Skip to content

Bhikkhu Sujato (en) [link]

Thích Minh Châu [link]

Linked Discourses With Māra

4. TƯƠNG ƯNG ÁC MA

I. Phẩm Thứ Nhất

I. Khổ Hạnh Và Nghiệp (S.i,103)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Uruvelà bên bờ sông Neranjarà, dưới gốc cây Ajapàla Nigrodha, khi Ngài vừa giác ngộ.

2. Rồi Thế Tôn trong khi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Thật sự Ta được giải thoát khỏi khổ hạnh ấy. Tốt lành thay, thật sự Ta được giải thoát khỏi khổ hạnh không liên hệ đến lợi ích ấy! Tốt lành thay, Ta kiên trì, chánh niệm, chứng đạt Bồ-đề!”

3. Rồi Ác ma với tâm tư của mình biết được tâm tư của Thế Tôn, liền đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên bài kệ này với Thế Tôn:

Từ bỏ pháp khổ hạnh,
Giúp thanh niên trong sạch,
Không tịnh, nghĩ mình tịnh,
Ði ngược thanh tịnh đạo.

4. Rồi Thế Tôn, biết được: “Ðây là Ác ma”, liền nói lên bài kệ với Ác ma:

Biết được pháp khổ hạnh,
Ðược xem là bất tử,
Pháp ấy không lợi ích,
Không đem lợi ích nào,
Như chèo và bánh lái,
Chiếc thuyền trên đất cạn.
Giới, định và trí tuệ,
Con đường hướng chánh giác.
Ta tu tập hạnh ấy,
Ðạt được tối thắng tịnh,
Này kẻ Tử ma kia,
Ông bị bại trận rồi.

5. Rồi Ác ma biết được: “Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta”, buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.

Chapter One

SN 4.1 Mortification Tapokammasutta

So I have heard. At one time, when he was first awakened, the Buddha was staying in Uruvelā at the root of the goatherd’s banyan tree on the bank of the Nerañjarā River.

Then as he was in private retreat this thought came to his mind, “I am truly freed from that grueling work! Thank goodness I’m freed from that pointless grueling work. Thank goodness that, steadfast and mindful, I have attained awakening.”

And then Māra the Wicked, knowing the Buddha’s train of thought, went up to him and addressed him in verse:

“You’ve departed from the practice of mortification
by which humans purify themselves.
You’re impure, but think yourself pure;
you’ve strayed from the path of purity.”

Then the Buddha, knowing that this was Māra the Wicked, replied to him in verse:

"I realized that it’s pointless;
all that mortification in search of immortality
is as futile
as oars and rudder on dry land.

Ethics, immersion, and wisdom:
by developing this path to awakening
I attained ultimate purity.
You’re beaten, terminator!"

Then Māra the Wicked, thinking, “The Buddha knows me! The Holy One knows me!” miserable and sad, vanished right there.

II. Con Voi (S.i,103)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở tại Uruvelà, bên bờ sông Neranjarà, dưới cây Nigrodha Ajapàla, khi Ngài mới giác ngộ. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, trong bóng đêm tối, và trời đang mưa từng hột một.

2. Rồi Ác ma muốn khiến Thế Tôn sợ hãi, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, liền biến hình thành con voi chúa to lớn và đi đến Thế Tôn.

3. Và đầu con voi ví như hòn đá đen lớn (aritthako), ngà của nó ví như bạc trắng tinh, vòi của nó ví như đầu cái cày lớn.

4. Thế Tôn biết được: “Ðây là Ác ma”, liền nói lên bài kệ với Ác ma:

Ông luân hồi dài dài,
Hình thức tịnh, bất tịnh.
Thôi vừa rồi, Ác ma,
Ông đã bị bại trận.

5. Rồi Ác ma biết được: “Thế Tôn biết ta, Thiện Thệ biết ta”, buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.

SN 4.2 In the Form of an Elephant King Hatthirājavaṇṇasutta

So I have heard. At one time, when he was first awakened, the Buddha was staying in Uruvelā at the root of the goatherd’s banyan tree on the bank of the Nerañjarā River.

Now at that time the Buddha was meditating in the open during the dark of night, while a gentle rain drizzled down.

Then Māra the Wicked, wanting to make the Buddha feel fear, terror, and goosebumps, manifested in the form of a huge elephant king and approached him. Its head was like a huge block of soapstone. Its tusks were like pure silver. Its trunk was like a long plough pole.

Then the Buddha, knowing that this was Māra the Wicked, addressed him in verse:

“Transmigrating for such a long time,
you’ve made forms beautiful and ugly.
Enough of this, Wicked One!
You’re beaten, terminator!”

Then Māra the Wicked, thinking, “The Buddha knows me! The Holy One knows me!” miserable and sad, vanished right there.

III. Tịnh (S.i,104)

1. Trú tại Uruvelà.

2. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, trong bóng đêm tối, và trời đang mưa từng hột một.

3. Rồi Ác ma muốn khiến Thế Tôn sợ hãi, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, liền đi đến Thế Tôn.

4. Sau khi đến, hiện lên những hình tướng cao thấp, tịnh, bất tịnh, không xa Thế Tôn bao nhiêu.

5. Rồi Thế Tôn biết được: “Ðây là Ác ma”, liền nói lên bài kệ với Ác ma:

Ông luân hồi dài dài,
Hình thức tịnh, bất tịnh.
Thôi vừa rồi, Ác ma,
Ông đã bị bại trận.
Những vị thân, khẩu, ý,
Khéo hộ trì chế ngự,
Này kẻ Ác ma kia,
Những vị ấy như vậy,
Không bị Ông chi phối,
Không phải đệ tử Ông .

6. Rồi Ác ma biết được… liền biến mất tại chỗ.

SN 4.3 Beautiful Subhasutta

So I have heard. At one time, when he was first awakened, the Buddha was staying in Uruvelā at the root of the goatherd’s banyan tree on the bank of the Nerañjarā River.

Now at that time the Buddha was meditating in the open during the dark of night, while a gentle rain drizzled down.

Then Māra the Wicked, wanting to make the Buddha feel fear, terror, and goosebumps, approached him, and while not far away generated a rainbow of bright colors, both beautiful and ugly.

Then the Buddha, knowing that this was Māra the Wicked, replied to him in verse:

"Transmigrating for such a long time,
you’ve made forms beautiful and ugly.
Enough of this, Wicked One!
You’re beaten, terminator.

Those who are well restrained
in body, speech, and mind
don’t fall under Māra’s sway,
nor are they your lackies."

Then Māra … vanished right there.

IV. Bẫy Sập (S.i,105)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở tại Barànasi (Ba-la-nại), Isipatana (chư Tiên đọa xứ), vườn Lộc Uyển. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: − “Này các Tỷ-kheo.” − "Thưa vâng, bạch Thế Tôn ". Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

2. Thế Tôn nói như sau:

− Này các Tỷ-kheo, chính nhờ chánh tác ý, chính nhờ chánh tinh cần. Ta chứng đạt Vô thượng giải thoát. Ta chứng ngộ Vô thượng giải thoát. Vậy này các Tỷ-kheo các Ông cũng phải với chánh tác ý, chánh tinh cần, chứng đạt Vô thượng giải thoát, chứng ngộ Vô thượng giải thoát.

Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên bài kệ với Thế Tôn:

Ngài còn bị trói buộc,
Trong bẫy sập của ma,
Bởi những dây dục lạc,
Cả Thiên giới, Nhân giới.
Ngài đang bị cột chặt,
Trong triền phược của ma.
Này vị Sa-môn kia,
Ngài chưa thoát khỏi ta.

4. (Thế Tôn):

Ta đã được giải thoát,
Khỏi bẫy sập của ma,
Thoát khỏi dây dục lạc,
Cả Thiên giới, Nhân giới.
Ta đã được giải thoát,
Khỏi triền phược của ma,
Này kẻ Tử ma kia,
Ông đã bị bại trận.

5. Rồi Ác ma… biến mất tại chỗ.

SN 4.4 Māra’s Snares (1st) Paṭhamamārapāsasutta

So I have heard. At one time the Buddha was staying near Varanasi, in the deer park at Isipatana. There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!”

“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:

“Mendicants, I have attained and realized supreme freedom through rational application of mind and rational right effort. You too should attain and realize supreme freedom through rational application of mind and rational right effort.”

Then Māra the Wicked went up to the Buddha and addressed him in verse:

“You’re bound by Māra’s snares,
both human and heavenly.
You’re bound by Māra’s bonds:
you won’t escape me, ascetic!”

“I’m freed from Māra’s snares,
both human and heavenly.
I’m freed from Māra’s bonds.
You’re beaten, terminator!”

Then Māra … vanished right there.

V. Bẫy Sập (S.i,105)

1. Một thời Thế Tôn trú ở Bàrànasi (Ba-la-nại) tại Isipatana, vườn Lộc Uyển. Ở đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “− Này các Tỷ-kheo.” “− Thưa vâng Thế Tôn.” Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

2. Thế Tôn nói như sau:

− Này các Tỷ-kheo, Ta đã được giải thoát khỏi tất cả bẫy sập ở Thiên giới và Nhân giới. Này các Tỷ-kheo, các Ông cũng được giải thoát khỏi tất cả bẫy sập ở Thiên giới và Nhân giới. Này các Tỷ-kheo, hãy du hành vì hạnh phúc cho quần chúng, vì an lạc cho quần chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Chớ có đi hai người một chỗ. Này các Tỷ-kheo, hãy thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Hãy tuyên thuyết Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Có các chúng sanh sanh ra ít nhiễm bụi đời, nếu không được nghe pháp sẽ đi đến hoại diệt. Họ sẽ trở thành những vị thâm hiểu Chánh pháp. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ đi đến Uruvelà, thị trấn Senà để thuyết pháp.

3. Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ với Thế Tôn:

Ngài còn bị trói buộc,
Trong bẫy sập của ma,
Bởi những dây dục lạc,
Cả Thiên giới, Nhân giới.

Ngài đang bị cột chặt,
Trong triền phược của ma,
Này vị Sa-môn kia,
Ngài chưa thoát khỏi ta.

4. (Thế Tôn)

Ta đã được giải thoát,
Khỏi bẫy sập của ma,
Thoát khỏi dây dục lạc,
Cả Thiên giới, Nhân giới.
Ta đã được giải thoát,
Khỏi triền phược của ma,
Này kẻ Tử ma kia,
Ông đã bị bại trận.

