạt được tâm sở nguyện.
Sau khi biết cuộc đời,
Hưng thịnh và phế tàn,
Tâm thuần, không nương tựa,
Hưởng lợi quả như chơn.
At Sāvatthī.
Then, late at night, the glorious god Māgha, lighting up the entire Jeta’s Grove, went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and addressed the Buddha in verse:
“When what is incinerated do you sleep at ease?
When what is incinerated is there no sorrow?
What is the one thing
whose killing you approve?”“When anger’s incinerated you sleep at ease.
When anger’s incinerated there is no sorrow.
Anger has a poisonous root,
and a honey tip, O slayer of the Constrictor.
The noble ones praise its killing,
for when it’s incinerated there is no sorrow.”
1. Tại Sàvatthi.
2. Rồi Thiên tử Màgha, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Màgha nói với
Thế Tôn bài kệ:
3.
Sát vật gì được lạc?
Sát vật gì không sầu?
Có một pháp loại gì,
Ngài tán đồng sát hại,
Tôn giả Gotama?
4. (Thế Tôn)
Sát phẫn nộ được lạc,
Sát phẫn nộ không sầu,
Phẫn nộ với độc căn,
Với vị ngọt tối thượng.
Pháp ấy bậc Thánh Hiền,
Tán đồng sự sát hại.
Sát pháp ấy không sầu,
Này Hiền giả Thiên nhân .
At Sāvatthī.
Standing to one side, the god Māgadha addressed the Buddha in verse:
“How many lamps are there
that light up the world?
We’ve come to ask the Buddha;
how are we to understand this?”"There are four lamps in the world,
a fifth is not found.
The sun blazes by day,
the moon glows at night,while a fire lights up both
by day and by night.
But a Buddha is the best of lights:
this is the supreme radiance."
1. Ðứng một bên, Thiên tử Màgadha nói lên với Thế Tôn bài kệ:
Vật gì chiếu sáng đời,
Do chúng, đời chói sáng?
Con đến hỏi Thế Tôn,
Muốn nghe lời giải đáp.
Bốn vật chiếu sáng đời,
Thứ năm đây không có,
Ngày, mặt trời sáng chói,
Ðêm, mặt trăng tỏ rạng,
Lửa cháy đỏ đêm ngày,
Chói sáng khắp mọi nơi,
Chánh giác sáng tối thắng,
Sáng này sáng vô thượng .
At Sāvatthī.
Then, late at night, the glorious god Dāmali, lighting up the entire Jeta’s Grove, went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and recited this verse in the Buddha’s presence:
“This is what should be done by a brahmin:
unrelenting striving.
Then, with the giving up of sensual pleasures,
they won’t hope to be reborn.”“The brahmin has nothing left to do,”
said the Buddha to Dāmali,
"for they’ve completed their task.
So long as a person fails to gain a footing in the river,
they swim with every limb.
But someone who has gained a footing
- and stands on dry land
need not swim,
- for they have reached the far shore.Dāmali, this is a simile for the brahmin,
alert, a meditator who has ended defilements.
Since they’ve reached the end of rebirth and death,
they need not swim,
- for they have reached the far shore."
1. Tại Sàvatthi.
2. Thiên tử Dàmali, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Dàmali nói lên bài kệ này trước Thế Tôn:
3.
Ở đây, Bà-la-môn,
Tinh cần, không biếng nhác,
Ðoạn trừ các dục vọng,
Nhờ vậy không tái sanh .
4. Thế Tôn bèn trả lời:
Ôi này Dàmali,
Với vị Bà-la-môn,
Không còn gì phải làm,
Việc phải làm đã làm,
Chính là Bà-la-môn.
Chúng sanh đủ tay chân,
Không tìm được chân đứng,
Trôi giạt và chìm nổi,
Trong biển rộng, sông dài.
Tìm được chỗ chân đứng,
Khô ráo vị ấy đứng,
Ðã đến bờ bên kia,
Vị ấy không trôi giạt.
Vậy này Dàmali,
Ví dụ ấy là vậy.
Cũng vậy Bà-la-môn,
Ðoạn trừ các lậu hoặc,
Sáng suốt và kín đáo,
Tinh tấn tu Thiền định.
Vị ấy đã đạt được,
Tận cùng đường sanh tử,
Ðã đến bờ bên kia,
Nên không còn trôi giạt.
At Sāvatthī.
Standing to one side, the god Kāmada said to the Buddha, “It’s too hard, Blessed One! It’s just too hard!”
“They do it even though it’s hard,”
said the Buddha to Kāmada,
“the stable trainees with ethics, and immersion.
For one who has entered the homeless life,
contentment brings happiness.”
“Such contentment, Blessed One, is hard to find.”
“They find it even though it’s hard,”
said the Buddha to Kāmada,
“those who love peace of mind;
whose minds love to meditate
day and night.”
“But it’s hard, Blessed One, to immerse this mind in samādhi.”
“They become immersed in samādhi
- even though it’s hard,”
said the Buddha to Kāmada,
“those who love calming the faculties.
Having cut through the net of Death,
the noble ones, Kāmada, go on their way.”
“But this path, Blessed One, is rough and hard to travel.”
“Though it’s rough, hard to travel,
the noble ones, Kāmada, go on their way.
The ignoble fall headfirst
on a rough path.
But the path of the noble ones is smooth,
for the noble ones are smooth amid the rough.”
1. Ðứng một bên, Thiên tử Kàmada bạch Thế Tôn:
2. Khó làm, bạch Thế Tôn,
Thế Tôn, thật khó làm.
Tuy vậy, Kàmada,
Họ làm việc khó làm,
Chính các vị hữu học,
Kiên trì tu giới định,
Ðã chọn đời xuất gia,
Biết đủ, đem an lạc.
3.
Biết đủ, bạch Thế Tôn,
Biết đủ, thật khó được.
Tuy vậy, Kàmada,
Họ được điều khó được.
Những vị lòng ưa thích,
Tâm tư được điều tịnh,
Cả ngày và cả đêm,
Ý an lạc tu tập.
4.
Khó tịnh, bạch Thế Tôn,
Tâm ấy, thật khó tịnh.
Tuy vậy, Kàmada,
Họ tịnh tâm khó tịnh.
Những vị lòng ưa thích,
Các căn được tịch tịnh,
Cắt đứt lưỡi tử thần,
Bậc Hiền Thánh đi tới.
5.
Khó đi, bạch Thế Tôn,
Con đường thật lồi lõm.
Tuy vậy, Kàmada,
Bậc Hiền Thánh vẫn đi.
Trên con đường khó đi,
Và có nhiều lồi lõm,
Kẻ phàm phu vấp ngã,
Trên đường mất thăng bằng.
Con đường đối bậc Thánh,
Là con đường thăng bằng,
Bậc Thánh bước thăng bằng,
Trên đường mất thăng bằng.
At Sāvatthī.
Standing to one side, the god Pañcālacaṇḍa recited this verse in the Buddha’s presence:
“The opening amid confinement
was discovered by the Buddha of vast intelligence,
who woke up to absorption,
the sage, the solitary bull.”“Even amid confinement they discover,”
said the Buddha to Pañcālacaṇḍa,
“the principle for attaining extinguishment.
Those who have acquired mindfulness
are perfectly serene in samādhi.”
1. Ðứng một bên, Thiên tử Pancàlacanda nói lên bài kệ này trước Thế Tôn:
Dầu giữa những chướng ngại,
Bậc Ðại trí Chánh giác,
Vẫn tìm được lối thoát,
Vượt qua mọi chướng ngại.
Bậc trí hiểu Thiền định,
Biết từ bỏ, tối thắng,
Bậc Mâu-ni, ẩn sĩ
2. Thế Tôn lên tiếng:
Pancàlacanda,
Dầu giữa những chướng ngại,
Họ tìm được lối thoát,
Họ tìm được Chánh pháp
Ðưa đến quả Niết-bàn.
Những vị đạt chánh niệm,
Kiên trì không dao động,
Họ là bậc chơn chánh,
Tâm điều phục, định tĩnh.
At Sāvatthī.
Then, late at night, the glorious god Tāyana, formerly a religious founder, lighting up the entire Jeta’s Grove, went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and recited these verses in the Buddha’s presence:
"Strive and cut the stream!
Dispel sensual pleasures, brahmin.
A sage who doesn’t give up sensual pleasures
is not reborn in a unified state.If one is to do what should be done,
one should staunchly strive.
For the life gone forth when laxly led
just stirs up dust all the more.A bad deed is better left undone,
for it will plague you later on.
A good deed is better done,
one that does not plague you.When kusa grass is wrongly grasped
it only cuts the hand.
So too, the ascetic life, when wrongly taken,
drags you to hell.Any lax act,
any corrupt observance,
or suspicious spiritual life,
is not very fruitful."
That’s what the god Tāyana said. Then he bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right side, before vanishing right there.
Then, when the night had passed, the Buddha told the mendicants all that had happened.
