So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Then the nun Āḷavikā robed up in the morning and, taking her bowl and robe, entered Sāvatthī for alms. She wandered for alms in Sāvatthī. After the meal, on her return from almsround, she went to the Dark Forest seeking seclusion.
Then Māra the Wicked, wanting to make the nun Āḷavikā feel fear, terror, and goosebumps, wanting to make her fall away from seclusion, went up to her and addressed her in verse:
“There’s no escape in the world,
so what will seclusion do for you?
Enjoy erotic delights;
don’t regret it later.”
Then the nun Āḷavikā thought, “Who’s speaking this verse, a human or a non-human?”
Then she thought, “This is Māra the Wicked, wanting to make me feel fear, terror, and goosebumps, wanting to make me fall away from seclusion!”
Then Āḷavikā, knowing that this was Māra the Wicked, replied to him in verse:
"There is an escape in the world,
and I’ve personally experienced it with wisdom.
O Wicked One, kinsman of the negligent,
you don’t know that place.Sensual pleasures are like swords and spears;
the aggregates are their chopping block.
What you call erotic delight
has become no delight for me."
Then Māra the Wicked, thinking, “The nun Āḷavikā knows me!” miserable and sad, vanished right there.
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.
2. Tỷ-kheo-ni Alavikà, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthi để khất thực. Khất thực ở Sàvatthi xong, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, Tỷ-kheo-ni đi đến rừng Andha để tìm sự yên tĩnh viễn ly.
3. Ác ma muốn làm Tỷ-kheo-ni Alavikà run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn nàng từ bỏ yên tĩnh viễn ly, nên đi đến Tỷ-kheo-ni Alavikà và nói lên bài kệ:
Ðời không có xuất ly,
Sống viễn ly làm gì?
Hãy trọn hưởng dục lạc,
Chớ hối hận về sau.
4. Tỷ-kheo-ni Alavikà suy nghĩ: “Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay không phải người?”
5. Tỷ-kheo-ni Alavikà suy nghĩ: “Chính Ác ma muốn làm ta run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn làm ta từ bỏ yên tĩnh viễn ly nên đã nói lên bài kệ đó”.
6. Tỷ-kheo-ni Alavikà biết được: “Ðấy là Ác ma”, liền nói lên bài kệ:
Ở đời có xuất ly,
Nhờ trí tuệ, ta chứng.
Này Bà con phóng dật,
Biết sao được pháp ấy?
Ái dục như kiếm thương,
Ðài chém đầu các uẩn.
Ðiều Ông gọi dục lạc,
Ta gọi là bất lạc.
7. Ác ma biết được: “Tỷ-kheo-ni Alavikà đã biết ta”, nên buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.
At Sāvatthī.
Then the nun Somā robed up in the morning and, taking her bowl and robe, entered Sāvatthī for alms. She wandered for alms in Sāvatthī. After the meal, on her return from almsround, she went to the Dark Forest for the day’s meditation, plunged deep into it, and sat at the root of a tree to meditate.
Then Māra the Wicked, wanting to make the nun Somā feel fear, terror, and goosebumps, wanting to make her fall away from immersion, went up to her and addressed her in verse:
“That state’s very challenging;
it’s for the sages to attain.
It’s not possible for a woman,
with her two-fingered wisdom.”
Then the nun Somā thought, “Who’s speaking this verse, a human or a non-human?”
Then she thought, “This is Māra the Wicked, wanting to make me feel fear, terror, and goosebumps, wanting to make me fall away from immersion!”
Then Somā, knowing that this was Māra the Wicked, replied to him in verse:
"What difference does womanhood make
when the mind is serene,
and knowledge is present
as you rightly discern the Dhamma.Surely someone who might think:
‘I am woman’, or ‘I am man’,
or ‘I am’ anything at all,
is fit for Māra to address."
Then Māra the Wicked, thinking, “The nun Somā knows me!” miserable and sad, vanished right there.
