So I have heard. At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.
Now at that time a certain brahmin lady of the Bhāradvāja clan named Dhanañjānī was devoted to the Buddha, the teaching, and the Saṅgha. Once, while she was bringing her husband his meal, she tripped and expressed this heartfelt sentiment three times:
"Homage to that Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha!
Homage to that Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha!
Homage to that Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha!"
When she said this, the brahmin said to Dhanañjānī:
“That’d be right. For the slightest thing this lowlife woman spouts out praise for that bald ascetic. Right now, lowlife woman, I’m going to refute your teacher’s doctrine!”
“Brahmin, I don’t see anyone in this world—with its gods, Māras, and Divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans—who can refute the doctrine of the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha. But anyway, you should go. When you’ve gone you’ll understand.”
Then the brahmin of the Bhāradvāja clan, angry and upset, went to the Buddha and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side, and addressed the Buddha in verse:
“When what is incinerated do you sleep at ease?
When what is incinerated is there no sorrow?
What is the one thing
whose killing you approve?”“When anger’s incinerated you sleep at ease.
When anger’s incinerated there is no sorrow.
O brahmin, anger has a poisonous root
and a honey tip.
The noble ones praise its killing,
for when it’s incinerated there is no sorrow.”
When he said this, the brahmin said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, worthy Gotama has made the teaching clear in many ways. I go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. May I receive the going forth, the ordination in the worthy Gotama’s presence?”
And the brahmin received the going forth, the ordination in the Buddha’s presence. Not long after his ordination, Venerable Bhāradvāja, living alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute, soon realized the supreme end of the spiritual path in this very life. He lived having achieved with his own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.
He understood: “Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.” And Venerable Bhāradvāja became one of the perfected.
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2. Lúc bấy giờ, nữ Bà-la-môn Dhananjàni, vợ một người Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja, có lòng tín thành đối với Phật, Pháp và Tăng.
3. Rồi nữ Bà-la-môn Dhananjàni, trong khi bưng cơm cho Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja, hứng khởi thốt lên ba lần lời cảm hứng: “Ðảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác ấy!”
4. Ðược nghe nói vậy, Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja nói với nữ Bà-la-môn Dhananjàni:
− Như vậy, trong mọi thời, mọi dịp, kẻ hạ tiện này nói lời tán thán vị Sa-môn trọc đầu ấy. Này kẻ Hạ tiện kia, ta sẽ luận phá bậc Ðạo Sư của Ngươi.
5. − Thưa Bà-la-môn, tôi không thấy trong thế giới chư Thiên, Ma giới hay Phạm thiên giới, trong chúng Sa-môn hay Bà-la-môn, giữa chư Thiên hay loài Người, không một ai có thể luận phá Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác. Vậy này Bà-la-môn, Ông hãy đi. Sau khi đi, Ông sẽ biết.
6. Rồi Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja phẫn nộ, không hoan hỷ, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
7. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Sát vật gì, được lạc?
Sát vật gì, không sầu?
Có một pháp loại gì,
Ngài tán đồng sát hại,
Tôn giả Gotama?
8. (Thế Tôn):
Sát phẫn nộ, được lạc
Sát phẫn nộ, không sầu,
Phẫn nộ với độc căn,
Với vị ngọt tối thượng,
Pháp ấy, bậc Hiền Thánh,
Tán đồng sự sát hại.
Sát pháp ấy, không sầu,
Này Bà-la-môn kia.
9. Ðược nghe nói vậy, Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja bạch Thế Tôn:
− Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Vậy nay con xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama cho con được xuất gia trước mặt Thế Tôn, cho con được thọ đại giới!
10. Và Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja được xuất gia trước mặt Thế Tôn, được thọ đại giới.
11. Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Bhàradvàja sống một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu chứng được mục đích mà các thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: Ðó là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa”.
12. Và Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.
The brahmin Bhāradvāja the Rude heard a rumor that a brahmin of the Bhāradvāja clan had gone forth from the lay life to homelessness in the presence of the ascetic Gotama. Angry and displeased he went to the Buddha and abused and insulted him with rude, harsh words. When he had spoken, the Buddha said to him:
“What do you think, brahmin? Do friends and colleagues, relatives and kin, and guests still come to visit you?”
“Sometimes they do, worthy Gotama.”
“Do you then serve them with fresh and cooked foods and savories?”
“Sometimes I do.”
“But if they don’t accept it, brahmin, who does it belong to?”
“In that case it still belongs to me.”
"In the same way, brahmin, when you abuse, harass, and attack us who do not abuse, harass, and attack, we don’t accept it. It still belongs to you, brahmin, it still belongs to you!
Someone who, when abused, harassed, and attacked, abuses, harasses, and attacks in return is said to eat the food and have a reaction to it. But we neither eat your food nor do we have a reaction to it. It still belongs to you, brahmin, it still belongs to you!"
“Concerning the worthy Gotama, the king and his retinue understand, ‘the ascetic Gotama is a perfected one’. And yet he still gets angry.”
"From where would come anger for one free of anger,
tamed, living justly,
freed by right knowledge,
peaceful and unaffected?When you get angry at an angry person
you just make things worse for yourself.
When you don’t get angry at an angry person
you win a battle hard to win.When you know that the other is angry,
you act for the good of both
yourself and the other
if you’re mindful and stay calm.People unfamiliar with the teaching
consider one who heals both
oneself and the other
to be a fool."
When he had spoken, Bhāradvāja the Rude said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! … I go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. Sir, may I receive the going forth, the ordination in the worthy Gotama’s presence?”
And the brahmin Bhāradvāja the Rude received the going forth, the ordination in the Buddha’s presence. Not long after his ordination, Venerable Bhāradvāja the Rude, living alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute, soon realized the supreme end of the spiritual path in this very life. He lived having achieved with his own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.
He understood: “Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.” And Venerable Bhāradvāja became one of the perfected.
1. Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2. Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja được nghe Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja đã xuất gia với Thế Tôn, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
3. Ông phẫn nộ, không hoan hỷ, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói những lời nói không tốt đẹp, ác ngữ, phỉ báng và nhiếc mắng Thế Tôn.
4. Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja:
− Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Các thân hữu bà con huyết thống, các khách có đến viếng thăm Ông không?
5. − Thưa Tôn giả Gotama, thỉnh thoảng, các thân hữu, bà con huyết thống, các khách có đến viếng thăm tôi.
6. − Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ông có sửa soạn cho họ các món ăn loại cứng, loại mềm và các loại đồ nếm không?
7. − Thưa Tôn giả Gotama, thỉnh thoảng tôi sửa soạn cho họ các món ăn loại cứng, loại mềm, các loại đồ nếm.
8. − Nhưng này Bà-la-môn, nếu họ không thâu nhận, thời các món ăn ấy về ai?
9. − Thưa Tôn giả Gotama, nếu họ không thâu nhận, thời các món ăn ấy về lại chúng tôi.
10. − Cũng vậy, này Bà-la-môn, nếu Ông phỉ báng chúng tôi là người không phỉ báng; nhiếc mắng chúng tôi là người không nhiếc mắng; gây lộn với chúng tôi là người không gây lộn; chúng tôi không thâu nhận sự việc ấy từ Ông, thời này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông. Này Bà-la-môn, sự việc ấy chỉ về lại Ông. Này Bà-la-môn, ai phỉ báng lại khi bị phỉ báng, nhiếc mắng lại khi bị nhiếc mắng, gây lộn lại khi bị gây lộn, thời như vậy, này Bà-la-môn, người ấy được xem là đã hưởng thọ, đã san sẻ với Ông. Còn chúng tôi không cùng hưởng thọ sự việc ấy với Ông, không cùng san sẻ sự việc ấy với Ông, thời này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông! Này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông!
11. Nhà vua và vương cung, vương thần nghĩ rằng: “Sa-môn Gotama là vị A-la-hán”. Tuy vậy Tôn giả Gotama nay đã phẫn nộ.
12. (Thế Tôn):
Với vị không phẫn nộ,
Phẫn nộ từ đâu đến?
Sống chế ngự, chánh mạng,
Giải thoát, nhờ chánh trí.
Vị ấy sống như vậy,
Ðời sống được tịch tịnh.
Những ai bị phỉ báng,
Trở lại phỉ báng người,
Kẻ ấy làm ác mình,
Lại làm ác cho người.
Những ai bị phỉ báng,
Không phỉ báng chống lại,
Người ấy đủ thắng trận,
Thắng cho mình, cho người.
Vị ấy tìm lợi ích,
Cho cả mình và người.
Và kẻ đã phỉ báng,
Tự hiểu, lắng nguôi dần.
Bậc Y sư cả hai,
Chữa mình, chữa cho người,
Quần chúng nghĩ là ngu,
Vì không hiểu Chánh pháp.
13. Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja bạch Thế Tôn:
− Thật là vi diệu thay, Tôn giả Gotama!..,… Con xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama cho con được xuất gia tu học với Tôn giả Gotama, được thọ đại giới.
14. Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja được xuất gia với Tôn giả Gotama, được thọ đại giới.
15. Ðược thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Akkosaka Bhàrahvàja sống một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần không bao lâu đạt được mục đích mà các thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến: Ðó là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, ngay trong hiện tại với thắng trí, tự mình giác ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa”.
16. Và Tôn giả Akkosaka Bhàradvàkja trở thành một vị A-la-hán nữa.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground. The brahmin Bhāradvāja the Fiend heard a rumor to the effect that a brahmin of the Bhāradvāja clan had gone forth from the lay life to homelessness in the presence of the ascetic Gotama. Angry and displeased he went to the Buddha and abused and insulted him with rude, harsh words.
But when he said this, the Buddha kept silent.