“Mendicants, tonight, the glorious god Tāyana, formerly a religious founder, lighting up the entire Jeta’s Grove, came to me, bowed, stood to one side, and recited these verses in my presence.” The Buddha repeated the verses in full, adding:
“That’s what the god Tāyana said. Then he bowed and respectfully circled me, keeping me on his right side, before vanishing right there. Mendicants, learn the verses of Tāyana! Memorize the verses of Tāyana! Remember the verses of Tāyana! These verses are beneficial and relate to the fundamentals of the spiritual life.”
1. Rồi Thiên tử Tàyana, trước kia thuộc ngoại đạo sư, sau khi đêm gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Tàyana nói lên bài kệ này trước Thế Tôn:
2.
Ôi này Bà-la-môn,
Tinh tấn, cắt dòng nước,
Ðoạn trừ và tiêu diệt,
Mọi tham đắm dục vọng.
Ẩn sĩ không đoạn dục,
Không chứng được nhứt tâm.
Nếu làm việc phải làm,
Cần kiên trì, tinh tấn.
Xuất gia, nếu biếng nhác,
Càng tung vãi bụi trần.
Không làm, hơn làm dở,
Làm dở sau khổ đau.
Ðã làm nên làm tốt,
Làm tốt không khổ đau.
Như nắm vụng lá cỏ,
Có thể bị đứt tay.
Sa-môn hạnh vụng tu,
Kéo đến cõi địa ngục.
Mọi sở hành biếng nhác,
Mọi hạnh tu ô nhiễm,
Ác hạnh trong Phạm hạnh,
Không đưa đến quả lớn.
3. Thiên tử Tàyana nói như vậy. Sau khi nói xong, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ ấy.
4. Rồi Thế Tôn, sau khi đêm ấy đã mãn, liền gọi các Tỷ-kheo.
5. − Này các Tỷ-kheo, đêm nay Thiên tử Tàyana, trước kia thuộc ngoại đạo sư, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Ta, sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Tàyana nói lên bài kệ này trước mặt Ta:
6.
"Ôi này Bà-la-môn
Tinh tấn cắt dòng nước,
Ðoạn trừ và tiêu diệt,
Mọi tham đắm dục vọng.
Ẩn sĩ không đoạn dục,
Không chứng được nhứt tâm.
Nếu làm việc khó làm,
Cần kiên trì tinh tấn,
Xuất gia nếu biếng nhác,
Càng tung vãi bụi trần.
Không làm, hơn làm dở,
Làm dở sau khổ đau.
Ðã làm nên làm tốt,
Làm tốt không khổ đau.
Như nắm vụng lá cỏ,
Có thể bị đứt tay,
Sa-môn hạnh vụng tu,
Kéo đến cõi địa ngục.
Mọi sở hành biếng nhác,
Mọi hạnh tu ô nhiễm,
Ác hạnh trong Phạm hạnh,
Không đưa đến quả lớn."
7. Này các Tỷ-kheo, Thiên tử Tàyana nói như vậy. Nói vậy xong, đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về Ta và biến mất tại chỗ. Này các Tỷ-kheo, hãy đọc bài kệ của Tàyana. Này các Tỷ-kheo, hãy học thuộc lòng bài kệ của Tàyana. Này các Tỷ-kheo, bài kệ của Tàyana có đầy đủ nghĩa lợi và chính là căn bản của Phạm hạnh.
At Sāvatthī.
Now at that time the Moon God had been seized by Rāhu, lord of titans. Then the Moon God, recollecting the Buddha, at that time recited this verse:
“Homage to you, Buddha, hero!
You’re free in every way.
I’ve wandered into confinement:
be my refuge!”
Then the Buddha addressed Rāhu in verse concerning the Moon God:
“The Moon God has gone for refuge
to the Realized One, the perfected one.
The Buddhas have compassion for the world—
so Rāhu, release the Moon!”
Then Rāhu, having released the Moon, rushed to see Vepacitti, lord of titans and stood to one side, shocked and awestruck. Vepacitti addressed him in verse:
“Why the rush?
Rāhu, you released the Moon
and came here looking like you’re in shock:
why do you stand there so scared?”“My head would have exploded in seven pieces,
I would have found no happiness in life,
if, when enchanted by the Buddha’s verse,
I had not released the Moon.”
436a)
1. Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ).
Lúc bấy giờ, Thiên tử Candima bị Ràhu, vua A-tu-la bắt. Rồi Thiên tử Candima, tưởng niệm đến Thế Tôn, trong lúc ấy nói lên bài kệ này:
2.
Ðảnh lễ đấng Giác Ngộ,
Bậc Anh Hùng muôn thuở,
Ngài là bậc Giải Thoát,
Thoát ly thật viên mãn,
Còn con bị trói buộc,
Hãy cho con quy ngưỡng .
3. Rồi Thế Tôn, vì Thiên tử Candima, nói lên bài lệ này cho Ràhu, vua A-tu-la:
Canda đã quy y,
Như Lai, bậc La-hán,
Ràhu, hãy thả nó,
Vì chư Phật thương đời .
4. Rồi Ràhu, vua A-tu-la, giải thoát cho Thiên tử Candima. Như bị hốt hoảng, Ràhu đi đến Vepacitti, vua A-tu-la, run sợ, lông tóc dựng ngược và đứng một bên. Và Vepacitti, vua A-tu-la, nói lên bài kệ cho Ràhu, vua A-tu-la, đang đứng một bên:
5.
Vì sao, như hốt hoảng,
Ràhu thả Canda,
Ông đến, lòng run sợ,
Ông đứng, tâm kinh hoàng?
6.
− Ðầu con bể thành bảy,
Ðời con không hạnh phúc,
Với lời kệ đức Phật,
Nếu không thả Canda .
At Sāvatthī.
Now at that time the Sun God had been seized by Rāhu, lord of titans. Then the Sun God, recollecting the Buddha, at that time recited this verse:
“Homage to you, Buddha, hero!
You’re everywhere free.
I’ve wandered into confinement:
be my refuge!”
Then the Buddha addressed Rāhu in verse concerning the Sun God:
"The Sun God has gone for refuge
to the Realized One, the perfected one.
The Buddhas have compassion for the world—
so Rāhu, release the Sun!He is a beacon in the darkness,
the blazing sun, circle of magnificent flame.
Rāhu, do not swallow him as he traverses the sky.
Rāhu, release my offspring, the Sun!"
Then Rāhu, having released the Sun, rushed to see Vepacitti, lord of titans and stood to one side, shocked and awestruck. Vepacitti addressed him in verse:
“Why the rush?
Rāhu, you released the Sun
and came here looking like you’re in shock:
why do you stand there so scared?”“My head would have exploded in seven pieces,
I would have found no joy in life,
if, when enchanted by the Buddha’s verse,
I had not released the Sun.”
1. Lúc bấy giờ, Thiên tử Suriya bị Ràhu, vua A-tu-la bắt. Rồi Thiên tử Suriya tưởng niệm đến Thế Tôn, trong lúc ấy nói lên bài kệ này:
2.
Ðảnh lễ đấng Giác Ngộ,
Bậc Anh Hùng muôn thuở,
Ngài là bậc Giải Thoát,
Thoát ly thật viên mãn,
Còn con bị trói buộc,
Hãy cho con quy ngưỡng.
3. Rồi Thế Tôn, vì Thiên tử Suriya, nói lên bài kệ này cho Ràhu, vua A-tu-la:
Suriya đã quy y,
Như Lai bậc La-hán,
Ràhu, hãy thả nó,
Vì chư Phật thương đời.
Ông đi giữa hư không,
Chớ nuốt Suriya,
Trong thế giới tối tăm,
Ðã đem lại ánh sáng,
Là mặt trời sáng chói,
Là dĩa tròn hực đỏ,
Là lò lửa cháy nóng,
Là bà con của Ta.
Này Ràhu, (Ta nói):
Hãy thả Suriya.
4. Rồi Ràhu, vua A-tu-la, giải thoát cho Thiên tử Suriya. Như bị hốt hoảng, Ràhu đi đến Vepacitti, vua A-tu-la run sợ, lông tóc dựng ngược và đứng một bên. Và Vepacitti, vua A-tu-la, nói lên bài kệ cho Ràhu, vua A-tu-la, đang đứng một bên:
5.
Vì sao, như hốt hoảng,
Ràhu, thả Suriya,
Ông đến, lòng run sợ,
Ông đứng, tâm kinh hoàng?
6.
− Ðầu con bể thành bảy,
Ðời con không hạnh phúc,
Với lời kệ đức Phật,
Nếu không thả Suriya .
II Phẩm Cấp Cô Ðộc (S.i,51)
At Sāvatthī.
Then, late at night, the glorious god Candimasa, lighting up the entire Jeta’s Grove, went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and recited this verse in the Buddha’s presence:
“Like deer in a mosquito-free marsh,
they will reach a safe place
having entered the absorptions,
unified, alert, and mindful.”“Like fish when the net is cut,
they will reach the far shore
having entered the absorptions,
diligent, with vices discarded.”
Tại Sàvatthi.