SN 4.5 Māra’s Snares (2nd) Dutiyamārapāsasutta

At one time the Buddha was staying near Varanasi, in the deer park at Isipatana. There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!”

“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:

"Mendicants, I am freed from all snares, both human and heavenly. You are also freed from all snares, both human and heavenly.

Wander forth, mendicants, for the welfare and happiness of the people, out of sympathy for the world, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans. Let not two go by one road.

Teach the Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And reveal a spiritual practice that’s entirely full and pure. There are beings with little dust in their eyes. They’re in decline because they haven’t heard the teaching. There will be those who understand the teaching!

I will travel to Uruvelā, the village of Senāni, in order to teach the Dhamma."

Then Māra the Wicked went up to the Buddha and addressed him in verse:

“You’re bound by all snares,
both human and heavenly.
You’re bound by the great bond:
you won’t escape me, ascetic!”

“I’m freed from all snares,
both human and heavenly.
I’m freed from the great bonds;
You’re beaten, terminator!”

Then Māra … vanished right there.

VI. Con Rắn (S.i,106)

1. Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha, Veluvana, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2. Lúc bấy giờ Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, trong bóng đêm tối, và trời đang mưa từng hột một.

3. Rồi Ác ma muốn khiến Thế Tôn sợ hãi, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, bèn biến thành con đại xà vương và đi đến Thế Tôn.

4. Thân của nó to lớn ví như một chiếc thuyền đẽo ra từ một thân cây. Cái mang của nó ví như cái khay đan của người nấu rượu. Mắt của nó ví như cái đĩa bằng đồng của nước Kosala; lưỡi của nó le ra từ miệng ví như mũi tên chớp sáng lòe khi trời mưa gió sấm sét; tiếng hơi thở vô, hơi thở ra của nó ví như bệ thổi của người thợ rèn.

5. Rồi Thế Tôn biết: “Ðây là Ác ma”, liền nói lên bài kệ này với Ác ma:

Quý thay bậc Mâu-ni,
Sống trong nhà không tịch,
Biết chế ngự tự ngã,
Tại đấy vị ấy trú.
Sống từ bỏ tất cả,
Với hạnh tu tương xứng,
Nhiều loại thú bộ hành,
Nhiều sự vật khủng khiếp,
Nhiều ruồi muỗi độc xà,
Không mảy may rung động
Sợi lông bậc Mâu-ni
Sống trong nhà không tịch.
Dầu trời nứt, đất động,
Dầu muôn loài khủng bố,
Dầu bị giáo, đao, tên,
Quẳng ném vào ngực Ngài,
Chư Phật không tạo nên,
Những căn cứ sanh y .

6. Rồi Ác ma biết được: " Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta", liền biến mất tại chỗ.

SN 4.6 A Serpent Sappasutta

So I have heard. At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.

Now at that time the Buddha was meditating in the open during the dark of night, while a gentle rain drizzled down.

Then Māra the Wicked, wanting to make the Buddha feel fear, terror, and goosebumps, manifested in the form of a huge serpent king and approached him. Its body was like a huge canoe carved from a single tree. Its hood was like a large brewer’s sieve. Its eyes were like those big bronze cups from Kosala. Its tongue flickered from its mouth like lightning flashes in a thunderstorm. The sound of its breathing was like the puffing of a blacksmith’s bellows.

Then the Buddha, knowing that this was Māra the Wicked, replied to him in verse:

"A self-controlled sage frequents
empty buildings for lodging.
It’s appropriate for such a person
to live there after relinquishing.

Though there are lots of creepy crawlies,
and lots of flies and snakes,
they wouldn’t stir a hair
of a great sage in that empty hut.

Though the firmament may split
- and the earth may quake,
and all creatures be stricken with fear;
and even if an arrow’s aimed at their breast,
the Buddhas take no shelter in attachments."

Then Māra the Wicked, thinking, “The Buddha knows me! The Holy One knows me!” miserable and sad, vanished right there.

VII. Thụy Miên (S.i,107)

1. Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha, Veluvana, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2. Rồi Thế Tôn sau khi đã đi kinh hành ngoài trời một phần lớn của đêm. Khi đêm đã gần mãn, Ngài rửa chân, bước vào tịnh xá, và nằm xuống phía hông bên phải theo thế nằm của con sư tử, hai chân gác lên nhau, chánh niệm tỉnh giác và nghĩ đến lúc thức dậy.

3. Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ với Thế Tôn:

Sao Ngài còn nằm ngủ,
Sao Ngài vẫn nằm ngủ,
Sao Ngài ngủ như vậy,
Như kẻ chết nằm co?
Nghĩ rằng nhà trống không,
Nên Ngài ngủ như vậy,
Sao Ngài ngủ như vậy,
Khi mặt trời đã mọc?

4. (Thế Tôn):

K hi không còn tham ái,
Với lưới triền, nọc độc,
Người vậy được giải thoát,
Không bị dẫn nơi nào.
Ác ma! Bậc Giác Ngộ
Mọi sanh y diệt tận,
Vị ấy nếu có ngủ,
Các Ông làm được gì?

SN 4.7 Sleeping Supatisutta

At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.

He spent much of the night walking mindfully in the open. At the crack of dawn he washed his feet and entered his dwelling. He laid down in the lion’s posture—on the right side, placing one foot on top of the other—mindful and aware, and focused on the time of getting up.

Then Māra the Wicked went up to the Buddha and addressed him in verse:

“What, you’re asleep?
- Really, you’re asleep?
You sleep like a loser—
- what’s up with that?
You sleep, thinking that the hut is empty.
You sleep when the sun has come up—
- what’s up with that?”

“For them there is no craving—
the weaver, the clinger—
- to track them anywhere.
With the ending of all attachments
- the awakened Buddha sleeps.
What’s that got to do with you, Māra?”

Then Māra … vanished right there.

VIII. Hoan Hỷ (S.i,107)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.

2. Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

Cha sung sướng vì con,
Người chăn sướng vì bò,
Người sướng vì sanh y,
Không sanh y, không sướng.

(Thế Tôn):

Cha sầu vì con cái,
Người chăn sầu vì bò,
Người sầu vì sanh y,

Không sanh y, không sầu.

Rồi Ác ma biết rằng: “Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta”, liền biến mất tại chỗ.

SN 4.8 Delighting Nandatisutta

So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.

Then Māra the Wicked went up to the Buddha and recited this verse in the Buddha’s presence:

“Your children bring you delight!
Your cattle also bring you delight!
For attachments are a man’s delight;
without attachments there’s no delight.”

“Your children bring you sorrow.
Your cattle also bring you sorrow.
For attachments are a man’s sorrow;
without attachments there are no sorrows.”

Then Māra the Wicked, thinking, “The Buddha knows me! The Holy One knows me!” miserable and sad, vanished right there.

IX. Tuổi Thọ (S.i,108)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha, tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2. Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo” − “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

3. Thế Tôn nói như sau:

− Này các Tỷ-kheo, ngắn ngủi thay là tuổi thọ loài Người ở đời này, rồi phải đi trong tương lai! Hãy làm điều lành. Hãy sống Phạm hạnh. Không có gì sanh ra lại không bị tử vong. Này các Tỷ-kheo, người sống lâu chỉ có một trăm năm, hoặc ít hơn, hoặc nhiều hơn.

4. Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ với Thế Tôn:

Loài Người thọ mạng dài,
Người lành chớ âu lo,
Bú sữa no, hãy sống
Tử vong đâu có đến.

5. (Thế Tôn):

Loài Người thọ mạng ngắn,
Người lành phải âu lo,
Như cháy đầu, hãy sống,
Tử vong rồi phải đến.

6. Rồi Ác ma, biết được “Thế Tôn đã biết ta…”, liền biến mất tại chỗ.

SN 4.9 Lifespan (1st) Paṭhamaāyusutta

So I have heard. At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground. There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!”

“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:

“Mendicants, the lifespan of humans is short. You must go to the next life. So you should do what is skillful, you should practice the spiritual life. No-one born is immortal. A long life is a hundred years or a little more.”

Then Māra the Wicked went up to the Buddha and addressed him in verse:

“The life of humans is long!
A true person wouldn’t scorn it.
Live like a suckling babe,
for Death has not come for you.”

“The life of humans is short,
and a true person scorns it.
They should live as though their head was on fire,
for Death comes for everyone.”

Then Māra … vanished right there.

X. Tuổi Thọ (S.i,108)

1. Tại Ràjagaha (Vương Xá).

Tại đây, Thế Tôn nói như sau:

− Này các Tỷ-kheo, ngắn ngủi thay là tuổi thọ loài Người ở đời này, rồi phải đi trong tương lai! Hãy làm điều lành. Hãy sống Phạm hạnh. Không có gì sanh ra lại không bị tử vong. Này các Tỷ-kheo, người sống lâu chỉ có một trăm năm, hoặc ít hơn, hoặc nhiều hơn.

2. Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ này với Thế Tôn:

Ngày đêm không trôi qua,
Thọ mạng không chấm dứt,
Thọ mạng người xoay vần,

Như vành theo trục xe.

3. (Thế Tôn):

Ngày đêm có trôi qua,
Thọ mạng có chấm dứt,
Mạng người phải khô cạn,
Như suối nhỏ đầu non.

4. Rồi Ác ma biết được: “Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta”, buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.

SN 4.10 Lifespan (2nd) Dutiyaāyusutta

So I have heard. At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground. There the Buddha … said:

“Mendicants, the lifespan of humans is short. You must go to the next life. So you should do what is skillful, you should practice the spiritual life. No-one born is immortal. A long life is a hundred years or a little more.”

Then Māra the Wicked went up to the Buddha and addressed him in verse:

“The days and nights don’t rush by,
and life isn’t cut short.
The life of mortals keeps rolling on,
like a chariot’s rim around the hub.”

“The days and nights rush by,
and then life is cut short.
The life of mortals wastes away,
like the water in tiny streams.”

Then Māra the Wicked, thinking, “The Buddha knows me! The Holy One knows me!” miserable and sad, vanished right there.

II. Phẩm Thứ Hai

I. Hòn Ðá (S.i,109)

1. Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakuta (Linh Thứu).