Then Bhāradvāja the Fiend said to the Buddha, “You’re beaten, ascetic, you’re beaten!”
"‘Ha! I won!’ thinks the fool,
when speaking with harsh words.
Patience is the true victory
for those who understand.When you get angry at an angry person
you just make things worse for yourself.
When you don’t get angry at an angry person
you win a battle hard to win.When you know that the other is angry,
you act for the good of both
yourself and the other
if you’re mindful and stay calm.People unskilled in Dhamma
consider one who heals both
oneself and the other
to be a fool."
When he had spoken, Bhāradvāja the Fiend said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! …” … And Venerable Bhāradvāja became one of the perfected.
1. Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2. Bà-la-môn Asurindaka Bhàradvàja nghe như sau: " Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja đã xuất gia với Thế Tôn, từ bỏ gia đình, sống không gia đình".
3. Phẫn nộ, không hoan hỷ, vị ấy đi đến Thế Tôn, sau khi đến, có những lời không tốt đẹp, ác ngữ, phỉ báng và nhiếc mắng Thế Tôn.
4. Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn giữ im lặng.
5. Rồi Bà-la-môn Asurindaka Bhàradvàja nói với Thế Tôn:
− Này Sa-môn, Ông đã bị chinh phục. Này Sa-môn, Ông đã bị chinh phục!
6. (Thế Tôn):
Kẻ ngu nghĩ mình thắng,
Khi nói lời ác ngữ,
Ai biết chịu kham nhẫn,
Kẻ ấy thật thắng trận.
Những ai bị phỉ báng,
Trở lại phỉ báng người,
Kẻ ấy làm ác mình,
Lại làm ác cho người.
Những ai bị phỉ báng,
Không phỉ báng đối lại,
Người ấy đã thắng trận,
Thắng cho mình cho người.
Vị ấy tìm lợi ích,
Cho cả mình và người,
Và kẻ đã phỉ báng,
Tự hiểu, lắng nguội dần.
Bậc y sư cả hai,
Chữa mình, chữa cho người,
Quần chúng nghĩ là ngu,
Vì không hiểu Chánh pháp.
7. Ðược nghe nói vậy, Bà-la-môn Asurindaka Bhàradvàja bạch Thế Tôn:
− Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama…,“… không còn trở lại đời sống này nữa.”
8. Và Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground. The brahmin Bhāradvāja the Bitter heard a rumor that a brahmin of the Bhāradvāja clan had gone forth from the lay life to homelessness in the presence of the ascetic Gotama. Angry and displeased he went to the Buddha and stood silently to one side.
Then the Buddha, knowing Bhāradvāja the Bitter’s train of thought, addressed him in verse:
“Whoever wrongs a man who has done no wrong,
a pure man who has not a blemish,
the evil backfires on the fool,
like fine dust thrown upwind.”
When he said this, the brahmin Bhāradvāja the Bitter said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! …” … And Venerable Bhāradvāja became one of the perfected.
1. Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha, Veluvana, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2. Bà-la-môn Bilangika Bhàradvàja được nghe: “Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja đã xuất gia với Sa-môn Gotama, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”.
3. Phẫn nộ, không hoan hỷ, vị ấy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, giữ yên lặng, đứng một bên.
4. Rồi Thế Tôn, với tâm tư của mình, biết được tâm tư của Bà-la-môn Bilangika Bhàradvàja, liền nói lên bài kệ cho Bà-la-môn Bilangika Bhàradvàja:
Ai hại người hiền thiện,
Thanh tịnh, không cấu nhiễm,
Ác hạnh được chín mùi,
Phản lại hại người ngu,
Chẳng khác gì ngược gió,
Lại tung vãi bụi trần.
5. Ðược nghe nói vậy, Bà-la-môn Bilangika Bhàradvaja bạch Thế Tôn:
− Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!.. Nay con quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và Tỷ-kheo Tăng. Mong cho con được xuất gia với Tôn giả Gotama…,…, Ðó là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, ngay trong hiện tại với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa”.
6. Và Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa.
At Sāvatthī.
Then the brahmin Bhāradvāja the Harmless went up to the Buddha, and exchanged greetings with him.
When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said, “I am Harmless, worthy Gotama, I am Harmless!”
“If you were really like your name,
then you’d be Harmless.
But a truly harmless person
does no harm by way of
body, speech, or mind;
they don’t harm anyone else.”
When he had spoken, the brahmin Bhāradvāja the Harmless said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! …” … And Venerable Bhāradvāja the Harmless became one of the perfected.
1. Nhân duyên tại Sàvatthi.
2. Rồi Bà-la-môn Ahimsaka Bhàradvàja đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
3. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Ahimsaka Bhàradvàja bạch Thế Tôn:
− Con là Ahimsaka, thưa Tôn giả Gotama! Con là Ahimsaka, thưa Tôn giả Gotama!.
4. (Thế Tôn):
Danh phải tương xứng người,
Người phải là bất hại!
Ai với thân, miệng, ý,
Không làm hại một ai,
Ai không hại người khác,
Người ấy thật bất hại.
5. Khi được nghe vậy, Bà-la-môn Ahimsaka Bhàradvàja bạch Thế Tôn:
− Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama…,“… không còn trở lui đời sống này nữa.”
6. Và Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa.
At Sāvatthī.
Then the brahmin Bhāradvāja of the Matted Hair went up to the Buddha, and exchanged greetings with him.
When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side, and addressed the Buddha in verse:
“Tangled within, tangled without:
these people are tangled in tangles.
I ask you this, Gotama:
who can untangle this tangle?”"A wise person grounded in ethics,
developing the mind and wisdom,
a keen and alert mendicant—
they can untangle this tangle.Those in whom greed, hate, and ignorance
have faded away;
the perfected ones with defilements ended—
they have untangled the tangle.Where name and form
cease with nothing left over;
as well as impingement and perception of form:
it’s there that the tangle is cut."
When he had spoken, Bhāradvāja of the Matted Hair said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! …” … And Venerable Bhāradvāja became one of the perfected.
1. Nhân duyên ở Sàvatthi.
2. Rồi Bà-la-môn Jatabhàradvàja đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
3. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Jatabhàradvàja nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Nội triền và ngoại triền,
Chúng sanh bị triền phược,
Con hỏi Gotama,
Ai thoát triền phược này?
4. (Thế Tôn)
Người có trí, trú giới,
Tu tập tâm và tuệ,
Nhiệt tâm và thận trọng,
Tỷ-kheo ấy thoát triền.
Với ai đã từ bỏ,
Tham sân và vô minh,
Bậc ứng cúng lậu tận,
Vị ấy thoát triền phược.
Chỗ nào danh và sắc
Ðược đoạn tận vô dư,
Ðoạn chướng ngại sắc tưởng,
Chỗ ấy triền phược đoạn.
5. Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Jatabhàradvàja bạch Thế Tôn:
− Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!..
6. Và Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa.
At Sāvatthī.
Then the brahmin Bhāradvāja the Pure went up to the Buddha, and exchanged greetings with him.
When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side, and recited this verse in his presence:
“No brahmin in the world is ever purified
even though he’s ethical and mortifies himself.
But one accomplished in knowledge and conduct
is purified, not these commoners.”"Even one who mutters many prayers
is no brahmin by birth
if they’re filthy and corrupt within,
supporting themselves by fraud.Regardless of whether you’re an aristocrat,
a brahmin, peasant, menial,
- or a corpse-worker or scavenger—
if you’re energetic and resolute,
always staunchly vigorous,
you’ll attain ultimate purity.
Know that for a fact, brahmin."
When he had spoken, the brahmin Bhāradvāja the Pure said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama …” … And Venerable Bhāradvāja became one of the perfected.
1. Tại Sàvatthi, Jetavana.
2. Rồi Bà-la-môn Suddhika Bhàradvàja đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
3. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Suddhika Bhàradvàja nói lên bài lệ này trước mặt Thế Tôn:
Không Bà-la-môn nào,
Dầu giữ giới, khổ hạnh,
Có thể được thanh tịnh,
Dầu ở thế giới nào.
Chỉ vị Minh Hạnh Túc,
Mới có thể thanh tịnh.
Không một quần chúng nào.
Ngoài vị hành như vậy.
4. (Thế Tôn):
Dầu lẩm bẩm nhiều chú,
Nhưng không vì thọ sanh,
Ðược gọi Bà-la-môn,
Nội ô nhiễm bất tịnh,
Y cứ trên lừa đảo,
Bà-la-môn, Phệ-xá,
Thủ-đà, Chiên-đà-la,
Kẻ đổ phẩn, đổ rác,
Tinh cần và tinh tấn,
Thường dõng mãnh tấn tu,
Ðạt được tịnh tối thắng,
Bà-la-môn nên biết!
5. Khi được nghe vậy, Bà-la-môn Suddhika Bhàradvàja bạch Thế Tôn:
− Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!..
6. Và Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.
Now at that time ghee and milk-rice had been set out for the brahmin Bhāradvāja the Fire-Worshiper, who thought, “I will serve the sacred flame! I will perform the fire sacrifice!”
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Rājagaha for alms. Wandering indiscriminately for almsfood in Rājagaha, he approached Bhāradvāja the Fire-Worshiper’s home and stood to one side.
Bhāradvāja the Fire-Worshiper saw him standing for alms and addressed him in verse:
“One who’s accomplished in the three knowledges,
of good birth and ample learning,
accomplished in knowledge and conduct
may enjoy this milk-rice.”"Even one who mutters many prayers
is no brahmin by birth
if they’re filthy and corrupt within,
with a following gained by fraud.One who knows their past lives,
sees heaven and places of loss,
and has attained the ending of rebirth,
is a sage of perfect insight.Because of these three knowledges
a brahmin is a master of the three knowledges.