1. Rồi Thiên tử Candimasa, sau khi đêm đã gần mãn,với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Candimasa nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
2.
Họ sẽ đi an toàn,
Như thú, vùng không muỗi,
Sau khi chứng Thiền định,
Nhứt tâm, niệm tỉnh giác,
Họ sẽ đi bờ kia,
Như cá, phá rách lưới,
Sau khi chứng Thiền định,
Tự chế, vượt lỗi lầm .
Standing to one side, the god Vishnu recited this verse in the Buddha’s presence:
“Happy are the children of Manu
who pay homage to the Holy One!
They apply themselves to Gotama’s instructions,
diligently training.”“Those who practice absorption
- in accord with the training”,
said the Buddha to Vishnu,
“in the way of teaching I’ve proclaimed,
they’re in time to be diligent;
they won’t fall under the sway of Death.”
1. Ðứng một bên, Thiên tử Vendu nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
2.
Hạnh phúc thay những người,
Sau khi hầu Thiện Thệ,
Tuân phụng lời Ngài dạy,
Tu học không phóng dật!
3. Thế Tôn nói:
Vendu!
Những ai Thiền tu học.
Trong pháp cú Ta dạy,
Tinh cần, không phóng dật,
Ðúng thời họ sẽ đi,
Thoát khỏi tay tử thần.
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.
Then, late at night, the glorious god Dīghalaṭṭhi, lighting up the entire Bamboo Grove, went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and recited this verse in the Buddha’s presence:
“Suppose a mendicant is a meditator, freed in mind.
If they want to reach the heart’s peace,
having known the arising and passing of the world,
good-hearted, independent, that is their reward.”
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Trúc Lâm, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2. Rồi Thiên tử Diighalatthi, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Diighalatthi nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Với tâm tư giải thoát,
Vị Tỷ-kheo tu Thiền,
Và với lòng ước vọng,
Ðạt được tâm sở nguyện,
Sau khi biết cuộc đời,
Sanh khởi rồi đoạn diệt,
Tâm thuần không chấp trước,
Hưởng lợi quả như chơn.
Standing to one side, the god Nandana addressed the Buddha in verse:
“I ask you, Gotama, whose wisdom is vast,
the Blessed One
- of unhindered knowledge and vision.
What kind of person do they call ethical?
What kind of person do they call wise?
What kind of person lives on
- after transcending suffering?
What kind of person is worshipped by the deities?”"A person who is ethical, wise, evolved,
becomes serene, loving absorption, mindful,
who’s gotten rid of and given up all sorrows,
with defilements ended, they bear their final body.That’s the kind of person they call ethical.
That’s the kind of person they call wise.
That kind of person lives on
- after transcending suffering.
That kind of person is worshipped by the deities."
1. Ðứng một bên, Thiên tử Nandana nói bài kệ với Thế Tôn:
Con hỏi Gotama,
Bậc Ðại Giác toàn trí,
Con hỏi đấng Thế Tôn,
Với tri kiến vạn năng.
Người nào gọi trì giới?
Người nào gọi trí tuệ?
Người nào vượt sầu khổ?
Người nào chư Thiên lạy?
2. (Thế Tôn):
Ai hộ trì giới luật,
Trí tuệ, tâm tu trì,
Chú tâm, vui Thiền định,
Tâm tư trú chánh niệm,
Tất cả mọi sầu khổ,
Ðược trừ diệt, đoạn tận,
Các lậu hoặc tận trừ,
Sống với thân tối hậu,
Vị ấy gọi trì giới,
Vị ấy gọi trí tuệ,
Vị ấy vượt sầu khổ,
Vị ấy chư Thiên lạy.
Standing to one side, the god Candana addressed the Buddha in verse:
“Who here crosses the flood,
tireless all day and night?
Who, not standing and unsupported,
does not sink in the deep?”"Someone who is always endowed with ethics,
wise and serene,
energetic and resolute,
crosses the flood so hard to cross.Someone who desists from sensual perception,
has moved past the fetter of form,
and has finished with relishing and greed
does not sink in the deep."
1. Ðứng một bên, Thiên tử Candana nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Làm sao vượt bộc lưu,
Ngày đêm vững, kiên trì,
Không trú, không bám víu,
Ai không chìm vực sâu?
2. (Thế Tôn):
Vị luôn luôn trì giới,
Trí tuệ, khéo định tĩnh,
Chí siêng năng dõng mãnh,
Vượt bộc lưu khó vượt.
Vị đoạn, ly dục tưởng,
Vượt khỏi sắc triền phược,
Ðoạn tận hỷ, hữu ái,
Không chìm xuống vực sâu.
Standing to one side, the god Vāsudatta recited this verse in the Buddha’s presence:
“Like they’re struck by a sword,
like their head was on fire,
a mendicant should wander mindful,
to give up sensual desire.”“Like they’re struck by a sword,
like their head was on fire,
a mendicant should wander mindful,
to give up substantialist view.”
1. Ðứng một bên, Thiên tử Sudatta nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Như kiếm đã chạm da,
Như lửa cháy trên đầu,
Tỷ-kheo hãy chánh niệm,
Xuất gia, bỏ ái dục.
2. (Thế Tôn):
Như kiếm đã chạm da,
Như lửa cháy trên đầu,
Tỷ-kheo hãy chánh niệm,
Xuất gia, bỏ thân kiến.
Standing to one side, the god Subrahmā addressed the Buddha in verse:
“This mind is always anxious,
this mind is always stressed
about stresses that haven’t arisen
and those that have.
If there is a state free of anxiety,
please answer my question.”“Not without understanding and fervor,
not without restraining the sense faculties,
not without letting go of everything,
do I see safety for living creatures.”
That is what the Buddha said. … The god vanished right there.
1. Ðứng một bên, Thiên tử Subrahmà nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Tâm này thường sợ hãi,
Ý này thường dao động,
Ðiều mong ước không khởi,
Ðiều không mong lại khởi,
Nếu có, không sợ hãi,
Hãy nói điều con hỏi.
2. (Thế Tôn):
Không ngoài hạnh giác chi,
Không ngoài hộ trì căn,
Không ngoài bỏ tất cả,
Ta thấy các pháp ấy,
Ðưa đến sự an toàn,
Cho tất cả chúng sanh.
3. Rồi Thiên tử biến mất tại chỗ ấy.
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāketa in the deer park at the Añjana Wood.
Then, late at night, the glorious god Kakudha, lighting up the entire Añjana Wood, went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and said to him, “Do you delight, ascetic?”
“What have I gained, sir?”
“Well then, ascetic, do you sorrow?”
“What have I lost, sir?”
“Well then, ascetic, do you neither delight nor sorrow?”
“Yes, sir.”
“I hope you’re untroubled, mendicant,
I hope that delight isn’t found in you.
I hope that discontent doesn’t
overwhelm you as you sit alone.”“I’m genuinely untroubled, spirit,
and no delight is found in me.
And also discontent doesn’t
overwhelm me as I sit alone.”“How are you untroubled, mendicant?
How is delight not found in you?
How does discontent not
overwhelm you as you sit alone?”“Delight is born from misery,
misery is born from delight;
sir, you should know me as
a mendicant free of delight and misery.”“After a long time I see
a brahmin fully quenched.
A mendicant free of delight and misery,
he has crossed over clinging to the world.”
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sàketa, rừng Anjana, tại vườn Nai. Rồi Thiên tử Kokudha, sau khi đêm đã gần mãn, với nhan sắc thù thắng chói sáng toàn khu rừng Anjana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
2. Ðứng một bên, Thiên tử Kakudha bạch Thế Tôn:
− Thưa Sa-môn, Ngài có hoan hỷ không?
− Ta được cái gì, này Hiền giả, mà Ta hoan hỷ?
− Nếu vậy, thưa Sa-môn, có phải Ngài sầu muộn?
− Ta mòn mỏi cái gì, này Hiền giả, mà Ta sầu muộn?
− Vậy thời thưa Sa-môn, Ngài không hoan hỷ và không sầu muộn?
− Thật như vậy, này Hiền giả.
3.
Làm sao, này Tỷ-kheo,
Ngài không có sầu muộn,
Tuy vậy, Ngài cũng không
Có được sự hoan hỷ?
Làm sao nay Ngài lại,
Ngồi cô độc một mình,
Không có được hoan hỷ,
Cũng không bị dao động?
4.
Thật sự, này Dạ-xoa,
Ta không có sầu muộn,
Tuy vậy ở nơi Ta,
Hoan hỷ không khởi lên,
Dầu nay Ta có ngồi,
Riêng một mình cô độc,
Ta không có hoan hỷ,
Cũng không bị dao động.
5.
Làm sao, này Tỷ-kheo,
Ngài không có sầu muộn,
Làm sao ở nơi Ngài,
Hoan hỷ không khởi lên?
Làm sao nay Ngài lại,
Ngồi cô độc một mình,
Không có được hoan hỷ,
Cũng không bị dao động?
6.