2. Lúc bấy giờ Thế Tôn ngồi giữa trời, trong bóng đêm tối, và trời mưa từng hột một.

3. Rồi Ác ma muốn làm Thế Tôn sợ hãi, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, liền đi đến Thế Tôn, sau khi đến, xô những tảng đá lớn rơi xuống không xa Thế Tôn bao nhiêu.

4. Rồi Thế Tôn biết được: “Ðây là Ác ma”, liền nói bài kệ với Ác ma:

Dầu Ông làm chấn động,
Toàn bộ núi Linh Thứu,
Cũng không làm rung động,
Bậc Giác Ngộ, Giải Thoát.

5. Rồi Ác ma được biết: “Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta”, buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ.

Chapter Two

SN 4.11 Boulders Pāsāṇasutta

At one time the Buddha was staying near Rājagaha, on the Vulture’s Peak Mountain. Now at that time the Buddha was meditating in the open during the dark of night, while a gentle rain drizzled down.

Then Māra the Wicked, wanting to make the Buddha feel fear, terror, and goosebumps, approached him, and crushed some large boulders close by him.

Then the Buddha, knowing that this was Māra the Wicked, addressed him in verse:

“Even if you shake
this entire Vulture’s Peak,
the rightly released,
the awakened, are unshaken.”

Then Māra the Wicked, thinking, “The Buddha knows me! The Holy One knows me!” miserable and sad, vanished right there.

II. Con Sư Tử (S.i,106)

1. Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Thế Tôn xung quanh có đại chúng bao vây, đang thuyết pháp.

2. Rồi Ác ma suy nghĩ: “Sa-môn Gotama này xung quanh có đại chúng bao vây, đang thuyết pháp. Vậy ta hãy đến Sa-môn Gotama và làm mờ mắt (đại chúng ấy).”

3. Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ này với Thế Tôn:

Sao Ngài lại rống lên,
Rống như loài sư tử,
Vô úy không sợ hãi,
Trước hội chúng đông đảo?
Nay Ngài có địch thủ,
Chớ nghĩ Ngài thắng trận!

4. (Thế Tôn):

Bậc Ðại Hùng rống lên,
Vô úy trước đại chúng,
Như Lai chứng mười lực,
Vượt tham ái ở đời.

5. Rồi Ác ma biết được : “Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta”, buồn khổ, thất vọng liền biến mất tại chỗ ấy.

SN 4.12 Lion Kinnusīhasutta

At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. Now, at that time the Buddha was teaching Dhamma, surrounded by a large assembly.

Then Māra thought, “The ascetic Gotama is teaching Dhamma, surrounded by a large assembly. Why don’t I go and pull the wool over their eyes?”

Then Māra the Wicked went up to the Buddha and addressed him in verse:

“Why now do you roar like a lion?
You’re so self-assured in the assembly!
For there is someone who’ll wrestle with you,
so why do you imagine you’re the victor?”

“The great heroes they roar,
self-assured in the assemblies.
The Realized One, attained to power,
has crossed over clinging to the world.”

Then Māra the Wicked, thinking, “The Buddha knows me! The Holy One knows me!” miserable and sad, vanished right there.

III. Phiến Ðá (S.i,110)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), tại Maddakucchi, vườn Nai (Migadaya).

2. Lúc bấy giờ, chân Thế Tôn bị phiến đá gây thương tích. Thế Tôn cảm xúc khốc liệt, toàn thân đau đớn, nhói đau, đau nhức mãnh liệt, không thích thú, không vừa ý. Và Thế Tôn chánh niệm tỉnh giác, nhẫn chịu không để tâm tư buồn nản.

3. Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ này với Thế Tôn:

Sao Ngài uể oải nằm,
Hay tìm thơ, tìm vận,
Phải chăng việc sai biệt,
Không chờ đợi Ngài làm,
Phải một mình cô độc,
Trên ghế giường nằm, ngồi,
Với gương mặt ngái ngủ,
Sao Ngài ngủ như vậy?

(Thế Tôn):

Ta không uể oải nằm,
Không tìm thơ, tìm vận,
Mục đích Ta đã đạt,
Ðâu có sầu muộn gì!
Ta nằm ngồi một mình,
Trên ghế giường vắng lặng,
Yên tĩnh Ta nằm nghỉ,
Tâm từ, thương chúng sanh.
Những kẻ, ngực bị đâm,
Hổn hển tim dồn dập,
Vẫn tìm được giấc ngủ,
Dầu bị thương tích nặng.
Sao Ta lại không ngủ,
Khi không bị thương tích,
Khi thức không âu lo,
Khi ngủ chẳng sợ hãi,
Ngày đêm không khởi lên,

Phiền não bận lòng Ta?
Ta không thấy tai hại,
Một chỗ nào trên đời,
Do vậy, Ta nằm nghỉ,
Tâm từ, thương chúng sanh.

5. Rồi Ác ma biết được: " Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta", buồn khổ, thất vọng liền biến mất tại chỗ ấy.

SN 4.13 A Splinter Sakalikasutta

So I have heard. At one time the Buddha was staying near Rājagaha in the Maddakucchi deer park.

Now at that time the Buddha’s foot had been cut by a splinter. The Buddha was stricken by harrowing pains; physical feelings that were painful, sharp, severe, acute, unpleasant, and disagreeable. But he endured unbothered, with mindfulness and situational awareness. And then he spread out his outer robe folded in four and laid down in the lion’s posture—on the right side, placing one foot on top of the other—mindful and aware.

Then Māra the Wicked went up to the Buddha and addressed him in verse:

“Are you feeble that you lie down?
- Or are you drunk on poetry?
Don’t you have all that you need?
Alone in a secluded lodging,
why this sleeping, sleepyhead?”

"I’m not feeble that I lie down,
- nor am I drunk on poetry.
Having reached the goal, I’m rid of sorrow.
Alone in a secluded lodging,
I lie down full of sympathy for all living creatures.

Even those with a dart stuck in the breast,
piercing the heart again and again,
are able to get some sleep.
So why not I, whose dart is drawn out?

I don’t lie awake tense, nor do I fear to sleep.
The days and nights don’t disturb me,
as I see no decline for myself in the world.
That’s why I lie down full of sympathy for all living creatures."

Then Māra the Wicked, thinking, “The Buddha knows me! The Holy One knows me!” miserable and sad, vanished right there.

IV. Tương Ưng Thích Nghi (S.i,111)

1. Một thời Thế Tôn trú ở Kosala, tại một làng Bà-la-môn tên là Ekasàlà. Lúc bấy giờ, Thế Tôn xung quanh có đại chúng cư sĩ đoanh vây, đang thuyết pháp.

2. Rồi Ác ma suy nghĩ: “Sa-môn Gotama này, xung quanh có đại chúng cư sĩ đoanh vây, đang thuyết pháp. Vậy ta hãy đi đến Sa-môn Gotama và làm mờ mắt (đại chúng này).”

3. Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ với Thế Tôn:

Thật không chút thích hợp,
Ðể Ngài giảng dạy người,
Giữa người thuận, kẻ nghịch,
Chớ hành nghề đứng giữa.

4. (Thế Tôn):

Với lòng từ, thương tưởng,
Bậc Giác Ngộ dạy người,
Giữa người thuận, kẻ nghịch,
Như Lai chơn giải thoát.

5. Rồi Ác ma biết được : “Thế Tôn đã biết ta…” liền biến mất tại chỗ ấy.

SN 4.14 Appropriate Patirūpasutta

At one time the Buddha was staying in the land of the Kosalans near the brahmin village of Ekasālā.

Now, at that time the Buddha was teaching Dhamma, surrounded by a large assembly of laypeople.

Then Māra thought, “The ascetic Gotama is teaching Dhamma, surrounded by a large assembly of laypeople. Why don’t I go and pull the wool over their eyes?”

Then Māra the Wicked went up to the Buddha and addressed him in verse:

“It’s not appropriate for you
to instruct others.
As you engage in this,
don’t get caught up in favoring and opposing.”

“The Buddha instructs others
out of compassion for their welfare.
The Realized One is liberated
from favoring and opposing.”

Then Māra the Wicked, thinking, “The Buddha knows me! The Holy One knows me!” miserable and sad, vanished right there.

V. Ý (S.i,111)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.

2. Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ với Thế Tôn:

Mọi hành tung của ý
Là bẫy sập trên không,
Chính với bẫy sập ấy,
Ta trói buộc lấy Ngài,
Này vị Sa-môn kia,
Ngài chưa thoát khỏi ta.

3. (Thế Tôn):

Sắc, thanh, vị, hương, xúc,
Làm tâm ý ưa thích,
Ta không ưa muốn chúng,
Ta vượt thoát ngoài chúng,
Này kẻ Tử ma kia,
Ông đã bị bại trận.

4. Rồi Ác ma biết được: “Thế Tôn đã biết ta…”, liền biến mất tại chỗ ấy.

SN 4.15 A Mental Snare Mānasasutta

So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.

Then Māra the Wicked went up to the Buddha and addressed him in verse:

“There’s a mental snare
wandering the sky.
I’ll bind you with it—
you won’t escape me, ascetic!”

“Sights, sounds, tastes, smells,
and touches so delightful:
desire for these is gone from me.
You’re beaten, terminator!”

Then Māra the Wicked, thinking, “The Buddha knows me! The Holy One knows me!” miserable and sad, vanished right there.

VI. Bình Bát (S.i,112)

1. Trú ở Sàvatthi. Lúc bấy giờ Thế Tôn đang thuyết pháp cho các Tỷ-kheo về năm thủ uẩn, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Và các Tỷ-kheo ấy hết sức chú tâm, hết sức chú ý, tập trung mọi tâm tư, lóng tai nghe pháp.

2. Rồi Ác ma suy nghĩ: “Sa-môn Gotama này đang thuyết pháp cho các Tỷ-kheo về năm thủ uẩn, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, và các Tỷ-kheo ấy hết sức chú tâm, hết sức chú ý, tập trung mọi tâm tư, lắng tai nghe pháp. Vậy ta hãy đi đến Sa-môn Gotama và làm mờ mắt (các Tỷ-kheo ấy)”.

3. Lúc bấy giờ có nhiều bình bát được đặt ra ngoài trời (để phơi cho khô).

4. Rồi Ác ma biến hình thành con bò đực và đi đến các bình bát ấy.

5. Rồi một Tỷ-kheo nói với một Tỷ-kheo khác:

− Này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, con bò đực này sẽ làm bể các bình bát.