Accomplished in knowledge and conduct,
they may enjoy this milk-rice."
“Eat, worthy Gotama! you are truly a brahmin.”
"Food enchanted by a verse isn’t fit for me to eat.
That’s not the principle of those who see, brahmin.
The Buddhas reject things enchanted with verses.
Since there is such a principle, brahmin,
- that’s how they live.Serve with other food and drink
the consummate one, the great seer,
with defilements ended and remorse stilled.
For he is the field for the seeker of merit."
When he had spoken, the brahmin Bhāradvāja the Fire-Worshiper said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! …” … And Venerable Bhāradvāja the Fire-Worshiper became one of the perfected.
1. Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha, Veluvana, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2. Lúc bấy giờ, một món ăn gồm gạo và sữa đông được sửa soạn cho Bà-la-môn Aggika Bhàradvàja để vị này sắp đặt: “Tôi sẽ tế lửa, tôi sẽ làm lễ cúng dường lửa”.
3. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào Ràjagaha để khất thực. Trong khi đi khất thực thứ lớp ở Ràjagaha, Thế Tôn đi đến trú xứ của Bà-la-môn Aggika Bhàradvàja; sau khi đến, Thế Tôn đứng một bên.
4. Bà-la-môn Aggika Bhàradvàja thấy Thế Tôn đi khất thực đến, thấy vậy liền nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Vị đầy đủ ba minh,
Thiện sanh và nghe nhiều,
Minh hạnh được trọn vẹn,
Hãy thọ món ăn này!
5. (Thế Tôn):
Dầu lẩm bẩm nhiều chú,
Nhưng không vì thọ sanh,
Ðược gọi Bà-la-môn.
Nội ô nhiễm bất tịnh,
Y cứ trên lừa đảo,
Thấy thiên giới ác thú,
Ðoạn diệt được tái sanh,
Thắng trí, bậc Mâu-ni,
Ðầy đủ ba minh này,
Ba minh, Bà-la-môn,
Minh hạnh được đầy đủ,
Hãy thọ món ăn này.
6. - Mong Tôn giả thọ lãnh món ăn này. Tôn giả Gotama thật là bậc Bà-la-môn.
7. (Thế Tôn):
Ta không có hưởng thọ,
Vì tụng hát kệ chú,
Thường pháp không phải vậy,
Ðối vị có tri kiến.
Chư Phật đã loại bỏ,
Tụng hát các kệ chú,
Chân thật niệm Chánh pháp,
Sở hành là như vậy.
Bậc Ðại Sĩ vẹn toàn,
Cúng dường phải khác biệt,
Ðoạn tận các lậu hoặc,
Dao động được lắng dịu.
Với những bậc như vậy,
Ăn uống phải cúng dường,
Thật chính là phước điền,
Cho những ai cầu phước.
8. Ðược nghe như vậy, Bà-la-môn Aggika Bhàradvàja bạch Thế Tôn:
− Thật vi diệu thay Tôn giả Gotama!..
9. Và Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa.
At one time the Buddha was staying in the Kosalan lands on the bank of the Sundarikā river.
Now at that time the brahmin Bhāradvāja of Sundarikā was serving the sacred flame and performing the fire sacrifice on the bank of the Sundarikā.
Then he looked all around the four quarters, wondering, “Now who might eat the leftovers of this offering?”
He saw the Buddha meditating at the root of a certain tree with his robe pulled over his head. Taking the leftovers of the offering in his left hand and a pitcher in the right he approached the Buddha. When he heard Bhāradvāja of Sundarikā’s footsteps the Buddha uncovered his head.
Bhāradvāja of Sundarikā thought, “This man is shaven, he is shaven!” And he wanted to turn back.
But he thought, “Even some brahmins are shaven. Why don’t I go to him and ask about his birth?”
Then the brahmin Bhāradvāja of Sundarikā went up to the Buddha, and said to him, “Sir, what are you by birth?”
"Don’t ask about birth, ask about conduct;
for the fire of Jātaveda is born from kindling.
A steadfast sage, even though from a low class family,
is a thoroughbred checked by conscience.Tamed by truth, fulfilled by taming,
a complete knowledge master
- who has completed the spiritual journey—
that’s who a sacrificer
- should introduce themselves to,
and make a timely offering
- to one worthy of a religious donation.""My sacrificial offering
- must have been well performed,
since I have met such a knowledge master!
It’s because I’d never met anyone like you
that others ate the leftover offering.
Eat, worthy Gotama, you are truly a brahmin."
"Food enchanted by a verse isn’t fit for me to eat.
That’s not the principle of those who see, brahmin.
The Buddhas reject things enchanted with verses.
Since there is such a principle, brahmin,
- that’s how they live.Serve with other food and drink
the consummate one, the great seer,
with defilements ended and remorse stilled.
For he is the field for the seeker of merit."
“Then, worthy Gotama, to whom should I give the leftovers of this offering?”
“Brahmin, I don’t see anyone in this world—with its gods, Māras, and Divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans—who can properly digest these leftovers, except for the Realized One or one of his disciples. Well then, brahmin, throw out those leftovers where there is little that grows, or drop them into water that has no living creatures.”
So Bhāradvāja of Sundarikā dropped the leftover offering in water that had no living creatures. And when those leftovers were placed in the water, they sizzled and hissed, steaming and fuming. Suppose there was an iron cauldron that had been heated all day. If you placed it in the water, it would sizzle and hiss, steaming and fuming. In the same way, when those leftovers were placed in the water, they sizzled and hissed, steaming and fuming.
Then the brahmin Bhāradvāja of Sundarikā, shocked and awestruck, went up to the Buddha, and stood to one side. The Buddha addressed him in verse:
"When you’re kindling the wood, brahmin,
don’t imagine this is purity, for it’s just an external.
For those who are skilled say this is no way to purity,
when one seeks purity in externals.I’ve given up kindling firewood, brahmin,
now I just light the inner flame.
Always blazing, always serene,
I am a perfected one leading the spiritual life.Conceit, brahmin, is the burden of your possessions,
anger your smoke, and lies your ashes.
The tongue is the ladle and the heart the fire altar;
a well-tamed self is a person’s light.The teaching is a lake with shores of ethics, brahmin,
unclouded, praised by the fine to the good.
There the knowledge masters go to bathe,
and cross to the far shore without getting wet.Truth, principle, restraint, the spiritual life;
the attainment of the supreme based on the middle,
- brahmin.
Pay homage to the sincere ones—
I declare that man to be
- one who follows the teaching."
When he had spoken, the brahmin Bhāradvāja of Sundarikā said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama …” … And Venerable Bhāradvāja became one of the perfected.
1. Một thời Thế Tôn ở giữa dân tộc Kosala, trên bờ sông Sundarika.
2. Lúc bấy giờ Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja tế lửa trên bờ sông Sundarika, làm lễ cúng dường lửa.
3. Rồi Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja sau khi tế lửa, làm lễ cúng dường lửa xong, từ chỗ ngồi đứng dậy, nhìn xung quanh tất cả bốn phương và nghĩ: “Ai có thể hưởng họ món ăn cúng tế còn lại này?”
4. Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja thấy Thế Tôn đang ngồi dưới gốc cây, đầu được bao trùm, thấy vậy, tay trái cầm món ăn cúng tế còn lại, tay phải cầm bình nước đi đến Thế Tôn.
5. Và Thế Tôn nghe tiếng chân của Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja liền tháo đồ trùm ở đầu.
6. Và Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja nghĩ: “Ðầu vị này trọc, vị này là người trọc đầu”, nghĩ vậy, muốn trở lui.
7. Rồi Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja lại suy nghĩ: "Trọc đầu ở đây, một số Bà-la-môn cũng như vậy.
Vậy ta hãy đến và hỏi vấn đề thọ sanh".
8. Rồi Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn:
− Thọ sanh Tôn giả là gì?
9. (Thế Tôn):
Chớ hỏi về thọ sanh,
Hãy hỏi về sở hành.
Tùy theo mọi thứ củi,
Ngọn lửa được sanh khởi.
Dầu thuộc nhà hạ tiện,
Bậc ẩn sĩ tinh cần,
Ðược xem như thượng sanh,
Biết tàm quý, trừ ác.
Ðiều thuận bởi chân lý,
Thuần thục trong hành trì,
Thông đạt các Thánh kinh,
Phạm hạnh được viên thành.
Tế vật đã đem lại,
Hãy cầu khẩn vị ấy,
Lễ tế làm đúng thời,
Vị ấy xứng cúng dường.
10. Sundarika:
Vật cúng này của con,
Thật sự khéo cúng dường,
Nay con đã thấy được,
Bậc sáng suốt như Ngài.
Con không thấy một ai
Có thể sánh được Ngài,
Không có người nào khác
Thọ hưởng vật cúng này.
Tôn giả Gotama,
Hãy thọ hưởng vật cúng.
Ngài thật là Bà-la-môn,
Là bậc đáng tôn trọng.
11. (Thế Tôn):
Ta không có hưởng thọ,
Vì tụng hát kệ chú,
Thường pháp không phải vậy,
Ðối vị có tri kiến.
Chư Phật đã loại bỏ
Tụng hát các kệ chú,
Chân thật niệm Chánh pháp,
Sở hành là như vậy.
Bậc Ðại Sĩ vẹn toàn,
Cúng dường phải khác biệt.
Ðoạn tận các lậu hoặc,
Trạo hối được lắng dịu,
Với những bậc như vậy,
Cơm nước phải cúng dường,
Thật chính là phước điền,
Cho những ai cầu phước.
12. − Vậy thưa Tôn giaủ Gotama, con phải cho ai vật cúng còn lại này?