Hoan hỷ chỉ có đến,
Với người tâm sầu muộn,
Sầu muộn chỉ có đến,
Với người tâm hoan hỷ.
Do vậy, vị Tỷ-kheo,
Không hoan hỷ, sầu muộn.
Vậy nên, này Hiền giả,
Ông phải biết như vậy.
7.
Ðã lâu, con mới thấy,
Bà-la-môn tịch tịnh,
Vị Tỷ-kheo không sầu,
Cũng không có hoan hỷ,
Ðã an toàn vượt khỏi,
Chỗ người đời đắm say.
At Rājagaha. Standing to one side, the god Uttara recited this verse in the Buddha’s presence:
“This life, so very short, is led onward.
One led on to old age has no shelter.
Seeing this peril in death,
do good deeds that bring you joy.”“This life, so very short, is led onward.
One led on to old age has no shelter.
Seeing this peril in death,
a seeker of peace would drop the world’s bait.”
1. Nhân duyên tại thành Vương Xá.
Ðứng một bên, Thiên tử Uttara nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
2.
Mạng sống bị dắt dẫn,
Tuổi thọ chẳng là bao,
Bị dẫn đến già nua,
Không có nơi dừng bước.
Ai đem tâm quán tưởng,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy làm các công đức,
Ðưa đến chơn an lạc.
3.
Mạng sống bị dắt dẫn,
Tuổi thọ chẳng là bao,
Bị dẫn đến già nua,
Không có nơi dừng bước.
Ai đem tâm quán tưởng,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy bỏ mọi thế lợi,
Tâm hướng cầu tịch tịnh.
Standing to one side, the god Anāthapiṇḍika recited these verses in the Buddha’s presence:
"This is indeed that Jeta’s Grove,
frequented by the Saṅgha of seers,
where the King of Dhamma stayed:
it brings me joy!Deeds, knowledge, and principle;
ethical conduct, an excellent livelihood;
by these are mortals purified,
not by clan or wealth.That’s why an astute person,
seeing what’s good for themselves,
would examine the teaching rationally,
and thus be purified in it.Sāriputta is full of wisdom,
ethics, and peace.
Even a mendicant who has crossed over
might at best equal him."
This is what the god Anāthapiṇḍika said. Then he bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right side, before vanishing right there.
Then, when the night had passed, the Buddha addressed the mendicants: “Mendicants, tonight, a certain glorious god, lighting up the entire Jeta’s Grove, came to me, bowed, stood to one side, and recited these verses in my presence.” The Buddha then repeated the verses in full.
When he said this, Venerable Ānanda said to the Buddha, “Sir, that god must surely have been Anāthapiṇḍika. For the householder Anāthapiṇḍika was devoted to Venerable Sāriputta.”
“Good, good, Ānanda. You’ve reached the logical conclusion, as far as logic goes. For that was indeed the god Anāthapiṇḍika.”
1. Ðứng một bên, Thiên tử Cấp Cô Ðộc nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Ðây là rừng Kỳ Viên,
Chỗ trú xứ Thánh chúng,
Chỗ ở đấng Pháp Vương,
Khiến tâm con hoan hỷ.
Nghiệp, minh và tâm pháp,
Giới và tối thắng mạng,
Chính những diệu pháp ấy,
Khiến chúng sanh thanh tịnh,
Không phải vì dòng họ,
Không phải vì tài sản.
Do vậy bậc Hiền giả,
Thấy lợi ích chính mình,
Chánh giác sát tâm pháp,
Như vậy được thanh tịnh.
Như ngài Xá-lợi-phất,
Tuệ, giới và tịch tịnh,
Tỷ-kheo đến bờ giác,
Ở đây là tối thượng.
2. Thiên tử Anàthapindika nói như vậy, nói vậy xong, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, rồi biến mất tại chỗ ấy.
3. Rồi Thế Tôn sau khi đêm ấy đã qua, liền gọi các Tỷ-kheo và nói:
4. − Này các Tỷ-kheo, đêm nay có Thiên tử, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Ta, sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, này các Tỷ-kheo, vị Thiên tử ấy nói lên bài lệ này trước mặt Ta:
5.
"Ðây là rừng Kỳ Viên,
Chỗ trú xứ Thánh chúng,
Chỗ ở đấng Pháp Vương,
Khiến tâm con hoan hỷ.
Nghiệp, minh và tâm pháp,
Giới và tối thắng mạng,
Chính những diệu pháp ấy,
Khiến chúng sanh thanh tịnh,
Không phải vì dòng họ,
Không phải vì tài sản.
Do vậy bậc Hiền giả,
Thấy lợi ích chính mình,
Chánh giác sát tâm pháp,
Như vậy được thanh tịnh.
Như ngài Xá-lợi-phất,
Tuệ, giới và tịch tịnh,
Tỷ-kheo đến bờ giác,
Ở đây là tối thượng."
6. Này các Tỷ-kheo, Thiên tử ấy nói như vậy, nói vậy xong, đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về Ta rồi biến mất tại chỗ.
7. Ðược nghe nói như vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, có phải vị Thiên tử ấy là Anàthapindika? Gia chủ Anàthapindika hết dạ tín thành đối với Tôn giả Sàriputta?
8. − Lành thay! Lành thay! Này Ananda, cho đến những gì có thể đạt được nhờ suy diễn, này Ananda, Ông đã đạt được. Này Ananda, Anàthapindika là vị Thiên tử ấy.
III. Phẩm Các Ngoại Ðạo (S.i,56)
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Then, late at night, the glorious god Shiva, lighting up the entire Jeta’s Grove, went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and recited these verses in the Buddha’s presence:
"Associate only with the virtuous!
Try to get close to the virtuous!
Understanding the true teaching of the good,
things get better, not worse.Associate only with the virtuous!
Try to get close to the virtuous!
Understanding the true teaching of the good,
wisdom is gained—but not from anyone else.Associate only with the virtuous!
Try to get close to the virtuous!
Understanding the true teaching of the good,
you grieve not among the grieving.Associate only with the virtuous!
Try to get close to the virtuous!
Understanding the true teaching of the good,
you shine among your relatives.Associate only with the virtuous!
Try to get close to the virtuous!
Understanding the true teaching of the good,
sentient beings go to a good place.Associate only with the virtuous!
Try to get close to the virtuous!
Understanding the true teaching of the good,
sentient beings live happily."
Then the Buddha replied to Shiva in verse:
“Associate only with the virtuous!
Try to get close to the virtuous!
Understanding the true teaching of the good,
you’re released from all suffering.”
1. Như vậy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc). Rồi Thiên tử Siva, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Siva nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
2.
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Chỉ tốt hơn, không xấu.
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Ðược tuệ, không gì khác.
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Không sầu giữa sầu muộn.
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Chói sáng giữa quyến thuộc.
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Chúng sanh sanh thiện thú.
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền
Chúng sanh thường hưởng lạc.
3. Rồi Thế Tôn đáp lại Thiên tử Siva với bài kệ:
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Giải thoát mọi khổ đau.
Standing to one side, the god Khema recited these verses in the Buddha’s presence:
"Fools and simpletons behave
like their own worst enemies,
doing wicked deeds
that ripen as bitter fruit.It’s not good to do a deed
that plagues you later on,
for which you weep and wail,
as its effect stays with you.It is good to do a deed
that doesn’t plague you later on,
that gladdens and cheers,
as its effect stays with you.""As a precaution, you should do
what you know is for your own welfare.
A thinker, a wise one would not proceed
thinking like the cart driver.Suppose a cart driver leaves the highway,
so even and well compacted.
They enter upon a rough road,
and fret when their axle breaks.So too, a dullard departs the good
to follow what’s against the good.
Fallen in the jaws of death,
they fret like their axle’s broken."
Ðứng một bên, Thiên tử Khema nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Kẻ ngu không trí tuệ,
Lấy ngã làm kẻ thù,
Tự làm các ác nghiệp,
Ðưa đến quả đắng cay.
Nghiệp nào không khéo làm,
Làm xong bị nung nấu,
Với mặt đầy nước mắt,
Khóc lóc chịu quả báo.
Và nghiệp nào khéo làm,
Làm xong, không nung nấu,
Tâm vui, ý thoải mái,
Vị ấy hưởng quả báo.
Biết điều lợi cho mình,
Làm trước điều phải làm,
Không tâm trạng đánh xe,
Kẻ trí lòng tinh tấn.
Như người chủ đánh xe,
Rời đại đạo thăng bằng,
Leo lên đường lồi lõm,
Ưu tư nạn gãy trục.
Cũng vậy bỏ Chánh pháp,
Người ngu theo phi pháp,
Rơi vào miệng tử thần,
Ưu tư như gãy trục.
Standing to one side, the god Serī addressed the Buddha in verse:
“Both gods and humans
enjoy their food.
So what’s the name of the spirit
who doesn’t like food?”"Those who give with faith
and a clear and confident heart,
partake of food
in this world and the next.So you should dispel stinginess,
overcoming that stain, and give a gift.
The good deeds of sentient beings
support them in the next world."