6. Khi nghe nói vậy, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo ấy:

− Này Tỷ-kheo, nó không phải con bò đực. Nó chính là Ác ma muốn đến làm mờ mắt các ông.

7. Và Thế Tôn biết được: “Ðây là Ác ma”, liền nói lên bài kệ cho Ác ma:

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức,
Cái ấy không phải tôi,
Cái ấy không của tôi,
Như vậy đây ly tham,
Ly tham vậy, tâm an,
Mọi kiết sử siêu thoát,
Dầu tìm mọi xứ sở,
Ma quân không gặp được.

8. Ác ma biết được: " Thế Tôn đã biết ta…", liền biến mất tại chỗ ấy.

SN 4.16 The Alms Bowls Pattasutta

At Sāvatthī.

Now at that time the Buddha was educating, encouraging, firing up, and inspiring the mendicants with a Dhamma talk on the topic of the five grasping aggregates. And those mendicants were paying attention, applying the mind, concentrating wholeheartedly, and actively listening.

Then Māra thought, “This ascetic Gotama is educating, encouraging, firing up, and inspiring the mendicants with a Dhamma talk on the topic of the five grasping aggregates. And the mendicants are paying attention, applying the mind, concentrating wholeheartedly, and actively listening. Why don’t I go and pull the wool over their eyes?”

At that time several alms bowls were placed in the open air. Then Māra the Wicked manifested in the form of an ox and approached those bowls.

One of the mendicants said to another, “Mendicant, mendicant, that ox will break the bowls.”

When this was said, the Buddha said to that mendicant, “Mendicant, that’s no ox. That’s Māra the Wicked come to pull the wool over your eyes!”

Then the Buddha, knowing that this was Māra the Wicked, addressed him in verse:

"Sights, feeling, and perception,
consciousness and what is chosen:
‘I am not this’ and ‘this is not mine’;
that’s how to be free of desire for them.

When you’re detached, secure,
all fetters transcended,
though Māra and his army chase everywhere
they never find you."

Then Māra … vanished right there.

VII. Xứ (S.i,112)

1. Một thời Thế Tôn trú ở Vesàli (Tỳ-xá-ly), Ðại Lâm, chỗ Trùng Các giảng đường.

2. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang thuyết pháp cho các Tỷ-kheo về sáu xúc xứ, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Và các vị Tỷ-kheo ấy hết sức chú tâm, hết sức chú ý, tập trung mọi tư tưởng, lóng tai nghe pháp.

3. Rồi Ác ma suy nghĩ: “Sa-môn Gotama này đang thuyết pháp cho các Tỷ- kheo về sáu xúc xứ, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Và các Tỷ-kheo ấy hết sức chú tâm, hết sức chú ý, tập trung mọi tâm tư, lắng tai nghe pháp. Vậy ta hãy đi đến Sa-môn Gotama và làm mờ mắt (các Tỷ-kheo ấy)”.

4. Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, Ác ma hét lên một tiếng to lớn, khủng khiếp, dễ sợ, như đất bị nứt vỡ.

5. Rồi một Tỷ-kheo nói với một Tỷ-kheo khác:

− Này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, hình như quả đất này bị nứt vỡ.

6. Khi nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Tỷ-kheo ấy :

− Này Tỷ-kheo, không phải đất nứt vỡ. Ðó là Ác ma đi đến để làm mờ mắt các Ông.

7. Rồi Thế Tôn biết được: “Ðây là Ác ma”, liền nói bài kệ cho Ác ma:

Sắc, thanh, vị và hương,
Cùng toàn bộ xúc, pháp,
Là thế vật rùng rợn,
Làm mê loạn ở đời.
Ðệ tử bậc Chánh Giác,
Chánh niệm, vượt khỏi chúng,
Vượt thế lực Ác ma,
Như mặt trời sáng chói.

8. Rồi Ác ma biết được: “Thế Tôn đã biết ta…”, liền biến mất tại chỗ ấy.

SN 4.17 The Six Fields of Contact Chaphassāyatanasutta

At one time the Buddha was staying near Vesālī, at the Great Wood, in the hall with the peaked roof.

Now at that time the Buddha was educating, encouraging, firing up, and inspiring the mendicants with a Dhamma talk on the topic of the six fields of contact. And those mendicants were paying attention, applying the mind, concentrating wholeheartedly, and actively listening.

Then Māra thought, “This ascetic Gotama is educating, encouraging, firing up, and inspiring the mendicants with a Dhamma talk on the topic of the six fields of contact. And those mendicants are paying attention, applying the mind, concentrating wholeheartedly, and actively listening. Why don’t I go and pull the wool over their eyes?”

Then Māra the Wicked went up to the Buddha and made a terrifyingly loud noise close by him. It seemed as if the earth were shattering, so that one of the mendicants said to another, “Mendicant, mendicant, it seems like the earth is shattering!”

When this was said, the Buddha said to that mendicant, “Mendicant, that’s not the earth shattering. That’s Māra the Wicked come to pull the wool over your eyes!”

Then the Buddha, knowing that this was Māra the Wicked, addressed him in verse:

"Sights, sounds, tastes, smells,
touches, and ideas, the lot of them—
this is the dreadful bait
that the world’s infatuated by.

But a mindful disciple of the Buddha
has transcended all that.
Having slipped free of Māra’s dominion,
they shine like the sun."

Then Māra … vanished right there.

VIII. Ðoàn Thực (S.i,113)

1. Một thời Thế Tôn trú ở Magadha, tại làng Bà-la-môn tên là Pancasàlà.

2. Lúc bấy giờ, tại làng Bà-la-môn tên là Pancasàlà, lễ trao đổi tặng vật giữa nam nữ thanh niên đang được xảy ra.

3. Rồi Thế Tôn đắp y, vào buổi sáng, cầm y bát đi vào làng Bà-la- môn Pancasàlà để khất thực.

4. Lúc bấy giờ, các Bà-la-môn gia chủ ở Pancasàlà bị Ác ma xâm nhập và quyết định: “Chớ để Sa-môn Gotama nhận được đồ ăn khất thực”.

5. Rồi Thế Tôn đi vào làng Bà-la-môn tên Pancasàlà để khất thực với bình bát rửa sạch như thế nào, cũng đã trở về cùng với bình bát được rửa sạch như vậy.

6. Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói với Thế Tôn:

− Này Sa-môn, Ngài có nhận được đồ ăn khất thực không?

7. − Này Ác ma, có phải Ông làm cho Ta không nhận được đồ ăn khất thực?

8. − Vâng bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy đi vào làng Bà-la-môn Pancasàlà một lần thứ hai nữa. Và tôi sẽ làm để Thế Tôn nhận được đồ ăn khất thực

(Thế Tôn):

Ác ma làm điều ác,
Ðể tấn công Như Lai,
Này Ác ma, vì sao,
Ông có thể nghĩ rằng,
Ðiều ác Ông hại Ta,
Sẽ không có kết quả.
Chúng ta sống sung sướng,
Những người không có gì,
Như chư Thiên Quang Âm,
Như chư Thiên Quang Âm,
Có hào quang sáng chói,
Lấy hỷ làm đồ ăn .

9. Rồi Ác ma biết được: " Thế Tôn đã biết ta…", liền biến mất tại chỗ ấy.

SN 4.18 Alms Food Piṇḍasutta

At one time the Buddha was staying in the land of the Magadhans near the brahmin village of Pañcasālā.

Now at that time in Pañcasālā the young women were taking care of guests. Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Pañcasālā for alms.

Now at that time Māra had possessed the brahmins and householders of Pañcasālā, so that they thought, “Don’t let the ascetic Gotama get any alms!”

Then the Buddha left the village with his bowl as clean-washed as it was when he entered for alms.

Then Māra the Wicked went up to the Buddha and said to him, “Well, ascetic, did you get any alms?”

“Wicked One, did you make sure I didn’t get any alms?”

“Well then, sir, let the Buddha enter Pañcasālā a second time for alms. I’ll make sure you get alms.”

"Māra has produced wickedness
in attacking the Realized One.
Wicked One, do you imagine that
your wickedness won’t bear fruit?

Let us live so very happily,
we who have nothing.
We shall feed on rapture,
like the gods of streaming radiance."

Then Māra the Wicked, thinking, “The Buddha knows me! The Holy One knows me!” miserable and sad, vanished right there.

IX. Người Nông Phu (S.i,114)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi. Lúc bấy giờ Thế Tôn đang thuyết pháp cho các Tỷ-kheo về vấn đề liên hệ đến Niết-bàn, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Và các Tỷ-kheo ấy hết sức chú tâm, hết sức chú ý, tập trung mọi tâm tư, lóng tai nghe pháp.

2. Rồi Ác ma suy nghĩ: “Sa-môn Gotama này đang thuyết pháp cho các vị Tỷ-kheo về các vấn đề liên hệ đến Niết-bàn… Vậy ta hãy đi đến Sa-môn Gotama để làm mờ mắt (các Tỷ-kheo ấy).”

3. Rồi Ác ma biến hình thành một người nông phu, mang trên vai một cái cày lớn, tay cầm một cây gậy đâm bò, đầu bù tóc rối, mặc đồ vải gai, chân lấm bùn nhơ, đi đến, sau khi đến, nói với Thế Tôn:

4. − Này Sa-môn, Ngài có thấy con bò đực không?

5. − Nhưng này Ác ma, con bò đực đối với Ông là gì?

6. − Này Sa-môn, mắt là của ta, sắc là của ta, thức xứ do mắt xúc chạm là của ta. Này Sa-môn, Ngài có thể đi đâu để thoát khỏi ta?

Này Sa-môn, tai là của ta. Tiếng là của ta…

Này Sa-môn, mũi là của ta, hương là của ta…

Này Sa-môn, lưỡi là của ta, vị là của ta…

Này Sa-môn, thân là của ta, xúc là của ta…

Này Sa-môn, ý là của ta, pháp là của ta, thức xứ do ý xúc chạm là của ta. Này Sa-môn, Ngài có thể đi đâu để thoát khỏi ta không?

7. − Này Ác ma, mắt là của Ông, sắc là của Ông, thức xứ do mắt xúc chạm là của Ông. Và này Ác ma, chỗ nào không có mắt, không có sắc, không có thức xứ xúc chạm, thời chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma.