1. Nhân duyên ở Sàvatthi.
Rồi Tỷ-kheo-ni Somà vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthi để khất thực.
2. Khất thực ở Sàvatthi xong, sau bữa ăn, trên con đường khất thực trở về, Tỷ-kheo-ni đi đến rừng Andha để nghỉ ban ngày. Sau khi đi sâu vào rừng, nàng ngồi dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày.
3. Ác ma muốn làm Tỷ-kheo-ni Somà run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn nàng từ bỏ Thiền định, liền đi đến Tỷ-kheo-ni Somà; sau khi đến, nói lên bài kệ với Tỷ-kheo-ni Somà:
Ðịa vị khó chứng đạt,
Chỉ Thánh nhân chứng đạt,
Trí nữ nhân hai ngón,
Sao hy vọng chứng đạt?
4. Tỷ-kheo-ni Somà suy nghĩ: “Ai đã nói bài kệ này? Người hay không phải người?”
5. Tỷ-kheo-ni Somà suy nghĩ: “Ðây là Ác ma muốn làm cho ta run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn ta từ bỏ Thiền định, nên đã nói lên bài kệ đó”.
6. Tỷ-kheo-ni Somà biết được : “Ðây là Ác ma”, liền nói lên bài kệ với Ác ma:
Nữ tánh chướng ngại gì,
Khi tâm khéo Thiền định,
Khi trí tuệ triển khai,
Chánh quán pháp vi diệu?
Ai tự mình tìm hỏi :
"Ta, nữ nhân, nam nhân,
Hay ta là ai khác?"
Xứng nói chuyện Ác ma,
Ác ma thật cân xứng.
7. Ác ma biết được: “Tỷ-kheo-ni Somà đã biết ta”, nên buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.
At Sāvatthī.
Then the nun Kisāgotamī robed up in the morning and, taking her bowl and robe, entered Sāvatthī for alms. She wandered for alms in Sāvatthī. After the meal, on her return from almsround, she went to the Dark Forest for the day’s meditation, plunged deep into it, and sat at the root of a tree to meditate.
Then Māra the Wicked, wanting to make the nun Kisāgotamī feel fear, terror, and goosebumps, wanting to make her fall away from immersion, went up to her and addressed her in verse:
“Why do you sit alone and cry
as if your children have died?
You’ve come to the woods all alone—
you must be looking for a man!”
Then the nun Kisāgotamī thought, “Who’s speaking this verse, a human or a non-human?”
Then she thought, “This is Māra the Wicked, wanting to make me feel fear, terror, and goosebumps, wanting to make me fall away from immersion!”
Then Kisāgotamī, knowing that this was Māra the Wicked, replied to him in verse:
"I’ve got over the death of children,
and I’m finished with men.
I don’t grieve or lament,
and I’m not afraid of you, sir!Relishing is destroyed in every respect,
and the mass of darkness is shattered.
I’ve defeated the army of death,
and live without defilements."
Then Māra the Wicked, thinking, “The nun Kisāgotamī knows me!” miserable and sad, vanished right there.
1. Nhân duyên ở Sàvatthi.
Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào Sàvatthi để khất thực.
2. Khất thực ở Sàvatthi xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì đi đến rừng Andha để nghỉ ban ngày; sau khi đi sâu vào rừng Andha, đến ngồi dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày.
3. Ác ma muốn làm cho Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến nàng từ bỏ Thiền định, liền đi đến Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì; sau khi đi đến, liền nói lên bài kệ với Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì:
Sao nàng như mất con,
Một mình, mặt ứa lệ.
Hay một mình vào rừng,
Ðể tìm đàn ông nào?
4. Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì suy nghĩ: “Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay không phải người?”
5. Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì suy nghĩ: “Ðây là Ác ma muốn làm ta run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến ta từ bỏ Thiền định nên đã nói lên bài kệ đó”.
6. Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì biết được: “Ðây là Ác ma”, liền nói lên bài kệ với Ác ma:
Con hại, đã qua rồi,
Ðàn ông đã chấm dứt,
Ta không sầu, không khóc,
Ta sợ gì các Ông?
Khắp nơi hỷ, ái đoạn,
Khối mê ám nát tan,
Chiến thắng quân thần chết,
Vô lậu, ta an trú.
7. Ác ma biết được: “Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì đã biết ta” nên buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.
At Sāvatthī.
Then the nun Vijayā robed up in the morning … and sat at the root of a tree for the day’s meditation.
Then Māra the Wicked, wanting to make the nun Vijayā feel fear, terror, and goosebumps, wanting to make her fall away from immersion, went up to her and addressed her in verse:
“You’re so young and beautiful,
and I’m a youth in my prime.
Come, my lady, let us enjoy
the music of a five-piece band.”
Then the nun Vijayā thought, “Who’s speaking this verse, a human or a non-human?”
Then she thought, “This is Māra the Wicked, wanting to make me feel fear, terror, and goosebumps, wanting to make me fall away from immersion!”
Then Vijayā, knowing that this was Māra the Wicked, replied to him in verse:
"Sights, sounds, tastes, smells,
and touches so delightful.
I hand them right back to you, Māra,
for I have no use for them.This body is foul,
decaying and frail.
I’m horrified and repelled by it,
and I’ve eradicated sensual craving.There are beings in the realm of luminous form,
and others stuck in the formless.
and also those peaceful attainments:
I’ve destroyed the darkness regarding all of them."
Then Māra the Wicked, thinking, “The nun Vijayā knows me!” miserable and sad, vanished right there.
1. Nhân duyên ở Sàvatthi.
Tỷ-kheo-ni Vijayà vào buổi sáng đắp y… và ngồi xuống dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày.
2. Ác Ma muốn làm cho Tỳ-kheo-ni Vijayà sợ hãi … muốn khiến nàng từ bỏ Thiền định, liền đi đến Tỳkheo-ni Vijayà; sau khi đến, nói lên bài kệ với Tỳ-kheo-ni Vijayà:
Nàng vừa trẻ, vừa đẹp,
Ta vừa trẻ, vừa xuân,
Với cung đàn năm điệu,
Nàng cùng ta vui hưởng.
3. Tỷ-kheo-ni Vijayà suy nghĩ : " Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay không phải người?"
4. Tỷ-kheo-ni Vijayà suy nghĩ : " Ðây là Ác ma… nói lên bài kệ đó."
5. Tỷ-kheo-ni Vijayà suy nghĩ : “Ðây là Ác ma”, liền nói lên bài kệ với Ác ma:
Sắc, tiếng, vị, hương, xúc,
Làm cho ý đam mê,
Ta nhường lại Ác ma,
Ta đâu có cần chúng.
Với thân bất tịnh này,
Dễ hư hoại mong manh,
Ta bực phiền, tủi hổ,
Dục ái được đoạn tận.
Họ sanh hưởng sắc giới,
Chúng vọng vô sắc giới,
Thiền chứng an tịnh ấy,
Mọi nơi, mê ám diệt.
6. Ác ma biết được: “Tỷ-kheo-ni Aijayà đã biết ta”, buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.
At Sāvatthī.
Then the nun Uppalavaṇṇā robed up in the morning … and stood at the root of a sal tree in full flower.
Then Māra the Wicked, wanting to make the nun Uppalavaṇṇā feel fear, terror, and goosebumps, wanting to make her fall away from immersion, went up to her and addressed her in verse:
“You’ve come to this sal tree all crowned with flowers,
and stand at its root all alone, O nun.
Your beauty is second to none;
silly girl, aren’t you afraid of rascals?”
Then the nun Uppalavaṇṇā thought, “Who’s speaking this verse, a human or a non-human?”
Then she thought, “This is Māra the Wicked, wanting to make me feel fear, terror, and goosebumps, wanting to make me fall away from immersion!”