13. − Này Bà-la-môn, trong toàn thế giới chư Thiên, Ma giới, Phạm thiên giới, trong chúng Sa-môn và Bà-la-môn, trong thế giới chư Thiên và loài Người, Ta không thấy một ai ăn vật cúng còn lại này có thể tiêu hóa được, ngoại trừ Như Lai hay đệ tử Như Lai. Này Bà-la-môn, vậy này Bà-la-môn, hãy quăng vật cúng còn lại này tại chỗ không có cỏ xanh, hay nhận chìm xuống nước, nơi không có loài hữu tình.
14. Rồi Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja nhận chìm vật cúng còn lại ấy vào trong nước, nơi không có loài hữu tình.
15. Vật cúng ấy khi được quăng vào trong nước liền xì lên, sôi lên, phun hơi và phun khói lên. Ví như lưỡi cày đốt nóng cả ngày, khi bỏ vào trong nước, bèn xì lên, sôi lên, phun hơi và phun khói lên. Cũng vậy, vật cúng còn lại ấy khi được quăng vào trong nước bèn xì lên, sôi lên, phun hơi và phun khói lên.
16. Rồi Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja hoảng hốt, lông tóc dựng ngược, đi đến Thế Tôn; sau khi đến liền đứng một bên.
17. Thế Tôn nói lên bài kệ cho Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja đang đứng một bên:
Này Bà-la-môn kia,
Chớ có nghĩ gì tịnh.
Sự sắp đặt củi lửa,
Như vậy chỉ bề ngoài.
Bậc thiện nhân dạy rằng,
Người ấy không thanh tịnh,
Với những ai chỉ muốn
Thanh tịnh mặt bên ngoài.
Này Bà-la-môn kia,
Ta từ bỏ củi lửa,
Ta chỉ nhen nhúm lên
Ngọn lửa từ nội tâm,
Ngọn lửa thường hằng cháy,
Thường nồng cháy nhiệt tình.
Ta là bậc La-hán,
Ta sống đời Phạm hạnh.
Này Bà-la-môn kia,
Người mang ách kiêu mạn,
Phẫn nộ là khói hương,
Vọng ngôn là tro tàn,
Lưỡi là chiếc muỗng tế,
Tâm là chỗ tế tự,
Tự ngã là ngọn lửa.
Còn người khéo điều phục,
Chánh pháp là ao hồ,
Giới là bến nước tắm,
Không cấu uế, trong sạch,
Ðược thiện nhơn tán thán,
Là chỗ bậc có trí,
Thường tắm, trừ uế tạp.
Khi tay chân trong sạch,
Họ qua bờ bên kia.
Chánh pháp là chân lý,
Tự chế là Phạm hạnh,
Chính con đường trung đạo,
Giúp đạt tối thắng vị,
Ðảnh lễ bậc trực tâm,
Ta gọi tùy pháp hành.
18. Khi được nói vậy, Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja bạch Thế Tôn:
− Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!..
19. Và Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa.
At one time the Buddha was staying in the land of the Kosalans in a certain forest grove.
Now at that time one of the brahmins of the Bhāradvāja clan had lost fourteen oxen. While looking for them he went to that forest grove, where he saw the Buddha sitting down cross-legged, his body set straight, and mindfulness established in his presence. He went up to the Buddha, and recited these verses in the Buddha’s presence:
"This ascetic mustn’t have
fourteen oxen
missing for the past six days:
that’s why this ascetic is happy.This ascetic mustn’t have
a field of sesame ruined,
with just one or two leaves:
that’s why this ascetic is happy.This ascetic mustn’t have
rats in a vacant barn
dancing merrily:
that’s why this ascetic is happy.This ascetic mustn’t have
carpets that for seven months
have been infested with fleas:
that’s why this ascetic is happy.This ascetic mustn’t have
seven widowed daughters
with one or two children each:
that’s why this ascetic is happy.This ascetic mustn’t have
a wife with sallow, blotchy skin
to wake him with a kick:
that’s why this ascetic is happy.This ascetic mustn’t have
creditors knocking at dawn,
warning, ‘Pay up! Pay up!’:
that’s why this ascetic is happy.""You’re right, brahmin, I don’t have
fourteen oxen
missing for the past six days:
that’s why I’m happy, brahmin.You’re right, brahmin, I don’t have
a field of sesame ruined,
with just one or two leaves:
that’s why I’m happy, brahmin.You’re right, brahmin, I don’t have
rats in a vacant barn
dancing merrily:
that’s why I’m happy, brahmin.You’re right, brahmin, I don’t have
carpets that for seven months
have been infested with fleas:
that’s why I’m happy, brahmin.You’re right, brahmin, I don’t have
seven widowed daughters
with one or two children each:
that’s why I’m happy, brahmin.You’re right, brahmin, I don’t have
a wife with blotchy, pockmarked skin
to wake me up with a kick:
that’s why I’m happy, brahmin.You’re right, brahmin, I don’t have
creditors knocking at dawn,
warning, ‘Pay up! Pay up!’:
that’s why I’m happy, brahmin."
When he had spoken, the brahmin said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! … As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, worthy Gotama has made the teaching clear in many ways. I go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. May I receive the going forth, the ordination in the worthy Gotama’s presence?”
And the brahmin received the going forth, the ordination in the Buddha’s presence. Not long after his ordination, Venerable Bhāradvāja, living alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute, soon realized the supreme end of the spiritual path in this very life. He lived having achieved with his own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.
He understood: “Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.” And Venerable Bhāradvāja became one of the perfected.
1. Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng.
2. Lúc bấy giờ, một Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja bị mất mười bốn con bò.
3. Rồi Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja trong khi đi tìm những con bò đực ấy, đi đến khu rừng kia; sau khi đến, thấy Thế Tôn ngồi kiết-già trong khu rừng ấy, lưng giữ thẳng và để chánh niệm trước mặt.
4. Thấy vậy, Bà-la-môn đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ này với Thế Tôn:
Với vị Sa-môn này,
Không có mười bốn bò,
Nên không thấy sáu mươi (ajjasatthi),
Do vậy được an lạc.
Với vị Sa-môn này,
Không có ruộng mè hư,
Một hai lá cây mè,
Do vậy được an lạc.
Với vị Sa-môn này,
Không kho trống, không chuột,
Chạy chơi và múa nhảy,
Do vậy được an lạc.
Với vị Sa-môn này,
Không tấm nệm bảy tháng,
Tràn đầy những chí rận,
Do vậy được an lạc.
Với vị Sa-môn này
Không bảy gái quả phụ
Hoặc một con, hai con,
Do vậy được an lạc.
Với vị Sa-môn này,
Không vợ đen, mặt rỗ.
Lấy chân thúc đá dậy,
Do vậy được an lạc.
Với vị Sa-môn này,
Không kẻ nợ buổi sáng,
Mắng nhiếc: “Hãy trả đi”
Do vậy được an lạc.
5. (Thế Tôn):
Bà-la-môn, với Ta,
Không có mười bốn bò,
Nên không thấy sáu mươi,
Do vậy Ta an lạc.
Bà-la-môn, với Ta,
Không có ruộng mè hư,
Một hai lá cây mè,
Do vậy Ta an lạc.
Bà-la-môn, với Ta,
Không kho trống, không chuột,
Chạy chơi và múa chảy,
Do vậy Ta an lạc.
Bà-la-môn, với Ta,
Không tấm nệm bảy tháng,
Tràn đầy những chí rận,
Do vậy Ta an lạc.
Bà-la-môn, với Ta,
Không bảy gái quả phụ,
Hoặc một con, hai con,
Do vậy Ta an lạc.
Bà-la-môn, với Ta,
Không vợ đen, mặt rỗ,
Lấy chân thúc đá dậy,
Do vậy Ta an lạc.
Bà-la-môn, với Ta,
Không kẻ nợ buổi sáng,
Mắng nhiếc: “Hãy trả đi”,
Do vậy Ta an lạc.
6. Ðược nghe nói vậy, Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja bạch Thế Tôn:
− Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thế thấy sắc.
Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Vậy nay con xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong cho con được xuất gia với Tôn giả Gotama, cho con được thọ đại giới.
7. Rồi Bà-la-môn Bhàradvàja được xuất gia với Tôn giả Gotama, được thọ đại giới.
8. Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Bhàradvàja ở một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Và không bao lâu, vị này chứng được mục đích tối cao mà các thiện nam tử đã xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình hướng đến: Ðó là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, ngay trong hiện tại tự mình với thượng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không có trở lại trạng thái này nữa”.
9. Và Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa.
So I have heard. At one time the Buddha was staying in the land of the Magadhans in the Southern Hills near the brahmin village of Ekanāḷa.
Now at that time the brahmin Bhāradvāja the Farmer had harnessed around five hundred plows, it being the season for sowing. Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to where Bhāradvāja the Farmer was working.
Now at that time Bhāradvāja the Farmer was distributing food. Then the Buddha went to where the distribution was taking place and stood to one side.
Bhāradvāja the Farmer saw him standing for alms and said to him, “I plough and sow, ascetic, and then I eat. You too should plough and sow, then you may eat.”
“I too plough and sow, brahmin, and then I eat.”
“I don’t see the worthy Gotama with a yoke or plow or plowshare or goad or oxen, yet he says: ‘I too plough and sow, brahmin, and then I eat.’”
Then Bhāradvāja the Farmer addressed the Buddha in verse:
“You claim to be a farmer,
but I don’t see you farming.
Tell me how you’re a farmer when asked:
how am I to recognize your farming?”"Faith is my seed, fervor my rain,
and wisdom is my yoke and plough.
Conscience is my pole, mind my strap,
mindfulness my plowshare and goad.Guarded in body and speech,
I restrict my intake of food.
I use truth as my scythe,
and sweetness is my release.Energy is my beast of burden,
transporting me to sanctuary from the yoke.