8. Này Ác ma, tai là của Ông, tiếng là của Ông, thức xứ do tai xúc chạm là của Ông. Và này Ác ma, chỗ nào không có tai, không có tiếng, không có thức xứ do tai xúc chạm, thời chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma.

9. Này Ác ma, mũi là của Ông, hương là của Ông, thức xứ do mũi xúc chạm là của Ông. Và này Ác ma, chỗ nào không có mũi, không có hương, không có thức xứ do mũi xúc chạm, thời chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma.

10. Này Ác ma, lưỡi là của Ông, vị là của Ông, thức xứ do lưỡi cảm xúc là của ông. Này Ác ma, chỗ nào không có lưỡi, không có vị, không có thức xứ do lưỡi xúc chạm, thời chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma. Này Ác ma, thân là của Ông, xúc là của Ông, thức xứ do thân xúc chạm là của Ông. Và này Ác ma, chỗ nào không có thân, không có xúc, không có thức xứ do thân xúc chạm, thời chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma.

11. Này Ác ma, ý là của Ông, pháp là của Ông, thức xứ do ý xúc chạm là của Ông. Và này Ác ma, chỗ nào không có ý, không có pháp, không có thức xứ do ý xúc chạm, thời này Ác ma, chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma.

12. − Sự vật được Ngài nói:
“Cái này là của tôi”.
Và những người đã nói:
“Cái này là của tôi”.
Nếu ở đây có ý,
Ðối với sự vật ấy,
Như vậy, này Sa-môn,
Ngài không thoát khỏi ta.

13. (Thế Tôn):

Sự vật được Ông nói:
“Cái này không của tôi”.
Và những người đã nói:
" Chúng không phải là tôi".
Này Ác ma, như vậy,
Ông có biết được chăng,
Cho đến Ông không thấy,
Con đường của Ta đi?

14. Rồi Ác ma… liền biến mất tại chỗ ấy.

SN 4.19 A Farmer Kassakasutta

At Sāvatthī.

Now at that time the Buddha was educating, encouraging, firing up, and inspiring the mendicants with a Dhamma talk about extinguishment. And those mendicants were paying attention, applying the mind, concentrating wholeheartedly, and actively listening.

Then Māra thought, “The ascetic Gotama is giving a Dhamma talk about extinguishment … and the mendicants are listening well. Why don’t I go and pull the wool over their eyes?”

Then Māra the Wicked manifested in the form of a farmer carrying a large plough on his shoulder. He held a long goad, his hair was messy, he was clad in sunn hemp, and his feet were muddy. He went up to the Buddha and said to him, “So, ascetic, did you happen to see any oxen?”

“But what have you to do with oxen, Wicked One?”

“Mine alone, ascetic, is the eye, mine are sights, mine is the field of eye contact consciousness. Where can you escape me, ascetic? Mine alone is the ear … nose … tongue … body … mind, mine are ideas, mine is the field of mind contact consciousness. Where can you escape me, ascetic?”

“Yours alone, Wicked One, is the eye, yours are sights, yours is the field of eye contact consciousness. Where there is no eye, no sights, no eye contact consciousness—you have no place there, Wicked One! Yours alone is the ear … nose … tongue … body … mind, yours are ideas, yours is the field of mind contact consciousness. Where there is no mind, no ideas, no mind contact consciousness—you have no place there, Wicked One!”

“The things they call ‘mine’,
and those who say ‘it’s mine’:
if your mind remains there,
you won’t escape me, ascetic!”

“The things they speak of aren’t mine;
I’m not someone who speaks like that.
So know this, Wicked One:
you won’t even see the path I take.”

Then Māra … vanished right there.

X. Thống Trị (S.i,116)

1. Một thời Thế Tôn ở Kosala, dưới chân núi Tuyết Sơn, tại một am thất nhỏ trong rừng.

2. Trong khi Thế Tôn Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Có thể chăng cai trị mà không giết hại, không để người giết hại; không chinh phục, không khiến người chinh phục; không sầu muộn, không khiến người sầu muộn một cách đúng pháp?”.

3. Rồi Ác ma, biết được tâm tư Thế Tôn như vậy, liền đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy cai trị. Thiện Thệ hãy cai trị không giết hại, không khiến người giết hại; không chinh phục, không khiến người chinh phục; không sầu muộn, không khiến người sầu muộn một cách đúng pháp.

4. − Này Ác ma, Ông thấy gì mà Ông nói với Ta như vậy: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy cai trị. Thiện Thệ hãy cai trị không giết hại, không khiến người giết hại…,… một cách đúng pháp”?

5. − Bạch Thế Tôn, bốn như ý túc đã được Thế Tôn tu tập, làm cho sung mãn, làm cho như thành cỗ xe, làm cho như thành căn cứ địa, kiên trì, chất chứa, khéo áp dụng. Và Bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn muốn núi Tuyết Sơn, vua các loài núi trở thành vàng, Thế Tôn có thể quyết định như vậy, và ngọn núi có thể trở thành vàng.

6. (Thế Tôn):

Dầu cho cả ngọn núi,
Trở thành toàn vàng ròng,
Cho đến hóa gấp đôi,
Cũng không thỏa mãn được,
Tham vọng của một người.
Biết vậy để hành trì,
Ai thấy rõ đau khổ,
Và nguyên nhân đau khổ,
Làm sao người như vậy,
Có khuynh hướng ái dục?
Sau khi biết sanh y
Là ràng buộc ở đời,
Người biết vậy nên học,
Giải trừ mọi buộc ràng.

7. Rồi Ác ma biết được: “Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta”, sầu khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.

SN 4.20 Ruling Rajjasutta

At one time the Buddha was staying in the land of the Kosalans, in a wilderness hut on the slopes of the Himalayas.

Then as he was in private retreat this thought came to his mind, “I wonder if it’s possible to rule legitimately, without killing or having someone kill for you; without conquering or having someone conquer for you; without sorrowing or causing sorrow?”

And then Māra the Wicked, knowing the Buddha’s train of thought, went up to him and said, “Rule, Blessed One! Rule, Holy One! Rule legitimately, without killing or having someone kill for you; without conquering or having someone conquer for you; without sorrowing or causing sorrow!”

“But what do you see, Wicked One, that you say this to me?”

“The Blessed One, sir, has developed and cultivated the four bases for psychic power, made them a vehicle and a basis, kept them up, consolidated them, and properly implemented them. If he wished, the Blessed One need only determine that the Himalaya, king of mountains, was gold, and it would turn into gold.”

"Take a golden mountain,
entirely of native gold, and double it—
it’s still not enough for one!
Knowing this, live a moral life.

When a person has seen where suffering comes from
how could they incline towards sensual pleasures?
Realizing that attachment is a snare in the world,
a person would train to remove it."

Then Māra the Wicked, thinking, “The Buddha knows me! The Holy One knows me!” miserable and sad, vanished right there.

III. Phẩm Thứ Ba (Thêm năm kinh)

I. Ða Số (S,i.117)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở giữa các vị Sakkà, tại Silàvatii

2. Lúc bấy giờ, nhiều Tỷ-kheo sống không xa Thế Tôn, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

3. Rồi Ác ma biến hình thành một Bà-la-môn, với búi tóc lớn, mặc áo bằng da con linh dương, già yếu, lưng còm như xà nhà, hơi thở hổn hển, tay cầm gậy bằng gỗ udumbara, đi đến các Tỷ-kheo ấy; sau khi đến, nói với các Tỷ-kheo:

− Chư Ðại đức xuất gia quá trẻ, niên thiếu, tóc còn đen nhánh, trong tuổi thanh xuân, trong thời trẻ thơ của tuổi đời, không thọ hưởng các dục. Chư Ðại đức hãy thọ hưởng các ái dục của con người, chớ có bỏ hiện tại và chạy theo những gì bị thời gian chi phối.

4. − Này Bà-la-môn, chúng tôi không bỏ hiện tại và chạy theo những gì bị thời gian chi phối. Và này Bà-la-môn, chúng tôi bỏ những gì bị thời gian chi phối và chạy theo hiện tại. Này Bà-la-môn, Thế Tôn đã nói các dục bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não, tai họa ở đấy càng nhiều hơn. Còn pháp này thuộc về hiện tại, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, và chỉ người trí mới tự mình giác hiểu.

5. Khi nghe nói vậy, Ác ma cúi đầu, le lưỡi, trên trán hiện ra ba đường nhăn, chống gậy bỏ đi.

6. Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

7. − Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con sống không xa Thế Tôn, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Rồi bạch Thế Tôn, một người Bà-la-môn, với búi tóc lớn, mặc áo bằng da con linh dương, già yếu, lưng còm như xà nhà, hơi thở hổn hển, tay cầm gậy bằng gỗ udumbara, đi đến chúng con; sau khi đến, nói với chúng con như sau:

" − Chư Ðại đức xuất gia quá trẻ, niên thiếu, tóc còn đen nhánh, trong buổi thanh xuân, trong thời trẻ thơ của tuổi đời, không thọ hưởng các dục. Chư Ðại đức, hãy thọ hưởng các ái dục của con người, chớ có bỏ hiện tại để chạy theo những gì bị thời gian chi phối".

8. Khi được nghe nói vậy, bạch Thế Tôn, chúng con nói với Bà la môn ấy:

" − Này Bà-la-môn, chúng tôi không bỏ hiện tại và chạy theo những gì bị thời gian chi phối. Và này Bàla-môn, chúng tôi bỏ những gì bị thời gian chi phối để chạy theo hiện tại. Này Bà-la-môn, Thế Tôn đã nói các dục bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não, tai họa ở đây càng nhiều hơn. Còn pháp này thuộc về hiện tại, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng và chỉ người trí mới tự mình giác hiểu".

9. Khi được nghe nói vậy, người Bà-la-môn ấy cúi đầu, le lưỡi, trên trán hiện ra ba đường nhăn, chống gậy rồi ra đi.

10. − Này các Tỷ-kheo, người ấy không phải là Bà-la-môn, chính là Ác ma đi đến để làm mờ mắt các Ông.

11. Rồi Thế Tôn biết được ý nghĩa này, ngay khi ấy nói lên bài kệ:

Ai thấy rõ khổ đau,
Và nguyên nhân đau khổ,
Làm sao người như vậy,
Có khuynh hướng các dục?
Sau khi biết sanh y
Là ràng buộc ở đời,
Người biết vậy nên học,
Giải trừ mọi buộc ràng.