Then Uppalavaṇṇā, knowing that this was Māra the Wicked, replied to him in verse:
"Even if 100,000 rascals like you
were to come here,
I’d stir not a hair nor panic.
I’m not scared of you, Māra, even alone.I’ll vanish,
or I’ll enter your belly;
I could stand between your eyebrows
and you still wouldn’t see me.I’m the master of my own mind,
I’ve developed the bases of psychic power well.
I’m free from all bonds,
and I’m not afraid of you, sir!"
Then Māra the Wicked, thinking, “The nun Uppalavaṇṇā knows me!” miserable and sad, vanished right there.
1. Nhân duyên Sàvatthi.
Rồi Tỷ-kheo-ni Uppalavannà vào buổi sáng đắp y… và đứng dưới gốc cây tala có trổ hoa.
2. Ác ma muốn làm cho Tỷ-kheo-ni Uppalavannà run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến nàng từ bỏ Thiền định, liền đi đến Tỷ-kheo-ni Uppalavannà.
3. Sau khi đến, Ác ma nói lên bài kệ này với Tỷ-kheo-ni Uppalavannà:
Này nàng Tỷ-kheo-ni,
Dưới gốc cây tala,
Ðang nở nụ trăm hoa,
Nàng đến đứng một mình,
Nhan sắc Nàng tuyệt đẹp,
Không ai dám sánh bằng!
Tại đây Nàng đã đến,
Trong tư thế như vậy,
Nàng ngu dại kia ơi,
Không sợ cám dỗ sao?
4. Tỷ-kheo-ni Uppalavannà suy nghĩ: “Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay là không phải người?”
5. Tỷ-kheo-ni Uppalavannà suy nghĩ: “Ðây là Ác ma… đã nói lên bài kệ đó.”
6. Tỷ-kheo-ni Uppalavannà biết được : “Ðây là Ác ma”, liền trả lời với bài kệ:
Trăm ngàn người cám dỗ,
Có đến đây như Ông,
Mảy lông ta không động,
Ta không gì sợ hãi.
Ác ma, ta không sợ,
Ta đứng đây một mình,
Ta có thể biến mất,
Hay vào bụng các Ông.
Ta đứng giữa hàng mi,
Ông không thấy ta được.
Với tâm khéo khiếp phục,
Thần túc khéo tu trì,
Ta thoát mọi trói buộc,
Ta đâu có sợ Ông?
Này Hiền giả Ác ma!
7. Ác ma biết được: “Tỷ-kheo-ni Uppalavannà đã biết ta”, buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.
At Sāvatthī.
Then the nun Cālā robed up in the morning … and sat at the root of a tree for the day’s meditation.
Then Māra the Wicked went up to Cālā and said to her, “Nun, what don’t you approve of?”
“I don’t approve of rebirth, sir.”
“Why don’t you approve of rebirth?
When you’re born, you get to enjoy sensual pleasures.
Who put this idea in your head:
‘Nun, don’t approve of rebirth’?”"Death comes to those who are born,
when you’re born you undergo sufferings—
killing, caging, misery—
that’s why you shouldn’t approve of rebirth.The Buddha taught me the Dhamma
for passing beyond rebirth,
for giving up all suffering;
he settled me in the truth.There are beings in the realm of luminous form,
and others stuck in the formless.
Not understanding cessation,
they return in future lives."
Then Māra the Wicked, thinking, “The nun Cālā knows me!” miserable and sad, vanished right there.
1. Nhân duyên ở Sàvatthi.
Tỷ-kheo-ni Càlà vào buổi sáng đắp y… ngồi dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày.
2. Ác ma đi đến Tỷ-kheo-ni Càlà; sau khi đến, nói với Tỷ-kheo-ni Càlà:
− Này Tỷ-kheo-ni, Nàng không vui thích gì?
− Này Hiền giả, ta không vui thích sanh.
− Sao Nàng không vui thích sanh?
− Khi đã sanh, phải thọ hưởng các dục.