“It’s incredible, sir, it’s amazing, how well said this was by the Buddha.” He repeated the Buddha’s verses, and said:
"Once upon a time, sir, I was a king named Serī, a giver, a donor, who praised giving. I gave gifts at the four gates to ascetics and brahmins, to paupers, vagrants, supplicants, and beggars. Then the ladies of my harem approached me and said, ‘Your Majesty gives gifts, but we don’t. Your Majesty, please support us to give gifts and make merit.’ Then it occurred to me, ‘I’m a giver, a donor, who praises giving. When they say, “We would give gifts”, what am I to say?’ And so I gave the first gate to the ladies of my harem. There they gave gifts, while my own giving dwindled.
Then my aristocrat vassals approached me and said, ‘Your Majesty gives gifts, the ladies of your harem give gifts, but we don’t. Your Majesty, please support us to give gifts and make merit.’ Then it occurred to me, ‘I’m a giver, a donor, who praises giving. When they say, “We would give gifts”, what am I to say?’ And so I gave the second gate to my aristocrat vassals. There they gave gifts, while my own giving dwindled.
Then my troops approached me and said, ‘Your Majesty gives gifts, the ladies of your harem give gifts, your aristocrat vassals give gifts, but we don’t. Your Majesty, please support us to give gifts and make merit.’ Then it occurred to me, ‘I’m a giver, a donor, who praises giving. When they say, “We would give gifts”, what am I to say?’ And so I gave the third gate to my troops. There they gave gifts, while my own giving dwindled.
Then my brahmins and householders approached me and said, ‘Your Majesty gives gifts, the ladies of your harem give gifts, your aristocrat vassals give gifts, your troops give gifts, but we don’t. Your Majesty, please support us to give gifts and make merit.’ Then it occurred to me, ‘I’m a giver, a donor, who praises giving. When they say, “We would give gifts”, what am I to say?’ And so I gave the fourth gate to my brahmins and householders. There they gave gifts, while my own giving dwindled.
Then my men approached me and said, ‘Now Your Majesty is not giving gifts at all!’ When they said this, I said to those men, ‘So then, my men, send half of the revenue from the outer districts to the royal compound. Then give half right there to ascetics and brahmins, to paupers, vagrants, supplicants, and beggars.’ Sir, for a long time I made so much merit and did so many skillful deeds. I never reached any limit so as to say ‘there’s this much merit’ or ‘there’s this much result of merit’ or ‘for so long I’ll remain in heaven’. It’s incredible, sir, it’s amazing, how well said this was by the Buddha.
'Those who give with faith
and a clear and confident heart,
partake of food
in this world and the next.So you should dispel stinginess,
overcoming that stain, and give a gift.
The good deeds of sentient beings
support them in the next world.'"
1. Ðứng một bên, Thiên tử Serii nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Cả hai loại Trời, Người,
Ðều ưa thích ăn uống,
Có Dạ-xoa tên nào,
Lại không thích ăn uống!
(Thế Tôn)
Ai cho với lòng tin,
Với tâm tư thanh tịnh,
Ðược phần món ăn ấy,
Ðời này và đời sau.
Vậy hãy ngăn xan tham,
Bố thí, nhiếp cấu uế,
Chúng sanh vẫn hưởng thọ,
Công đức trong đời sau.
2. − Thật là hy hữu, bạch Thế Tôn! Thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn! Thế Tôn đã nói điều khéo nói như vậy:
"Ai cho với lòng tin,
Với tâm tư thanh tịnh,
Ðược phần món ăn ấy,
Ðời này và đời sau.
Vậy hãy ngăn xan tham,
Bố thí, nhiếp cấu uế,
Chúng sanh vẫn hưởng thọ,
Công đức trong đời sau."
3. Bạch Thế Tôn, thuở xưa con là vị vua tên Serì ưa bố thí, là bậc thí chủ tán thán bố thí. Bạch Thế Tôn, tại bốn cửa thành, bố thí được phân phát nhân danh con, cho những ai đến xin, cho các vị Bà-la-môn và Sa-môn, cho các người nghèo đói và tàn phế, cho các nhà lữ hành và hành khất.
4. Bạch Thế Tôn, khi con đến các cung phi của con, họ thưa với con: “Ðại vương thường hay bố thí, còn chúng con chưa bố thí. Lành thay nếu chúng con được nương tựa Ðại vương để bố thí và làm các công đức.”
5. Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Ta là người ưa bố thí, là thí chủ tán thán bố thí. Nay ta phải trả lời như thế nào khi họ đến và thưa: ‘Chúng ta hãy bố thí’?”. Bạch Thế Tôn, con cho các cung phi cửa thành thứ nhất. Ở đây các cung phi được bố thí, và bố thí của con trở lui lại cho con.
6. Rồi bạch Thế Tôn, các Sát-đế-lỵ (Khattiya) chư hầu của con đến con và thưa: “Ðại vương đã bố thí. Các cung phi đã bố thí. Chúng con chưa bố thí. Lành thay nếu chúng con được nương tựa Ðại vương để bố thí và làm các công đức”.
Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Ta là người ưa bố thí, là thí chủ tán thán bố thí. Nay ta phải trả lời như thế nào khi họ đến và thưa: “Chúng ta hãy bố thí”?”. Bạch Thế Tôn, con cho các chư hầu Khattiya cửa thành thứ hai. Ở đây các chư hầu Khattiya được bố thí, và bố thí của con được trở lui lại cho con.
7. Rồi bạch Thế Tôn, quân đội đến con và thưa: “Ðại vương đã bố thí. Các cung phi đã bố thí. Các chư hầu Khattiya đã bố thí. Chúng con chưa bố thí. Tốt lành thay nếu chúng con được nương tựa Ðại vương để bố thí và làm các công đức”.
Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Ta là người ưa bố thí, là thí chủ tán thán bố thí. Nay ta phải trả lời như thế nào khi họ đến và thưa: “Chúng ta hãy bố thí”?”. Bạch Thế Tôn, con cho quân đội cửa thành thứ ba. Ở đây quân đội được bố thí và bố thí của con được trở lui lại cho con.
8. Rồi bạch Thế Tôn, các Bà-la-môn gia chủ đến con và thưa: “Ðại vương đã bố thí. Các cung phi đã bố thí. Các chư hầu Khattiya đã bố thí. Quân đội đã bố thí. Chúng con chưa bố thí. Tốt lành thay nếu chúng con được nương tựa Ðại vương để bố thí và làm các công đức!”.
Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Ta là người ưa bố thí, là thí chủ tán thán bố thí. Nay ta phải trả lời như thế nào khi họ đến và thưa: “Chúng ta hãy bố thí”?”. Bạch Thế Tôn, con cho các Bà-la-môn gia chủ cửa thành thứ tư. Ở đây các Bà-la-môn gia chủ được bố thí và bố thí của con được trở lui lại cho con.
9. Rồi bạch Thế Tôn, các người của con đến con và thưa: “Nay Ðại vương không còn bố thí nào để cho nữa”.
Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với các người ấy như sau: “Này các Ông, các thuế má thâu hoạch được từ các nước ngoài vào, một nửa hãy gửi vào trong nội thành, một nửa ngay tại chỗ ấy đem bố thí cho các vị Sa-môn, Bà-la-môn, các người nghèo và tàn tật, các nhà lữ hành và hành khất”.
10. Như vậy, bạch Thế Tôn, con không chấm dứt trong một thời gian dài các việc làm công đức, trong một thời gian dài các việc làm thiện, những việc làm được con xem như là công đức, hay như là công đức quả hay như là những điều kiện được sanh thiên giới.
11. Thật là hy hữu, bạch Thế Tôn! Thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn! Thế Tôn đã nói lên điều khéo nói như vầy:
"Ai cho với lòng tin,
Với tâm tư thanh tịnh,
Ðược phần món ăn ấy,
Ðời này và đời sau.
Vậy hãy ngăn xan tham,
Bố thí, nhiếp cấu uế,
Chúng sanh vẫn hưởng thọ,
Công đức trong đời sau."
Standing to one side, the god Ghaṭīkāra recited this verse in the Buddha’s presence:
“Seven mendicants reborn in Aviha
have been freed.
With the complete ending of greed and hate,
they’ve crossed over clinging to the world.”“Who are those who’ve crossed the bog,
Death’s dominion so hard to pass?
Who, after leaving behind the human body,
have risen above celestial yokes?”“Upaka and Palagaṇḍa,
and Pukkusāti, these three;
Bhaddiya and Bhaddadeva,
and Bāhudantī and Piṅgiya.
They, after leaving behind the human body,
have risen above celestial yokes.”“You speak well of them,
who have let go the snares of Māra.
Whose teaching did they understand
to cut the bonds of rebirth?”"None other than the Blessed One!
None other than your instruction!
It was your teaching that they understood
to cut the bonds of rebirth.Where name and form
cease with nothing left over;
understanding this teaching,
they cut the bonds of rebirth."“The words you say are deep,
hard to understand, so very hard to wake up to.