It goes without turning back
to where there is no sorrow.That’s how to do the farming
that has freedom from death as its fruit.
When you finish this farming
you’re released from all suffering."
“Eat, worthy Gotama, you are truly a farmer. For the worthy Gotama does the farming that has freedom from death as its fruit.”
"Food enchanted by a verse isn’t fit for me to eat.
That’s not the principle of those who see, brahmin.
The Buddhas reject things enchanted with verses.
Since there is such a principle, brahmin,
- that’s how they live.Serve with other food and drink
the consummate one, the great seer,
with defilements ended and remorse stilled.
For he is the field for the seeker of merit."
When he had spoken, the brahmin Bhāradvāja the Farmer said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama … From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Magadha, trên núi Nam Sơn, tại làng Bà-la-môn tên Ekanàlà.
2. Lúc bấy giờ là thời gian gieo mạ, và Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja sắp đặt sẵn sàng khoảng năm trăm lưỡi cày.
3. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến nông trường của Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja.
4. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja đang phân phát đồ ăn.
5. Thế Tôn đi đến chỗ phân phát đồ ăn, rồi đứng một bên.
6. Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja thấy Thế Tôn đang đứng một bên để khất thực, thấy vậy, bèn nói với Thế Tôn:
− Này Sa-môn, tôi cày và tôi gieo mạ; sau khi cày và gieo mạ, tôi ăn. Này Sa-môn, Ông có cày và gieo mạ không; sau khi cày và gieo mạ, Ông ăn?
7. − Này Bà-la-môn, Ta cũng có cày và gieo mạ, sau khi cày và gieo mạ, Ta ăn.
8. − Nhưng chúng tôi không thấy cái ách, cái cày, cái lưỡi cày, cái gậy đâm, hay các con bò đực của Tôn giả Gotama. Tuy vậy Tôn giả Gotama lại nói như sau: “Này Bà-la-môn, Ta cũng có cày và gieo mạ, sau khi cày và gieo mạ, Ta ăn”.
9. Rồi Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Ông nói là nông phu,
Ta không thấy Ông cày,
Người nông phu được hỏi,
Hãy lên tiếng trả lời,
Sao chúng tôi biết được,
Ông thật sự có cày?
10. (Thế Tôn):
Lòng tin là hạt giống,
Khổ hạnh là mưa móc,
Trí tuệ đối với Ta,
Là cày và ách mang,
Tàm quý là cán cày,
Ý căn là dây cột,
Chánh niệm đối với Ta,
Là lưỡi cày, gậy đâm.
Thân hành được hộ trì,
Khẩu hành được hộ trì
Ðối với các món ăn,
Bụng Ta dùng vừa phải,
Ta nhổ lên (tà vạy),
Với chơn lý sự thật,
Hoan hỷ trong Niết-bàn
Là giải thoát của Ta.
Tinh tấn đối với Ta,
Là khả năng mang ách,
Ðưa Ta tiến dần đến,
An ổn khỏi ách nạn,
Ði đến, không trở lui,
Chỗ Ta đi, không sầu.
Như vậy, cày ruộng này,
Ðưa đến quả bất tử,
Sau khi cày cày này,
Mọi đau khổ được thoát.
11. − Hãy ăn Tôn giả Gotama, Tôn giả Gotama thật là người nông phu. Tôn giả Gotama cày, sự cày đưa đến quả bất tử.
12. (Thế Tôn):
Ta không có hưởng thọ,
Vì tụng hát kệ chú,
Thường pháp không phải vậy,
Ðối vị có tri kiến.
Chư Phật đã loại bỏ,
Tụng hát các kệ chú,
Chơn thật đối với Pháp,
Sở hành là như vậy.
Bậc Ðại Sĩ vẹn toàn,
Cúng dường phải khác biệt,
Ðoạn tận các lậu hoặc,
Trạo hối được lắng dịu,
Với những bậc như vậy,
Cơm nước phải cúng dường.
Thật chính là phước điền,
Cho những ai cầu phước.
Ðược nghe nói vậy, Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja bạch Thế Tôn:
− Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối cho người có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Vậy nay con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
At Sāvatthī.
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to the home of the brahmin Udaya. Then Udaya filled the Buddha’s bowl with rice. The next day … and the day after that … Udaya filled the Buddha’s bowl with rice.
But when he had filled the Buddha’s bowl for a third time, he said to the Buddha, “This insatiable ascetic Gotama keeps coming back again and again!”
"Again and again, they sow the seed;
again and again, the king of the heavens sends rain;
again and again, farmers plough the field;
again and again, grain is produced for the nation.Again and again, the beggars beg;
again and again, the donors give.
Again and again, when the donors have given,
again and again, they take their place in heaven.Again and again, dairy farmers milk;
again and again, a calf cleaves to its mother;
again and again, oppressing and intimidating;
that dullard returns to the womb again and again.Again and again, you’re reborn and die;
again and again, you get carried to a charnel ground.
But when they’ve gained the path
- for no further rebirth,
one of vast wisdom is not reborn again and again."
When he had spoken, the brahmin Udaya said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama … From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
1. Nhân duyên ở Sàvatthi.
2. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng, cầm y bát đi đến trú xứ của Bà-la-môn Udaya.
3. Bà-la-môn Udaya lấy cơm đổ đầy bình bát của Thế Tôn.
4. Lần thứ hai Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của Bà-la-môn Udaya…
5. Lần thứ ba, Bà-la-môn Udaya lấy cơm đổ đầy bình bát Thế Tôn và nói với Thế Tôn:
(Thế Tôn):
Nhiều lần và nhiều lần,
Chúng gieo vãi hạt giống.
Nhiều lần và nhiều lần,
Trời mưa đi, mưa lại.
Nhiều lần và nhiều lần,
Người nông phu cày ruộng.
Nhiều lần và nhiều lần,
Lúa gạo đến quốc độ.
Nhiều lần và nhiều lần,
Hành khất lại xin ăn.
Nhiều lần và nhiều lần,
Thí chủ lại bố thí.
Nhiều lần và nhiều lần,
Thí chủ sau khi cho.
Nhiều lần và nhiều lần,
Ðược đi đến thiên giới.
Nhiều lần và nhiều lần,
Người làm sữa vắt sữa,
Nhiều lần và nhiều lần,
Bò con tìm bò mẹ.
Nhiều lần và nhiều lần,
Mệt sức và lao khổ.
Nhiều lần và nhiều lần,
Kẻ ngu nhập bào thai.
Nhiều lần và nhiều lần,
Lại sanh rồi lại chết.
Nhiều lần và nhiều lần,
Họ mang đến nghĩa địa.
Họ được đường giải thoát,
Không đưa đến tái sanh.
Bậc đại trí, đại tuệ,
Không sanh đi, sanh lại.
7. Khi được nói vậy, Bà-la-môn Udaya bạch Thế Tôn:
− Thật vi diệu thay Tôn giả Gotama… Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
At Sāvatthī.
Now at that time the Buddha was afflicted by winds. Venerable Upavāna was his carer.
Then the Buddha said to Upavāna, “Please, Upavāna, find some hot water for me.”
“Yes, sir,” replied Upavāna. He robed up, and, taking his bowl and robe, went to the home of the brahmin Devahita, and stood silently to one side.
Devahita saw him standing there and addressed him in verse:
“Silent stands the good fellow,
shaven, wrapped in his outer robe.
What do you want? What are you looking for?
What have you come here to ask for?”"The perfected one, the Holy One in the world,
the sage is afflicted by winds.
If there’s hot water,
give it to the sage, brahmin.I wish to bring it to the one
who is esteemed by the estimable,
honored by the honorable,
venerated by the venerable."
Then Devahita had a man fetch a carrying-pole with hot water. He also presented Upavāna with a jar of molasses.
Then Venerable Upavāna went up to the Buddha and bathed him with the hot water. Then he stirred molasses into hot water and presented it to the Buddha. Then the Buddha’s illness died down.
Then the brahmin Devahita went up to the Buddha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side, and addressed the Buddha in verse:
“Where should you give an available gift?
Where is a gift very fruitful?
How does one who is donating
ensure the success of their religious donation?”"One who knows their past lives,
sees heaven and places of loss,
and has attained the ending of rebirth,
is a sage of perfect insight.Here you should give an available gift;
what’s given here is very fruitful.
That’s how a sponsor of sacrifices
ensures the success of their religious donation."
When he had spoken, the brahmin Devahita said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama … From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
1. Nhân duyên ở Sàvatthi.
2. Lúc bấy giờ, Thế Tôn bị bịnh về phong khí và Tôn giả Upavàna là thị giả Thế Tôn.
3. Rồi Thế Tôn gọi Tôn giả Upavàna:
− Này Upavàna, Ông có biết làm sao cho Ta nước nóng?
4. − Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Upavàna vâng đáp Thế Tôn, đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ của Bà-la-môn Devahita; sau khi đến, đứng im lặng một bên.
5. Bà-la-môn Devahita thấy Tôn giả Upavàna đứng im lặng một bên, bèn nói lên bài kệ với Tôn giả Upavàna:
Tôn giả đứng im lặng,
Trọc đầu, choàng đại y,
Ông muốn gì, cầu gì?
Ông đến để xin gì?
6. Tôn giả:
Bậc La-hán, Thiện Thệ,
Hiện bị bịnh phong khí,
Nếu đây có nước nóng,
Hãy dâng bậc Ðại Thánh!
Xứng đáng được cúng dường,
Ngài đã được cúng dường.
Xứng đáng được tôn kính,
Ngài đã được tôn kính,
Xứng đáng được cung kính,
Ngài đã được cung kính,
Vì Ngài, tôi muốn được
Nước nóng để đem về.