− Này Tỷ-kheo-ni, ai dạy cho nàng: “Chớ có vui thích sanh”?
3. (Càlà):
Sanh ra rồi phải chết,
Ðã sanh thấy khổ đau,
Kiết sử trói gia hại,
Do vậy không thích sanh.
Ðức Phật thuyết giảng pháp,
Khiến vượt khỏi tái sanh,
Ðoạn trừ mọi khổ não,
Giúp ta trú chân thật.
Chúng sanh hướng sắc giới,
Họ vọng vô sắc giới,
Nếu không biết đoạn diệt,
Họ đi đến tái sanh.
4. Ác ma biết được: “Tỷ-kheo-ni Càlà đã biết ta”, buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.
At Sāvatthī.
Then the nun Upacālā robed up in the morning … and sat at the root of a tree for the day’s meditation.
Then Māra the Wicked went up to Upacālā and said to her, “Nun, where do you want to be reborn?”
“I don’t want to be reborn anywhere, sir.”
“There are the gods of the thirty-three,
- and those of Yama;
also the Joyful Deities,
the gods who love to imagine,
and the gods who control that imagined by others.
Set your heart on such places,
and you’ll undergo delight.”"The gods of the thirty-three,
- and those of Yama;
also the Joyful Deities,
the gods who love to imagine,
and the gods who control that imagined by others—
they’re bound with the bonds of sensuality;
they fall under your sway again.All the world is on fire,
all the world is smoldering,
all the world is ablaze,
all the world is rocking.My mind adores that place
where Māra cannot go;
it’s not shaking or burning,
and not frequented by ordinary people."
Then Māra the Wicked, thinking, “The nun Upacālā knows me!” miserable and sad, vanished right there.
1. Ở tại Sàvatthi.
2. Rồi Tỷ-kheo-ni Upacàlà, vào buổi sáng, đắp y… và ngồi xuống một gốc cây để nghỉ ban ngày… nói với Tỷ-kheo-ni Upacàlà:
− Này Tỷ-kheo-ni, Nàng muốn tái sanh tại chỗ nào?.
3. − Ta không muốn tái sanh tại một chỗ nào cả, này Hiền giả.
4.
Chư Thiên Ba mươi ba,
Dạ-ma, Ðâu-suất thiên,
Chư vị Hóa lạc thiên,
Tha hóa Tự tại thiên,
Nàng hãy hướng tâm này,
Ðến cảnh giới chư Thiên,
Rồi Nàng được tái sanh,
Hưởng an lạc cảnh ấy.
5.
Chư Thiên Ba mươi ba,
Dạ-ma, Ðâu-suất thiên,
Chư vị Hóa Lạc thiên,
Tha hóa, Tự tại thiên,
Vì ái dục trói buộc,
Lại bị ma chinh phục.
Toàn thế giới cháy đỏ,
Toàn thế giới hỏa thiêu,
Toàn thế giới bùng cháy,
Toàn thế giới rung động.
Không rung, không dao động,
Không hệ lụy, phàm phu,
Chỗ nào ma không đến,
Chỗ ấy ta vui thích.
6. Rồi Ác ma biết được… biến mất tại chỗ ấy.
At Sāvatthī.
Then the nun Sīsupacālā robed up in the morning … and sat at the root of a tree for the day’s meditation.
Then Māra the Wicked went up to Sīsupacālā and said to her, “Nun, whose creed do you believe in?”
“I don’t believe in anyone’s creed, sir.”
“In whose name did you shave your head?
You look like an ascetic,
but you don’t believe in any creed.
Why do you live as if lost?”"Followers of other creeds
are confident in their views.
But I don’t believe in their teaching,
for they’re no experts in the Dhamma.But there is one born in the Sakyan clan,
the unrivaled Buddha,
champion, dispeller of Māra,
everywhere undefeated,everywhere freed, and unattached,
the Clear-eyed One sees all.
He has attained the end of all deeds,
freed with the ending of attachments.