Whose teaching did you understand
to be able to say such things?”"In the past I was a potter
in Vebhaliṅga called Ghaṭīkāra.
I took care of my parents
as a lay follower of Buddha Kassapa.I refrained from sexual intercourse,
I was celibate, spiritual.
We lived in the same village;
in the past I was your friend.I am the one who understands
that these seven mendicants have been freed.
With the complete ending of greed and hate,
they’ve crossed over clinging to the world.""That’s exactly how it was,
just as you say, Bhaggava.
In the past you were a potter
in Vebhaliṅga called Ghaṭīkāra.You took care of your parents
as a lay follower of Buddha Kassapa.
You refrained from sexual intercourse,
you were celibate, spiritual.
We lived in the same village;
in the past you were my friend."“That’s how it was
when those friends of old met again.
Both of them are evolved,
and bear their final body.”
1. Ðứng một bên, Thiên tử Ghatìkara nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Ðược sanh Vô phiền thiên,
Bảy Tỷ-kheo giải thoát,
Ðoạn tận tham và sân,
Siêu thoát đời ái trược.
2.
Vượt bùn, họ là ai?
Khó vượt lệnh thần chết,
Sau khi bỏ thân người,
Họ thoát ách chư Thiên.
3.
Họ là Upaka,
Và Phalaganda,
Với Pukkusàti,
Hợp thành là ba vị.
Lại thêm Bhaddiya,
Với Khandadeva,
Và Bàhuraggi,
Cùng với Pingiya,
Sau khi bỏ thân người,
Họ thoát ách chư Thiên.
4. (Thế Tôn):
Ông nói điều tốt lành,
Về bảy Tỷ-kheo ấy,
Họ thoát ly, đoạn trừ,
Các cạm bẫy Ma vương.
Pháp họ biết, của ai
Ðoạn được hữu kiết sử?
5. (Ghatìkara):
Không ai ngoài Thế Tôn,
Chính thật giáo lý Ngài,
Họ biết pháp của Ngài,
Ðoạn được hữu kiết sử.
Chỗ nào danh và sắc,
Ðược đoạn diệt không dư,
Họ học được pháp ấy,
Ở đây từ nơi Ngài.
Nhờ vậy họ đoạn trừ,
Hữu kiết sử trói buộc.
6. (Thế Tôn):
Lời Ông nói thâm sâu,
Khó biết, khó chứng ngộ,
Pháp Ông biết của ai,
Sao Ông không nói được?
7. (Ghatìkara):
Thuở xưa, con thợ gốm,
Tại Vehalinga,
Và con được tên gọi,
Là Ghatìkara.
Chính con lo nuôi dưỡng
Cả mẹ lẫn cả cha,
Ðối với Phật Ca-diếp,
Con đệ tử tại gia.
Con viễn ly dâm dục,
Phạm hạnh, không thế vật,
Thuở xưa, con đồng hương,
Cũng là bạn của họ
Do vậy con biết họ,
Bảy Tỷ-kheo giải thoát,
Ðoạn tận tham và sân,
Vượt qua đời phiền trược.
8. (Thế Tôn):
Vậy này Bhaggava,
Chính như Ông vừa nói,
Thuở xưa, Ông thợ gốm,
Tại Vehalinga,
Và Ông được tên gọi,
Là Ghatìkara,
Chính Ông lo nuôi dưỡng
Cả mẹ lẫn cả cha,
Ðối với Phật Ca-diếp,
Ông đệ tử tại gia,
Ông viễn ly dâm dục,
Phạm hạnh, không thế vật.
9.
Thuở xưa, Ông đồng hương,
Cũng là bạn của Ta.
Như vậy là hội ngộ,
Giữa những bạn thuở xưa,
Cả hai khéo tu tập,
Mang thân này tối hậu.
So I have heard.
At one time several mendicants were staying in the Kosalan lands, in a wilderness hut on the slopes of the Himalayas. They were restless, insolent, fickle, scurrilous, loose-tongued, unmindful, lacking situational awareness and immersion, with straying minds and undisciplined faculties.
Then on the fifteenth day sabbath the god Jantu went up to those mendicants and addressed them in verse:
"The mendicants used to live happily,
as disciples of Gotama.
Desireless they sought alms;
desireless they used their lodgings.
Knowing that the world was impermanent
they made an end of suffering.But now they’ve made themselves hard to look after,
like chiefs in a village.
They eat and eat and then lie down,
unconscious in the homes of others.Having raised my joined palms to the Saṅgha,
I speak here only about certain people.
They’re rejects, with no protector,
just like those who have passed away.I’m speaking about
those who live negligently.
To those who live diligently
I pay homage."
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời một số đông Tỷ-kheo trú ở Kosala (Câu-tát-la), trên sườn núi Himavanta (Tuyết sơn), tại một cốc nhỏ trong rừng. Họ tự cao, tự mãn, dao động, lắm mồm lắm miệng, ăn nói huyên thuyên, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tư tán loạn, các căn không chế ngự.
2. Rồi Thiên tử Jantu, vào đêm Bố-tát, ngày rằm, đi đến các Tỷ-kheo ấy, sau khi đến nói lên bài kệ với các Tỷ-kheo ấy:
Các Tỷ-kheo thuở xưa,
Sống thật chơn an lạc,
Họ thật là đệ tử,
Bậc Ðại Giác Cù-đàm.
Không ham tìm món ăn,
Không ham tìm chỗ trú,
Biết đời là vô thường,
Họ chấm dứt khổ đau.
Nay tự làm ác hạnh,
Như thôn trưởng trong làng.
Họ ăn, ăn ngả gục,
Thèm khát vật nhà người.
Con vái chào chúng Tăng,
Ðảnh lễ một vài vị
Kẻ khác, sống vất vưởng,
Không chỉ đạo, hướng dẫn.
Họ giống như thân thể
Kẻ chết bị quăng bỏ.
Những ai sống phóng dật,
Vì họ con nói lên,
Những ai không phóng dật,
Chân thành, con đảnh lễ .
At Sāvatthī.
Standing to one side, the god Rohitassa said to the Buddha:
“Sir, is it possible to know or see or reach the end of the world by traveling to a place where there’s no being born, growing old, dying, passing away, or being reborn?”
“Reverend, I say it’s not possible to know or see or reach the end of the world by traveling to a place where there’s no being born, growing old, dying, passing away, or being reborn.”
"It’s incredible, sir, it’s amazing, how well said this was by the Buddha.
Once upon a time, I was a seer called Rohitassa of the Bhoja people. I was a sky-walker with psychic powers. I was as fast as a light arrow easily shot across the shadow of a palm tree by a well-trained expert archer with a strong bow. My stride was such that it could span from the eastern ocean to the western ocean. This wish came to me: ‘I will reach the end of the world by traveling.’ Having such speed and stride, I traveled for my whole lifespan of a hundred years—pausing only to eat and drink, go to the toilet, and sleep to dispel weariness—and I passed away along the way, never reaching the end of the world.
It’s incredible, sir, it’s amazing, how well said this was by the Buddha. ‘Reverend, I say it’s not possible to know or see or reach the end of the world by traveling to a place where there’s no being born, growing old, dying, passing away, or being reborn.’"
"But Reverend, I also say there’s no making an end of suffering without reaching the end of the world. For it is in this fathom-long carcass with its perception and mind that I describe the world, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation.
The end of the world can never
be reached by traveling.
But without reaching the end of the world,
there’s no release from suffering.So an intelligent person, understanding the world,
has completed the spiritual journey
- and gone to the end of the world.
A calm one, knowing the end of the world,
does not hope for this world or the next."
1. Tại Sàvatthi (Xá-vệ).
2. Ðứng một bên, Thiên tử Rohitassa bạch Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, tại chỗ nào không có sanh, không có già, không có chết, không có diệt, không có khởi, làm sao, bạch Thế Tôn, với bộ hành, có thể biết được, hay thấy được, hay đạt được sự tận cùng của thế giới?
3. − Này Hiền giả, tại chỗ nào không có sanh, không có già, không có chết, không có diệt, không có khởi, Ta nói rằng (tại chỗ ấy), không có thể với bộ hành, biết được, hay thấy được, hay đạt được sự tận cùng của thế giới.
4. − Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn đã nói lên điều khéo nói như vầy: “Này Hiền giả, tại chỗ nào không sanh, không già, không chết, không diệt, không khởi, Ta nói rằng tại chỗ ấy, không có thể với bộ hành biết được, hay thấy được, hay đạt được sự tận cùng của thế giới”.
5. Bạch Thế Tôn, thuở trước, con tên là Rohita con của Bhoja, có thần thông, có thể đi giữa hư không. Bạch Thế Tôn, tốc lực con mau lẹ cho đến con có thể bay, như người thợ bắn cung lão luyện, khéo tập, khéo luyện, thuần thục, thiện xảo, với một cây cung chắc mạnh không gì khó khăn, có thể bắn một mũi tên nhẹ bay vượt qua bóng tối của cây tala.