7. Rồi Bà-la-môn Devahita bảo một người lấy đòn gánh gánh nước nóng và một bình đường mật, dâng cho Tôn giả Upavàna.
8. Rồi Tôn giả Upavàna đi đến Thế Tôn, dùng nước nóng tắm cho Thế Tôn, dùng đường mật pha với nước nóng dâng lên Thế Tôn dùng.
9. Và bệnh phong khí của Thế Tôn được nhẹ bớt.
10. Rồi Bà-la-môn Devahita đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
11. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Devahita nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Chỗ nào người thí chủ,
Xứng đáng nên bố thí?
Chỗ nào sự bố thí,
Ðưa đến quả báo lớn?
Cúng dường phải thế nào?
Cung kính phải thế nào?
12. (Thế Tôn):
Ai biết được đời trước,
Thấy Thiên giới, ác thú,
Ðoạn diệt được tái sanh,
Thắng trí, bậc Mâu-ni.
Nên bố thí vị ấy,
Bố thí được quả lớn.
Cúng dường phải như vậy,
Cung kính phải như vậy.
13. Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Devahita bạch Thế Tôn:
− Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!.. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng!
At Sāvatthī.
Then a certain well-to-do brahmin, shabby, wearing a shabby cloak, went up to the Buddha, and exchanged greetings with him.
When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side. The Buddha said to him, “Brahmin, why are you so shabby, wearing a shabby cloak?”
“Worthy Gotama, I have four sons. At their wives’ bidding they expelled me from my house.”
"Well then, brahmin, memorize these verses and recite them to your sons when you are all seated in the council hall with a large crowd.
‘I was overjoyed when they were born,
and wished for them the very best.
But at their wives’ bidding they chased me out,
like hounds after hogs.It turns out they’re wicked, those nasty men,
though they called me their dear old Dad.
They’re monsters in the shape of sons,
throwing me out as I’ve grown old.Like an old, useless horse
led away from its fodder,
the elderly father of those kids
begs for alms at others’ homes.Even my staff is better
than those disobedient sons,
for it wards off a wild bull,
and even a wild dog.It goes before me in the dark;
in deep waters it supports me.
By the wonderful power of this staff,
when I stumble, I stand firm again.'"
Having memorized those verses in the Buddha’s presence, the brahmin recited them to his sons when they were all seated in the council hall with a large crowd. …
Then the brahmin’s sons led him back home, bathed him, and each clothed him with a fine pair of garments. Then the brahmin, taking one pair of garments, went to the Buddha and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha:
“Worthy Gotama, we brahmins seek a fee for our tutor. May the worthy Gotama please accept my tutor’s fee!” So the Buddha accepted it out of sympathy. Then the well-to-do brahmin said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama … From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
1. Nhân duyên ở Sàvatthi.
2. Rồi một Bà-la-môn đại phú, dáng bộ tiều tụy, đắp y thô xấu, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
3. Thế Tôn nói với vị Bà-la-môn đại phú đang ngồi xuống một bên:
− Này Bà-la-môn, sao dáng bộ ông tiều tụy? Sao ông đắp y thô xấu?
4. − Thưa Tôn giả Gotama, ở đây bốn đứa con trai của con, chúng âm mưu với vợ của chúng, trục xuất con ra khỏi nhà.
5. − Vậy này Bà-la-môn, hãy đọc thuộc bài kệ này, và khi nào quần chúng hội họp trong thính đường và cả các người con cùng ngồi họp, hãy đọc lên bài kệ:
Khi chúng sanh, tôi mừng
Tôi muốn chúng sinh thành.
Cùng vợ, chúng âm mưu,
(Chống tôi và đuổi tôi),
Chẳng khác gì con chó,
Xua đuổi bầy heo lợn,
Ác độc và lỗ mãng,
Chúng gọi tôi: “Cha thân”.
Chúng thật quỷ Dạ-xoa,
Ðội lốt là con tôi,
Và chúng trục xuất tôi,
Khi tôi đến tuổi già,
Như ngựa già suy nhược,
Bị tẩn xuất chuồng ăn.
Nay cha già bọn trẻ,
Phải ăn xin nhà người,
Thà cho tôi cái gậy,
Hơn lũ con bất hiếu.
Với gậy, chận bò dữ,
Chận được loại chó dữ,
Chỗ tối dò an toàn,
Chỗ sâu, tìm chân đứng,
Với sức mạnh chiếc gậy,
Vấp ngã đứng dậy được.
6. Bà-la-môn đại phú ấy học thuộc lòng bài kệ này từ Thế Tôn. Khi quần chúng tụ hội tại thính đường và giữa các người con đang ngồi họp, vị ấy đọc lên bài kệ:
Khi chúng sanh, tôi mừng,
Tôi muốn chúng sinh thành.
Cùng vợ, chúng âm mưu,
(Chống tôi và đuổi tôi),
Chẳng khác gì con chó,
Xua đuổi bầy heo lợn.
Ác độc và lỗ mãng,
Chúng gọi tôi: “Cha thân”.
Chúng thật quỷ Dạ-xoa,
Ðội lốt là con tôi,
Và chúng trục xuất tôi,
Khi tôi đến tuổi già,
Như ngựa già, suy nhược,
Bị tẩn xuất chuồng ăn.
Nay cha già bọn trẻ,
Phải ăn xin nhà người.
Thà cho tôi cái gậy,
Hơn lũ con bất hiếu.
Với gậy, chận bò dữ,
Chận được loài chó dữ.
Chỗ tối, dò an toàn,
Chỗ sâu, tìm chân đứng,
Với sức mạnh chiếc gậy,
Vấp ngã, đứng dậy được.
8. Rồi những người con Bà-la-môn đại phú ấy, dắt người cha về nhà, tắm rửa và mỗi người đắp cho cha một bộ áo.
9. Rồi Bà-la-môn đại phú ấy cầm một bộ áo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
10. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn đại phú ấy bạch Thế Tôn:
− Thưa Tôn giả Gotama, chúng con Bà-la-môn, có dâng cúng sở phí cho bậc Ðạo Sư. Mong Tôn giả Gotama chấp nhận sở phí cho bậc Ðạo Sư của con.
11. Và Thế Tôn vì lòng từ chấp nhận.
12. Rồi Bà-la-môn đại phú ấy bạch Thế Tôn:
− Thật vi diệu thay Tôn giả Gotama!.. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
At Sāvatthī.
Now at that time a brahmin named Stuck-Up was residing in Sāvatthī. He didn’t bow to his mother or father, his tutor, or his oldest brother. Now, at that time the Buddha was teaching Dhamma, surrounded by a large assembly.
Then Stuck-Up thought, “The ascetic Gotama is teaching Dhamma, surrounded by a large assembly. Why don’t I approach him? If he speaks to me, I’ll speak to him. But if he doesn’t speak, neither will I.”
Then the brahmin Stuck-Up went up to the Buddha, and stood silently to one side. But the Buddha didn’t speak to him.
Then Stuck-Up thought, “This ascetic Gotama knows nothing!” And he wanted to go back from there right away.
Then the Buddha, knowing Stuck-Up’s train of thought, addressed him in verse:
“It’s not good to foster conceit
if you want what’s good for you, brahmin.
You should foster the goal
which brought you here.”
Then Stuck-Up thought, “The ascetic Gotama knows my mind!” He bowed with his head at the Buddha’s feet, caressing them and covering them with kisses, and pronounced his name: “Worthy Gotama, I am Stuck-Up! I am Stuck-Up!”
Then that assembly was stunned: “Oh lord, how incredible, how amazing! This brahmin Stuck-Up doesn’t bow to his mother or father, his tutor, or his oldest brother. Yet he shows such utmost devotion to the ascetic Gotama!”
Then the Buddha said to the brahmin Stuck-Up, “Enough, brahmin. Get up, and take your own seat. For your mind has confidence in me.”
Then Stuck-Up took his seat and said to the Buddha:
“Regarding whom should you not be conceited?
Who should you respect?
Who should you esteem?
Who is it good to venerate properly?”"Your mother and father,
and also your oldest brother,
with tutor as fourth.
Regarding these you should not be conceited.
They are who you should respect.
They are who you should esteem.
And they’re who it’s good to venerate properly.And when you’ve humbled conceit,
- and aren’t stuck-up,
show supreme reverence for
the perfected ones, cooled,
their task complete, free of defilements."
When he had spoken, the brahmin Stuck-Up said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama … From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
1. Nhân duyên tại Sàvatthi.
2. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn tên Mànatthada trú ở Sàvatthi. Vị này không cung kính mẹ, không cung kính cha, không cung kính Ðạo sư, không cung kính anh trưởng.
3. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang thuyết pháp, có đại chúng đoanh vây.
4. Rồi Bà-la-môn Mànatthada suy nghĩ như sau: “Sa-môn Gotama nay đang thuyết pháp có đại chúng đoanh vây. Vậy ta hãy đi đến Sa-môn Gotama. Nếu Sa-môn Gotama nói chuyện với ta, ta cũng sẽ nói chuyện với Sa-môn Gotama. Nếu Sa-môn Gotama không nói chuyện với ta, ta cũng sẽ không nói chuyện với Sa-môn Gotama”.
5. Rồi Bà-la-môn Mànatthada đi đến Thế Tôn; sau khi đến, liền đứng một bên và im lặng.
6. Và Thế Tôn không nói chuyện với Bà-la-môn ấy.
7. Bà-la-môn Mànatthada suy nghĩ: “Sa-môn Gotama này không biết gì hết”, bèn muốn trở về.
8. Rồi Thế Tôn với tâm tư của mình biết được tâm tư của Bà-la-môn Mànatthada, liền nói lên bài kệ với Bà-la-môn Mànatthada:
Hỡi này Bà-la-môn,
Kiêu mạn không có tốt,
Ở đây không có ai,
Bà-la-môn nên biết.