That Blessed One is my Teacher,
and I believe in his instruction."
Then Māra the Wicked, thinking, “The nun Sīsupacālā knows me!” miserable and sad, vanished right there.
1. Tại Sàvatthi.
Tỷ-kheo-ni Sisupacàlà vào buổi sáng đắp y… rồi ngồi xuống một gốc cây để nghỉ ban ngày.
2. Rồi Ác ma đi đến Tỷ-kheo-ni Sisupacàlà; sau khi đến, nói với Tỷ-kheo-ni Sisupacàlà:
− Này Tỷ-kheo-ni, Nàng thích thú tà giáo của ai không?
3. − Này Hiền giả, ta không thích thú tà giáo của ai cả.
4.
Vì ai Nàng trọc đầu,
Hiện tướng nữ Sa-môn?
Nàng không thích tà giáo,
Vậy nàng tu cho ai,
Này kẻ Ngu muội kia?
5. (Sisupacàlà):
Những kẻ tin tà kiến,
Thuộc ngoại đạo tà giáo.
Ta không thích pháp họ,
Ta không giỏi pháp họ!
Có dòng họ Thích-ca.
Ðản sanh Phật vô tỷ,
Ngài chinh phục tất cả,
Ngài đại phá chúng ma,
Tại mọi chỗ, mọi nơi,
Không ai chiến thắng Ngài.
Ngài giải thoát hoàn toàn,
Không bị gì triền phược.
Bậc Pháp nhãn thấy khắp;
Tất cả nghiệp đoạn diệt,
Giải thoát, diệt sanh y.
Thế Tôn, Ðạo Sư ta,
Ta thích giáo pháp Ngài.
6. Rồi Ác ma biết được… liền biến mất tại chỗ ấy.
At Sāvatthī.
Then the nun Selā robed up in the morning … and sat at the root of a tree for the day’s meditation.
Then Māra the Wicked, wanting to make the nun Selā feel fear, terror, and goosebumps … addressed her in verse:
“Who created this puppet?
Where is its maker?
Where has the puppet arisen?
And where does it cease?”
Then the nun Selā thought, “Who’s speaking this verse, a human or a non-human?”
Then she thought, “This is Māra the Wicked, wanting to make me feel fear, terror, and goosebumps, wanting to make me fall away from immersion!”
Then Selā, knowing that this was Māra the Wicked, replied to him in verse:
"This puppet isn’t self-made,
nor is this misery made by another.
It comes to be because of a cause,
and ceases when the cause breaks up.It’s like a seed that’s sown
in a field; it grows
relying on both the soil’s nutrients
as well as moisture.In the same way the aggregates and elements
and these six sense fields
come to be because of a cause,
and cease when the cause breaks up."
Then Māra the Wicked, thinking, “The nun Selā knows me!” miserable and sad, vanished right there.
1. Ở tại Sàvatthi.
Tỷ-kheo-ni Selà vào buổi sáng đắp y… ngồi dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày.
2. Rồi Ác ma muốn làm Tỷ-kheo-ni Selà run sợ… nói lên bài kệ với Tỷ-kheo-ni Selà:
Bởi vì bong bóng này,
Ðược tạo tác làm ra,
Ai là người sáng tạo,
Bong bóng như huyễn này?
Từ đâu bong bóng sanh?
Ði đâu bong bóng diệt?
3. Rồi Tỷ-kheo-ni Selà suy nghĩ: “Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay không phải người?”
4. Rồi Tỷ-kheo-ni Selà suy nghĩ: " Ðây là Ác ma, muốn làm ta run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến ta từ bỏ Thiền định, nên đã nói lên bài kệ ấy".
5. Rồi Tỷ-kheo-ni Selà được biết: “Ðây là Ác ma”, nên trả lời Ác ma với bài kệ:
Bong bóng như huyễn này,
Không phải tự ngã làm,
Sự vật bạc phước này,
Không phải người khác làm.