6. Và bạch Thế Tôn, bước đi của con dài cho đến con có thể bước từ biển phía Ðông qua biển phía Tây. Và ở nơi con, bạch Thế Tôn, khởi lên sự ước muốn như sau: “Với bộ hành, ta có thể đạt đến được sự tận cùng của thế giới”.
7. Và bạch Thế Tôn, dầu cho tốc lực của con mau đến như vậy, và dầu cho con có bước dài đến như vậy, và dầu cho con không có dừng để ăn, hay uống, hay nhai, hay nếm, dầu cho con không có đại tiện, tiểu tiện, dầu cho con không ngủ, không bị mệt nhọc, không trừ cấu uế, dầu cho trăm năm là tuổi thọ thường tình, dầu cho trăm năm là mạng sống thường tình, tuy con đi hơn trăm năm và bị mệnh chung, con cũng không thể đạt đến sự tận cùng của thế giới.
8. Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là hy hữu, bạch Thế Tôn! Thế Tôn đã nói lên điều khéo nói như vầy: “Này Hiền giả, tại chỗ nào không sanh, không già, không chết, không diệt, không khởi. Ta nói rằng tại chỗ ấy, không có thể bộ hành, biết được hay thấy được sự tận cùng của thế giới. Ta nói như vậy”.
9. − Này Hiền giả, nhưng Ta cũng không nói rằng không đạt được sự tận cùng của thế giới thời chấm dứt cuộc khổ đau. Này Hiền giả, chính trong cái thân thể dài một tầm có tưởng, có ý này, Ta tuyên bố thế giới, nguyên nhân của thế giới, sự đoạn diệt thế giới và con đường đưa đến sự đoạn diệt của thế giới.
10.
Bộ hành không bao giờ
Ðạt được thế giới tận,
Không đạt thế giới tận,
Không thể thoát khỏi khổ.
Do vậy, bậc Hiền thiện,
Thế gian giải, Thiện tuệ,
Ðạt đến thế giới tận,
Phạm hạnh được viên thành.
Với tâm tư định tĩnh,
Biết được thế giới tận,
Không ước vọng đời này,
Không ước vọng đời sau.
Standing to one side, the god Nanda recited this verse in the Buddha’s presence:
“Time flies, nights pass by,
the stages of life leave us one by one.
Seeing this peril in death,
do good deeds that bring you joy.”“Time flies, nights pass by,
the stages of life leave us one by one.
Seeing this peril in death,
one looking for peace would drop the world’s bait.”
1. Ðứng một bên, Thiên tử Nanda nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Thời gian lặng trôi qua,
Ðêm ngày luôn di động,
Tuổi tác buổi thanh xuân,
Tiếp tục bỏ chúng ta.
Những ai chịu quán sát,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy làm các công đức,
Ðược hưởng cảnh an lạc.
2. (Thế Tôn):
Thời gian lặng trôi qua,
Ðêm ngày luôn di động,
Tuổi tác buổi thanh xuân,
Tiếp tục bỏ chúng ta.
Những ai chịu quán sát,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy bỏ mọi thế lợi,
Ðược hưởng chơn tịch tịnh.
Standing to one side, the god Nandivisāla addressed the Buddha in verse:
“Four are its wheels, and nine its doors;
it’s stuffed full, bound with greed,
and born from a bog.
Great hero, how am I supposed to live like this?”“Having cut the strap and harness—
wicked desire and greed—
and having plucked out craving, root and all:
that’s how you’re supposed to live like this.”
1. Ðứng một bên, Thiên tử Nandivisàla nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Bốn bánh xe chín cửa,
Ðầy uế, hệ lụy tham,
Chìm đắm trong bùn nhơ,
Ôi! Thưa bậc Ðại Hùng,
Sanh thú Ngài như vậy,
Tương lai sẽ thế nào?
2. (Thế Tôn):
Cắt hỷ và buộc ràng,
Dục tham và tà ác,
Ái căn được đoạn tận,
Sanh thú sẽ như vậy.
At Sāvatthī.
Then Venerable Ānanda went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him, “Ānanda, do you endorse Sāriputta?”
“Sir, who on earth would not endorse Venerable Sāriputta unless they’re a fool, a hater, delusional, or mentally deranged? Venerable Sāriputta is astute, he has great wisdom, widespread wisdom, laughing wisdom, swift wisdom, sharp wisdom, and penetrating wisdom. He has few wishes, he’s content, secluded, aloof, and energetic. He gives advice and accepts advice; he accuses and criticizes wickedness. Who on earth would not endorse Venerable Sāriputta unless they’re a fool, a hater, delusional, or mentally deranged?”
“That’s so true, Ānanda! That’s so true! Who on earth would not endorse Venerable Sāriputta unless they’re a fool, a hater, delusional, or mentally deranged?” And the Buddha repeated all of Ānanda’s terms of praise.
While this praise of Sāriputta was being spoken, the god Susīma approached the Buddha, escorted by a large assembly of gods. He bowed, stood to one side, and said to him:
“That’s so true, Blessed One! That’s so true, Holy One! Who on earth would not endorse Venerable Sāriputta unless they’re a fool, a hater, delusional, or mentally deranged?” And he too repeated all the terms of praise of Sāriputta, adding, “For I too, sir, whenever I go to an assembly of gods, frequently hear the same terms of praise.”
While this praise of Sāriputta was being spoken, the gods of Susīma’s assembly—uplifted and overjoyed, full of rapture and happiness—generated a rainbow of bright colors.
Suppose there was a beryl gem that was naturally beautiful, eight-faceted, well-worked. When placed on a cream rug it would shine and glow and radiate. In the same way, the gods of Susīma’s assembly generated a rainbow of bright colors.
Suppose there was a pendant of Black Plum River gold, fashioned by a deft smith, well wrought in the forge. When placed on a cream rug it would shine and glow and radiate. In the same way, the gods of Susīma’s assembly generated a rainbow of bright colors.
Suppose that in the autumn the heavens were clear and cloudless. At the crack of dawn, the Morning Star shines and glows and radiates. In the same way, the gods of Susīma’s assembly generated a rainbow of bright colors.
Suppose that in the autumn the heavens were clear and cloudless. As the sun is rising to the firmament, having dispelled all the darkness of space, shines and glows and radiates. In the same way, the gods of Susīma’s assembly generated a rainbow of bright colors.
Then the god Susīma recited this verse about Venerable Sāriputta in the Buddha’s presence:
“He’s considered astute,
Sāriputta, free of anger.
Few in wishes, sweet, tamed,
the seer shines in the Teacher’s praise!”
Then the Buddha replied to Susīma with this verse about Venerable Sāriputta:
“He’s considered astute,
Sāriputta, free of anger.
Few in wishes, sweet, tamed;
developed and well-tamed, he awaits his time.”
1. Nhân duyên ở Sàvatthi.
2. Rồi Ðại đức Ananda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Ðại đức Ananda đang ngồi một bên:
− Này Ananda, Ông có hoan hỷ đối với Sàriputta không?
3. − Bạch Thế Tôn, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỷ đối với Tôn giả Sàriputta? Bạch Thế Tôn, hiền trí là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, đại tuệ là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, quảng tuệ là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, hỷ tuệ là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, tiệp tuệ là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, lợi tuệ là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, quyết trạch tuệ là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, ít dục là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, biết đủ là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, viễn ly là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, bất cộng trú là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, tinh cần, tinh tấn là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, biện tài là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, nghe lời trung ngôn là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, cáo tội trung thực là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, chỉ trích ác pháp là Tôn giả Sàriputta.
Bạch Thế Tôn, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỷ đối với Tôn giả Sàriputta!
4. − Như vậy là phải, này Ananda. Như vậy là phải, này Ananda. Này Ananda, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỷ đối với Sàriputta? Này Ananda, hiền trí là Sàriputta. Này Ananda, đại tuệ là Sàriputta. Này Ananda, quảng tuệ là Sàriputta. Này Ananda, hỷ tuệ là Sàriputta. Này Ananda, tiệp tuệ là Sàriputta. Này Ananda, lợi tuệ là Sàriputta. Này Ananda, quyết trạch tuệ là Sàriputta. Này Ananda, ít dục là Sàriputta. Này Ananda, biết đủ là Sàriputta. Này Ananda, viễn ly là Sàriputta. Này Ananda, bất cọng trú là Sàriputta. Này Ananda, biện tài là Sàriputta. Này Ananda, nghe lời trung ngôn là Sariputta. Này Ananda, cáo tội trung thực là Sàriputta. Này Ananda, chỉ trích ác pháp là Sàriputta. Này Ananda, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm, lại có thể không hoan hỷ đối với Sàriputta?