Chapter Three

SN 4.21 Several Sambahulasutta

So I have heard. At one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans near Silāvatī.

Now at that time several mendicants were meditating not far from the Buddha, diligent, keen, and resolute.

Then Māra the Wicked manifested in the form of a brahmin with a large matted dreadlock, wearing an antelope hide. He was old, bent double, wheezing, and held a staff made of cluster fig tree wood. He went up to those mendicants and said, “You’ve gone forth while young, reverends. With pristine black hair, you’re blessed with youth, in the prime of life, and you’ve never flirted with sensual pleasures. Enjoy human sensual pleasures. Don’t give up what is apparent in the present to chase after what takes effect over time.”

“Brahmin, that’s not what we’re doing. We’re giving up what takes effect over time to chase after what is apparent in the present. For the Buddha says that sensual pleasures take effect over time; they give much suffering and distress, and they are all the more full of drawbacks. But this teaching is apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.”

When they had spoken, Māra the Wicked shook his head, waggled his tongue, raised his eyebrows until his brow puckered in three furrows, and departed leaning on his staff.

Then those mendicants went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened. The Buddha said, “Mendicants, that was no brahmin. That was Māra the Wicked who came to pull the wool over your eyes!”

Then, understanding this matter, on that occasion the Buddha recited this verse:

“When a person has seen where suffering comes from
how could they incline towards sensual pleasures?
Realizing that attachment is a snare in the world,
a person would train to remove it.”

II. Samiddhi (S.i,119)

1. Một thời Thế Tôn ở giữa các vị Sakkà, tại Silàvatii.

2. Lúc bấy giờ, Tôn giả Samiddhi sống không xa Thế Tôn, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

3. Rồi Tôn giả Samiddhi, trong khi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi bậc Ðạo Sư của ta là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi ta được xuất gia trong Pháp luật khéo giảng! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi những vị đồng Phạm hạnh với ta là những bậc trì giới và hành trì thiện pháp!”

4. Rồi Ác ma với tâm tư của mình biết được tâm tư của Tôn giả Samiddhi, liền đi đến Tôn giả Samiddhi. Sau khi đến, không xa Tôn giả Samiddhi, Ác ma hét lên tiếng hét to lớn, rùng rợn, khiến người ta nghĩ như là quả đất vỡ tung.

5. Rồi Tôn giả Samiddhi đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Samiddhi bạch Thế Tôn:

6. − Bạch Thế Tôn, con sống không xa Thế Tôn, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Bạch Thế Tôn, trong khi con Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi bậc Ðạo Sư của ta là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi ta được xuất gia trong Pháp luật khéo giảng! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi các vị đồng Phạm hạnh với ta là những bậc trì giới và hành trì thiện pháp!” Khi ấy, bạch Thế Tôn, không xa con, một tiếng hét to lớn rùng rợn khởi lên, khiến người ta nghĩ như là quả đất vỡ tung.

7. − Này Samiddhi, không phải quả đất vỡ tung đâu. Ðó là Ác ma đã đến để làm mờ mắt Ông. Này Samiddhi, Ông hãy đến tại chỗ ấy và sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

8. − Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Samiddhi vâng đáp Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, rồi ra đi.

9. Lần thứ hai, Tôn giả Samiddhi tại chỗ ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Lần thứ hai, trong khi Tôn giả Samiddhi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Thật lợi ích thay cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi bậc Ðạo Sư của ta là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta khi…,… và hành trì thiện pháp!”. Lần thứ hai, Ác ma biết được tư tưởng của Tôn giả Samiddhi…,… khiến người ta nghĩ như là quả đất vỡ tung.

10. Rồi Tôn giả Samiddhi, sau khi biết: “Ðây là Ác ma” liền nói lên bài kệ với Ác ma:

Ta với lòng tín ngưỡng,
Bỏ gia đình, xuất gia,
Niệm tuệ ta tăng trưởng,
Tâm tư ta Thiền định.
Dầu Ông tạo sắc gì,
Không làm ta sợ hãi.

11. Rồi Ác ma biết được: “Tỷ-kheo Samiddhi biết ta”, buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ.

SN 4.22 With Samiddhi Samiddhisutta

At one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans near Silāvatī.

Now at that time Venerable Samiddhi was meditating not far from the Buddha, diligent, keen, and resolute. Then as Venerable Samiddhi was in private retreat this thought came to his mind, “I’m so fortunate, so very fortunate, to have a teacher who is a perfected one, a fully awakened Buddha! I’m so fortunate, so very fortunate, to have gone forth in a teaching and training so well explained! I’m so fortunate, so very fortunate, to have spiritual companions who are ethical and of good character.”

And then Māra the Wicked, knowing Samiddhi’s train of thought, went up to him and made a terrifyingly loud noise close by him. It seemed as if the earth was shattering.

Then Samiddhi went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened. The Buddha said, “Samiddhi, that’s not the earth shattering. That’s Māra the Wicked come to pull the wool over your eyes! Go back to that same place, Samiddhi, and meditate, diligent, keen, and resolute.”

“Yes, sir,” replied Samiddhi. He got up from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving.

And for a second time Samiddhi was meditating in that same place, diligent, ardent, and resolute. And for a second time he had the same thought … and Māra made an earth-shattering noise.

Then Samiddhi addressed Māra the Wicked One in verse:

“I went forth out of faith
from the lay life to homelessness.
My mindfulness and wisdom are mature,
my mind is serene in immersion.
Make whatever illusions you want,
it won’t bother me.”

Then Māra the Wicked, thinking, “The mendicant Samiddhi knows me!” miserable and sad, vanished right there.

III. Godhika (S.i,120)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha, Veluvana, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2. Lúc bấy giờ, Tôn giả Godhika trú ở sườn núi Isigili, tại Kàlasilà.

3. Rồi Tôn giả Godhika sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, chứng được nhứt thời tâm giải thoát. Rồi Tôn giả Godhika lại thối thất nhất thời tâm giải thoát ấy.

4. Lần thứ hai, Tôn giả Godhika sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần và chứng được nhất thời tâm giải thoát. Và lần thứ hai, Tôn giả Godhika lại thối thất nhất thời tâm giải thoát ấy.

5. Lần thứ ba, Tôn giả Godhika sống… tâm giải thoát ấy.

6. Lần thứ tư, Tôn giả Godhika sống… tâm giải thoát ấy.

7. Lần thứ năm, Tôn giả Godhika sống… tâm giải thoát ấy.

8. Lần thứ sáu, Tôn giả Godhika sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, chứng được nhất thời tâm giải thoát. Lần thứ sáu, Tôn giả Godhika cũng thối thất nhất thời tâm giải thoát ấy.

9. Lần thứ bảy, Tôn giả Godhika sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, chứng được nhứt thời tâm giải thoát.

10. Rồi Tôn giả Godhika suy nghĩ: “Cho đến lần thứ sáu, ta bị thối thất nhất thời tâm giải thoát. Vậy nay ta hãy đem lại con dao”.

11. Rồi Ác ma biết được tâm tư của Tôn giả Godhika, liền đi đến Thế Tôn; sau khi đến nói lên bài kệ với Thế Tôn:

Ôi, bậc Ðại Anh hùng!
Ôi, bậc Ðại Trí tuệ!
Ngài chói sáng hào quang,
Thần lực và danh xưng.
Ngài vượt qua tất cả,
Mọi sân hận hãi hùng.
Con chân thành đảnh lễ,
Dưới chân bậc Pháp nhãn.
Ôi, bậc Ðại Anh hùng!
Bậc Chinh phục tử thần!
Ðệ tử Ngài muốn chết,
Ðang suy nghĩ đến chết.
Ôi, bậc Chói Hào quang!
Hãy ngăn chặn vị ấy.
Làm sao, bạch Thế Tôn,
Vị đệ tử của Ngài,
Hoan hỷ trong giáo lý,
Lại không chứng hữu học,

Còn muốn đoạt mạng sống?
Ôi, danh vọng thế gian!

12. Lúc bấy giờ, Tôn giả Godhika đã đem lại và sử dụng con dao.

13. Rồi Thế Tôn được biết: “Ðây là Ác ma”, liền nói lên bài kệ với Ác ma:

Như vậy là sở hành,
Của bậc Ðại Anh hùng,
Không còn nuôi ước vọng
Tạo thêm dòng sinh mạng,
Ðoạn tận ái, ái căn,
Godhika nhập diệt.

14. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, chúng ta hãy đi đến sườn núi Isigili, Kàlasilà, tại chỗ thiện nam tử Godhika đã đem lại và sử dụng con dao.

15. − Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

16. Rồi Thế Tôn cùng với một số đông Tỷ-kheo đi đến sườn núi Isigili, Kàlasilà, và Thế Tôn thấy từ đằng xa, Tôn giả Godhika đang nằm trên giường, với hai vai mở rộng (bị thương hay co quắp lại).

17. Lúc bấy giờ một làn khói đen tối đi về phía Ðông, đi về phía Tây, đi về phía Bắc, đi về phía Nam, đi về phía Trên, đi về phía Dưới.

18. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy làn khói đen tối ấy đi về phía Ðông, đi về phía Tây, đi về phía Bắc, đi về phía Nam, đi về phía Trên, đi về phía Dưới không?

− Bạch Thế Tôn, chúng con có thấy như vậy.

19. − Này các Tỷ-kheo, đó là Ác ma đang đi theo dõi thức của thiện nam tử Godhika: “Thức của thiện nam tử Godhika được an trú ở đâu?”. Và này các Tỷ-kheo, thiện nam tử Godhika đã nhập diệt, với thức không an trú ở đâu cả.

20. Rồi Ác ma tay cầm đờn thất huyền cầm màu vàng, đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên bài kệ:

Trên, dưới và bề ngang,
Bốn phương, các phương giữa,
Ta tìm, nhưng không gặp,
Godhika đi đâu.

21. (Thế Tôn):

Vị Anh hùng kiên chí,

Thường Thiền lạc, Thiền tư,
Ngày đêm đầy nhiệt tình,
Nhưng sự sống, không tham,
Chiến thắng quân thần chết,
Tái sanh không đi đến,
Chinh phục ái, ái căn,
Godhika nhập diệt.