Do nhân duyên quy tụ,
Sự vật được hình thành,
Do nhân duyên tán ly,
Sự vật bị tiêu diệt.
Hột giống gieo vào ruộng,
Ðược nẩy mầm, sinh lộc,
Khi nhiễm thấm cả hai,
Vị đất và khí ướt.
Cũng vậy uẩn và giới,
Cùng với sáu xứ này,
Do nhân duyên quy tụ,
Chúng sẽ được hình thành,
Do nhân duyên tán ly,
Chúng bị hoại, tiêu diệt.
6. Rồi Ác ma biết được: “Tỷ-kheo-ni Selà đã biết ta”, nên buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.
At Sāvatthī.
Then the nun Vajirā robed up in the morning and, taking her bowl and robe, entered Sāvatthī for alms. She wandered for alms in Sāvatthī. After the meal, on her return from almsround, she went to the Dark Forest for the day’s meditation, plunged deep into it, and sat at the root of a tree to meditate.
Then Māra the Wicked, wanting to make the nun Vajirā feel fear, terror, and goosebumps, wanting to make her fall away from immersion, went up to her and addressed her in verse:
“Who created this sentient being?
Where is its maker?
Where has the being arisen?
And where does it cease?”
Then the nun Vajirā thought, “Who’s speaking this verse, a human or a non-human?”
Then she thought, “This is Māra the Wicked, wanting to make me feel fear, terror, and goosebumps, wanting to make me fall away from immersion!”
Then Vajirā, knowing that this was Māra the Wicked, replied to him in verse:
"Why do you believe there’s such a thing as a
- ‘sentient being’?
Māra, is this your theory?
This is just a pile of conditions,
you won’t find a sentient being here.When the parts are assembled
we use the word ‘chariot’.
So too, when the aggregates are present
‘sentient being’ is the convention we use.But it’s only suffering that comes to be,
lasts a while, then disappears.
Naught but suffering comes to be,
naught but suffering ceases."
Then Māra the Wicked, thinking, “The nun Vajirā knows me!” miserable and sad, vanished right there.
1. Ở tại Sàvatthi.
Tỷ-kheo-ni Vajirà vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthi để khất thực. Khất thực xong, sau bữa ăn, trên con đường khất thực trở về, Tỷ-kheo-ni Vajirà đi đến rừng Andha để nghỉ ban ngày, đi sâu vào rừng Andha và ngồi dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày.
2. Rồi Ác ma muốn làm Tỷ-kheo-ni Vajirà run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến nàng từ bỏ Thiền định, liền đi đến, nói lên bài kệ với Tỷ-kheo-ni Vajirà:
3.
Do ai, hữu tình này,
Ðược sanh, được tạo tác?
Người tạo hữu tình này,
Hiện nay ở tại đâu?
Từ đâu hữu tình sanh?
Ði đâu hữu tình diệt?
4. Rồi Tỷ-kheo-ni Vajirà suy nghĩ: “Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay không phải người?”
5. Rồi Tỷ-kheo-ni Vajirà lại suy nghĩ: “Chính là Ác ma muốn làm ta run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến ta từ bỏ Thiền định, nên đã nói lên bài kệ này”.
6. Rồi Tỷ-kheo-ni Vajirà biết được: “Ðây là Ác ma”, liền trả lời Ác ma với bài kệ:
Sao Ông lại nói hoài,
Ðến hai chữ chúng sanh?
Phải chăng, này Ác ma,
Ông rơi vào tà kiến?
Ðây quy tụ các hành,
Chúng sanh được hình thành,
Như bộ phận quy tụ,
Tên xe được nói lên.
Cũng vậy, uẩn quy tụ,
Thông tục gọi chúng sanh.
Chỉ có khổ được sanh,
Khổ tồn tại, khổ diệt,
Ngoài khổ, không gì sanh,
Ngoài khổ không gì diệt.
7. Rồi Ác ma biết được: “Tỷ-kheo-ni Vajirà đã biết ta”, nên buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.
-ooOoo-