5. Rồi Thiên tử Susima, trong khi được nghe lời tán thán về Tôn giả Sàriputta, với đại chúng Thiên tử đoanh vây, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
6. Ðứng một bên, Thiên tử Susima bạch Thế Tôn:
− Như vậy là phải, bạch Thế Tôn. Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ. Bạch Thế Tôn, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỷ đối với Tôn giả Sàriputta?. Bạch Thế Tôn, hiền trí là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, đại tuệ là Tôn giả Sàriputta… Bạch Thế Tôn, chỉ trích ác pháp là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỷ đối với Tôn giả Sàriputta? Bạch Thế Tôn, con đi đến chúng Thiên tử nào, con đều được nghe nhiều lần tiếng nói như vậy: “Hiền trí là Tôn giả Sàriputta… … chỉ trích ác pháp là Tôn giả Sàriputta. Ai không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỷ đối với Tôn giả Sàriputta?”
7. Rồi chúng Thiên tử của Thiên tử Susima, trong khi những lời tán thán Tôn giả Sàriputta được lớn tiếng nói lên, họ hoan hỷ, hỷ duyệt, hân hoan và thân chói sáng màu sắc thù thắng.
8. Ví như một hòn lưu ly bảo châu, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt, khéo giũa, khéo mài, được đặt trên một tấm màn màu vàng da cam, chói sáng, chiếu sáng và bừng sáng. Cũng vậy, chúng Thiên tử của Thiên tử Susima, trong khi những lời tán thán Tôn giả Sàriputta được lớn tiếng nói lên, họ hoan hỷ, hỷ duyệt, hân hoan và thân chói sáng màu sắc thù thắng.
9. Ví như một đồ trang sức bằng vàng mịn được một người thợ vàng thiện xảo, khéo đập, khéo mài, đặt trên một tấm màn màu vàng da cam, chói sáng, chiếu sáng và bừng sáng. Cũng vậy, Thiên tử chúng của Thiên tử Susima… … và thân chói sáng màu sắc thù thắng.
10. Ví như trong khi đêm đã gần sáng, sao mai chói sáng, chiếu sáng và bừng sáng. Cũng vậy, chúng Thiên tử của Thiên tử Susima… … và thân chói sáng màu sắc thù thắng.
11. Ví như trong mùa thu, trên trời các vòng mây đã được bay sạch, mặt trời mọc lên giữa trời, đánh tan màn đêm, khắp giữa hư không chói sáng, chiếu sáng và bừng sáng. Cũng vậy, chúng Thiên tử của Thiên tử Susima, trong khi những lời tán thán Tôn giả Sàriputta được lớn tiếng nói lên, họ hoan hỷ, hỷ duyệt, hân hoan và thân chói sáng màu sắc thù thắng.
12. Rồi Thiên tử Susima, nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn về Sàriputta:
Ngài Sàriputta,
Ðược mọi người xác nhận,
Là bậc Ðại hiền trí,
Không phẫn hận, ít dục,
Nhu thuận và điều phục,
Ðược Ðạo Sư tán thán.
13. Rồi Thế Tôn nói lên bài kệ về Sàriputta cho Thiên tử Susima:
Về Sàriputta,
Mọi người đều xác nhận,
Là bậc Ðại hiền trí,
Không phẫn hận, ít dục,
Nhu thuận và điều phục,
Như người khéo điều phục,
Chờ đợi thời giờ đến,
Ðể hưởng quả thuần thục.
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.
Then, late at night, several glorious gods lit up the entire Bamboo Grove. They were Asama, Sahalī, Niṅka, Ākoṭaka, Vetambarī, and Māṇavagāmiya, and all of them were disciples of various monastics of other religions. They went up to the Buddha, bowed, and stood to one side.
Standing to one side, the god Asama recited this verse about Pūraṇa Kassapa in the Buddha’s presence:
“In injuring and killing here,
in beating and extortion,
Kassapa saw no evil,
nor any merit for oneself.
What he taught should truly be trusted,
he’s worthy of esteem as Teacher.”
Then the god Sahalī recited this verse about the bamboo-staffed ascetic Gosāla in the Buddha’s presence:
“Through fervent mortification in disgust of sin he became well restrained.
He gave up arguing with people.
Refraining from false speech, he spoke the truth.
Surely such a man does no wrong!”
Then the god Niṅka recited this verse about the Jain ascetic of the Ñātika clan in the Buddha’s presence:
“Disgusted at sin, an alert mendicant,
well restrained in the fourfold constraint;
explaining what is seen and heard:
surely he can be no sinner!”
Then the god Ākoṭaka recited this verse about various sectarian teachers in the Buddha’s presence:
“Pakudhaka, Kātiyāna, and Nigaṇṭha,
as well as this bamboo-staffed ascetic and Pūraṇa:
Teachers of communities, attained ascetics,
surely they weren’t far from truly good men!”
Then the god Vetambarī replied to the god Ākoṭaka in verse:
“Though the wretched jackal howls along,
it never equals the lion.
A naked liar with suspicious conduct,
though they teach a community, is not like the good.”
Then Māra the Wicked took possession of the god Vetambarī and recited this verse in the Buddha’s presence:
“Those dedicated to mortification in disgust of sin,
safeguarding their seclusion,
attached to form,
they rejoice in the heavenly realm.
Indeed, those mortals give correct instructions
regarding the next world.”
Then the Buddha, knowing that this was Māra the Wicked, replied to him in verse:
“Whatever forms there are
- in this world or the world beyond,
and those of shining beauty in the sky,
all of these you praise, Namuci,
like bait tossed out for catching fish.”
Then the god Māṇavagāmiya recited this verse about the Buddha in his presence:
"Of all the mountains of Rājagaha,
Vipula’s said to be the best.
Seta is the best of the Himalayan peaks,
and the sun, of travelers in space.The ocean is the best of seas,
and the moon, of lights that shine at night.
But in all the world with its gods,
the Buddha is declared foremost."
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở thành Vương Xá, tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2. Rồi rất đông Thiên tử, là đệ tử của nhiều ngoại đạo sư Asama, Sahalì, Ninka, Akotaka, Vetambarì và Mànavà Gàmiya, khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
3. Ðứng một bên, Thiên tử Asama nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn về Pùrana Kassapa:
Ở đây nếu có người,
Chém giết hay hại người,
Kassapa không thấy,
Qua các hành động ấy,
Là ác nghiệp cho mình,
Hay công đức cho mình.
Ngài tuyên bố như vậy,
Làm căn bản đức tin,
Ngài thật bậc Ðạo sư,
Ðáng được tôn kính, lễ .
4. Rồi Thiên tử Sahali nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn về Makkhali Gosàla:
Khổ hạnh và yếm ly,
Khéo điều phục, tự chế,
Từ bỏ các lời nói,
Gây đấu tranh với người,
Thăng bằng, tránh phạm tội,
Nói những lời thực ngữ,
Ngài không bao giờ làm,
Các tội phạm như vậy.
5. Rồi Thiên tử Ninka nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn về Nigantha Nàtaputta:
Vị Tỷ-kheo yếm ly,
Sáng suốt theo tế hạnh,
Khéo theo bốn tự chế,
Chỉ nói điều nghe thấy,
Không phạm điều lỗi lầm.
6. Rồi Thiên tử Akotaka nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn về các ngoại đạo sư:
Các ngoại đạo sư này,
Như Pakudhaka,
Và Kàtiyàna,
Cùng với Nigantha,
Kể cả Makkhali,
Và cả Puurana,
Mỗi vị là Ðạo sư,
Chúng đệ tử của mình,
Ðã đạt Sa-môn quả,
Không xa bậc Chân nhân.
7. Rồi Thiên tử Vetambarì nói lên bài kệ này với Thiên tử Akotaka:
Con giả can ghê tởm,
Có tru sủa thế nào,
Làm sao sánh bằng được,
Tiếng rống con sư tử.
Lõa thể, nói vọng ngôn,
Lãnh đạo môn đồ chúng,
Làm các hạnh tà vạy,
Làm sao sanh thiện nhân?
8. Rồi Ác ma nhập vào Thiên tử Vetambarì nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Tu khổ hạnh yếm ly,
Sống viễn ly hành xác,
Ðắm say trong sắc pháp,
Hoan lạc, mê Thiên giới.
Dầu họ bị tử vong,
Chắc chắn họ giảng dạy,
Hướng dẫn thật chơn chánh,
Ðưa đến đời về sau.
9. Rồi Thế Tôn biết được chính là Ác ma, liền nói lên bài kệ cho Ác ma:
Phàm những sắc pháp gì,
Ðời này hay đời sau,
Với màu sắc thù diệu,
Chói sáng giữa hư không,
Tất cả những sắc ấy,
Ðược Ma vương tán thán,
Chúng chỉ là bẫy mồi,
Quăng ra để diệt cá.
10. Rồi Thiên tử Mànava Gàmiya nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn về Thế Tôn:
Trong tất cả ngọn núi,
Ở tại Vương Xá thành,
Ngọn núi Vipula,
Ðược gọi là tối thắng.
Trong dãy núi Tuyết Sơn,
Ngọn Bạch Sơn tối thắng.
Giữa các loại không hành,
Mặt trời là tối thắng.
Giữa các loại thủy lộ,
Ðại dương là tối thắng.
Trong các loài tinh tú,
Mặt trăng là tối thắng.
Giữa Thiên giới, địa giới,
Phật được gọi tối thượng.
-ooOoo-