Ông đến, mục đích gì,
Hãy nói lên cho biết?
9. Bà-la-môn Mànatthada suy nghĩ: “Sa-môn Gotama biết tâm tư của ta”, cúi đầu đảnh lễ chaân Thế Tôn, lấy miệng hôn chân Thế Tôn, lấy tay thoa vuốt và nói lên tên của mình:
− Tôn giả Gotama, con là Mànatthada. Tôn giả Gotama, con là Mànatthada.
10. Rồi đại chúng ấy tâm khởi lên kinh dị vi diệu: “Thật là vi diệu, thưa Ngài! Thật là hy hữu, thưa Ngài! Bà-la-môn Mànatthada không bao giờ cung kính mẹ, không bao giờ cung kính cha, không bao giờ cung kính Ðạo sư, không bao giờ cung kính anh trưởng, nay lại hạ mình tột cùng như vậy trước Sa-môn Gotama.”
11. Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn Mànatthada:
− Thôi vừa rồi Bà-la-môn. Hãy đứng dậy và ngồi lại trên ghế của Ông. Lòng tín thành của Ông đối với Ta từ đâu đến?
12. Rồi Bà-la-môn Mànatthada sau khi ngồi trên ghế của mình, nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Ðối ai không nên kiêu?
Ðối ai nên kính trọng?
Ðối ai nên tôn kính?
Cúng dường ai, tốt lành?
13. (Thế Tôn):
Với mẹ và với cha,
Với anh nhiều tuổi hơn,
Với thầy là thứ tư,
Không nên sanh kiêu mạn,
Nên kính trọng vị ấy,
Nên tôn kính vị ấy,
Cúng dường họ, tốt lành.
Các bậc A-la-hán,
Thanh lương, lậu hoặc đoạn,
Việc nên làm đã làm,
Hãy nhiếp phục kiêu mạn,
Bậc Vô thượng tôn ấy,
Ông thật nên đảnh lễ.
14. Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Mànatthada bạch Thế Tôn:
− Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!.. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
At Sāvatthī.
Now at that time a brahmin named Contraphile, who loved contradiction, was residing in Sāvatthī.
Then Contraphile thought, “Why don’t I go to the ascetic Gotama and contradict everything he says?”
At that time the Buddha was walking mindfully in the open air.
Then the brahmin Contraphile went up to the Buddha, and said to him as he was walking, “Ascetic, preach the Dhamma.”
"Fine words aren’t easy to understand
by a lover of contradiction,
whose mind is tainted
and full of aggression.But when you’ve dispelled aggression,
and your suspicious mind,
and you’ve got rid of resentment,
then you’ll understand fine words."
When he had spoken, the brahmin Contraphile said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! … From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
1. Nhân duyên ở Sàvatthi.
2. Lúc bấy giờ Bà-la-môn tên là Paccaniikasàta ở tại Sàvatthi.
3. Rồi Bà-la-môn Paccaniikasàta suy nghĩ như sau: “Ta hãy đi đến Sa-môn Gotama, và Sa-môn Gotama có nói điều gì, ta sẽ nói lời phản ngược lại”.
4. Lúc bấy giờ Thế Tôn đang đi kinh hành ngoài trời.
5. Rồi Ba-la-môn Paccaniikasàta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn đang đi kinh hành:
− Này Sa-môn, hãy thuyết pháp.
6. (Thế Tôn):
Không thuyết pháp với ông,
Này Paccanìka!
Tâm ông thật ô uế,
Và đầy những thù hận,
Làm sao biết tốt đẹp,
Làm sao nói tốt đẹp!
Ai nhiếp phục thù hận,
Nhiếp phục tâm chống đối,
Từ bỏ mọi sân tâm,
Vị ấy biết tốt đẹp,
Vị ấy nói tốt đẹp.
7. Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Paccaniikasàta bạch Thế Tôn:
− Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!.. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
At one time the Buddha was staying in the land of the Kosalans in a certain forest grove.
Now at that time the brahmin Bhāradvāja the Builder was doing some building work in that jungle thicket. He saw the Buddha sitting down cross-legged at the root of a certain sal tree, his body set straight, and mindfulness established in his presence.
Seeing this, it occurred to him, “I enjoy doing this building work here in the jungle. I wonder what the ascetic Gotama enjoys doing?”
Then Bhāradvāja the Builder went up to the Buddha and addressed him in verse:
“What kind of work do you do
as a mendicant in the sal jungle?
How do you find enjoyment
alone in the wilderness, Gotama?”“There’s nothing I need to do in the jungle;
my jungle’s cut down at the root, it’s withered away.
With jungle cleared and free of thorns,
I enjoy being alone in the jungle,
- having given up discontent.”
When he had spoken, the brahmin Bhāradvāja the Builder said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama … From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
1. Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng.
2. Lúc bấy giờ Bà-la-môn Navakammika Bhàradvàa đang làm công việc tại khu rừng ấy.
3. Bà-la-môn Navakammika thấy Thế Tôn ngồi kiết-già dưới gốc cây, lưng thẳng và để niệm trước mặt.
4. Thấy vậy, vị Bà-la-môn suy nghĩ: “Ta thích làm việc về củi gỗ tại khu rừng này. Còn Sa-môn Gotama thời thích làm việc gì?”
5. Rồi Bà-la-môn Navakammika đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Nay Ông làm việc gì,
Trong rừng cây sa-la,
Khiến Ông sống một mình,
Vui gì Ông tìm được,
Tỷ-kheo Gotama?
6. (Thế Tôn):
Ta không phải làm gì,
Trong khu rừng (sa-la).
Với Ta, rễ đã cắt,
Cả khu rừng rậm rạp,
Như vậy Ta được thoát,
Mọi rừng rú chông gai.
Tâm Ta không bị đâm,
Một mình sống an lạc,
Ðoạn trừ mọi bất mãn,
Sống thích thú hoan hỷ.
7. Ðược nghe nói vậy, Bà-la-môn Navakammika Bhàradvàja bạch Thế Tôn:
− Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!.. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
At one time the Buddha was staying in the land of the Kosalans in a certain forest grove.
Then several students, pupils of one of the Bhāradvāja brahmins, approached a forest grove while collecting firewood. They saw the Buddha sitting down cross-legged at the root of a certain sal tree, his body set straight, and mindfulness established in his presence. Seeing this, they went up to Bhāradvāja and said to him, “Please sir, you should know this. In such and such a forest grove the ascetic Gotama is sitting down cross-legged, his body set straight, and mindfulness established in his presence.”
Then Bhāradvāja together with those young students went to that forest grove where he saw the Buddha sitting down cross-legged, his body set straight, and mindfulness established in his presence.
He went up to the Buddha and addressed him in verse:
"Deep in the jungle so full of terrors,
you’ve plunged into the empty, desolate wilderness.
Still, steady, and graceful:
how beautifully you meditate, mendicant!Where there is no song or music,
a lonely sage resorts to the wilderness.
This strikes me as an amazing thing,
that you dwell so joyfully alone in the jungle.I suppose you wish to be reborn in the company
of the supreme sovereign
- of the heaven of the Three and Thirty.
Is that why you resort to the desolate wilderness,
to practice fervor for attaining divinity?""Any wishes and hopes that are always attached
to the many and various realms—
the yearnings sprung from the root of unknowing—
I’ve eliminated them all down to the root.So I’m wishless, unattached, disengaged;
amongst all things, my vision is clear.
I’ve attained the state of grace,
- the supreme awakening;
I meditate alone, brahmin, and self-assured."
When he had spoken, Bhāradvāja said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! … From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
1. Một thời Thế Tôn sống ở giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng.
2. Lúc bấy giờ, nhiều thanh niên lượm củi, đệ tử của Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja, đi đến khu rừng ấy.
3. Sau khi đến, họ thấy Thế Tôn ngồi kiết-già trong khu rừng ấy, lưng thẳng và để niệm trước mặt. Thấy vậy, họ liền đi đến Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja.
4. Sau khi đến, họ nói với Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja:
− Tôn giả có biết không, tại một khu rừng kia, có vị Sa-môn ngồi kiết-già, lưng thẳng và để niệm trước mặt?.
5. Rồi Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja cùng với các thanh niên ấy đi đến khu rừng và thấy Thế Tôn tại khu rừng ấy, đang ngồi kiết-già, lưng thẳng và để niệm trước mặt. Thấy vậy họ liền đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Trong khu rừng thâm u,
Nhiều dễ sợ khủng khiếp,
Rừng trống không, hoang vắng,
Ngài vào sâu một mình,
Thân bất động, kiên trì,
Ðẹp đẽ và uy nghi.
Này Tỷ-kheo, Ngài thiền
Với tâm tư định tĩnh.
Ở đây không ca hát,
Ở đây không nói năng,
Cô độc trong rừng sâu,
Bậc Thánh nhơn an trú,
Như vậy đối với con,
Thật kỳ diệu hy hữu.
Khi Ngài sống một mình,
Hoan hỷ trong rừng vắng,
Con nghĩ, Ngài ước nguyện,
Ðồng sanh làm thân hữu,
Với bậc Thế giới chủ,
Tại vô thượng Tam thiên.
Vậy sao bậc Tôn giả,
Không bỏ rừng hoang vắng,
Tu khổ hạnh ở đây,
Ðể đạt Phạm thiên quả?
6. (Thế Tôn):
Phàm có ước vọng gì,
Hay những ái lạc gì,
Những gì kẻ phàm phu,
Thường chấp trước các giới,
Các tham ái khởi lên,
Từ gốc rễ vô minh,
Tất cả Ta đoạn tận,
Trừ cả gốc lẫn rễ.