22. Còn kẻ bị sầu muộn,
Từ nách rơi huyền cầm,
Dạ-xoa bị thất vọng,
Liền biến mất tại chỗ.

SN 4.23 With Godhika Godhikasutta

So I have heard. At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.

Now at that time Venerable Godhika was staying on the slopes of Isigili at the Black Rock. Then Venerable Godhika, meditating diligent, keen, and resolute, experienced temporary freedom of heart. But then he fell away from that temporary freedom of heart. For a second … third … fourth … fifth … sixth time Godhika experienced temporary freedom of heart. But for a sixth time he fell away from it. For a seventh time Godhika, meditating diligent, keen, and resolute, experienced temporary freedom of heart.

Then he thought, “I’ve fallen away from this temporary freedom of heart no less than six times. Why don’t I take my life?”

And then Māra the Wicked, knowing Godhika’s train of thought, went up to the Buddha and addressed him in verse:

"O great hero, O greatly wise!
Shining with power and glory.
You’ve gone beyond all threats and perils,
I bow to your feet, O Clear-eyed One!

Great hero, master of death,
your disciple longs for death,
he’s planning for it.
Stop him, O light-bringer!

For how, Blessed One, can a disciple of yours,
one who loves your teaching,
a trainee who hasn’t achieved their heart’s desire,
take his own life, O renowned one?"

Now at that time Venerable Godhika had already taken his life.

Then the Buddha, knowing that this was Māra the Wicked, addressed him in verse:

“This is how the attentive act,
for they don’t long for life.
Having plucked out craving, root and all,
Godhika is quenched.”

Then the Buddha said to the mendicants, “Come, mendicants, let’s go to the Black Rock on the slopes of Isigili where Godhika, who came from a good family, took his life.”

“Yes, sir,” they replied.

Then the Buddha together with several mendicants went to the Black Rock on the slopes of Isigili. The Buddha saw Godhika off in the distance lying on his cot, having cast off the aggregates.

Now at that time a cloud of black smoke was moving east, west, north, south, above, below, and in-between.

Then the Buddha said to the mendicants,

“Mendicants, do you see that cloud of black smoke moving east, west, north, south, above, below, and in-between?”

“Yes, sir.”

“That’s Māra the Wicked searching for Godhika’s consciousness, wondering: ‘Where is Godhika’s consciousness established?’ But since his consciousness is not established, Godhika is quenched.”

Then Māra, carrying his arched harp made from the pale timber of wood-apple, went up to the Buddha and addressed him in verse:

“Above, below, all round,
in the four quarters and in-between,
I’ve been searching without success:
where has that Godhika got to?”

"He was an attentive and steadfast sage,
a meditator who loved absorption.
By day and by night he applied himself,
without concern for his life.

He defeated the army of death,
and won’t return for any future life.
Having plucked out craving, root and all
Godhika is quenched."

So stricken with sorrow
that his harp dropped from his armpit,
that spirit, downcast,
vanished right there.

IV. Bẩy Năm (S.i,122)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Uruvelà trên bờ sông Neranjarà, dưới cây Ajapàla Nigrodha.

2. Lúc bấy giờ, Ác ma đi theo Thế Tôn trong suốt bảy năm, với hy vọng tìm cho được lỗi lầm, nhưng tìm không được.

3. Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên bài kệ với Thế Tôn:

Với tâm tư sầu muộn,
Ngài Thiền tư trong rừng,
Vì tài sản hao mòn,
Hay vì thèm tài sản?
Có thể tại xóm làng,
Ngài đã gây tội phạm.
Sao Ngài không làm thân
Với bà con xóm giềng?
Sao Ngài không có thể
Làm bạn với một ai?

4. (Thế Tôn):

Mọi sầu căn nhổ sạch,
Không tội phạm, Ta Thiền,
Không sầu muộn, Ta Thiền.
Mọi hữu ái, đoạn tận,
Vô lậu, Ta Thiền định,
Này Bà con phóng dật!

5. (Ác ma):

Sự vật được Ngài nói:
“Cái này là của tôi”.

Và những người đã nói:
“Cái này chính là tôi”.
Nếu ở đây móng ý,
Ðối với sự vật ấy,
Như vậy, này Sa-môn,
Ngài không thoát khỏi ta.

6. (Thế Tôn):

Sự vật được ông nói:
“Cái này không của tôi”
Và những người đã nói:
“Họ không phải là tôi”.
Hãy hiểu biết như vậy,
Này kẻ Ác ma kia!
Cho đến Ông không thấy,
Con đường của Ta đi.

7. (Ác ma):

Nếu Ngài chứng ngộ được,
Ðường an toàn bất tử,
Ngài hãy đi một mình.
Sao lại dạy người khác?

8. (Thế Tôn):

Người đi đến bờ kia,
Họ hỏi nước bất tử,
Ðược hỏi, Ta trả lời,
Cảnh giới vô dư y.

9. − Bạch Thế Tôn, ví như một hồ nước không xa làng hay thị trấn. Tại đấy có một con cua. Rồi bạch Thế Tôn, nhiều người con trai hay người con gái, từ làng ấy đi ra, đi đến hồ nước ấy. Sau khi đến, họ kéo con cua ấy lên khỏi nước và đặt nó trên đất liền. Bạch Thế Tôn, khi nào con cua ấy thò ra cái càng nào, những người con trai hay những người con gái ấy, lấy gậy hay lấy miểng sành chặt đứt, bẻ gãy hay đập nát cái càng ấy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con cua ấy, với mọi càng bị chặt đứt, bẻ gãy, đập nát, không thể bò xuống hồ nước ấy nữa. Ví như lúc trước có những lộn xộn, mâu thuẫn, xuyên tạc gì đã được Thế Tôn chặt đứt, bẻ gẫy, đập nát. Và nay, bạch Thế Tôn, với hy vọng tìm cho được lỗi lầm, con không thể đến gần Thế Tôn được.

10. Rồi Ác ma, trước mặt Thế Tôn, trong nỗi niềm thất vọng, nói lên bài kệ này:

Như quạ liệng hư không,
Thấy đá như miếng mỡ,
Tưởng rằng sẽ tìm được,
Miếng gì mềm và ngon.
Không tìm được gì ngon,
Liền từ đó bay đi,
Như quạ mổ hòn đá,

Thất vọng ta bỏ đi,
Giã từ Gotama.

11. Rồi Ác ma, sau khi nói lên những bài kệ ấy trước mặt Thế Tôn, từ chỗ ấy bỏ đi, rồi ngồi kiết-già trên đất, không xa Thế Tôn, im lặng, hổ ngươi, thụt vai, cúi đầu, sững sờ, câm miệng, lấy chiếc gậy cào trên đất.

SN 4.24 Seven Years of Following Sattavassānubandhasutta

So I have heard. At one time the Buddha was staying in Uruvelā at the goatherd’s banyan tree on the bank of the Nerañjarā River.

Now at that time Māra the Wicked had been following the Buddha for seven years hoping to find a vulnerability without success.

Then Māra the Wicked went up to the Buddha and addressed him in verse:

“Are you swamped by sorrow
- that you meditate in the forest?
Have you lost a fortune, or do you long for one?
Or perhaps you’ve committed
- some crime in the village?
Why don’t you get too close to people?
And why does no-one get close to you?”

“I’ve dug out the root of sorrow completely.
I practice absorption free of guilt or sorrow.
I’ve cut off all greed and prayer for future lives.
Undefiled, I practice absorption,
- O kinsman of the negligent!”

“The things they call ‘mine’,
and those who say ‘it’s mine’:
if your mind remains there,
you won’t escape me, ascetic!”

“The things they speak of aren’t mine;
I’m not someone who speaks like that.
So know this, Wicked One:
you won’t even see the path I take.”

“If you’ve discovered the path
that’s safe, and leads to freedom from death,
go and walk that path alone—
why teach it to anyone else?”

“Those crossing to the far shore
ask what’s beyond the domain of Death.
When I’m asked, I explain to them
the truth without attachments.”

"Sir, suppose there was a lotus pond not far from a town or village, and a crab lived there. Then several boys or girls would leave the town or village and go to the pond, where they’d pull out the crab and put it on dry land. Whenever that crab extended a claw, those boys or girls would snap, crack, and break it off with a stick or a stone. And when that crab’s claws had all been snapped, cracked, and broken off it wouldn’t be able to return down into that lotus pond.

In the same way, sir, the Buddha has snapped, cracked, and broken off all my twists, ducks, and dodges. Now I’m not able to approach the Buddha again in hopes of finding a vulnerability."

Then Māra the Wicked recited these verses of disappointment in the Buddha’s presence:

"A crow once circled a stone
that looked like a lump of fat.
‘Perhaps I’ll find something tender,’ it thought,
‘perhaps there’s something tasty.’

But finding nothing tasty,
the crow left that place.
Like the crow that pecked the stone,
I leave Gotama disappointed."

V. Những Người Con Gái (S.i,124)

1. Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục, đi đến Ác ma, sau khi đến, nói lên bài kệ này với Ác ma:

Cha thân yêu, sao cha
Lại thất vọng như vậy?
Vì ai, vì người nào,
Khiến cha phải sầu muộn?
Chúng con với ái dục,
Sử dụng như bẫy mồi,
Sẽ buộc chặt họ lại,
Như buộc chặt voi rừng,
Và dẫn họ đến cha,
Khiến họ quy phục cha.

2. (Ác ma):

Bậc La-hán, Thiện Thệ,
Bậc Chánh Giác ở đời,
Không dễ dùng ái dục,
Khéo nhiếp phục vị ấy.
Vị ấy đã vượt qua,
Lãnh vực của Ác ma,
Do vậy, ta sầu não,
Buồn phiền đến cực độ.

3. Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc, và Tham dục đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn:

− Thưa Sa-môn, chúng con xin hầu hạ dưới chân Ngài.

Nhưng Thế Tôn không chú ý đến, vì Ngài đã giải thoát vô thượng, đoạn tận mọi sanh y.

4. Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục đi qua phía một bên và suy nghĩ như sau: “Sở thích của con người cao thấp khác nhau. Vậy chúng ta biến hình thành một trăm thiếu nữ”.

5. Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục, sau khi biến hình thành một trăm thiếu nữ, liền đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn:

− Thưa Sa-môn, chúng con xin hầu hạ dưới chân Ngài.

Nhưng Thế Tôn không chú ý đến, vì Ngài đã giải thoát vô thượng, đoạn tận mọi sanh y.

6. Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục đi qua phía một bên và suy nghĩ như sau: “Sở thích của con người cao thấp khác nhau. Vậy chúng ta hãy biến hình thành một trăm thiếu phụ chưa sanh con”.

7. Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục sau khi biến thành một trăm thiếu phụ chưa sanh con, liền đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn:

− Thưa Sa-môn, chúng con xin hầu hạ dưới chân Ngài.

Nhưng Thế Tôn không chú ý đến, vì Ngài đã giải thoát vô thượng, đoạn tận mọi sanh y.

8. Rồi các nữ ma Khát ái…,… sau khi biến hình thành một thiếu phụ đã sanh một con, đi đến Thế Tôn…,… vì Ngài đã giải thoát vô thượng, đoạn tận mọi sanh y.

9. Rồi các nữ ma Khát ái…,… sau khi biến hình thành một thiếu phụ đã sanh hai con, đi đến Thế Tôn…,… vì Ngài đã giải thoát vô thượng, đoạn tận mọi sanh y.

10. Rồi các nữ ma Khát ái…,… sau khi biến hình thành một thiếu phụ trung niên, đi đến Thế Tôn…,… vì Ngài đã giải thoát vô thượng, đoạn tận mọi sanh y.

11. Rồi các nữ ma Khát ái…,… sau khi biến hình thành một phụ nữ lớn tuổi, đi đến Thế Tôn…,… Vì Ngài đã giải thoát vô thượng, đoạn tận mọi sanh y.

12. Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục đi qua một bên và nói như sau:

− Cha chúng ta nói thật đúng sự thật:

Bậc La-hán, Thiện Thệ,
Bậc Chánh Giác ở đời,
Không dễ dùng ái dục,
Khéo nhiếp phục vị ấy.
Vị ấy đã vượt qua,
Quyền lực của Ác ma,
Do vậy ta sầu não,
Buồn phiền đến cực độ.

13. Nếu chúng ta tấn công với phương tiện này, một Sa-môn hay Bà-la-môn nào chưa ly ái dục, người ấy sẽ bể tim, hay miệng hộc máu nóng, hay bị loạn tâm, hay bị cuồng ý. Ví như một cây lau xanh bị gặt hái sẽ héo hắt, khô cằn, tiều tụy. Cũng vậy, người ấy sẽ héo hắt, khô cằn, tiều tụy.

14. Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục đi đến Thế Tôn; sau khi đi đến, liền đứng một bên.

15. Ðứng một bên, nữ ma Khát ái nói lên bài kệ với Thế Tôn:

Với tâm tư sầu muộn,
Ngài Thiền tư trong rừng,
Vì tài sản hao mòn,
Hay vì thèm tài sản?
Có thể tại xóm làng,
Ngài đã gây tội phạm,
Sao Ngài không làm thân

Với bà con xóm giềng?
Sao Ngài không có thể
Làm bạn với một ai?

16. (Thế Tôn):

Với mục đích đạt thành,
Với thân tâm an tịnh,
Ta chiến thắng quân binh.
Hình sắc lạc, khả ái.
Ta độc tọa Thiền tư,
Chứng ngộ chơn an lạc,
Do vậy, giữa chúng sanh,
Ta không bạn một ai.
Làm bạn với một ai,
Ðối với Ta không cần.

17. Rồi nữ ma Bất lạc nói lên bài kệ với Thế Tôn:

Làm sao vị Tỷ-kheo,
Sống giữa nhiều (chướng ngại),
Ðã vượt năm bộc lưu,
Lại gắng vượt thứ sáu?
Làm sao Thiền tư được,
Giữa rất nhiều dục tưởng,
Ðược giữ ngoài vị ấy,
Không bắt vị ấy được?

18. (Thế Tôn):

Với thân được khinh an,
Với tâm khéo giải thoát,
Không còn các sở hành,
Chánh niệm, không tham trước,
Biết rõ được Chánh pháp,
Không tầm, tu Thiền định.
Không phẫn nộ, vọng niệm,
Không thụy miên, giải đãi,
Như vậy vị Tỷ-kheo,
Sống giữa nhiều chướng ngại,
Ðã vượt năm bộc lưu,
Lại gắng vượt thứ sáu,
Như vậy tu Thiền tư,
Giữa rất nhiều dục tưởng,
Ðược giữ ngoài vị ấy,
Không bắt vị ấy được.

19. Rồi nữ ma Tham dục, nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

Ðoạn tận được khát ái,

Sống giữa các chúng đoàn,
Phần lớn các chúng sanh,
Chắc chắn sẽ sống vậy.
Vị không tham trước này,
Sống từ bỏ đám đông,
Ðoạn tận dẫn quần sanh,
Thoát khỏi Ma vương quốc.

20. (Thế Tôn):

Thật vậy, chư Ðại Hùng,
Thật vậy, chư Như Lai,
Với chơn vi diệu pháp,
Hướng dẫn (mọi quần sanh),
Ðược Chánh pháp hướng dẫn,
Dầu có ganh tức gì,
Không thể không biết vậy.

21. Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục đi đến Ác ma.

22. Và Ác ma thấy các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục từ xa đi lại. Thấy vậy, Ác ma liền nói lên bài kệ:

Các Ngươi thật kẻ ngu,
Lấy cành sen phá đá,
Lấy móng tay đào núi,
Lấy răng nhai sắt thép.
Các Ngươi thật giống người,
Lấy đầu húc đá tảng,
Cố gắng tìm chân đứng,
Trong vực thẳm thâm sâu.
Các Ngươi thật giống người,
Lấy ngực đâm lao nhọn.
Thất vọng, các Ông đến,
Giã từ Gotama.

23. Trong áo xiêm lòe loẹt,
Con gái ma, chúng đến,
Khát ái và Bất lạc,
Cùng với nàng Tham dục.
Bậc Ðạo Sư quét sạch,
Các con gái Ác ma,
Như Thần gió quét sạch,
Các cây lá rơi rụng.

-ooOoo-

SN 4.25 Māra’s Daughters Māradhītusutta

And then Māra the Wicked, after reciting these verses of disillusionment in the Buddha’s presence, left that place. He sat cross-legged on the ground not far from the Buddha, silent, dismayed, shoulders drooping, downcast, depressed, with nothing to say, scratching the ground with a stick.

Then Māra’s daughters Craving, Delight, and Lust went up to Māra the Wicked, and addressed him in verse:

“Why so downhearted, dad?
What man are you upset about?
We’ll catch him with the snare of lust,
like an elephant in the wild.
We’ll tie him up and bring him back—
he’ll fall under your sway!”

“In this world he is the perfected one, the Holy One.
He’s not easily seduced by lust.
He has slipped free of Māra’s dominion;
that’s why I’m so upset.”

Then Māra’s daughters Craving, Delight, and Lust went up to the Buddha, and said to him, “We serve at your feet, ascetic.” But the Buddha ignored them, since he was freed with the supreme ending of attachments.

Then Craving, Delight, and Lust withdrew to one side to think up a plan. “Men have a diverse spectrum of tastes. Why don’t we each manifest in the form of a hundred young maidens?”

So that’s what they did. Then they went up to the Buddha and said to him, “We serve at your feet, ascetic.” But the Buddha still ignored them, since he was freed with the supreme ending of attachments.

Then Craving, Delight, and Lust withdrew to one side to think up a plan. “Men have a diverse spectrum of tastes. Why don’t we each manifest in the form of a hundred women who have never given birth?” So that’s what they did. Then they went up to the Buddha and said to him, “We serve at your feet, ascetic.” But the Buddha still ignored them, since he was freed with the supreme ending of attachments.

Then Craving, Delight, and Lust … each manifested in the form of a hundred women who have given birth once … women who have given birth twice … middle-aged women … old women … But the Buddha still ignored them, since he was freed with the supreme ending of attachments.

Then Craving, Delight, and Lust withdrew to one side and said, "What our father said is true:

‘In this world he is the perfected one, the Holy One.
He’s not easily seduced by lust.
He has slipped free of Māra’s dominion;
that’s why I’m so upset.’

For if we had come on to any ascetic or brahmin like this who was not free of lust, his heart would explode, or he’d spew hot blood from his mouth, or he’d go mad and lose his mind. He’d dry up, wither away, and shrivel up like a green reed that was mowed down."

Then Māra’s daughters Craving, Delight, and Lust went up to the Buddha, and stood to one side. Māra’s daughter Craving addressed the Buddha in verse:

“Are you swamped by sorrow
- that you meditate in the forest?
Have you lost a fortune, or do you long for one?
Or perhaps you’ve committed
- some crime in the village?
Why don’t you get too close to people?
And why does no-one get close to you?”

“I’ve reached the goal, peace of heart.
Having conquered the army
- of the likable and pleasant,
alone, practicing absorption, I awakened to bliss.
That’s why I don’t get too close to people,
and no-one gets too close to me.”

Then Māra’s daughter Delight addressed the Buddha in verse:

“How does a mendicant who has crossed five floods
usually meditate here while crossing the sixth?
How do they usually practice absorption
- so that sensual perceptions
are blocked out and don’t get hold of them?”

"With tranquil body and mind well freed,
without making plans, mindful, homeless;
understanding the teaching,
- they practice absorption not placing the mind;
they’re not shaking or drifting or rigid.

That’s how a mendicant who has crossed five floods
usually meditates here while crossing the sixth.
That’s how they usually practice absorption
- so that sensual perceptions
are blocked out and don’t get hold of them."

Then Māra’s daughter Lust addressed the Buddha in verse:

“He lives with his community after cutting off craving,
and many of the faithful will cross over for sure.
Alas, this homeless one will snatch many men away,
and lead them past the King of Death!”

“The great heroes they lead
by means of the true teaching.
When the Realized Ones are leading by the teaching,
how could anyone who knows be jealous?”

Then Māra’s daughters Craving, Delight, and Lust went up to Māra the Wicked. Māra the Wicked saw them coming off in the distance, and addressed them in verse:

"Fools! You drill into a mountain
with lotus stalks!
You dig up a hill with your nails!
You chew iron with your teeth!

You seek a footing in the deeps, as it were,
while lifting a rock with your head!
After attacking a stump with your breast, as it were,
you leave Gotama disappointed."

“They came in their splendor—
Craving, Delight, and Lust.
But the Teacher brushed them off right there,
like the gale, a fallen tuft.”