Nay Ta không ước nguyện,
Không tham ái, chấp trước,
Ðối với tất cả pháp,
Ta thấy đều thanh tịnh.
Ðạt được Chánh Ðẳng Giác,
Và mục đích tối thượng,
Ta tu tập Thiền định,
Vắng lặng, không sợ hãi.
7. Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja bạch Thế Tôn:
− Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!.. từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
At Sāvatthī.
Then a brahmin who provided for his mother went up to the Buddha, and exchanged greetings with him.
When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha, “Worthy Gotama, I seek alms by legitimate means, which I use to provide for my mother and father. In doing so, am I doing my duty?”
"Indeed, brahmin, in so doing you are doing your duty. Whoever seeks alms by legitimate means, and uses them to provide for their mother and father creates much merit.
A mortal provides for their mother
and father by legitimate means;
because they look after
their parents like this,
they’re praised in this life by the astute,
and they depart to rejoice in heaven."
When he said this, the brahmin who provided for his mother said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! … From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
1. Nhân duyên ở Sàvatthi.
2. Rồi Bà-la-môn Màtaposaka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, bèn ngồi xuống một bên.
3. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Màtaposaka nói với Thế Tôn:
− Thưa Tôn giả Gotama, tôi tìm món ăn thiết thực theo thường pháp. Sau khi tìm món ăn thiết thực theo thường pháp, tôi nuôi dưỡng mẹ cha. Thưa Tôn giả Gotama, tôi làm như vậy; tôi có làm đúng trách nhiệm không?
4. − Này Bà-la-môn, Ông làm như vậy là làm đúng trách nhiệm. Này Bà-la-môn, ai tìm đồ ăn thiết thực theo thường pháp; sau khi tìm đồ ăn thiết thực theo thường pháp, lại nuôi dưỡng mẹ cha thì người ấy được nhiều công đức.
Người nào theo thường pháp,
Nuôi dưỡng mẹ và cha,
Chính do công hạnh này,
Ðối với cha, với mẹ,
Nhờ vậy, bậc Hiền Thánh,
Trong đời này tán thán,
Sau khi chết, được sanh,
Hưởng an lạc, chư Thiên.
5. Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Màtaposaka bạch Thế Tôn:
− Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay Tôn giả Gotama!.. Mong Tôn giả nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
At Sāvatthī.
Then a begging brahmin went up to the Buddha, and exchanged greetings with him.
When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha, “Worthy Gotama, both you and I are beggars. What, then, is the difference between us?”
"You don’t become a beggar
just by begging from others.
One who has undertaken domestic duties
has not yet become a mendicant.But one living a spiritual life
who has banished both merit and evil,
and wanders having appraised the world,
is said to be a mendicant."
When he had spoken, the begging brahmin said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! … From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
1. Nhân duyên ở Sàvatthi.
2. Rồi Bà-la-môn Bhikkhaka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, bèn ngồi một bên.
3. Ngồi một bên Bà-la-môn Bhikkhaka bạch Thế Tôn:
− Thưa Tôn giả Gotama, con là người khất thực và Tôn giả cũng là người khất thực. Vậy có sự sai khác gì giữa chúng ta?
4. (Thế Tôn):
Không phải ai xin ăn,
Cũng gọi là khất sĩ.
Nếu chấp trì độc pháp,
Không còn gọi Tỷ-kheo.
Ai sống ở đời này,
Từ bỏ các phước báo,
Ðoạn trừ mọi ác pháp,
Hành trì theo Phạm hạnh,
Sống đời sống chánh trí,
Vị ấy xứng “Tỷ-kheo”.
5. Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Bhikkhaka bạch Thế Tôn:
− Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!.. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
At Sāvatthī.
Now at that time there was a brahmin named Saṅgārava staying in Sāvatthī. He practiced purification by water, believing in purification by water. He lived committed to the practice of immersing himself in water at dawn and dusk. Then Venerable Ānanda robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Sāvatthī for alms.
He wandered for alms in Sāvatthī. After the meal, on his return from almsround, he went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, there is a brahmin named Saṅgārava staying in Sāvatthī. He practices purification by water, believing in purification by water. He lives devoted to ritual bathing at dawn and dusk. Please visit him at his home out of sympathy.” The Buddha consented with silence.
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to the home of the brahmin Saṅgārava, and sat down on the seat spread out. Then the brahmin Saṅgārava went up to the Buddha, and exchanged greetings with him.
When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side. The Buddha said to him, “Is it really true, brahmin, that you practice purification by water, believing in purification by water; that you live committed to the practice of immersing yourself in water at dawn and dusk?”
“Yes, worthy Gotama.”
“But brahmin, for what reason do you practice purification by water?”
“It’s because, worthy Gotama, whatever bad deeds I’ve done during the day I wash off by bathing at dusk; and whatever bad deeds I’ve done during the night, I wash off by bathing at dawn. That’s the reason why I practice purification by water.”
“The teaching is a lake with shores of ethics, brahmin,
unclouded, praised by the fine to the good.
There the knowledge masters go to bathe,
and cross to the far shore without getting wet.”
When he had spoken, Saṅgārava said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! … From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
1. Nhân duyên ở Sàvatthi.
2. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Sangàrava trú ở Sàvatthi, là nhà Tịnh thủy hành, tin tưởng nhờ nước được thanh tịnh, sáng chiều theo hạnh xuống nước (để tắm cho thanh tịnh).
3. Rồi Tôn giả Ananda vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthi để khất thực. Khất thực xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về Tôn giả đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.
4. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
− Ở đây, bạch Thế Tôn, Bà-la-môn Sangàrava trú ở Sàvatthi, là nhà Tịnh thủy hành, tin tưởng nhờ nước được thanh tịnh, sáng chiều theo hạnh xuống nước (để tắm cho thanh tịnh). Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn vì lòng từ mẫn đi đến trú xứ của Bà-la-môn Sangàrava.
5. Thế Tôn im lặng nhận lời.
6. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của Bà-la-môn Sangàrava; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn.
7. Rồi Bà-la-môn Sangàrava đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
8. Thế Tôn nói với Bà-la-môn Sangàrava đang ngồi một bên:
− Có đúng sự thật chăng, này Bà-la-môn, Ông là nhà Tịnh thủy hành, tin tưởng nhờ nước được thanh tịnh, sáng chiều sống theo hạnh xuống nước (để tắm cho thanh tịnh)?
9. − Thưa đúng vậy, Tôn giả Gotama.
10. − Này Bà-la-môn, nhằm mục đích lợi ích gì, Ông là nhà Tịnh thủy hành, tin tưởng nhờ nước được thanh tịnh, sáng chiều sống theo hạnh xuống nước (để tắm cho thanh tịnh)?
11. − Ở đây, Tôn giả Gotama, ban ngày tôi làm ác nghiệp gì, buổi chiều tôi tắm để gội sạch ác nghiệp ấy; buổi tối tôi làm ác nghiệp gì, buổi sáng hôm sau tôi tắm để gội sạch ác nghiệp ấy. Tôn giả Gotama, do nhằm mục đích như vậy, tôi là nhà Tịnh thủy hành tin tưởng nhờ nước được thanh tịnh, sáng chiều tôi sống theo hạnh xuống nước (để tắm cho thanh tịnh).
12. (Thế Tôn):
Chánh pháp là ao hồ,
Giới là bến nước tắm,
Không cấu uế, trong sạch,
Ðược thiện nhơn tán thán,
Là chỗ bậc có trí,
Thường tắm, trừ uế tạp,
Khi tay chân trong sạch,
Họ qua bờ bên kia.
13. Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Sangàrava bạch Thế Tôn:
− Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!.. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
So I have heard. At one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans, where they have a town named Khomadussa.
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Khomadussa for alms. Now at that time the brahmins and householders of Khomadussa were gathered in the council hall for some business, while a gentle rain drizzled down.
Then the Buddha approached that council. The brahmins and householders saw the Buddha coming off in the distance, and said, “Who are these shavelings, these fake ascetics? Don’t they understand the council rules?”
Then the Buddha addressed the brahmins and householders of Khomadussa in verse:
“If good people are not present it is no true council;
and those whose speak against principle
- are not good people.
Having given up greed, hate, and delusion,
speakers of principle are good people.”
When he had spoken, the brahmins and householders of Khomadussa said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, worthy Gotama has made the teaching clear in many ways. We go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the worthy Gotama remember us as lay followers who have gone for refuge for life.”
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Sakka, tại thị trấn của dân chúng Sakka tên là Khomadussa.
2. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi vào thị trấn Khomadussa để khất thực.
3. Lúc bấy giờ các Bà-la-môn gia chủ ở Khomadussa đang tụ họp tại hội trường để giải quyết một vài vấn đề và trời đang mưa nhỏ hột.
4. Rồi Thế Tôn đi đến hội trường ấy.
5. Các Bà-la-môn gia chủ ở Khomadussa thấy Thế Tôn từ xa đi đến.
6. Thấy vậy, họ bèn nói:
− Những Sa-môn đầu trọc ấy là ai? Và họ có thể biết gì về quy tắc của hội trường?
7. Rồi Thế Tôn nói lên bài kệ với các Bà-la-môn gia chủ ở Khomadussa:
Không thể có hội trường,
Nếu không có thiện nhân.
Không thể có thiện nhân,
Nếu không nói đúng pháp.
Những ai đã đoạn trừ,
Cả tham, sân và ái,
Nói lên lời đúng pháp,
Họ mới thật thiện nhân.
8. Khi được nghe nói vậy, các Bà-la-môn gia chủ ở Khomadussa bạch Thế Tôn:
− Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem ánh sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Chúng con xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận chúng con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, chúng con trọn đời quy ngưỡng.
-ooOoo-